TÓM TẮT TIỂU SỬ ANH HÙNG LIỆT SĨ VỪ A DÍNH VÀ VÀI NÉT VỀ QUỸ HỌC BỔNG VỪ A DÍNH

Cập nhật ngày: 17/09/10

Anh hùng Lực lượng vũ trang Vừ A Dính, dân tộc Mông, sinh ngày 12­9­1934 tại

1901).

bản Đề Chia, xã Pú Nhung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên).  Vừ A Dính là con thứ ba của ông Vừ Chống Lầu (sinh năm 1899) và bà Sùng Thị Plây (sinh    năm Gia   đình   Vừ   A   Dính   là   cơ   sở   cách   mạng   của   huyện   Tuần   Giáo.   Bố Vừ A Dính là cán bộ Việt Minh của địa phương đã bị thực dân Pháp bắt và giam cầm tại  nhà tù Sơn La. Ông đã bị thực dân Pháp thủ tiêu tại nhà tù Sơn La năm 1949. Ông Vừ Chống  Lầu   được   Đảng   và   Nhà   nước   truy   tặng   là   liệt   sĩ   ngày   5­9­1964.   Mẹ A Dính là bà Sùng Thị Plây ­ một cơ sở kháng chiến của địa phương. Trong một đợt càn  của địch vào Pú Nhung, vì nghi ngờ tiếp tế cho Việt Minh nên bà bị bắt cùng với bố chồng và  bảy người con (chị gái và các em của Vừ A Dính) mang về giam tại đồn Bản Chăn. Rất may  là người anh trai Vừ Gà Lử của Dính hôm ấy vào núi nên không bị bắt. Trong thời gian bà và  cả nhà bị giam tại đồn Bản Chăn, Vừ A Dính được đơn vị phái xuống tìm cách liên lạc và nắm  tình hình địch để chuẩn bị cho bộ đội đánh đồn. A Dính đã nhiều lần liên lạc được với mẹ. Khi  nắm được tin giặc Pháp chuẩn bị đưa quân lên đánh khu du kích ở Pú Nhung, bà đã trốn trại  ra bìa rừng gặp Vừ A Dính cấp báo tin này. Bà còn chuyển cho Vừ A Dính hơn 100 viên đạn  lấy trộm được của giặc. Trên đường trở về trại giam, một tốp lính đi tuần phát hiện ra bà. Tuy  khám người bà không thu được gì nhưng chúng nghi bà liên lạc với Việt Minh nên đã khám  nơi giam cầm bà. Địch đã phát hiện ra nhiều đạn mà bà và các con cùng những người bị  giam giữ trong trại đã lấy trộm của lính Pháp trong khi đi làm phu dịch. Giặc pháp đã lôi cả 22  người trong trại giam ra bắn chết. Ông nội, mẹ, chị gái và các em ­ 9 người trong gia đình Vừ  A Dính đã bị bắn chết. Bà Sùng Thị Plây được Đảng và Nhà nước truy tặng Liệt sĩ ngày 14­ 10­1964. Mẹ của Vừ A Dính đã được Chủ tịch Nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh  hùng   đợt   đầu   tiên   (năm   1994)   vì   có   chồng,   con   và   bản   thân   là   liệt   sĩ. Vừ A Dính sinh ra và lớn lên trong một gia đình người Mông có truyền thống yêu nước và  cách mạng. Ngay từ nhỏ, Dính là một cậu bé thông minh, gan dạ và nhanh nhẹn. Được cha  mẹ giáo dục, Vừ A Dính đã sớm giác ngộ cách mạng và căm thù giặc Pháp xâm lược. Pú  Nhung luôn bị giặc đột kích vào cướp bóc, đốt nhà, bắt người. Vì thế dân làng phải cử người  canh gác để phát hiện giặc. Chưa đầy 13 tuổi nhưng Vừ A Dính đã xung phong được đi canh  gác như các anh chị lớn. Lần ấy, giặc Pháp không đi từ Tuần Giáo lên mà chúng bí mật  xuyên rừng Bản Chăn lên cướp phá. Khi phát hiện ra giặc Vừ A Dính vội lao về bản, vừa đi  vừa hô to “Có thằng Tây ! Có thằng Tây !”. Dân bản vội chạy vào rừng. A Dính chạy vội về  nhà xem mẹ và các em đã vào rừng hay chưa thì gặp một toán lính xồ tới. Bọn này đi bắt phu  khuân của cướp bóc được về đồn cho chúng. Thế là chúng bắt luôn A Dính đi theo để khiêng  lợn cho chúng. A Dính cắn răng gắng sức cõng một cái rọ nhốt con lợn to. Đến một con dốc  cạnh bờ suối, A Dính dự định lợi dụng địa hình này để chạy trốn. Cậu giả cách trượt chân lăn  theo cả rọ lợn xuống dốc. Chẳng may cho A Dính, lăn tới cuối dốc cậu bị một cây gỗ chặn  ngang người. Cái rọ lợn bung ra, con lợn chạy biến vào rừng. Bọn giặc chạy ào xuống vừa  đánh vừa lôi Dính về giam tại đồn Bản Chăn. Tên đồn trưởng người Pháp ra lệnh cho thuộc  hạ: “Nó làm mất con lợn, nó phải thế mạng”. Khi biết sáng sớm mai sẽ bị giết, đêm ấy Vừ A  Dính đã rủ ông già Vừ Sa ở bản Phiêng Pi cùng bị bắt giam với mình dỡ mái trại giam, bò qua  1

ra để bốt trốn canh thoát ngoài.

bí lược. mật đánh   Pháp   xâm tổ   chức   kháng   chiến,

Dính   những Anh   dặn điều phải việc tra. kỹ

tìm   cách lạc   với liên

nhiều   13 tuổi Vừ A Dính đã thoát ly gia đình trở thành đội viên liên lạc của đội vũ trang huyện Tuần  Giáo. Đội vũ trang của Vừ A Dính hoạt động trên một địa bàn rất rộng, từ châu Điện Biên ra  châu Tuần Giáo rồi ngược lên châu Tủa Chùa. Dấu chân của Dính và đội vũ trang in khắp  núi rừng và các thôn bản trong huyện. Đội vũ trang thoắt ẩn, thoắt hiện tại nhiều bản làng để  vận động, giúp đỡ bà con các dân tộc ổn định cuộc sống, xây dựng các tổ chức đoàn thể  cách   mạng,   Cuộc sống kháng chiến gian khổ nhưng Vừ A Dính rất lạc quan yêu đời. Dính rất ham học và  học khá. Lúc nào trong ngực áo của Dính cũng nhét cuốn sách để tranh thủ học. Dính đã học  đọc và viết chữ thông thạo. Khuôn mặt tròn, đôi mắt tinh nhanh, chân tay thoăn thoắt là hình  ảnh chiến sĩ nhỏ Vừ A Dính hằn sâu trong mắt các chiến sĩ của đội vũ trang Tuần Giáo.   Địch tăng cường lùng sục tìm diệt đội vũ trang nên đơn vị luôn phải di chuyển. Để giữ bí mật,  địch không thể phát hiện được, nơi đóng quân của đơn vị thường ở trên các triền núi cao, xa  nguồn nước. Vì thế mà cuộc sống vô cùng gian khổ. Hàng tháng trời không một hạt muối,  không một hạt gạo. Để có nước cho sinh hoạt, đơn vị của Dính đã có sáng kiến chặt ngang  thân cây chuối rồi khoét ruột cây chuối để lấy nước. Dính được đơn vị giao phụ trách việc lấy  nước này và Dính đã làm rất khéo léo, luôn bảo đảm để đơn vị có đủ nước dùng. Nhiệm vụ  chính của Dính là làm giao thông liên lạc. Lần nào nhận nhiệm vụ đi liên lạc Dính cũng mưu  trí, bảo đảm an toàn và về trước thời gian qui định. Các anh trong đơn vị hỏi tại sao Dính luồn  rừng và đi giỏi thế, Dính cười hồn nhiên bảo: “Từ nhỏ em trèo núi, đi nhanh đã quen chân  rồi”. Dính còn nhiều lần được đơn vị giao nhiệm vụ bí mật xuống bản móc nối liên lạc với cơ  sở để nhận muối, mực viết, kim chỉ, giấy viết, vải mặc và thuốc men mà đồng bào xuống chợ  mua hộ. Mẹ của Dính cũng là một cơ sở bí mật tin cậy, nhiều lần tiếp tế cho đội vũ trang như  thế. Được tin mẹ và cả nhà bị địch bắt giam tại đồn Bản Chăn, Dính buồn và thương mẹ lắm. Biết  tin đơn vị chuẩn bị đánh đồn Bản Chăn, Dính đã đề nghị được xuống núi điều tra nắm tình  hình địch và nhân tiện tìm hiểu tin tức về mẹ và cả nhà. Đã từng bị bắt giam ở đồn Bản Chăn  nên đường đi, lối lại Dính khá thuộc. Vì thế, anh Kiên chỉ huy đơn vị đã đồng ý để Dính xuống  núi.   Dính như con sóc lao xuống núi. Được du kích Bản Chăn bí mật dẫn ra mỏm núi gần đồn để  quan sát. Mai phục suốt hai ngày đêm liền Dính vẫn không thấy những người bị giam ra khỏi  trại. Đoán định thể nào địch cũng phải cho người ra lấy nước nên sáng sớm hôm thứ ba, Dính  đã bí mật làm ống bương đựng nước rồi bí mật nấp sau một tảng đá sát bên mép suối. Khi  đám người bị bắt giam được lính đồn dẫn ra suối lấy nước, Dính đã nhanh chóng trà trộn vào  mà địch không hề phát hiện ra. Đêm ấy Dính đã được nằm cạnh mẹ và các em. Mẹ đã cung  cấp nhiều tin tức quan trọng cho Dính về đồn Bản Chăn. Dính còn động viên và căn dặn mẹ  và các em đừng khai báo chỗ ở của cơ sở cách mạng. Sáng hôm sau Dính từ biệt mẹ, chị và  các em, hẹn sẽ gặp lại. Trở về đơn vị, Dính đã báo cáo tỉ mỉ và vẽ lại sơ đồ từng vị trí bố  phòng của địch... Các anh chỉ huy đơn vị thấy nguy hiểm đã không cho Dính vào trong đồn  địch   nữa   mà   chỉ   mẹ   ở   bên   ngoài. Và lần gặp sau đó của mẹ và Dính bên bờ suối là lần gặp cuối cùng. Mẹ Sùng Thị Plây của  Dính đã bị giặc bắn ngay sau buổi gặp báo tin cho Dính trở về trại giam cùng với 22 người

2

túi nó vào bụi. Dính xông đánh

gác. lũ

tuổi. 15

khác. Trung tuần tháng 6 năm 1949, giặc Pháp huy động tổng lực quân lính từ các đồn trong khu  vực để vây ráp hòng tiêu diệt đội vũ trang Tuần Giáo của Vừ A Dính. Gần một nghìn quân đổ  về khu căn cứ Pú Nhung từ nhiều ngả đường. Một tốp giặc của đồn Bản Chăn dưới sự chỉ  huy của một đội Tây đã bí mật phục kích ngay tại đầu một bản bỏ hoang gần Pú Nhung.  Hôm ấy trời mù sương, chỉ cách nhau vài bước chân mà không nhìn thấy nhau. Dính vừa bí  mật gặp mẹ trở về. Sau lưng của Dính còn đeo trong bọc cả trăm viên đạn mà mẹ mới trao  cho. Người Dính ướt đẫm sương. Vì trời giăng sương mù mịt nên rất khó quan sát. Dính bất  ngờ rơi vào ổ phục kích của giặc mà không hay biết. Thằng đội Tây biết đây là một liên lạc  cho du kích, y mừng hun. Nó hỏi: “Các ông tỉnh ở đâu ?” (giặc Pháp vẫn gọi cán bộ Việt Minh  tỉnh Lai Châu là “ông tỉnh”). A Dính bình tĩnh trả lời: “Không biết !” Tên đội Tây gầm lên: “Cái  bao đạn này mày mang về cho ông tỉnh bắn chúng tao mà mày không biết à ? Nói đi không  tao bắn vỡ đầu mày bây giờ”. Dính vẫn trả lời: “Không biết!” Tên đội Tây không giữ được bình    tĩnh, Lũ giặc thay nhau đánh đập dã man Vừ A Dính đến tận trưa. Đánh chán địch lại hỏi, Dính  vẫn chỉ trả lời hai từ “không biết!”. Một tên lính ác ôn đã cầm báng súng đánh gãy một bên  ống chân của Dính. Mặt tím bầm, môi sưng vù, chân bị gãy vô cùng đau đớn nhưng Dính cắn  răng, nước mắt giàn giụa, miệng không hé một lời nào nữa. Đêm ấy, giặc trói Dính dưới một  gốc đào giữa sương khuya lạnh buốt. Hôm sau, rồi đêm sau nữa giặc tiếp tục tra tấn và bỏ  đói, bỏ khát Dính giữa rừng. Sự gan dạ của Vừ A Dính đã làm run sợ nhiều tên lính ngụy.  Sáng ngày thứ ba kể từ khi bị bắt, tên đội Tây đến trước mặt Vừ A Dính dụ dỗ: “Nói một câu  tao sẽ cho băng thuốc, chữa chân gãy cho mày, cho mày ăn uống tử tế và thưởng nhiều tiền  nữa. Nói, ông tỉnh ở đâu ?” Dính vẫn trơ như đá không hé răng nửa lời. Thằng đội Tây gầm  lên khi không khuất phục được một thằng bé. Nó hầm hầm bỏ đi. Những người Thái, người  Mông, người Xá bị địch bắt đi ngang qua nhìn thấy cảnh tượng của Dính ai cũng dớm nước  mắt. Bỗng Dính nhận ra một người làng. Dính vội nhắn bằng tiếng Mông: “Cái túi tài liệu tôi  giấu trong rừng, nhắn các anh ra lấy về”. Gặp người quen nào Dính cũng nhắn như thế trước    lính mặt Thằng đội Tây ra lệnh cho đám lính: “Thằng bé này biết nhiều du kích lắm. Để nó bò đi mất  thì chúng mày phải chết thay”. Ban đêm chúng cắt cử tới bốn tên lính canh gác A Dính. Biết mình khó qua khỏi bàn tay tàn ác của kẻ thù, sáng hôm khi thằng đội Tây vừa đến Vừ A  Dính vờ gật đầu: “Biết biết!” Tên đội hô lính mang sữa, mang bánh lại nhưng Dính chỉ uống  vài   ngụm   nước.   “Làm   cáng   cho   tao   !”­   Dính   nói   với   tên   đội   Tây.   Ròng rã một ngày trời Dính bắt bọn giặc khiêng mình đi hết ngọn núi này sang khu rừng khác  nhưng vẫn chưa chịu chỉ vị trí đóng quân của bộ đội. Loanh quanh đến chiều tối Dính lại dẫn  chúng trở về nơi xuất phát ban đầu. A Dính ngước nhìn bầu trời và núi rừng quê hương, mỉm  cười. Biết bị lừa, thằng đội Tây gầm lên. Nó xả cả một băng đạn vào ngực Vừ A Dính. Sau đó  nó sai treo xác Vừ A Dính lên cây đào cổ thụ. Giặc bí mật phục kích nhiều ngày tại đây hòng  đón bắt đơn vị vũ trang của ta tới đưa xác Dính về. Hôm ấy là chiều tối ngày 15­6­1949. Vừ A  Dính đã anh dũng hy sinh bên gốc cây đào cổ thụ ở Khe Trúc gần đồn Bản Chăn, khi chưa  tròn     Sau nhiều ngày phục kích đón bắt lực lượng cách mạng xuất hiện không thành, bọn lính

3

về rút phải buộc quân Tuần Giáo.

tên trốn   khỏi lính   ngụy   đã   bỏ

Pháp   Ngay cái đêm Vừ A Dính hy sinh, chứng kiến cái chết hiên ngang, anh dũng của Vừ A Dính,      hàng   ngũ   của   địch. hơn   mười Vừ   A   Dính   đã   hy   sinh   trong   tư   thế   hiên   ngang   không   một   chút   run   sợ.   Cuộc đời người chiến sĩ liên lạc nhỏ tuổi của đội vũ trang Tuần Giáo đã khép lại nhưng khí  phách trung kiên bất khuất của Vừ A Dính trước quân thù như ngọn đuốc rực sáng núi rừng  Tây Bắc. Chứng kiến tấm gương hy sinh oanh liệt của Dính những lính ngụy và những người  bị địch bắt đi phu đã truyền kể đi khắp các bản làng Tuần Giáo. Bên bếp lửa hồng trong các  gia đình người Mông, người Xá, người Thái khắp vùng Tây Bắc, người ta tự hào kể cho con  cháu nghe về tấm gương hy sinh bất khuất của một cậu bé người Mông ở Pú Nhung...   Sau này, thi thể của Dính đã được tổ chức của ta và gia đình đưa về an táng tại Pú Nhung.  Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, các anh bộ đội huyện Tuần Giáo, đồng đội của Dính  cùng tổ chức Đảng và chính quyền địa phương đã đưa hài cốt liệt sĩ Vừ A Dính về lập mộ tại  nghĩa trang liệt sĩ huyện Tuần Giáo.

T ng V A Dính đ c ra m t vào ngày gi th 60 c a li t sĩ (năm 2009). ượ ừ ượ ắ ỗ ứ ủ ệ

ghi

mộ hùng Vừ sĩ

nội     Pú   Nhung, Tuần   Giáo, liệt tại

sinh tịch   Nước   CHXHCN   Việt ngày   Nam

truy   ngày LLVTND hùng

Bây giờ, theo quốc lộ số 6 từ Hà Nội lên Điện Biên, cách thị trấn Tuần Giáo hơn một ki lô  mét, chúng ta sẽ nhìn thấy nghĩa trang liệt sĩ Tuần Giáo nằm bên tay phải trên một quả đồi  nhỏ nhìn lên hướng Điện Biên. Tại đây, phía bên phải, trước đài tưởng niệm Liệt sĩ có hai  ngôi mộ lớn hơn các ngôi mộ liệt sĩ khác. Bên trái là mộ Anh hùng Sùng Phái Sinh (người  cùng   xã   Pú   Nhung   với   Vừ   A   Dính)   và   bên   phải   là   mộ   Vừ   A   Dính.   9 giờ sáng ngày 11­7­2005, báo Thiếu niên Tiền phong, Ban Khoa giáo Đài Truyền hình Việt  Nam, Quỹ học bổng Vừ A Dính đã phối hợp với Huyện ủy, UBND huyện Tuần Giáo với sự  chứng kiến của gia đình đã chính thức tổ chức Lễ đặt bia trên mộ Anh hùng liệt sĩ Vừ A Dính.      Bia dung: A “Anh Dính   Điện   Biên.  sinh   ngày   12­9­1934     Hy 15­6­1949. tặng   danh   hiệu Chủ   8­11­2000. Anh Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và báo Thiếu niên Tiền phong quyết định  lập Quỹ học bổng dành cho học sinh, sinh viên các dân tộc thiểu số Việt Nam, Quỹ mang tên  5­3­1999”. A Quỹ Dính, bổng ngày học Vừ

toàn   quốc. thiếu   nhi trong

trang   huyện   Tuần   Giáo. của   đội lạc   nhỏ vũ liên tuổi

Tấm   gương   hy   sinh   anh   hùng   bất   khuất   của   Vừ   A   Dính   đã   đi   vào   sử   sách. Ngay từ năm 1951, Đoàn TN Cứu quốc Việt Nam (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ngày nay) đã  tuyên   dương   Vừ   A   Dính     Năm 1952, Chính phủ đã truy tặng Huân chương Quân công hạng Ba cho Vừ A Dính ­ chiến    sĩ Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Lịch sử Đội TNTP Hồ Chí Minh đã ghi nhận Vừ A Dính là  một trong những thiếu nhi anh hùng tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ kháng

4

lược, giải nước. phóng   đất thực   dân   Pháp   xâm

Đoàn.

tịch   nước   CHXHCN   Việt làm   Chủ Nam) tịch.

nghĩa. chủ hội Xã

chiến   chống     Năm 1962, nhà văn Tô Hoài đã lần theo các nhân chứng để ghi lại tấm gương hy sinh oanh  liệt   của   Vừ   A   Dính   trong   cuốn   truyện   nhỏ   “Vừ   A   Dính”   (do   NXB   Kim   Đồng   ấn   hành).   Vừ A Dính là niềm tự hào của Đội TNTP Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam. Tên của Anh  hùng liệt sĩ Vừ A Dính đã được đặt cho nhiều chi đội, liên đội và nhà trường trong cả nước. Theo đề xuất của báo Thiếu niên Tiền phong, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã ra Quyết định  thành lập Quỹ học bổng dành cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số cả nước. Ngày 5­3­ 1999, tại Trụ sở cơ quan Trung ương Đoàn, Quỹ học bổng Vừ A Dính đã chính thức ra mắt và  trao học bổng đầu tiên cho 240 học sinh dân tộc thiểu số trước sự chứng kiến của Tiến sĩ Cư  Hòa Vần, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng  Dân tộc và đồng chí Vũ Trọng Kim, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Thứ nhất Trung  ương   Ngay từ đầu thành lập, Quỹ vinh dự được Phó Chủ tịch Quốc hội Trương Mỹ Hoa (sau này là    Phó   Chủ   Năm 1999, Quỹ đã vinh dự nhận được thư chúc mừng của đồng chí Nông Đức Mạnh lúc đó là  Chủ tịch Quốc hội. Và đồng chí cũng đã trực tiếp trao tặng học bổng Vừ A Dính cho 60 em  thiếu nhi các dân tộc 6 tỉnh thuộc căn cứ địa Việt Bắc và tỉnh Nghệ An quê hương Bác Hồ tại  phòng họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhân dịp kỷ niệm 55 năm Quốc khánh – 25­8­   2000. Hiện nay Quỹ học bổng Vừ A Dính là Quỹ học bổng lớn nhất dành cho thế hệ trẻ miền núi và  dân tộc của Việt Nam. (Tính đến tháng 8­2008, Quỹ học bổng Vừ A Dính đã cấp hơn 16.000  suất học bổng cho học sinh, sinh viên của hơn 50 dân tộc anh em trong cả nước với trị giá  gần 8 tỷ đồng; xây   4 ngôi trường tặng các em học sinh dân tộc trị giá hơn 5 tỷ đồng...) Tên tuổi và tấm gương hy sinh bất khuất của Vừ A Dính sống mãi với non sông, Tổ quốc Việt      Nam Quỹ học bổng mang tên Vừ A Dính mãi mãi đồng hành và là điểm tựa tinh thần cùng thế hệ  trẻ các dân tộc thiểu số Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ  nghĩa phát triển.

năm Plây (sinh

VÀI NÉT VỀ GIA ĐÌNH VÀ QUÊ HƯƠNG PÚ NHUNG CỦA VỪ A DÍNH Bố của Anh hùng liệt sĩ Vừ A Dính là ông Vừ Chống Lầu (sinh năm 1899) và mẹ là bà Sùng  Thị 1901). Bố mẹ Vừ A Dính đều là liệt sĩ thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 12­12­1970, Vừ  A Dính được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu liệt sĩ thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ông  nội của  Vừ A Dính là cụ Vừ Pha  Chia  được Đảng  và Nhà  nước tặng thưởng Huân  chương   Độc   lập   hạng   Ba   vì   có   hai   con   và   cháu   nội   là   liệt   sĩ.   Bà Sùng Thị Plây, mẹ Vừ A Dính đã được Đảng, Nhà nước truy tặng đợt đầu tiên năm 1994  danh   hiệu   “Bà   mẹ   Việt   Nam   Anh   hùng”   vì   có   chồng,   con   và   bản   thân   là   liệt   sĩ.   Vừ A Dính là con thứ ba trong gia đình. Anh cả của Vừ A Dính là ông Vừ Gà Lử, sinh năm  1926. Ông Lử là đảng viên, tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương từ thời kỳ kháng  chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sau năm 1954, ông Lử nhiều năm là Chủ tịch UBND  xã Pú Nhung. Người vợ đầu tiên của ông Vừ Gà Lử sinh năm 1928 (chị dâu của Vừ A Dính).

5

làm   mẫu   đúc tượng   đồng   Anh   hùng   Vừ   A   Dính.

tế   của   gia   đình   ông   Vừ   Gà   Lử   khá   sung kinh

rừng. khắp rực nở

tâm mở thẳng trung được của xã. về

vững.

Hai ông bà sinh được hai người con trai. Con cả là Vừ Dũng Khá, sinh năm 1947. Người cháu  trưởng này của Vừ A Dính ­ Ông Vừ Dũng Khá mất vì bệnh hiểm nghèo năm 2006 khi đang  giữ cương vị Chủ tịch UBND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Người con thứ hai là Vừ A  Sủa, sinh năm 1950. Ông Sủa là đại úy quân đội về nghỉ hưu nhưng khi trở về địa phương,  ông tiếp tục làm Bí thư Đảng ủy xã Pú Nhung. Hiện nay ông Sủa đã nghỉ công tác. Bà chị  dâu cả của Vừ A Dính mất sớm. Sau giải phóng Điện Biên Phủ 1954, người anh cả Vừ Gà Lử  kết hôn lần thứ hai. Người vợ thứ hai này của ông Lử là bà Sùng Thị Pà. Bà Pà hồi nhỏ chơi  rất thân với Vừ A Dính. Ông bà  sinh được 12 người con: 8 trai, 4 gái. Theo vợ chồng người  anh cả Vừ A Dính, thì trong số 8 người con trai của ông bà, cậu con út Vừ A Sử giống chú  ruột như tạc. Vừ A Sử, sinh năm 1972. Vợ anh là chị Sùng Thị Y. Anh chị đã có một con trai  là Vừ A Tủa, học lớp 11 và cô con gái Vừ Thị Hoa, học lớp 8. Cả hai anh em đều là học sinh  giỏi. Hiện nay vợ chồng anh Vừ A Sử cùng hai con đang sống cùng ông bà Vừ Gà Lử. Ông  bà Vừ Gà Lử đã đồng ý để Quỹ học bổng Vừ A Dính lấy nguyên mẫu người cháu ruột Vừ A    Sử   Ông Vừ Gà Lử là người thân duy nhất còn lại của gia đình Vừ A Dính ­ một gia đình người  Mông yêu nước và giàu truyền thống cách mạng tiêu biểu của tỉnh Điện Biên. Hiện tại, gia  đình người anh cả Vừ A Dính sống trong một ngôi nhà gỗ 10 gian khá to và đẹp tại bản Đề  Chia mới của xã Pú Nhung. Ngôi nhà này được làm mới từ khi gia đình cùng với dân bản  chuyển từ bản Đề Chia cũ trên đỉnh Pú Nhung xuống núi. Ngôi nhà của ông Vừ Gà Lử nằm  giữa nương lúa và vườn cây ăn quả xanh tốt. Gia đình có hai cái ao lớn để nuôi cá. Hai ao cá  này hàng năm đem lại cho gia đình ông Lử nguồn thu nhập đáng kể. Ông Lử là Chủ tịch Hội  thủy sản của xã. Trong chuồng lợn của gia đình lúc nào cũng có một đàn lợn hơn 10 con. Gà  vịt được nuôi đầy sân. Vườn cây trước nhà, sau nhà mùa nào thức nấy cây luôn trĩu quả. Có  thể   nói túc. Bản Đề Chia cũ trước năm 1954 cách bản Bản Đề Chia mới ngày nay hơn bốn giờ đi rừng.  Pú Nhung xưa là khu căn cứ kháng chiến của huyện Tuần Giáo, địa hình núi non hiểm trở.  Rừng Pú Nhung có rất nhiều đào. Đi đâu cũng gặp những cây đào cổ thụ. Về mùa hoa, hoa      đào Hòa bình lập lại, theo chủ trương của Đảng đưa người Mông xuống núi, bản Đề Chia ngày  nay nằm dưới một thung lũng rộng lớn và khá bằng phẳng. Một con đường trải nhựa từ Tuần    Giáo Xã Pú Nhung nằm cách thị trấn huyện Tuần Giáo chừng 12 km. Xã có diện tích tự nhiên hơn  6.000 ha, 3.228 nhân khẩu đều là đồng bào dân tộc Mông. Pú Nhung có 7 bản: Đề Chia,  Chua Lú, Khó Bua, Sá Tử, Siêm Pi, Trung Dình, Trinh Lá. Pú Nhung hiện mới chỉ có năm  trên bảy bản có điện lưới quốc gia. Thu nhập kinh tế của đồng bào Pú Nhung chủ yếu từ cây    lúa,   đậu   tương   và   cây   ngô.   Trong   xã   có   một   số   hộ   nuôi   trồng   thủy   sản. Khác với nhiều xã bản của người Mông, bản Đề Chia và cả xã Pú Nhung từ nhiều năm nay  không một ai nghiện hút, không có người trộm cắp. Thôn bản thanh bình, an ninh trật tự được    giữ Xã Pú Nhung có hai trường tiểu học và THCS. Trường tiểu học vẫn là nhà cấp bốn, tường xây  lợp ngói. Trường THCS đã xây dựng hai tầng khá khang trang. Tuy nhiên trường vẫn còn 6  lớp học nhà cấp 4 đã hư hỏng nhiều. Theo nguyện vọng của thầy và trò trường THCS Pú

6

Tuần huyện

toàn hình điển dân tộc núi

Nhung và Đảng ủy, HĐND, UBND xã về việc cho phép nhà trường được mang tên: Trường  THCS Vừ A Dính. Tháng 8­2008, Chủ tịch UBND huyện Tuần Giáo đã ra quyết định đổi tên  trường   THCS   Pú   Nhung   thành   trường   THCS   Vừ   A   Dính   từ   năm   học   mới   2008­2009. Hằng năm Quỹ học bổng Vừ A Dính dành 10 suất học bổng tặng các em học sinh xuất sắc  tiêu biểu nhất của 2 trường tiểu học và THCS và 20 suất học bổng cho các em học sinh dân  tộc Giáo.   Nhân dân Pú Nhung rất tự hào được mang danh hiệu xã điển hình tiêu biểu của tỉnh Điện  Biên. Năm 1999, xã Pú Nhung vinh dự được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  tặng danh hiệu xã miền núi điển hình toàn quốc và được mời về Hà Nội dự Hội nghị xã bản  miền quốc. Theo quyết định của đồng chí Trương Mỹ Hoa, nguyên Phó Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quỹ học  bổng Vừ A Dính và Ban Bí thư Trung ương Đoàn, rồi đây tại trung tâm của xã Pú Nhung, một  ngôi nhà tưởng niệm Anh hùng, liệt sĩ Vừ A Dính sẽ được xây dựng. Tượng đồng Vừ A Dính  sẽ được đặt trang trọng tại ngôi nhà này. Nhà tưởng niệm Vừ A Dính sẽ là địa chỉ sinh hoạt  văn hóa của tuổi trẻ và đồng bào Mông xã Pú Nhung. Nhà tưởng niệm sẽ là “địa chỉ đỏ” để  thế hệ trẻ trên quê hương Vừ A Dính khắc ghi và tự hào noi gương người Anh hùng nhỏ tuổi  của quê hương đã làm rạng danh quê hương Pú Nhung, rạng danh thế hệ trẻ Việt Nam thời  kỳ kháng chiến chống Pháp oanh liệt của dân tộc ta.

7