
TOÀN CẦU HOÁ VÀ VẤN ĐỀ
“PHẢN ỨNG BẢN SẮC” TRONG VĂN HOÁ
(trường hợp Đồng bằng sông Cửu Long)
PGS. TS. Đinh Ngọc Thạch
Trường ĐH KHXH & NV, TP.
HCM
“Phản ứng bản sắc” là cách thức đáp trả lại những tác động từ bên
ngoài đến bản sắc của một dân tộc, những tác động làm biến dạng nó, hay
nói khác đi, làm mất “nguyên bản” của nó. Phản ứng có thể diễn ra khác
nhau, phụ thuộc vào điều kiện và khả năng của chủ thể tiếp nhận và xử lí
các giá trị du nhập từ bên ngoài.
1. Toàn cầu hoá đã và đang trở thành xu thế tất yếu, chi phối các lĩnh vực của
đời sống xã hội, từ kinh tế đến văn hoá, từ kĩ thuật, công nghệ đến chính trị, tư
tưởng. Ngay cả những quốc gia bị đánh giá là bảo thủ trong quan hệ với thế giới
bên ngoài, cũng không tránh khỏi những tác động của toàn cầu hoá. Sức mạnh chi
phối của toàn cầu hoá thể hiện không chỉ trong kinh tế, mà còn lan rộng sang hệ
thống chính trị, và từ đó tác động đến hoạt động kinh tế, văn hoá, trước hết là ở
định hướng phát triển của chúng. Nên hiểu điều này như thế nào?

Do chức năng của mình mà hệ thống chính trị của mỗi quốc gia cần đón nhận
và xử lí các vấn đề toàn cầu ảnh hưởng đến đời sống của các tầng lớp nhân dân,
quyền lợi của quốc gia. Nếu hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả, với những
con người vận hành hệ thống ấy thật sự linh hoạt, khôn ngoan, thì quốc gia được
hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hoá, liên kết quốc tế và hội nhập. Ngược lại, hệ
thống chính trị kém cỏi, xơ cứng, với những con người bảo thủ, định kiến, thiếu
năng động, thiếu bản lĩnh và sự nhạy bén nắm bắt cái mới, chỉ có thể chú trọng
đến viêc đối phó với toàn cầu hoá hơn là đề ra và thực hiện đường lối phát triển
phù hợp với xu thế chung. Bài học của mô hình chủ nghĩa xã hội cửa quyền, quan
liêu, bao cấp vẫn còn đó, để lại không ít di chứng trong hệ thống chính trị hiện nay,
mặc dù sự nghiệp đổi mới đã diễn ra đã hai mươi năm. Tồn tại từ những năm 50
của thế kỉ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa, do Liên Xô đứng đầu, với hạt nhân là
các nước trong khối “Hội đồng tương trợ kinh tế” (SEV), biến nhà nước thành
“pháo đài tự phong toả”, cắt đứt mối liên hệ kinh tế và văn hoá với phần còn lại
của thế giới. Thứ tư duy thời “chiến tranh lạnh” ấy được biện minh bằng những
luận điểm không thể chối cãi về nguy cơ hoà tan hai hệ thống vào một và đánh
mất diện mạo chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nguy cơ là có thật; vấn đề
là ở chỗ nên hiểu nó như thế nào và xử lí ra sao để “hội nhập” nhưng không “hoà
tan”, đẩy mạnh liên kết với bên ngoài nhưng vẫn đảm bảo ổn định bên trong.
Toàn cầu hoá như một xu thế tất yếu chỉ mới được chúng ta thừa nhận và đặt
mình trong xu thế ấy từ đầu những năm 90. Hệ thống chính trị cũng trải qua những
điều chỉnh, đổi mới cần thiết, nhằm đáp ứng những đòi hỏi của hội nhập, trước hết
là hội nhập kinh tế. Bên cạnh đó nó vẫn tiếp tục hoàn thiện mình dưới tác động
của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên hệ thống chính trị chỉ tỏ ra có hiệu quả nếu vận
hành trong mối quan hệ hài hoà với các thành tố xã hội, nhất là lĩnh vực văn hoá,
là lĩnh vực chịu tác động của toàn cầu hoá hết sức nhanh chóng và có tính lan tỏa.
Điều này không khó giải thích, bởi lẽ bản thân quá trình toàn cầu hoá, dù muốn

hay không, cũng mang trên mình nó nhân tố văn hoá, trước hết là văn hoá tinh
thần.
Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và toàn cầu hoá ngay từ đầu đã đã vận
động trong môi trường văn hoá châu Âu, nên khi thâm nhập vào các quốc gia khác,
chẳng hạn quá trình thực dân hoá diễn ra vào thế kỉ XIX, cũng kéo theo những
biến chứng văn hoá đối với người bản địa. Môi trường văn hoá của chủ nghĩa tư
bản đã được chuẩn bị từ thời Phục hưng, là thời đại sản sinh ra những con người
khổng lồ, tạo nên diện mạo văn hoá nhân văn như sự thách thức đối với nền
chuyên chính tinh thần của nhà thờ, giải phóng cá nhân ra khỏi tín điều và uy
quyền tư tưởng[i][1]. Ngay cả sinh hoạt tôn giáo cũng chịu ảnh hưởng của văn hoá
đó, mà điển hình là phong trào Cải cách tôn giáo vào đầu thế kỉ XVI do Luther và
Calvin đứng đầu, với những tuyên bố phù hợp với thời đại tư bản chủ nghĩa đang
đến gần, như “cần biết quý sức lao động của mình”, “làm giàu không phải là tội
lỗi”, “hãy biết sống dung dị và tiết kiệm” v.v. Phong trào đó cũng góp phần hình
thành các quốc gia dân tộc tư sản và sự phân cực Bắc - Nam trên bản đồ chính trị
châu Âu.
Khoa học thực nghiệm đặt ra cho mình mục tiêu đưa tri thức đến với thực
tiễn, nhấn mạnh “tri thức là quyền lực”, báo trước kỉ nguyên bùng nổ sáng tạo
khoa học và ứng dụng công nghệ vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Những
nhân tố tạo nên môi trường văn hoá của chủ nghĩa tư bản tiếp tục thống trị trong
thời đại ngày nay, khi mà toàn cầu hoá vẫn còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của các
cường quốc tư bản chủ nghĩa. Nền văn hóa mới được xác lập trong quá trình đấu
tranh giải phóng cá nhân khỏi chủ nghĩa phổ quát Kytô giáo Trung cổ, do đó nó
sẵn sàng chấp nhận tính độc đáo, không lặp của mỗi cá nhân như chủ thể sáng tạo,
nghĩa là chấp nhận sự “lệch chuẩn” trong hoạt động để phát hiện cái mới, với triết
lý hết sức biện chứng rằng, có những quan niệm hôm qua là chân lý, là chuẩn mực

phổ biến, nhưng hôm nay, do sự vận động của thực tiễn xã hội, có thể trở thành cái
không phù hợp, cá biệt, và ngược lại.
Bên cạnh đó, trong môi trường nhà nước pháp quyền – thành quả của các
cuộc cách mạng tư sản, không gian văn hóa dường như dành cho mọi công dân,
thay cho chế độ đẳng cấp và sự thống trị của uy quyền tư tưởng, vốn là đặc trưng
của xã hội trước. Song văn hóa thực dụng cũng mang tính hai mặt, thể hiện bản
chất của xã hội tư sản. Một mặt, văn hóa thực dụng nhấn mạnh tính hiệu quả,
hướng đến đông đảo công chúng thông qua sự đa dạng của các môtíp và thứ bậc
sáng tạo. Mặt khác, tư duy thực dung trong văn hóa ngày nay rất có thể đụng chạm
đến những chuẩn mực, những giá trị truyền thống của nhiều dân tộc, nhất là những
dân tộc non trẻ, vừa thoát khỏi bóng mây của chủ nghĩa thực dân, đang thực hiện
những bước đi đầu tiên khẳng định bản ngã của mình.
Thứ nhất, thực dụng hoá trong hoạt động gây nên hiệu ứng tiêu cực trong các
quan hệ xã hội, trong lối sống và văn hoá ứng xử. Thứ hai, chủ nghĩa cá nhân, vốn
mang ý nghĩa cách mạng vào thời Phục hưng, giờ đây biến dạng thành thứ chủ
nghĩa cá nhân vị kỉ, cùng với sự sùng bái đồng tiền và quyền lực đến mức xuyên
tạc cả những chuẩn mực của xã hội công dân. Ở bình diện quốc tế các nước giàu
có tự nhận mình là đại diện cho “trật tự thế giới mới”, thao túng sinh hoạt quốc tế,
áp đặt luật chơi cho cả các thành viên của Liên hợp quốc[ii][2]. Thứ ba, sự thao
túng của các tập đoàn tư bản lớn trong nhà nước pháp quyền khiến cho các giá trị
chính trị, hay các chuẩn mực của văn hoá chính trị, bị đẩy đến tình trạng một chiều,
thành đặc quyền chính trị, và kết quả là những lí tưởng cao đẹp như tự do, dân chủ,
bình đẳng, các quyền cơ bản của công dân… biến thành thứ trò chơi chính trị hay
món hàng trao đổi vì những mục đích thiển cận. Thứ tư, tính chất hai mặt của toàn
cầu hoá ở bình diện văn hoá - tư tưởng.
Toàn cầu hoá tạo điều kiện cho việc mở rộng liên kết quốc tế, tăng cường sự
hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, mở rộng đối thoại và giao lưu văn hoá, khoa

học, kĩ thuật, tăng cường học hỏi lẫn nhau giữa các quốc gia trong chiến lược và
đường lối giáo dục, góp phần đẩy mạnh hiện đại hoá, làm phong phú nền văn hoá
dân tộc. Nhưng mặt trái của toàn cầu hoá cũng phơi bày ra ngày càng gay gắt. Có
thể nhận thấy ba nguy cơ chính đối với các quốc gia đang phát triển dưới tác động
của toàn cầu hoá, trong đó có Việt Nam: sự xáo trộn tự phát trong sáng tạo và
hưởng thụ văn hoá; chủ nghĩa lãng mạn ngây thơ, hay sự tha hoá bản sắc; nghịch lí
giữa tính mở của không gian giao tiếp và sự biệt hoá ngày càng sâu sắc giữa các cá
nhân, các nhóm xã hội, các dân tộc và các khu vực. Đề cập đến thực trạng này,
GS. TS. Lê Hữu Nghĩa viết: “Toàn cầu hoá trong điều kiện do các thế lực tư bản
chi phối lại tạo nguy cơ làm mai một nền văn hoá dân tộc, mâu thuẫn với việc giữ
gìn bản sắc dân tộc. Thông qua toàn cầu hoá, mở cửa, dễ du nhập những quan
niệm sai trái, đạo đức suy đồi, lối sống thực dụng, vị kỉ, chủ nghĩa cá nhân, “văn
hoá phẩm” độc hại… Đã có nhiều người trên thế giới lên tiếng cảnh báo về nguy
cơ “Mĩ hoá toàn cầu”[iii][3]. Nhà báo Dương Trọng Dật cũng chia sẻ quan điểm
này khi cảnh báo về khả năng “chú cừu Doily - sự sinh sản vô tính trong văn hoá”,
hiểu theo nghĩa sự đồng hoá và đánh mất cái Tôi dân tộc trong cơn sóng trào toàn
cầu hoá[iv][4].
2. Ít nhất trong tay người viết bài này đang có bốn quyển Kỉ yếu Hội thảo
khoa học về ĐBSCL, với các chủ đề khá phong phú, song đều xoay quanh trục
chính là thực trạng và giải pháp phát triển bền vững ở khu vực năng động, song
hết sức phức tạp và có nhiều mảng sáng tối đan xen nhau này[v][5]. Có nhiều bài
viết hay, trong đó có cả bài viết về biện chứng giữa phát triển văn hoá và xu thế
hội nhập, song thiếu hẳn một triết lí thực sự về văn hoá dưới tác động của toàn cầu
hoá, nhất là vấn đề “phản ứng bản sắc” trong văn hoá, mà điều này lại rất cần thiết,
nhằm góp phần xác lập quan điểm thực tiễn về văn hoá trong điều kiện toàn cầu
hoá.

