1171
TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC STEM VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC
XÂY DỰNG KHUNG NĂNG LC DẠY HỌC STEM
CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Dương Thị Minh Hoàng1,
Phan Đức Duy2, Nguyễn Thị Diệu Phương2
1 Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phm Huế
2 Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Huế
TÓM TẮT
Bài viết trình y nghiên cứu tổng quan về giáo dục STEM nh cp
thiết của việc y dựng khung năng lực dạy học STEM cho sinh viên ngành Giáo
dục Tiu học. Với vai trò nền tảng của cấp tiểu học trong hệ thống giáo dục phổ
thông, việc đổi mới giáo dục cần bắt đầu từ bậc tiểu học, bao gồm việc áp dụng
STEM vào các môn học phù hợp. Hiện nay, hầu hết giáo viên tiểu học chưa hình
thành và phát triển được năng lực dạy học STEM, do đó, việc đào tạo giáo viên
tiểu học có năng lực dạy học STEM từ các cơ sở đào tạo là cấp thiết. Bài viết đã
khái quát quá trình hình thành, phát triển và nêu bật tầm quan trọng của giáo dục
STEM. Khung năng lực dạy học STEM cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học
được đề xuất gm 4 thành phần năng lực và 13 tiêu chí tương ứng.
Từ khóa: giáo dục STEM; dạy học STEM; khung năng lực; sinh viên
Giáo dc Tiểu học
1. Giới thiệu
Ngày nay, nghiên cứu về giáo dục STEM đang dần trở nên quan trọng
trên phạm vi quốc tế. Việc tập hợp và phân tích tài liệu trong sở dữ liệu ISI từ
năm 1992 đến 2013 đã cho thấy rằng từ năm 2008, nghiên cứu về giáo dục STEM
đã phát triển mạnh mẽ, với số ợng bài báo tăng từ khoảng 15 bài năm 2008 lên
gần 100 bài vào năm 2013. Trong giai đoạn này, Mỹ dẫn đầu với 200 công trình
(chiếm 52%), tiếp theo Anh với 36 công trình (9,35%). Lan và Úc mỗi
nước 16 công trình (4,16%), còn lại các quốc gia như Tây Ban Nha, Israel,
ThNhĩ Kỳ, Canada, Đức và Đài Loan có tổng số công trình 67. Các quốc gia
khác trên thế giới đã đóng góp 50 công trình nghiên cứu (Yu và cs., 2016). Trong
vòng 18 năm từ 2000 đến 2018, đã có 798 bài báo về giáo dục STEM được công
bố trên 36 tạp chí (Li cs., 2020). Một nghiên cứu tổng quan đã chỉ ra rằng giáo
dục STEM ngày càng được tập trung nhằm tăng cường kiến thức về lĩnh vực
1172
STEM và phát triển kỹ năng cho học sinh thông qua các khóa học, chương trình
và nhiều trải nghiệm hc tập (Li cs., 2020).
Việt Nam, Tiểu học đã được xác định cấp học nền tảng, bắt buc
trong hệ thống giáo dục phổ thông (GDPT). Vì vậy, việc đổi mới giáo dục muốn
thành công thì phải được tiến hành ngay từ bậc Tiểu học. Dạy học STEM cũng
không phải là một trường hợp ngoại lệ, phải bắt đầu từ bậc học nhỏ nhất với tính
chất bt buc, đó là cấp Tiểu học.
Giáo dục STEM được áp dụng vào môn Tnhiên hội hay môn
Khoa học với các chủ đề Khoa học, liên quan đến yếu tố đầu tiên của STEM
yếu tố “S(Sciences) là hợp lý, khả thi tính hiệu quả cao. Để thực hiện
được điều đó thì cần thiết phải có sự đầu tư về cả vật chất lẫn yếu tố con ngưi.
Tuy nhiên, hầu hết giáo viên tiểu học hiện nay vẫn chưa được trang bị những kỹ
năng y tất nhiên hkhông thể tự hình thành được knăng này khi ch
được tiếp cận với vấn đề thông qua một vài buổi tập huấn đơn thuần. Muốn đạt
đến mức độ đó, giáo viên cần phải được đào tạo theo một chương trình bài bản,
chất lượng từ các tổ chức uy tín, đi từ lí thuyết đến thực hành những trải
nghiệm thực tiễn. Do đó, việc đào tạo giáo viên tiểu học đạt chuẩn được
năng lực dy học STEM ngay từ các cơ sở đào tạo giáo viên là cấp thiết.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp thuyết được sử dụng để thu thập
phân tích thông tin tcác công trình tiêu biểu trong ngoài nước về giáo
dục STEM. Quy trình nghiên cứu cụ thể như sau:
(1) Tuyển chọn tài liệu: Các tài liệu được tuyển chọn từ các nguồn uy tín
bao gồm các tạp chí khoa học, sách, báo cáo nghiên cứu. Quy trình tuyển chn
bao gồm việc xác định các tiêu chí lựa chọn như độ tin cậy của nguồn, năm xuất
bản, và mức độ liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
(2) Lọc tài liệu: Sau khi tuyển chọn, các tài liệu sẽ được lọc để loại bỏ
những bài viết không phù hợp. Tiêu chí lọc bao gồm việc kiểm tra tính hợp lệ
của phương pháp nghiên cứu, độ tin cậy của dliệu, và sự phù hợp với mục tiêu
nghiên cứu của bài báo.
(3) Phân tích và tổng hợp: Các tài liệu phù hợp sẽ được phân tích và tổng
hợp để rút ra những điểm chung độc đáo về giáo dục STEM. Quá trình y
bao gồm việc xác định quá trình hình thành phát triển, tầm quan trọng của
giáo dục STEM, và việc xây dựng khung năng lực dy học STEM.
1173
(4) Phân loại hệ thống hóa: Sắp xếp khái quát hóa các mốc thời
gian phát triển của giáo dục STEM theo từng ni dung đã đề cập. Điều này giúp
dễ dàng nhận biết, lựa chọn và vận dụng các kiến thức đã tổng hợp.
(5) Đề xuất thảo luận: Dựa trên kết quả phân tích, bài báo đề xuất
khung năng lực dạy học STEM cho sinh viên ngành giáo dục Tiểu học gồm các
thành phần năng lực và những tiêu chí tương ứng. Phương pháp này sẽ được duy
trì suốt quá trình nghiên cứu để phân tích, giải bàn luận về kết quả thu được.
Với cách tiếp cận này, bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về
giáo dục STEM còn đxuất các hướng nghiên cứu mới phù hợp với thực tiễn
tại Việt Nam.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Sự phát triển và tầm quan trọng của giáo dục STEM
3.1.1. Trên thế giới
Khái niệm về STEM không phải thuật ngữ quá mới mẻ. Trong thời k
đỉnh cao của cuộc đua không gian m 1958, tnhững nỗ lực về mặt giáo dc,
ý niệm STEM đã bắt đầu xuất hiện. Vào những năm 1990, các nhà quản lý khoa
học tại Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF) đã lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ
SMET để viết tắt cho các lĩnh vc “Khoa học, Toán học, thuật, Công nghệ”.
Đến năm 2001, thuật ngữ này được thay đổi thành STEM (Sanders, 2009).
Trong các ngữ cảnh cụ thể, thuật ngSTEM thường được sử dụng cùng
với các thuật ngữ khác như giáo dục STEM, chiến ợc STEM, nghề nghiệp
STEM... Khái niệm về giáo dục STEM đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên
cứu. Một số nghiên cứu tập trung vào việc cải thiện trình độ khoa học toán
học cho học sinh nhưng ít chú ý đến công nghệ kỹ thuật (Sanders, 2009; Wang
cs., 2011; Breiner cs., 2012). Mặc những tác giả y coi giáo dục STEM
phương pháp tích hợp các môn học thuộc STEM nhưng mục đích chính vẫn
nâng cao năng lực khoa học toán học. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác
đã chú trọng n đến công ngh k thuật (Bybee, 2010; Hoachlander &
Yanofsky, 2011). Theo quan điểm này, giáo dục STEM không chỉ cải thiện trình
độ khoa học mà còn phát triển năng lực công nghệ và kthuật, thiết kế, thậm chí
còn đề cập đến sáng tạo nghệ thuật. Tầm quan trọng của việc ứng dụng thực
tế trong giáo dục STEM cũng được nhấn mạnh (Tsupros & Hallinen, 2009;
Kelley & Knowles, 2016). Những kết quả nghiên cứu phong phú này đã làm
sáng tỏ c khía cạnh của giáo dục STEM nkhái niệm, hình thức tổ chức
hiệu quả của trong từng bối cảnh môn học, góp phần phát triển năng lực
của học sinh.
1174
Mỹ, kế hoạch chiến ợc năm 2018 đã trình y một tầm nhìn cho tương
lai, trong đó mọi người dân Mỹ sẽ quyền tiếp cận suốt đời với giáo dục STEM
chất lượng cao Msẽ duy trì vị trí dẫn đầu toàn cầu về sự hiểu biết, sự đổi
mới sáng tạo và việc làm trong lĩnh vực STEM. Kế hoạch tập trung vào ba mục
tiêu tổng quát như sau: (1) y dựng nền tảng vững chắc cho sự hiểu biết về
STEM bằng cách đảm bảo rằng mọi người dân Mỹ đều có cơ hội nắm vững các
khái niệm cơ bản về STEM và trở nên thành thạo về kỹ thuật số; (2) Tăng cường
sự đa dạng, công bằng hòa nhập trong lĩnh vực STEM bằng cách cung cấp
cho mọi người dân Mquyền tiếp cận suốt đời với giáo dục STEM chất ợng
cao; (3) Chuẩn bị lực lượng lao động STEM cho tương lai (White House Office,
2023). Sau đó, những chương trình giáo dục tập trung vào STEM đã được ph
biến mở rộng sang nhiều quốc gia khác. Tùy vào đặc thù của từng nền giáo
dục mỗi quốc gia khái niệm về giáo dục STEM được đề xuất theo nhiều
cách khác nhau.
Tại Úc, giáo dục STEM được hiểu một phương pháp học tập phát
triển dựa trên sự tích hợp các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kthuật toán hc.
Ngoài ra, các thuật ngnhư STEAM (Khoa học, Công nghệ, Kthuật, Ngh
thuật Toán học) STEM-HASS (Nhân văn, Nghệ thuật, Khoa học hội)
cũng được sử dụng nhằm mở rộng phạm vi của giáo dục STEM (Government of
Western Australia, 2020).
Tại Pháp, giáo dục STEM được tích hợp ở mọi cấp học. Ở Tiểu học: Học
sinh học Toán, Khoa học Tự nhiên Công nghệ, tham gia các hoạt động nghiên
cứu nhằm thúc đẩy sự quan tâm và phát triển duy phê phán. Từ Tiểu học đến
Trung học sở (THCS), học sinh 78 githí nghiệm khoa học mỗi năm.
THCS, học sinh học Toán, Khoa học (Vật lý, Hóa học, Khoa học Sự sống
Trái đất), Công nghệ theo định hướng giải quyết vấn đề và nghiên cứu. Ở Trung
học phổ thông (THPT), học sinh học Toán 4 giờ/tuần, Vật lý, Hóa học, Thể thao,
trụ 3 giờ/tuần, ½ giờ/tuần cho Khoa học Đời sống Trái đất. Các môn
học được dạy tích hợp và học sinh tham gia vào các chủ đề khám phá liên quan
đến STEM như Công nghệ sinh học, Y tế, Phát minh đổi mới công nghệ. Hiện
nay, chương trình học tích hợp Khoa học Công nghệ đang triển khai với nội
dung không dạy riêng lẻ được tích hợp vào một chương trình chung
(Ministère de l’Éducation Nationale et de la Jeunesse, 2012).
Giáo dục STEM ở Anh đã trở thành chương trình quốc gia với mục tiêu
tạo ra nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao, tập trung vào 04 lĩnh vực chính:
tuyển dụng và nâng cao trình độ giáo viên, cải tiến chương trình, và phát triển cơ
1175
sở vật chất. Giáo viên các môn hợp tác y dựng bài giảng tích hợp, giúp học
sinh áp dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề (Windale, 2016). Chương
trình học được m phong phú trong và ngoài lớp học, với sự đầu tư từ nhà nước
nhân. Trải nghiệm STEM được lồng ghép vào chương trình giảng dạy chính
khóa, coi STEM phương pháp tiếp cận, không phải môn học riêng biệt. Các
cách tiếp cận bao gồm: dự án STEM trong một môn học, trong nhiều môn học
với các giáo viên khác nhau dy cùng chđề từ góc đchuyên môn của mình,
phối hợp nhiều môn học, và song song với chương trình học để học sinh áp dụng
kiến thức vào giải quyết vấn đề thc tế (Hardman & West, 2016).
Theo báo cáo của Quỹ KOFAC, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã đưa ra
khái niệm về giáo dục STEM sau khi kết hợp với yếu tố nghệ thuật như
hình giáo dục nhằm tăng ờng sự quanm hiểu biết của sinh viên về công
nghệ khoa học, đồng thi phát triển kiến thức STEAM dựa trên công nghệ khoa
học và khả năng giải quyết các vấn đề trong thế giới thực (KOFAC, 2019).
Giáo dục STEM ở Singapore phát triển mạnh mẽ với sự tham gia tích cực
của Bộ Giáo dục c tổ chức công, nhân. Chương trình học tập ng dụng
(ALP) khởi xướng năm 2013 cung cấp trải nghiệm học tập thực tiễn cho học sinh
từ tiểu học đến trung học, được hỗ trợ bởi STEM Inc., cung cấp các gói bài hc
và buổi học tại trường hoặc Trung tâm Khoa học Singapore. Các trường STEM
chuyên biệt như NUS High (2005) SST (2010) cung cấp các chương trình
toán học khoa học nâng cao, tập trung o công nghthông tin truyền
thông. Một số trường như Hwa Chong Institution Raffles Institution
chương trình nghiên cứu độc lập dưới sự giám sát của nhà khoa học hoặc giảng
viên đại học. Chương trình STEM phi chính thức như Shell Singapore: The
Bright Ideas Challenge Drone Odyssey Challenge khuyến khích học sinh phát
triển kỹ năng kthuật duy phản biện, trong khi Maker Faire Singapore
sự kiện nơi các nhà sáng tạo trình y sản phẩm đổi mới. Trường Đại học Công
nghệ và Thiết kế Singapore (SUTD) và Viện Giáo dục Kthuật (ITE) cung cấp
các khóa học liên ngành về STEM. Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục STEM
tại NIE (meriSTEM@NIE), thành lập m 2018, nâng cao chất lượng giáo dục
STEM thông qua nghiên cứu, giảng dạy các hoạt động cộng đồng. Nhờ các
sáng kiến này, Singapore xây dựng nền giáo dục STEM toàn diện, giúp học sinh
phát triển kỹ năng cần thiết cho thế kỷ 21 (Tang, 2018).
Tại Malaysia, chương trình giảng dạy đã y dựng dựa trên bối cảnh
vấn đề, cùng với việc phát triển nguồn lực dạy học về STEM một cách toàn
diện (Lim, 2014).