
TRUYỆN KỂ DANH NHÂN LỊCH SỬ
TRUNG QUỐC
Lã hậu chi loạn
Năm 201 trước công nguyên, Lưu Bang lập nên vương triều Tây Hán, tức Hán
Cao Tổ, rồi đón vợ là Lã Trĩ đến Tràng An lập làm Hoàng hậu. Lã hậu là một
người cương nghị và giàu mưu lược, từ khi còn ở Phong Bái đã giúp Hán Cao Tổ
đánh dẹp thiên hạ, lập chiến công hiển hách trong việc thiết lập giang sơn của Lưu
Thị, bà còn nhiều lần bày mưu kế cho Hán Cao Tổ chu diệt các đại thần có công,
bình định các cuộc phiến loạn của vua chư hầu, trừ được mối hiểm họa cho thiện
hạ của nhà họ Lưu.
Lưu Doanh con của Lã Hậu tuy là con trai thứ, nhưng đã được Lưu Bang lúc xưng
đế lập làm Thái Tử. Lưu Doanh là người khoan hậu, lương thiện, nhưng tính nết
lại rất nhu nhược. Bấy giờ Lưu Bang sủng ái Thích phu nhân, nhà vua đã mấy lần
muốn phế bỏ Lưu Doanh, để lập Triệu vương Lưu Như Ý là con trai của Thích
phu nhân làm Thái Tử, nhưng bị Lã Hậu và các đại thần nhiều lần khuyên can, nên
đành phải gác lại.
Năm Lưu Doanh lên ngôi vua mới chỉ có 17 tuổi, vẫn còn là một thiếu niên lại nhu
nhược bất tài, nên đại quyền thiên hạ của nhà Hán đều do Hoàng thái hậu Lã Trĩ
nắm giữ, lịch sử TQ kể từ đó bắt đầu tiến vào thời đại Lã hậu.
Lã hậu nham hiểm và độc ác, sau khi Huệ đế lên ngôi, bà liền lập tức hà hiếp kẻ
tình địch của mình, là hai mẹ con Thích phu nhân và Lưu Như Ý. Năm 194 trước
công nguyên, bà triệu Lưu Như Ý vào kinh rồi toan ám hại. Huệ đế biết được việc
này, bèn tự mình đón Lưu Như Ý vào cung, rồi hai anh em cùng ăn cùng ngủ để
che chở cho Lưu Như Ý. Vào một buổi sáng, khi Huệ đế chuẩn bị ra ngoài tập bắn
cung, thấy Lưu Như Ý vẫn còn đang ngủ say thì không tiện gọi cùng đi, nhưng khi
trở về thì thấy Lưu Như Ý bị trúng độc nằm chết trên giường.
Ít lâu sau, Lã hậu lại cho chặt hết chân tay của Thích phu nhân, khoét mắt, hun
điếc tai, bắt uống thuốc cấm họng, đem quăng vào chuồng lợn gọi là "Nhân Phệ",
tức người lợn, rồi bảo Huệ đế đến xem. Huệ đế vừa nhìn thì nhận ra Thích phu
nhân, lòng dạ vô cùng kinh hoàng, đau đớn than khóc, về sau bị bệnh nặng nằm
liệt giường đến hơn một năm trời. Nhà vua sai người đến nói với Lã hậu rằng:
"Đây không phải việc người làm, thần là con trai của Thái hậu, không thể nào trị
được thiên hạ", rồi từ đó suốt ngày chỉ uống rượu vui chơi, không hỏi han đến
chính sự, toàn bộ quyền lớn nhà nước đều giao cho mẫu hậu. Lưu Doanh làm vua

bù nhìn được 7 năm, đến tháng 8 năm 188 trước công nguyên thì lâm bệnh mất tại
cung Vị Ương Tràng An, bấy giờ mới chỉ 24 tuổi.
Sau khi Huệ đế mất, Lã hậu bèn lập Thái tử Lưu Cung lên làm vua, gọi là "Thiếu
Đế". Còn Lã hậu với danh nghĩa Thái Hoàng Thái Hậu đã chính thức can dự vào
việc triều chính, công khai thi hành mọi quyền lực của nhà vua.
Nhưng Lã hậu lúc nàykhông còn như trước nữa, tư tưởng đã có sự biến đổi to lớn,
bà tự mình thao túng quyền hành nhà nước còn cảm thấy chưa đủ, mà còn muốn
thay đổi thiên hạ của họ Lưu thành thiên hạ của họ Lã. Năm 187 trước công
nguyên, Lã hậu đề nghị các đại thần chia phong cho các anh em nhà mình làm
Vương, các đại thần chẳng còn cách nào khác đành phải nhận lời. Do đó, các tử đệ
cùa dòng họ Lã là Lã Đài, Lã Sản, Lã Lộc v v, đều được phong Vương. Sau đó, Lã
hậu còn ra lệnh cho Lã Đài và Lã Sản phân chia thống lĩnh Nam quân và Bắc
quân, nắm giữ quân quyền ở kinh sư, bà còn kiếm cớ sát hại hai người con trai của
Lưu Bang là Triệu vương Lưu Hữu và Lương vương Lưu Khôi, ra sức bài xích thế
lực họ Lưu, đồng thời bà còn đem nhiều phụ nữ dòng họ Lã gả cho các vương hầu
họ Lưu, để chế ngự thế lực của dòng họ này.
Năm 184 trước công nguyên, vua bù nhìn Lưu Cung lên ngôi được 4 năm, khi
được biết mình không phải là con đẻ của Trương hoàng hậu, mà mẹ đẻ của mình
đã bị Thái hậu giết chết thì trong lòng vô cùng đau đớn, thề sau này khôn lớn nhất
định sẽ báo thù cho mẹ, lời nói này chẳng may đến tai Lã hậu, bà sợ sau này sinh
biến, liền cấm cố Lưu Cung rồi ít lâu sau thì sát hại. Lã hậu lại lập con của Huệ đế
là Thường Sơn vương Lưu Nghĩa lên làm vua, đổi gọi là Lưu Hoằng, đây lại là
một ông vua con nữa trong lịch sử, mọi quyền hành lớn của vương triều nhà Hán
vẫn nằm gọn trong tay Lã hậu.
Lã hậu nắm quyền triều chính trong 16 năm trời, cho mãi tới khi tạ thế vào năm
180 trước công nguyên mới chấm dứt.
Trước khi qua đời, bà đã phong cháu là Lã Sản làm tướng quốc, Lã Lộc làm
thượng tướng, con gái của Lã Lộc được phong làm Hoàng hậu. Dù vậy, thế lực
của họ Lưu vẫn rất lớn mạnh, thừa tướng Trần Bình và thái úy Chu Bột đã ngấm
ngầm liên hệ với họ Lưu, khởi binh thảo phạt họ Lã, giết chết Lã Sản, Lã Lộc,
thiếu đế Lưu Hoằng, cùng con cái của Huệ đế, rồi lập Lưu Hằng lên làm vua, khôi
phục ách thống trị của dòng họ Lưu, thời đại Lã hậu đến đây chấm dứt.
Tiêu Tào lưỡng tướng quốc
Tiêu Hà và Tào Tham trước đây đều làm quan lại ở huyện Bái, cùng theo Hán Cao
Tổ khởi binh. Tào Tham là nguyên huân dựng nước Tây Hán, chiến công hiển
hách, thương tích đầy mình, nên có khá đông người tỏ ra rất bất bình trước việc
cấp bậc ông còn thấp hơn Tiêu Hà, từ đó dẫn đến mối quan hệ giữa hai người ngày
một lạnh nhạt, nhưng Tiệu Hà biết rất rõ Tào Tham là một nhân tài trị nước, nên
vẫn đề cử với Hán Huệ Đế cho Tào Tham sang nước Tề làm tướng quốc.
Sau khi đến nước Tề, Tào Tham bèn lập tức triệu tập các trưởng giả và một số
phần tử tri thức có tài cán ở địa phương lại, khiêm tốn hỏi ý kiến họ nên làm thế
nào quản lý tốt nhân dân và xây dựng nhà nước đã bị chiến tranh tàn phá. Do số
người này đông tới mấy trăm người, mà mỗi người đều trình bày theo nhận thức

riêng của mình, nên các biện pháp được nêu ra cũng rất khác nhau, khiến Tào
Tham cảm thấy rất lúng túng, chưa biết nên bắt đầu từ đâu.
Giữa lúc đó, có một người mách với ông rằng, ở ngoại ô phía tây có một người tên
là Cái Công rất giỏi về nghiên cứu học thuyết "Vô vi nhi trị", rất có tài trị nước.
Tào Tham nghe xong bèn lập tức cử người đem theo nhiều lễ vật đi mời Cái Công
đến. Khi Cái Công đến nơi,Tào Tham kính cẩn hành lễ, thỉnh giáo đạo trị thế yên
dân. Cái Công thấy Tào Tham thật lòng như vậy, bèn kiến nghị áp dụng biện pháp
"Thanh tĩnh vô vi" để quản lý nước Tề lúc bấy giờ.
Cái Công nói: "Chỉ cần quan trên thanh tĩnh, không sinh sự, không nhiễu dân, thì
dân chúng tự nhiên sẽ sinh sống yên ổn. Chỉ có như vậy, kinh tế xã hội mới được
khôi phục và phát triển, mới quản lý tốt được nhà nước". Tào Tham nghe xong vô
cùng mừng rỡ, bèn lưu Cái Công ở lại nước Tề, để tiện khi hỏi mưu kế trị nước.
Hán Huệ Đế lên ngôi được hai năm thì Tiêu Hà lâm bệnh nặng, ông lại lần nữa
tiến cử Tào Tham đến thay mình đảm nhiệm chức vụ thừa tướng. Tào Tham được
điều đến triều đình vẫn duy trì tác phong như trước, vô vi nhi trị.
Các đại thần thấy Tào Tham không có chí tiến thủ như vậy thì vô cùng sốt ruột, họ
đã đến nhà gặp ông để góp ý. Nhưng khi đến nơi thì Tào Tham mời họ cùng uống
rượu. Có người nêu ra việc lớn triều đình thì Tào Tham đều phá ngang né tránh,
khiến họ cảm thấy rất cụt hứng. Cuối cùng thì người nào người nấy đều say khướt
rồi ra về. Hán Huệ Đế thấy vậy thì cho Tào Tham là một lão già lẫn cẫn, nên rất
coi thường ông..
Tào Quật còn trai của Tào Tham lúc đó đang làm người hầu nhà vua trong cung.
Một hôm, Hán Huệ Đế dặn anh ta rằng: "Khi về nhà hãy nó với cha ngươi rằng:
"Cao Tổ đã quy tiên, nhà vua hãy còn trẻ, việc lớn nhà nước đều nhờ vào thừa
tướng chủ trì, vậy mà cha chỉ suốt ngày uống rượu, cơ bản không đoái hoài tới
việc triều chính, cứ thế này mãi thì làm sao quản lý tốt nhà nước?", rồi chờ xem
cha ngươi phản ứng ra sao".
Tào Quật về nhà bèn đem lời dặn của nhà vua nói lại với cha. Tào Tham nghe
xong, liền nổi giận mắng rằng: "Mày là một thằng ranh con, biết gì. Mà việc lớn
nhà nước cũng chẳng đến lượt mày chõ mõm vào". Nói xong, bèn gọi người hầu
đem roi ra đánh cho Tào Quật một trận nên thân.
Tào Quật vô cớ bị đòn thì vô cùng uất ức, khi vào cung mới nói lại cho nhà vua
nghe. Hán Huệ Đế tỏ ra mất vui, mới triệu Tào Tham vào cung, hỏi ông tại sao lại
làm như vậy. Tào Tham đáp rằng: "Xin hỏi bệ hạ, bệ hạ so với tiên đế thì ai anh
minh hơn?". Nhà vua đáp: "Trẫm không thể nào bì kịp tiên đế". Tào Tham lại hỏi
tiếp: "Thần so với Tiêu Hà thì người nào thông minh hơn?". Nhà vua đáp: "Ngươi
có có phần đuối kém hơn so với Tiêu thừa tướng". Tào Tham nói: "Thế thì đúng
rồi, bệ hạ không bằng tiên đế, thần không bằng Tiêu thừa tướng, thì pháp lệnh do
tiên đế và Tiêu thừa tướng đặt ra, chúng ta chỉ có thể tiếp tục thi hành, như thế
chẳng phải tốt lắm sao?". Hán Huệ Đế đến lúc này mới hiểu rõ được dụng ý của
Tào Tham, đành chỉ gật đầu khen ngợi. Trong lịch sử đã gọi sự kiện này là "Tiêu
quy Tào tùy".

Sau khi nhậm chức thay Tiêu Hà, Tào Tham đã không đường đột thay đổi chế độ
tiền nhiệm, mà vẫn tiếp tục kế thừa chính sách cũ, bởi lẽ thực tế đã chứng minh
chính sách tiền nhiệm rất đúng đắn. Qua đó, có thể thấy Tào Tham không chỉ là
một viên tướng rất dũng mãnh, mà còn là một nhà chính trị rất sáng suốt.

