ng dng các Peptide đi kháng vi khun gây
bnh trong nuôi trng thy sn
ỨNG DụNG C PEPTIDE ĐI KHÁNG VI KHUẩN GÂY BệNH TRONG NUÔI TRồNG
THủY SảNĐể điều tr và x tác nhâny bệnh trên động vật nuôi thủy sản, thuốc kháng sinh
hóa chất là phương pháp chính yếu được dùng trong nuôi trng thủy sản. Tuy nhiên, có một
svấn đề chính với phương pháp này, bao gồm chi phí tiền mua thuốc, dư lượng kháng sinh và
chúng có thể đe dọa đến sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến môi trường, và cui cùng sphát
triển của mầm bệnh kháng thuốc và chúng có thlây nhiễm cho con người. Vì vậy, cần thiết tìm
ra một chất mới thể thay thế mà có thể chống li mầm bệnh trên thủy sản. Trên nhiu vật nuôi
thủy sản, có rất nhiều loài khả năng sản sinh petide kháng sinh (AMPs) khác nhau. Những
loi AMPs này sẽ được sử dụng trong công nghiệp dược liệu và được sử dụng như những loại
kháng sinh có thể kháng vi sinh vật kháng kháng sinh.
Peptide kháng sinh (AMPs) bao gồm một đoạn peptide hoặc mt protein nhỏ có khả năng kháng
lại vi sinh vật. AMPs vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch bẩm sinh chúng được tìm thấy
hu hết trên tt cả sinh vật sống. AMPs có ch thước phân tử và cấu trúc khác nhau từ 20-100
amino acid. AMPs có phổ kháng lại vi sinh rất ln bao gồm nm, vi khuẩn, vi rút và kí sinh
trùng, thậm chí vi khuẩn kháng thuốc. Gần 1000 (AMPs) đã được xác định trên r
ất nhiều sinh vật
khác nhau.
Ở loài giáp xác một số AMPs đã được xác định như carcinin ở cua biển Carcinus maenas,
protein kháng sinh này kích thước khoảng 11.5 kDa. Peptide này khả năng kháng li vi
khuẩn Gramơng
Một loi AMPs khác cũng được phát hin ở tôm thẻ chân trắng, tôm thẻ đại tây dương, tôm
tôm he Trung Quc là Penaeidin khả năng kháng nấm và vi khuẩn Gram dương. Họ hàng
với AMP ở trên tôm ngun gc từ cua biển là Crustin. AMPs này được xác định trênm th
chân trắng, tôm sú và tôm chân trắng Đại tây Dương có trình tự tương đồng rất cao với carcinin.
Trên cá, có rất nhiều nghiên cứu và đã xác định được nhiều loi AMPs hiện diện nhiều loài
khác nhau như pardaxin, pleurocidin, misgurin, chrysophsins, defensins và cathelicidins.
bơn Nhật bản tiết ra AMP hepcidin có kích thước khoảng 26 amino acid có tên là JF2. Peptide
kháng sinh này phkháng sinh rất rộng trên vi khuẩn gram âm và gram dương như
Escherichia coli, Staphylococcus aureus Lactococcus garvieae. AMPs Piscidins được phân
lập trên cá chẽm lai (cá cái Morone chrysops x cá đực Morone saxatilis) có khả năng kháng
virus, vi khuẩn, nấm và kí sinh trùng. Trên cá rô phi, mt số AMP được phát hiện và định danh
bởi các nhà khoa học đó là hepcidin (TH)2-3, pepetide kháng sinh này khả năng chống lại vi
khuẩn Gram âm như Vibrio vulnificus. Trên cá nheo ở Mỹ, peptide AMP được pt hin là
hepcidin, LEAP-2, NK-lysin và HbßP-1 có khả năng kháng kí sinh trùng Ichthyophthirius
multifiliis vi khuẩn Aeromonas hydrophila . TH1-5 tiết ra từ cá rô phi và epinecidin-1 từ cá
mú có chức năng kháng li vi rút hoại tử thần kinh (VNN). Ở cá hồi có thể tiết ra peptide kháng
sinh đó ß-defensin (BD)-1 có khả năng kháng vi rút hoại tử đường huyết (VHSV). …Bên c
ạnh
đó, AMPs còn được sử dụng trong điều chế vaccine bất hoạt thay thế các hóa chất bất hoạt khác
như formol, nhiệt mà không làm thay đi tính sinh hóa của vaccine bất hoạt. AMPs còn là chất
chống lại khối u và kích thích ttrong hệ miễn dch.
Công nghệ sinh học đang phát triển mt cách vược bậc, các gene mã hóa cho peptide kháng sinh
ở động vật thủy sản nuôi được phân lập và ứng dụng chúng vào sản xuất khối lượng lớn pepetide
kháng sinh trong thuc điều trị bệnh truyn nhim. Nhằm nâng cao giá tr sản phẩm và tăng hiệu
quả kinh tế trong ni trồng thủy sản. Đây là một bước tiến mới trong việc tìm ra và thay thế hóa
chất, kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản.