
1222
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GHI NHỚ TỪ KHOÁ VÀO DẠY HỌC
TIẾNG VIỆT Ở CẤP TIỂU HỌC
Hoàng Thị Hiền Lê
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Vinh, Nghệ An
TÓM TẮT
Phương pháp ghi nhớ từ khoá lâu nay thường được sử dụng trong việc
học ngôn ngữ thứ hai, mà chưa được chú trọng trong việc học ngôn ngữ mẹ đẻ.
Với việc phát triển năng lực, phẩm chất đặc thù của người học trong Chương
trình Giáo dục phổ thông 2018, chúng tôi đề xuất ứng dụng phương pháp ghi
nhớ từ khoá vào dạy học Tiếng Việt bậc tiểu học trên cơ sở phân tích ngữ liệu
sách giáo khoa mới, phân tích tương quan giữa bốn kĩ năng đọc, viết, nói, nghe
để xác định mối liên kết đặc trưng. Thông qua hệ thống từ khoá được thiết lập,
quá trình dạy học bốn kĩ năng sẽ có sự xâu chuỗi liền mạch, người dạy và người
học cũng làm chủ được quá trình phân tích, tiếp nhận và tái lập văn bản. Từ đó,
các kĩ năng mở rộng vốn từ, tìm chủ đề, phát hiện cấu trúc ngữ pháp, tập làm
văn, liên hệ bài học sẽ trở nên khoa học hơn.
Từ khoá: Ghi nhớ; từ khoá; Tiếng Việt; tiểu học
1. Giới thiệu
1.1. Cơ sở tiếp cận
Với việc phát triển phẩm chất, năng lực đặc thù của người học trong
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, các phương pháp dạy và học môn tiếng
Việt trên cả bốn kĩ năng vẫn thường xuyên được nghiên cứu, đổi mới. Có thể kể
đến các công trình về phương pháp dạy tiếng Việt như “Bàn về dạy học môn
Tiếng Việt ở tiểu học theo hướng tiếp cận năng lực” của Trần Thế Sơn trên
website của Bộ giáo dục và đào tạo, “Phương pháp dạy học ngôn ngữ sử dụng
tình huống” của Đào Duy Tùng (2016), các công trình nghiên cứu về từng kỹ
năng cụ thể như “Định hướng đánh giá năng lực viết của học sinh tiểu học” của
Lê Ngọc Tùng Khanh (2015), hay “Định hướng dạy học đọc hiểu văn bản văn
học cho học sinh lớp 1 trong bộ sách Kết nối” của Vũ Thị Thương (2021). Từ
nhiều phương pháp tiếp cận, trên cơ sở kinh nghiệm đã áp dụng vào quá trình
dạy học ngoại ngữ hai, chúng tôi đề xuất phương pháp ghi nhớ từ khoá trong
việc giảng dạy môn tiếng Việt tiểu học. Lý thuyết này đã bắt đầu được đề cập
trong Atkinson & Raug (1975). Phương pháp ghi nhớ từ khoá là một cách thức

1223
để lưu trữ và tìm kiếm thông tin dựa trên việc được gắn từ khóa với nội dung cần
lưu trữ. Phương pháp này giúp tăng cường khả năng ghi nhớ và tìm kiếm thông
tin một cách hiệu quả. Phương pháp ghi nhớ từ khoá dựa trên một số nguyên lý
của tâm lý học nhận thức, đặc biệt là lý thuyết về bộ nhớ và học tập của con
người. Các lý thuyết chính bao gồm: Lý thuyết mã hoá kép (Dual-coding Theory)
được phát triển bởi Allan Paivio, lý thuyết này cho rằng thông tin được mã hoá
trong bộ nhớ theo hai cách là ngôn ngữ (verbal) và hình ảnh (visual). Nếu chúng
ta sử dụng cả hai phương thức này cùng lúc sẽ cải thiện khả năng ghi nhớ và hồi
tưởng thông tin. Lý thuyết ghi nhớ hoạt động (Active Memory Theory): Lý
thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học tập tích cực, nơi học sinh
tham gia vào quá trình học tập thông qua các hoạt động như viết, nói, hoặc vẽ,
giúp củng cố kiến thức trong bộ nhớ dài hạn.
Phương pháp ghi nhớ từ khoá là một chiến lược học tập trung vào việc sử
dụng từ khoá để giúp học sinh ghi nhớ thông tin một cách hiệu quả. Đây là một
kỹ thuật thường được sử dụng trong việc học ngôn ngữ và có thể được áp dụng
trong việc dạy và học tiếng Việt ở cấp tiểu học. Phương pháp này giúp học sinh
nhớ từ vựng, cấu trúc câu và các kiến thức ngôn ngữ khác một cách dễ dàng hơn
thông qua việc liên kết từ khoá với hình ảnh, âm thanh hoặc các tình huống cụ
thể.
1.2. Cách thức gọi tên “từ khoá”
Trong việc học ngoại ngữ thứ hai, tính hiệu quả của phương pháp ghi nhớ
từ khoá đã được khẳng định và phổ biến rộng rãi. Bắt đầu từ năm 1975, phương
pháp này với những nguyên lý cơ bản đã chính thức được đặt tên là Keyword
Method bởi hai nhà nghiên cứu Atkinson & Raugh (1975). Dựa vào những
nguyên lý trong quá trình học ngoại ngữ hai, chúng tôi đã phân tích thử nghiệm
để hoạt động phù hợp với việc học tiếng Việt - ngôn ngữ mẹ đẻ. Tầm quan trọng
của từ khóa đã được thể hiện ngay từ tên của phương pháp này. Nguyên tắc đầu
tiên người sử dụng cần tuân thủ là từ khóa được chọn phải là từ mà người học có
thể dễ dàng truy xuất từ bộ nhớ sau quá trình tiếp cận văn bản, đề bài và sử dụng
một cách logic, khoa học. Đó là những từ dễ thuộc, dễ nhớ để hiểu biết về văn
bản. Đồng thời, đó cũng là những từ gợi ra định hướng để liên hệ, mở rộng bài
học đã cho.
Chúng ta có thể lấy ví dụ với chủ điểm “Uống nước nhớ nguồn”, đề tập
làm văn “Kể lại câu chuyện về một nhân vật lịch sử mà em đã đọc, đã nghe”
(trang 45, SGK Tiếng Việt 4, tập 2, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo
dục Việt Nam). Trước khi lập dàn ý hay viết bài theo yêu cầu, người dạy có thể

1224
hướng dẫn học sinh tìm các từ khoá liên quan đến chủ đề này theo tư duy suy
luận: Nhân vật lịch sử → anh hùng → chiến tranh → hoà bình → khâm phục →
biết ơn → “uống nước nhớ nguồn”.
Như vậy, từ yêu cầu của đề, người học đã có thể hình dung được những ý
sẽ triển khai theo tư duy từ khoá đã được liệt kê, đồng thời hiểu được mối liên
kết khoa học và chặt chẽ giữa kĩ năng viết và kĩ năng đọc hiểu, nói nghe có chủ
đề chung là “uống nước nhớ nguồn”.
Điều quan trọng của phương pháp ghi nhớ từ khoá nằm ở việc cung cấp
cho người sử dụng một kết nối mật thiết giữa từ trong văn bản khóa và từ khoá,
từ đó làm dày hơn các dấu hiệu trong trí nhớ (mental clues) dẫn họ đến các nội
dung liên quan cần triển khai. Vì vậy, so với phương pháp lập dàn ý truyền thống,
phương pháp này hoàn toàn có thể đẩy nhanh quá trình người học đưa từ khoá
hiệu quả vào bộ nhớ, truy xuất từ thành các ý cụ thể với các dấu hiệu sẵn có trong
não bộ. Bên cạnh đó, phương pháp ghi nhớ từ khoá cho ra các kết quả rất khả
quan khi kiểm tra tính ứng dụng của phương pháp trong khả năng ghi nhớ các
loại từ: danh từ, động từ, tính từ… rất tích cực. Vì vậy, có thể thấy rằng phạm vi
sử dụng của phương pháp ghi nhớ từ khoá là không giới hạn và có thể áp dụng
được cho nhiều loại từ.
2. Phương pháp tiếp cận
Phương pháp ghi nhớ từ khoá là một công cụ hữu ích trong việc dạy và
học tiếng Việt ở tiểu học. Bằng cách sử dụng các liên kế giữa hình ảnh và âm
thanh, học sinh có thể ghi nhớ từ vựng và cấu trúc ngữ pháp một cách dễ dàng
và lâu dài. Tuy nhiên, để áp dụng thành công phương pháp này, cần có sự chuẩn
bị kỹ lưỡng và sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên, học sinh và phụ huynh. Việc
kết hợp phương pháp ghi nhớ từ khoá với các phương pháp giảng dạy khác sẽ
giúp nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện kỹ năng ngôn ngữ của
học sinh. Bài viết sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa,
khái quát hóa các tài liệu lý luận có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Đồng
thời, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp quan sát, tổng kết kinh nghiệm, nghiên
cứu sản phẩm hoạt động nhằm tìm hiểu thực tiễn về việc sử dụng từ khoá trong
quá trình dạy học môn tiếng Việt để có những đề xuất phù hợp với việc dạy và
học.
3. Nội dung nghiên cứu
Phương pháp ghi nhớ từ khoá không chỉ hỗ trợ trong việc học từ vựng mà
còn có thể áp dụng hiệu quả trong việc phát triển năng lực đọc hiểu và kỹ năng

1225
viết cho học sinh tiểu học. Dưới đây là nội dung cụ thể trong quá trình vận dụng
từ khoá ở từng kỹ năng.
3.1. Phương pháp ghi nhớ từ khoá trong việc phát triển năng lực đọc hiểu
Ðọc hiểu là năng lực nhận thức yêu cầu khả năng tích hợp thông tin trong
văn bản với tri thức người đọc, cũng là quá trình tương tác giữa một người đọc
với một văn bản (Võ Thị Thương, 2021). Đây là một quá trình tư duy có chủ
tâm, trong quá trình này, ý nghĩa được kiến tạo thông qua sự tương tác giữa văn
bản và người đọc”. Trong các năng lực văn học, năng lực đọc hiểu được xem là
quan trọng nhất vì tất cả các năng lực khác đều liên quan đến đọc hiểu, được phát
triển trên nền tảng của đọc hiểu văn bản. Mục tiêu trọng tâm trong dạy học Tiếng
Việt ở cấp tiểu học là phát triển kỹ năng đọc- hiểu, từ đó mới hình thành nền tảng
tốt cho kỹ năng viết (bao gồm viết chính tả và làm văn).
Năng lực đọc hiểu văn bản là vấn đề đã được nghiên cứu nhiều nhưng vẫn
cần được nhìn nhận sâu và kĩ hơn nữa. Bám sát mục tiêu phát triển năng lực của
chương trình giáo dục phổ thông môn ngữ văn năm 2018, tác giả đề xuất sử dụng
từ khoá trong quá trình đọc hiểu để giúp học sinh hình thành tư duy logic, khả
năng chủ động trong phát triển các kĩ năng của bản thân.
Trước hết, khi nhận thức được từ khoá trong văn bản, học sinh sẽ tăng
cường vốn từ vựng tiếng Việt cần thiết. Từ khoá giúp người học nhận diện và
hiểu nghĩa của các từ quan trọng trong văn bản. Khi gặp một từ mới trong khi
đọc, học sinh có thể tạo ra một từ khoá dễ nhớ liên quan đến từ đó bằng cách liên
kết với hình ảnh hoặc một tình huống cụ thể. Chẳng hạn như, với văn bản “Khu
bảo tồn động vật hoang dã Ngô Rông Gô Rô” trong SGK Tiếng Việt 4, tập 2 (Bộ
Kết nối tri thức), trang 113, người học sẽ bắt gặp các từ “bảo vệ”, “động vật”,…;
giáo viên có thể hướng dẫn các bạn liên kết những từ đó với hình ảnh về thiên
nhiên hoang dã, động vật trong rừng hay một bức tranh về sự tàn phá động vật.
Qua những liên kết, học sinh sẽ tìm được các từ vựng liên quan như: bảo tồn tự
nhiên, vẻ đẹp nguyên sơ… đây chính là những từ mới thú vị, ý nghĩa phát triển
tư duy ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp và tư duy. Dạy học tiếng Việt ở trường
tiểu học trước hết là dạy cho học sinh có khả năng sử dụng công cụ ấy một cách
hiệu quả nhất trong học tập và đời sống… Nếu hướng dẫn được học sinh kĩ năng
nêu từ khoá, xác định từ khoá, phát triển từ khoá…; giáo viên sẽ yên tâm về tư
duy ngôn ngữ, học sinh có thể tự tin ứng dụng ngôn ngữ ấy vào các môi trường
khác nhau.

1226
Vai trò thứ hai của việc sử dụng từ khoá trong bài đọc hiểu đó là khả năng
hiểu và nhớ ý chính của văn bản. Qua các từ khoá tìm được, học sinh có thể tóm
tắt ý chính của đoạn văn, đoạn thơ. Ngoài ra, học sinh cũng có thể tạo ra một
danh sách các từ khoá quan trọng để tóm tắt nội dung của từng đoạn hoặc cả bài
đọc. Ví dụ trong bài đọc “Tình bạn”, trang 68, sách Tiếng Việt 5 tập 1 bộ sách
Cánh diều, các từ khoá liệt kê được là: tình bạn, mùa hè, quê hương, biển xanh,
ô nhiễm… với nội dung là sự gắn kết của hai bạn nhỏ từ một tình yêu chung với
môi trường, quê hương (rừng, biển). Qua đó, giáo viên có thể định hướng các từ
khoá liên quan như "bảo vệ môi trường", "vẻ đẹp của biển", "tình bạn đẹp" giúp
học sinh dễ dàng nhớ lại nội dung chính của bài.
Ở năng lực đọc hiểu của học sinh tiểu học, ngoài việc tập đọc và hiểu văn
bản về nội dung, nghệ thuật; người dạy cũng cần định hướng cho học sinh bước
đầu mở rộng chủ đề, có những bài học liên hệ, nâng cao. Đây là nền tảng quan
trọng để lứa tuổi tiểu học có thể tiếp cận tốt bài đọc hiểu phức tạp hơn ở bậc
Trung học cơ sở. Trong quá trình bồi dưỡng năng lực đọc hiểu, thông qua việc
nhận thức bằng từ khoá, học sinh sẽ nối từ viết thành câu văn hay, đoạn văn ý
nghĩa. Bởi vậy, đọc hiểu là một quá trình nhận biết thông tin từ những góc nhìn
tinh tế thông qua quan sát, cảm nhận, hiểu biết của bản thân. Đọc hiểu cũng cần
đến sự nhạy cảm của tâm hồn để cảm nhận hết tư tưởng, tình cảm mà tác giả gửi
gắm qua văn bản. Qua đó người đọc thấy được cái hay, hiểu được tác phẩm và
cảm nhận được vẻ đẹp của nội dung, nghệ thuật được gửi gắm.
Qua kĩ năng gọi tên từ khoá, học sinh bắt đầu phát triển vốn từ vựng, hình
thành khả năng hiểu, nhớ ý chính văn bản và cuối cùng là suy luận, kết nối thông
tin trong - ngoài văn bản. Khi đọc đoạn văn, câu chuyện hay tác phẩm văn học,
người học có thể sử dụng từ khoá để xác định nhân vật chính, bối cảnh, sự kiện
quan trọng, từ đó suy luận ra thông điệp chính của câu chuyện. Văn bản đọc hiểu
là một tập hợp kí hiệu (hình thức) để biểu đạt một ý nghĩa, hàm chứa một thông
điệp (nội dung). Quá trình tiếp nhận văn bản là quá trình người đọc sử dụng thao
tác tư duy để kiến tạo ý nghĩa văn bản. Các thao tác được sử dụng rất đa dạng,
phong phú trên kiến thức nền của người đọc. Những từ khoá về kiến thức nền
chính là những kinh nghiệm, kiến thức về thế giới, kiến thức về cấu trúc tổng thể
của văn bản, kiến thức về ngôn ngữ đích mà người đọc có thể vận dụng khi tiếp
cận văn bản.

