Văn hóa Việt Nam: toàn cầu
hóa và thị trường
1. Quá trình toàn cu hoá, một hiện tượng nổi bật vào những thập kỷ gn đây, có
một ý nghĩa quan trọng đối với văn hoá của các nước rất khác nhau trên thế giới. Trong
điều kiện hiện nay, n hcần được nhìn nhn như một khía cạnh nhất định của toàn
cầu hoá, chứ không phải chỉ như phản ứng đối với việc toàn cu hvề mặt kinh tế.
Theo một ý kiến k phổ biến, scủa toàn cu hoá - trước hết đó là chiến
lược n hoá nhằm tuyên truyn, phổ biến và khng định những chuẩn mực, những giá
trvà nhng qui chế của hiện thực phương y trong toàn nhân loi. Tuy nhiên đây
cn nhớ rng toàn cu hoá n hoá kng nghĩa là c lập một kiểu loi n hoá
trên phm vi toàn thế giới. Thực tế cho thấy rng qtrình này bao gm cả những
đụng độ và u thun về n hoá.
Điều kiện cơ bản đối với việc một nền văn hoá dân tộc gia nhập vào không gian
văn hoá thế giới vẫn giữ được bản sắc riêng mà không đóng kín trong khuôn khổ nền
văn hoá của mình.
Đã nhiu lần người ta nhận xét rằng toàn cu hoá với chiến lược phổ biến các giá
trị pơng y đã gây ra sự chống đối bởi những rào cn được duy trì của văn hoá
truyền thống – của các xã hi mà cấu trúc dựa trên nhng giá trị tinh thần truyền thống
và có lịch sử khá lâu đời của sự phát triển văn minh. Đó là các xã hội có truyền thống
tương đối liên tục và lâu đời của sự hình thành cốt cách tinh thần và nếp sng dân tộc.
Thuộc số c xã hội này là Việt Nam, một nước đã bước lên con đường hiện đại hoá
kinh tế.
Trong những công trình nghiên cu hiện đại người ta thường nêu lên bốn q
trình hay bn hiện tượng toàn cầu hoá n hdiễn ra đồng thời và gn bó với nhau, có
tác động qua lại với các nền văn hoá bản địa và có ảnh hưởng nhất định đến chúng: 1)
Văn hoá quốc tế của các giới kinh doanh và chính trhàng đầu thế giới; 2) Văn hoá thế
giới mang tính chất trí tuệ; 3) n hoá đại chúng; 4) Các cuộc vận động xã hi (thường
là các cuộc vận động mới mang tính chất tôn giáo).
Tất cả các hin tượng này của toàn cu hoá văn hoá (chúng cũng là nhng động
lực) bằng cách này hay cách khác đều hiện diện ở Việt Nam hiện nay, nhưng khác biệt
về hình thức và tính chất ảnh hưởng của chúng đến đời sống xã hội đất nước. Đảng
Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam thực hiện việc kiểm soát và đồng thời sử dụng chúng
một cách thực dụng vì lợi ích phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Do kết quả của sự tác động qua lại giữa toàn cu hoá và văn hoá bản địa ta thấy có
thnhững biểu hiện các hậu quả khác nhau: văn hoá bản địa được thay thế bằng văn
hoá toàn cu; văn hoá toàn cầu và văn hoá bản địa cùng tồn tại mà không có bất cứ một
sự dung hợp nào; đang diễn ra sự tổng hợp giữa văn hoá toàn cu mang tính chất phổ
quát văn hoá bản địa; tôn giáo bản địa hùng mạnh phủ nhận văn hoá toàn cu.
Cũng như trong một số nước khác ở Đông Nam Á, ở Việt Nam, toàn cầu hoá làm
nảy sinh sự khu biệt “văn hoá”: văn hoá toàn cu được tiếp nhận nhưng với những biến
dạng quan trọng. Nói một cách khác: đang diễn ra sự tìm kiếm tính đồng nhất dân tộc,
việc bảo vệ vẻ đặc tvăn hoá. Điều quan trọng là làm sao cho những khuynh hướng ấy
phát triển song song, tạo thành sự thống nhất giữa toàn cầu hoá và khu biệt hoá - “toàn
khu hoá” (glokalizacija). Là người đề xuất thuật ngữ ấy, nhà xã hội học Anh quốc
Roland Robertson khng định rằng hai khuynh hướng toàn cu hoá và khu biệt hoá “xét
cho cùng bổ sung lẫn cho nhau và thâm nhp vào nhau, mặc dầu trong những tình hung
cụ thể có thể dẫn đến sự đụng độ”. Điều này rất quan trọng để hiểu được tính chất của
những biến đổi trong đời sống xã hội văn hoá Việt Nam, để nhận thức được triển
vọng phát triển trong tương lai của đất nước này.
Nói tóm lại, có thể công nhận sự hiện hữu Việt Nam một kiểu toàn cu hoá về
văn hoá độc đáo - đó một quá trình được điều hành, được lý giải lại trên bối cảnh của
những nhiệm vụ hiện đại hoá đất nước, trong đó nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
2. Toàn cu hoá n hoá làm biến đi bi cnh trong đó đang diễn ra việc sn
xut và tái sn xuất các nền n hoá dân tc, làm thay đi các phương tiện vốn giúp
cho nhng q trình y được thực hiện. Nhưng nh ng cthể của toàn cu hoá
n hoá đến nh chất và hiu quả của các nền n hoá dân tộc, đến cnh quyền và
nh hưng những tư ng của cng, nhng g trị và ni dung của chúng - điều này
hin nay hãy còn rt k c định. Tuy thế, cn phải i rằng chính n hoá, như
Daniel Patrick Moinihen khng đnh, chứ kng phải chính trị, quyết đnh s thành
công của một xã hi này hay mt xã hi kc. Tnhững m 1960, các nước công
nghip Đông Á, và mi đây, cnước Việt Nam XHCN, dưi nh ng của những
nn t nhất đnh, ni ta quan sát thy việc phục hồi đo Khổng với tư cách h
tưng chính tr đo thương mại. Nhờ đó mà khu vc Viễn Đông (trong đó
có Vit Nam) nhiều xung đt đã đưc khắc phục và vic hội nhập trên cơ s những
g trtruyền thống vốn kc biệt cơ bn với các giá trpơng y, đã tr thành
khuynh hưng phổ biến nhất. Theo mức đ giới tuyến giữa Đông Á tư bn và Đông
Á XHCN bt đu bi mòn, nn n hoá thống nhất vốn được hình tnh trên vtrí
của chúng càng ny càng bc lộ thc chất Khổng go của .
3. Đng lực hùng mạnh nhất của toàn cu hoá n hoá là n hoá đại chúng.
Việt Nam, c ng ty khổng lồ xuyên quc gia như Adidas”,Disney”, MTV... đã
gt hái nhiều thành ng trong việc phổ biến nó. Còn tiếng Anh hiện nay đang đóng
vai trò nhân tchủ yếu của việc truyền thứ n hoá này. Ni Việt Nam, cũng n
ng triệu người trên khp thế giới, đang sdụng tiếng Anh chủ yếu xuất pt t
nhng suy tính thực tế. Thanh niên Vit Nam ra sc học tiếng Anh bởi vì giúp cho
vic sdụng Internet, to nhiều cơ hội để kiếm được chỗ làm tốt để ra c ngoài
học tập.
Cũng cần phải nêu lên vấn đề đô thị hoá. Quá trình tập trung dân cư và đời sống
kinh tế trong các thành phố, việc di dân đã kích thích sự nở rộ của n hđại chúng.
Và hin nay, những trung tâm văn hoá đại chúng ở Việt Nam là hai thành phlớn nhất
Hà Ni và HChí Minh cũng như những đô thị lớn khác của nước này.
Ở đây cần phải nhấn mạnh rằng ảnh hưởng của phương y không phải là nhân t
duy nhất của toàn cu hoá văn hoá ở Việt Nam.
Cũng có thể nói đến sự thể hiện ở đây “ch chuyển hướng” độc đáo, khi mà
những nước chịu ảnh hưởng Khổng giáo ở Viễn Đông như Trung Quốc – trong lĩnh vực
văn hoá ý thức hệ truyền thống, và Hàn Quốc, Singapore, Hồng ng, Nhật Bản
trong lĩnh vực văn hoá đại chúng, đã trở thành nhng người tiếp máu về mặt n hoá
cho người Việt Nam hiện nay.
Nhiều bộ phim vô tuyến nhiều tập (trước hết là những bộ phim “cải lương uỷ mị”)
những hài kịch, những bộ phim võ hiệp, nhạc pop... và các loại sn phẩm khác của văn
hoá đại chúng du nhập từ các nước châu Á rất được ưa chuộng ở Việt Nam. Và những
bộ phim của Hollywood cũng rất phổ biến đối với khán giả Việt Nam.
Dẫn đầu trong việc truyền bá biến thể phương Đông của văn hoá đại chúng ở Việt
Nam Hàn Quốc. Phong cách sng của Hàn Quốc cùng với những giá trị phương Đông
khác đang trở thành phong cách sng chủ yếu đối với thanh thiếu niên Việt Nam và giai
cấp trung lưu đang hình thành.
Người ta quan sát thấy sự phát triển nhanh chóng về mặt qui mô của một hiện
tượng trong xã hội Việt Nam hiện đại - đó là khuynh hướng tiêu dùng vốn đang dần dần
trở thành một ý thức hệ mới vvăn hoá và ln át cả những học thuyết macxit và thậm chí
cả những giá trị truyền thống của phương Đông. Nời Việt Nam ngàyng chú ý nhiều
đến nhngch nghỉ ngơi giải trí mà một bộ phận không nhỏ thuộc về văn hoá đại chúng:
thể thao, du lịch, các quán Karaoke, du lịch chữa bệnh, v.v... Nhiều giá trị tiêu dùng, s
ham muốn các phúc lợi vật chất được quảng cáo tuyên truyền trongc bộ phim vô tuyến
nhiều tập, trong các bộ phim truyện, trong nhạc pop, trên các phương tiện thông tin đại
chúng, bằng cách công khai hay ngm ngm kêu gọi mọi người hãy tiêu dùng nhiều hơn
na. Còn cái đó đến lượt nó lại kích thích sự phát triển mạnh mcủa văn hoá đại chúng
mà th xác định như là văn hoá của xã hi tiêu dùng. Chính th văn hnày cũng tạo
nên con người với tư cách là người tiêu dùng chuẩn mực các phúc lợi vật chất và tinh
thần.