
VẬN TẢI VÀ GIAO NHẬN TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1. Khái niệm, đặc điểm của vận tải và giao nhận
Khái niệm vận tải? Khái niệm dịch vụ giao nhận? Dịch vụ giao nhận vận
chuyển là gì?
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích sử dụng của con người nhằm làm
thay đổi vị trí của con người và hàng hoá từ nơi này đến nơi khác. Lịch sử phát
triển của vận tải gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Vận tải Thương mại quốc tế là một bộ phận trong hợp đồng mua bán thương
mại quốc tế, là một bước quan trọng để thực hiện nghĩa vụ giao hàng, nhằm
chuyển giao quyền sở hữu đối tượng của hợp đồng mua bán từ người bán
sang người mua. Ngay từ khi ký hợp đồng mua bán TMQT người ta đã có thể
xác định trên nguyên tắc các điều kiện cơ sở giao hàng (Incoterms® 2020), ai
sẽ chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá. Việc chuyên chở hàng hoá có thể
thuộc về bên mua hoặc bên bán. Tuy nhiên trong thực tiễn rất ít có trường hợp
một số tổ chức ngoại thương đồng thời là một tổ chức vận tải. Do đó, căn cứ
vào trách nhiệm được thoả thuận trong hợp đồng mua bán, bên bán hoặc bên
mua sẽ tiến hành ký hợp đồng vận tải để chuyên chở hàng hoá cho họ.
Người ta có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau và áp dụng nhiều
phương thức vận tải khác nhau trong chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu
như ô tô, đường sắt, đường biển, nội thuỷ, hàng không, đường ống, bưu điện,
container, vận tải liên hợp… Trong đó phải kể đến phương thức vận tải đường
biển (khoảng trên 85% tổng khối lượng hàng hoá buôn bán trên thế giới được
vận chuyển bằng đường biển).
Phục vụ cho công tác chuyên chở là những nghiệp vụ về giao nhận, xếp dỡ
hàng hoá tại các điểm đầu mối vận tải, cũng như nghiệp vụ bảo hiểm trong
suốt quá trình chuyên chở. Giao nhận là một tập hợp các nghiệp vụ có liên
quan đến quá trình vận tải, nhằm mục đích chuyên chở hàng hoá từ nơi gửi
hàng đến nơi nhận hàng.
Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ
giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho,
lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng
cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải, hoặc của
người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng). Nói một cách
ngắn gọn, giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá
trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hoá từ nơi gửi hàng (người
gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng). Người giao nhận có thể làm
các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người
thứ ba khác.

Phạm vi các dịch vụ giao nhận là nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận kho
vận. Trừ phi bản thân người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) muốn tự mình
tham gia làm bất kỳ khâu thủ tục, chứng từ nào đó, còn thông thường người
giao nhận có thể thay mặt người gửi hàng (hoặc người nhận hàng) lo liệu quá
trình vận chuyển hàng hoá qua các cung đoạn cho đến tay người nhận cuối
cùng. Người giao nhận có thể làm dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua
đại lý và thuê dịch vụ của những người thứ ba khác.
Những dịch vụ mà người giao nhận thường tiến hành là:
Chuẩn bị hàng hoá để chuyên chở;
Tổ chức chuyên chở hàng hoá – trong phạm vi ga, cảng;
Tổ chức xếp dỡ hàng hoá;
Làm tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hoá;
Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước;
Làm các thủ tục gửi hàng, nhận hàng;
Làm thủ tục hải quan, kiểm nghiệm, kiểm dịch;
Mua bảo hiểm cho hàng hoá;
Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng;
Thanh toán, thu đổi ngoại tệ;
Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho người chuyên chở và giao cho người
nhận;
Thu xếp chuyển tải hàng hoá;
Nhận hàng từ người chuyên chở và giao cho người nhận;
Gom hàng, lựa chọn tuyến đường vận tải, phương thức vận tải và
người chuyên chở thích hợp;
Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hoá;
Lưu kho, bảo quản hàng hoá;
Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của
hàng hoá;
Thanh toán cước phí, chi phí xếp dỡ, chi phí lưu kho, lưu bãi…;
Thông báo tình hình đi và đến của các phương tiện vận tải;
Thông báo tổn thất với người chuyên chở;
Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thường…
Ngoài ra, người giao nhận còn cung cấp các dịch vụ đặc biệt theo yêu
cầu của chủ hàng như: vận chuyển máy móc thiết bị cho các công trình
xây dựng lớn, vận chuyển hàng triển lãm ra nước ngoài… Đặc biệt
trong những năm gần đây, người giao nhận thường cung cấp dịch vụ
vận tải đa phương thức, đóng vai trò là MTO (người kinh doanh vận tải
đa phương thức) và phát hành cả chứng từ vận tải.
2. Vai trò của vận tải và giao nhận trong thương mại quốc tế
2.1. Vai trò của vận tải trong TMQT
Vận tải quốc tế có tác dụng to lớn đối với buôn bán quốc tế và được thể hiện ở
các mặt chủ yếu sau đây:
* Vận tải quốc tế đảm bảo chuyên chở khối lượng hàng hoá ngày một tăng
trong buôn bán quốc tế. Hiện nay, tổng khối lượng hàng hoá chuyên chở trong
buôn bán quốc tế đạt tới khoảng 7 tỷ tấn/năm, trong đó trên 3/4 được chuyên

chở bằng đường biển. Khối lượng hàng hoá buôn bán giữa hai nước
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố vận tải. Ulliam, nhà nghiên cứu
kinh tế người Anh đã mô tả như sau: “Khối lượng hàng hoá lưu chuyển giữa
hai nước tỷ lệ thuận với tích số của tiềm năng kinh tế của hai nước và tỷ lệ
nghịch với khoảng cách chuyên chở giữa hai nước đó”.
* Vận tải quốc tế phát triển góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu
thị trường trong buôn bán quốc tế. Vận tải quốc tế phát triển và hoàn thiện đã
tạo điều kiện cho việc mở rộng chủng loại các mặt hàng trong buôn bán quốc
tế nói chung và thay đổi cơ cấu từng nhóm mặt hàng nói riêng. Hệ thống vận
tải quốc tế mở rộng, giá thành vận tải trên cự ly dài giảm đã tạo điều kiện mở
rộng thị trường cung cấp và tiêu thụ. Do đó, vận tải quốc tế góp phần làm thay
đổi cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế. Cự ly chuyên chở hàng hoá
trung bình trong vận tải đường biển quốc tế ngày càng tăng lên, ví dụ năm
1985 là 3.967 hải lý, năm 1998 tăng lên 4.230 hải lý.
* Vận tải quốc tế có tác dụng bảo vệ tích cực hoặc làm xấu đi cán cân thương
mại và cán cân thanh toán. Xuất nhập khẩu sản phẩm vận tải là một hình thức
xuất nhập khẩu vô hình rất quan trọng. Thu chi ngoại tệ trong lĩnh vực xuất
nhập khẩu sản phẩm vận tải và các dịch vụ liên quan đến vận tải quốc tế là
một bộ phận quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế. Xuất siêu sản phẩm
vận tải quốc tế sẽ có tác dụng tốt đối với cán cân thanh toán quốc tế. Ngược
lại, thiếu hụt trong cán cân xuất nhập khẩu sản phẩm vận tải quốc tế sẽ làm
xấu đi cán cân thanh toán quốc tế.
2.2. Vai trò của người giao nhận trong TMQT
Ngày nay do sự phát triển của vận tải Container, vận tải đa phương thức,
người giao nhận không chỉ làm đại lý, người uỷ thác mà còn cung cấp dịch vụ
vận tải và đóng vai trò như một bên chính (Principal) – người chuyên chở
(Carrier). Người giao nhận đã làm chức năng và công việc của những người
sau đây:
– Là môi giới hải quan (Customs Broker): Trên cơ sở được pháp luật cho phép,
người giao nhận thay mặt người xuất khẩu, hải quan. nhập khẩu để khai báo,
làm thủ tục hải quan như một môi giới
– Là đại lý (Agent): Người giao nhận nhận uỷ thác từ chủ hàng hoặc từ người
chuyên chở để thực hiện các công việc khác , nhau như: nhận hàng, giao
hàng, lập chứng từ, làm thủ tục hải … quan, lưu kho… trên cơ sở các hợp
đồng uỷ thác
– Là người gom hàng (Cargo Consolidator): ở châu Âu, người giao nhận từ
lâu đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho vận tải đường sắt. Đặc biệt,
trong vận tải hàng hoá bằng Container, dịch vụ gom hàng là không thể thiếu
được nhằm biến lô hàng lẻ (LCL) thành lô hàng nguyên (FCL) để tận dụng sức
chở của Container và giảm cước phí vận tải. Khi là người gom hàng, người
giao nhận có thể đóng vai trò là người chuyên chở hoặc chỉ là đại lý.

– Là người chuyên chở (Carrier): Người giao nhận có thể trực tiếp ký kết hợp
đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ một
nơi này đến một nơi khác. Người giao nhận có thể là người thầu chuyên chở
(Contracting -Carrier), nếu anh ta ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở.
Nếu anh ta trực tiếp chuyên chở thì anh ta là người chuyên chở thực tế (Actual
Carrier).
– Là người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO): Trong trường hợp cung
cấp dịch vụ vận tải đi suốt (vận tải “từ cửa đến cửa”), người giao nhận đã đóng
vai trò là người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport
Operator – MTO). MTO cũng là người chuyên chở và phải chịu trách nhiệm
đối với hàng hoá trong suốt hành trình vận tải.
Khi người giao nhận là người chuyên chở
Khi người giao nhận là người chuyên chở thì người giao nhận đóng vai trò là
một nhà cung cấp dịch vụ độc lập, nhân danh mình chịu trách nhiệm cung cấp
các dịch vụ mà khách hàng yêu cầu. Người giao nhận đóng vai trò là người
vận chuyển hàng hóa và phát hành chứng từ vận tải của mình.
Người giao nhận đồng thời là nhà vận chuyển có trách nhiệm cung cấp và
đảm bảo các dịch vụ liên quan đến việc vận tải. Tuy nhiên người giao nhận
không chịu trách nhiệm mất mát hư hỏng hàng hóa phát sinh trong các trường
hợp sau:
Khách hàng đóng gói và ghi ký hiệu mã không phù hợp.
Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hóa.
Do chiến tranh , đình công
Do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy thác.
Do các trường hợp bất khả kháng.
Người giao nhận còn được coi là “kiến trúc sư của vận tải (Architect of
Transport) vì người giao nhận có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách
tốt nhất, an toàn nhất và tiết kiệm nhất.

