
1
VNH3.TB2.151
VỊ TRÍ QUAN TRỌNG CỦA PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ
KỶ XX TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT NAM
PGS.TS. Chương Thâu
Viện Sử học
Khoảnh khắc giao thời giữa hai thế kỷ (XIX và XX) ở vùng Đông Á lúc bấy giờ diễn
ra nhiều sự kiện trọng đại, nhất là ở Nhật và ở Trung Quốc. Vận động duy tân ở Nhật Bản,
bắt đầu tới Minh Trị Thiên hoàng, đưa đến kết quả rực rỡ. Nước Nhật tiến lên thành một
cường quốc, đánh thắng được nước Nga. Cả thế giới, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á,
thừa nhận là nhờ có duy tân, nước Nhật mới đạt được thành tựu lớn như vậy. Vận động duy
tân ở Trung Quốc, bắt đầu với vua Quang Tự, gặp sự cản trở của thế lực phong kiến, rồi sự
xâu xé của các liệt cường, trải nhiều biến cố mới đi đến cuộc Cách mạng Tân Hợi. Nhưng
chính cuộc vận động này đã dồn dập xuất hiện rất nhiều tác phẩm lý luận chính trị xã hội,
làm cho giới nho sĩ ở Trung Quốc sực tỉnh, chuyển biến theo đường lối mới, và ảnh hưởng
mạnh mẽ đến các nước ở trong vùng. Cả khu vực Đông Á đang bắt đầu thức tỉnh, trong đó
có Việt Nam.
Riêng ở đất nước ta, tình hình đầu thế kỷ này cùng đầy biến động. Phong trào Cần
Vương đã bị dập tắt, nhưng tinh thần diệt thù cứu nước vẫn chưa chìm xuống. Tiếng vang từ
các cuộc khởi nghĩa (từ Phan Đình Phùng đến Đề Thám) vẫn còn ảnh hưởng lớn, vẫn thôi
thúc mọi người. Lớp văn thân trước kia, có vai trò chỉ đạo các cuộc nổi dậy, tuy không còn
người lãnh tụ tiêu biểu nữa, song cái chí nguyện độc lập, tự do, chống bọn xâm lăng của họ
vẫn còn đó, còn nung nấu chí nguyện phục thù. Một số nhà nho kế cận vẫn còn bị hấp dẫn
bởi những ngọn cờ quật khởi, vẫn ước mong được vì "non nước tuốt gươm ra". Tuy nhiên,
đã phảng phất cái quan niệm nhận thấy rằng những biện pháp đấu tranh: lập căn cứ riêng,
cướp thành, giành đất như các cuộc khởi nghĩa trước đây có lẽ là không ổn. Phải gánh đích
bằng những phương sách khác phải tiến hành cách mạng bằng các hình thức đấu tranh khác.
Thời kỳ bình định cơ bản đã qua rồi, chính quyền thực dân đang chuyển sang đường lối khai
thác, và vì thế mà đất nước này mang thêm những cục diện mới. Vừa muốn kìm hãm xã hội,
nhưng lại cũng vừa cần phải có sự đổi thay mới hợp với sự điều hành của kẻ cầm quyền.
Miền Bắc, miền Trung chưa có bao nhiêu, nhưng miền Nam đã đổi thay nhiều lắm. Tổ chức
quản lý khác việc học hành phải theo chương trình Pháp, khoa cử bị bỏ, việc đào tạo trước
nhất là kiếm người phục vụ cho bọn thực dân. Việc kinh doanh được mở mang, các đồn
điền, nhà máy bắt đầu phát triển. Khá quan trọng là sự ra đời của những người làm nghề tự
do, và sự tiếp thu văn hoá mới từ phương Tây đưa đến. Bấy nhiêu biến cố đã làm cho các
nhà nho phải nhìn thế cuộc bằng con mắt khác. Rõ ràng là xã hội đang có cái mới, ngày

2
càng nhiều và phát triển, nhà nho không muốn chấp nhận cái mới ấy cũng không được.
Đúng lúc ấy thì có khuynh hướng duy tân - nhất là từ bên Nhật đưa sang. Những nhà nho
còn dồi dào nhiệt huyết nhất bỗng thấy tăng sức mạnh cho "giống da vàng đánh bại bọn da
trắng". Vậy là phải duy tân, và có thể bắt chước hướng duy tân của Nhật Bản. Một số nhà
nho mạnh bạo nhất, có ý chí phục thù quyết liệt nhất, đã thiên về khuynh hướng ấy.
Nếu tấm gương duy tân Nhật Bản kích thích một bộ phận nhà nho Việt Nam một cách
sôi nổi, thì ở một bộ phận nhà nho khác, tình huống cuộc duy tân Trung Quốc lại có phần đậm
đà hơn. Lý do đơn giản là vì sách báo của Trung Hoa vào Việt Nam dễ hơn, đọc nhanh và
cũng hiểu nhanh hơn. Chưa thấy nói có tác phẩm nào của Nhật Bản bằng tiếng Nhật được lưu
hành ở nước ta, và những hiểu biết về Nhật Bản lúc đó, cũng chủ yếu bằng phương tiện ngôn
ngữ của Trung Quốc. Lúc đó, ở Trung Quốc tư tưởng duy tân càng thêm sôi nổi. Một loạt tác
giả mới, sách báo mới của những hội nghiên cứu, hội chính trị mới đã ra đời, đều có tính
hướng đến Việt Nam. Tất cả đều nhất loạt hô hào cái mới, lên án Thanh triều hủ bại, đòi bỏ
khoa cử, phủ nhận chế độ phong kiến, đề cao dân chủ, tán thành dân quốc. Các tác phẩm
phương Tây cổ xuý cho tư tưởng dân chủ đều được dịch ra, những tên tuổi mới lạ được phiên
âm thành Hán tự ta trở nên quen thuộc: Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), Lư Thoa (J.J
Rousseau), Phúc Lộc Đắc Nhĩ (Voltaire), v.v... Các nhà nho Việt Nam đã được đọc những
sách ấy và hào hứng tiếp thu, trân trọng những kiến giải mà họ cho là hợp lý nhất, mới nhất và
đúng nhất với lịch sử nhân loại tiến hoá. Họ cảm thấy phải đi theo con đường này, và đó cũng
là con đường cứu nước hiệu nghiệm. Cũng như một số nhà nho trên, lòng yêu nước của họ
chưa hề nguội lạnh, con đường duy tân này cũng là con đường thích hợp mà có phần nào chưa
phải trực tiếp đương đầu với gươm súng của bọn thực dân.
Thế là hình thành ra hai phái trong công cuộc vận động cứu nước. Một phái chủ
trương giành độc lập trước nhất, phải vũ trang bạo động, nếu sức mình chưa đủ thì tìm viện
trợ ở ngoài. Hoạt động theo hướng này, nếu ở ngay trong nước thì phải tiến hành một cách
bí mật, nếu ở ngoài nước thì hăng hái học tập Nhật Bản và Trung Quốc, tất nhiên phải đề
phòng sự khủng bố truy lùng của địch. Những nhà nho đi con đường này được xem là nằm
trong tổ chức bí mật, gọi là ám xã. Phe ám xã sang Tàu, nhất là sang Nhật, tức là làm nhiệm
vụ Đông du. Còn phe kia, tiến hành vận động đổi mới ngay trong nước, tìm cách khai thác
triệt để những điều kiện công khai, hô hào nâng cao dân trí, với danh nghĩa là thúc đẩy cho
quần chúng thấy rõ cái hủ bại của đất nước dưới chế độ phong kiến quân chủ. Việc làm này
có thể tiến hành đàng hoàng trước bộ máy chính quyền thực dân và tay sai. Vì thế, người ta
gọi họ là ở trong phái minh xã. Minh xã hay ám xã, thì vẫn cùng chung mục đích đổi mới
đất nước, giải phóng dân tộc.
Trong quá trình tuyên truyền giải thích chủ trương, có trường hợp các nhà nho trong
hai phái này tranh luận với nhau, thậm chí phản đối nhau kịch liệt, nhưng thật ra thì họ
"tương phản nhi tương thành" (chữ dùng của Huỳnh Thúc Kháng). Dân chúng không hề
nhầm lẫn điều đó, mà vẫn kính trọng, vẫn ủng hộ cả hai với nhiệt tình ca ngợi và tuân thủ
như nhau. Họ đều được xem là những nhà chí sĩ cứu nước. Có người còn nghĩ rằng, chính
các nhà nho phân công nhau, chia việc cho nhau và để cùng đi tới kết quả. Bản thân hai phái

3
nhà nho này, trong nhiều trường hợp, đã có cách nói như nhau, đặt vấn đề phục vụ dân tộc
như nhau, chứ không hề trái ngược gì nhau cả.
Hai ông Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu không nhất trí với nhau về đường lối,
nhưng vẫn là bạn đồng chí, đồng tâm, và phong trào được gọi là Duy Tân (bao gồm cả
Đông Kinh nghĩa thục) cũng có quan hệ với Duy Tân hội và với Quang Phục hội. Bọn thực
dân và tay sai, hiểu rõ điều này hơn ai hết, và đã tìm cách khủng bố cả hai phái ám xã, minh
xã với biện pháp khắc nghiệt như nhau.
Việc vận động duy tân trong nước chủ yếu là do phái minh xã. Cách tiếp nhận tư
tưởng duy tân của hệ, chủ yếu là bằng tân thư, nghĩa là bằng sách báo ở Trung Quốc, ở Nhật
Bản truyền sang. Có thể nhận ra trong kho sách này những loại tài liệu sau đây:
1. Loại sách giới thiệu, thuyết minh về tư tưởng duy tân dân chủ (tân thư). Có những
bộ phận sách tiêu biểu như Đại đồng thư của Khang Hữu Vi, nhất là bộ sách Ẩm Băng Thất
tùng thư của Lương Khải Siêu. Bộ sách này có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà nho Việt
Nam. Đọc Trung Quốc hồn, người ta cảm thấy Lương Khải Siêu không chỉ nói về Trung
Quốc mà đang nói về Việt Nam với tất cả các lạc hậu của xã hội, những hiểm hoạ đối với
nòi giống trước tình hình mới. Quyển sách Mậu Tuất chính biến ký, kể rõ cuộc vận động
duy tân thất bại của Quang Tự, cho thấy được những xáo động lớn lao của Trung Quốc và
đã thôi thúc nho sĩ Việt Nam cần phải kịp thời đổi mới, thấy rõ hơn bộ mặt và bản chất phản
động của chế độ phong kiến quân chủ. Hai tác giả Khang, Lương trở thành những lý thuyết
gia chỉ lối đưa đường cho các nhà nho duy tân.
2. Cùng với Mậu Tuất chính biến ký, còn có một số sách có tính cách là những tập
vịnh sử, ký sự về tình hình hiện đại của Nhật Bản như Nhật Bản duy tân tam thập niên sử
(bản dịch chữ Hán của La Hiếu Cao), v.v... Tấm gương duy tân của các nước láng giềng
được các sách này vẽ ra trước mắt các nhà nho, càng tăng thêm hào hứng và quyết tâm đi
vào hoạt động.
3. Nhiều tập sách nêu những tấm gương chiến đấu của các chí sĩ các nhà hoạt động
chính trị, hoạt động cách mạng của toàn thế giới cũng được các nhà nho đón đọc một cách
say sưa. Có tập như Kinh quốc mỹ đàm, nêu gương phụ nữ: Các bà Qua Đặc (Jeane d’Arc),
bà La Lan (Roland); có tập như Cận thế chi quái kiệt, đề cập đến đủ loại anh hùng, đều là
những người anh hùng có công đổi mới đất nước của họ, dù đó là vua chúa hay tổng thống,
giám quốc: Vua Bỉ Đắc (Pierre le Giand) ở Nga, Hoa Thịnh Đốn (Washington) ở Mỹ, Nã
Phá Luân (Napoléon) ở Pháp, Tỉ Sĩ Mạch (Bismarck) ở Đức v.v... Nhiều sách báo khác
cũng nêu những tấm gương như Mã Chí Nê (Mazzini), Gia Lý Ba Đích (Garibaldi) ở Ý, như
Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi), Cát Điền Tùng Âm (Yoshida Syoin) ở Nhật, v.v...
Tóm lại, nhà nho Việt Nam lúc này đã được làm quen và sùng mộ tất cả những nhà ái quốc
cổ kim. Tất cả đều được xem là thần tượng và đều được đưa vào văn chương cổ động Việt

4
Nam: người đọc nếu không hiểu, phải tìm lấy mà hiểu1. Thậm chí, có những người lấy ngay
tên các thần tượng ấy đặt làm biệt hiệu của mình. Phan Châu Trinh tự đặt tên mình là Hy
Mã (Mã Chí Nề: Mazzini).
4. Cùng với loại sách này là những tập sách dịch các luận thuyết của các nhà tư
tưởng thế kỷ XVIII ở phương Tây (có nhiều bản dịch ra Hán văn của nhiều tầng lớp dịch
giả). Được quen thuộc nhất là bộ Vạn pháp tinh lý của Mạnh Đức Tư Cứu (Esprit aes Lois
của Montesquieu), bộ Dân ước của Lư Thoa (Contrat social của J.J. Rousseau). Rồi những
sách của Đạt Nhĩ Văn (Đarwin), Tư Tân Tắc Nhĩ (Spencer), v.v... Tư tưởng dân chủ trong
các lý thuyết này có giá trị chi đạo rất lớn, và các lý thuyết gia này luôn được ca ngợi. Phan
Bội Châu khi viếng Phan Châu Trinh đã phải viết:
Cậy Tây học dặn dò phương tự chủ, Lư Thoa, Mạnh Đức so sánh người xưa.
Câu văn ấy đã nói đủ ý tứ sùng mộ của các nhà nho thời ấy.
5. Cuối cùng, còn phải nhắc đến các báo chí (tân văn) nhất là của Trung Quốc được
truyền sang Việt Nam lúc bấy giờ, đều là tài liệu quý được các nhà nho đón nhận. Đặc biệt
là tờ Dân báo của Trung Quốc Đồng minh do Chương Thái Viêm làm chủ bút. Cùng với
các ông Đàm Tự Đồng, Trâu Dung, Lương Khai Siêu, v.v... Chương Thái Viêm là một kiện
tướng xuất sắc trong trường ngôn luận lúc bấy giờ.
Cùng với những loại sách báo này, người ta cùng tìm cách cho lưu hành những văn
bản của những người Việt Nam tiên giác như Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ,
bản Thiên hạ đại thể luận của Nguyễn Lộ Trạch. Ngoài ra, khuynh hướng chú trọng về thực
nghiệm khiến cho một số nhà nho cũng tìm cách nghiên cứu một số vấn đề khoa học. Các
sách cũ (không thuộc thời kỳ duy tân) ở Trung Quốc lại được lục ra để tìm hiểu về nhiều
lĩnh vực: Sách nông nghiệp như Nông chính toàn thư, sách thiên văn như Quản khu trắc lệ.
Rồi những sách theo dạng tu tri (toán pháp, cách trí, v.v…) đều được tìm đọc. Đã nói cách
học xưa là học hư văn, thì học mới phải chuyên về thực nghiệp. Điều đó được các nhà nho
nhận thức một cách sâu sắc và cảm động, khiến cho họ phải tìm cách tự trang bị kiến thức,
trong hoàn cảnh giáo dục lúc bấy giờ.
Tiếp thu tân thư tân văn như vậy, đồng thời các nhà nho minh xã cũng bắt tay vào
hành động. Việc làm của họ tập trung vào một chủ đích lớn là thức tỉnh đồng bào, cốt nhằm
cho nhân dân quần chúng cả nước thấy rõ nguyên nhân vì đâu mà chúng ta sống trong tình
1 Thí dụ hai câu trong một bài hát nói:
Tỉ diện, Cách mi quân đối cánh
Qua tình, La tứ thiếp tân trang
Nghĩa là:
- Bộ mặt của ông Ti Tư Mạch (Bismarck), lông mày của ông Cách Lan Tư Đốn (Gladstone), anh nên soi gương.
- Tấm tình của bà Qua Đặc (Jeana d'Ars), tinh thần của bà La Lan (M. Roland), thiếp xin tô điểm theo.
Trong phong trào cố động đương thời, những điển tích ấy trở nên dễ hiểu và rất được ưa chuộng.

5
trạng "người ngu, nước yếu "(chữ dùng của Ngô Đức Kế). Họ trực tiếp đả kích cái học cũ,
đầu óc hủ nho và lối văn chương bát cổ làm mê muội con người. Họ công kích những thói
hư tật xấu và lên án chế độ phong kiến, chế độ quân chủ, nhắc nhở đến lịch sử cha ông, vạch
rõ những thảm cảnh của đất nước lâm vòng nô lệ. Hướng đi của họ là nhằm cổ động cái học
mới (tân học) và cổ động cho thực nghiệp. Để thực hiện cho chủ trương này, việc làm cụ thể
của họ là:
- Mở các trường học: Các nhà Duy Tân ở Quảng Nam (Phan Châu Trinh, Huỳnh
Thúc Kháng, Trần Quý Cáp) đi đầu trong việc đề xướng khai dân tự với việc mở hàng loạt
trường ở hầu khắp các làng quê của xứ Quảng. Đó là các ngôi trường kiểu mới của dân tộc
đầu thế kỷ trước. Nhưng tiêu biểu hơn cả là trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội (đã có
nhiều tài liệu viết về trường này). Nhà trường có chương trình đường lối như Văn minh tân
học sách, có tổ chức quy mô thu nhận hàng nghìn học sinh, có nhiều hình thức hấp dẫn:
“Buổi diễn thuyết người đông như hội/ Kỳ bình văn khách tới như mưa"- Nhà trường có
nhiều tác phẩm xuất sắc được lưu hành, phổ biến ra cả ngoài trường như những tài liệu
tuyên truyền cứu nước. Nhiều địa phương khác trong Nam ngoài Bắc đã cố gắng phỏng theo
mô hình này, dù ở quy mô nhỏ hẹp hơn.
- Tổ chức diễn thuyết ở nhiều nơi, nói về các đề tài liên quan đến vận động học mới,
đả kích tư tưởng, phong tục cổ hủ, đề cao dân chủ dân quyền. Rất nhiều nhà nho có uy tín
(các vị tiến sĩ, cử nhân, tú tài, các ông đốc học, giáo thụ, huấn đạo) tham gia công việc này,
gây một phong trào truyền bá tân học rất sôi nổi.
- Lập các hội buôn, các nhà hàng để giới thiệu, thông thương các hàng nội hoá, bán
sách tân thư. Cửa hàng Hồng Tân Hưng (nối theo Đông Kinh nghĩa thục) miền Bắc, cửa
hàng Triệu Dương thương quán (Nghệ An), cửa hàng Liên Thành (miền Nam Trung Bộ),...
là những thí dụ.
- Ngoài những hình thức trên đây, ở một số nơi khác trong nước, còn có những
phong trào đột khởi, cũng do những nhà nho duy tân tiến hành. Khởi đầu, có lẽ là do sáng
kiến của một vài vị thân sĩ nào đó, sau được lớp nhà nho trẻ tuổi thực hiện một cách ào ạt.
Thí dụ như phong trào cắt tóc: cắt cái búi tóc được xem là một hình thức tiêu biểu cho cái
cục hủ cổ truyền của Việt Nam.
Những hành động như trên, cố nhiên là do sự chỉ đạo, sự thôi thúc của các nhà nho
trong phái minh xã. Nhưng trong phạm vi bí mật, không phải không có tác động của phái
ám xã. Tài liệu học tập ở Đông Kinh nghĩa thục có những thơ văn cổ động của phái Đông
Du được dịch và lưu hành (Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu được Lê Đại dịch). Có
cả những liên lạc kín đáo giữa phong trào Đề Thám với trường này. Và ở miền trong, sự
thân tình của Phan Bội Châu (lãnh tụ phái ám xã) cùng các ông Đặng Nguyên Cẩn, Trần
Quý Cáp càng chứng tỏ họ cùng chung mục đích. Bản án kết tội Huỳnh Thúc Kháng, Phan
Thúc Duyện, Nguyễn Thành, Lê Bá Trinh của thực dân, nói rõ là những người này (minh
xã) đã thông đồng với Phan Bội Châu (ám xã).

