
JOMC 69
Tạp chí Vật liệu & Xây dựng Tập 15 Số 03 năm 2025
Giá trị gia tốc ở đỉnh công trình gần như không đổi khi chịu tải
động đất cho thấy gia tốc đỉnh gần như không chịu ảnh hưởng của độ
mềm nút khung cũng như hiệu ứng P
Đánh giá chung
Độ mềm của nút khung có ảnh hưởng đáng kể đến chu kỳ dao
động của công trình, chênh lệch khoảng %, làm thay đổi độ cứng
ngang của công trình có thể tới %. Minh chứng rõ nhất cho việc
giảm độ cứng này là chuyển vị đỉnh của công trình khi chịu gió cũng
tăng lên theo tỷ lệ tương ứng, khoảng 27 %, khi chịu động đất con số
này là khoảng 24 %. Mô men uốn khi chịu tải gió khi kể đến độ mềm
của nút khung tăng khoảng 10 %, khi chịu động đất khoảng
nhiên, các đại lượng khác như gia tốc đỉnh công trình, lực cắt đáy công
trình, năng lượng truyền vào công trình khi chịu động đất hầu như
không chịu ảnh hưởng của yếu tố độ mềm của nút khung.
Khi ảnh hưởng hiệu ứng P được bổ sung vào độ
mềm của nút khung, chu kỳ dao động của khung có thể tăng lên tới
%, điều đó sẽ kéo theo độ cứng ngang của công trình sẽ giảm khoảng
%. Khi đó, đỉnh công trình có giá trị chuyển vị tăng thêm khi chịu
tải gió cũng cùng giá trị đó, khoảng 4 %, còn khi chịu động đất, con
số này là khoảng 30 %. Về mô men uốn của cột dưới cùng của khung,
trường hợp chịu tải trọng gió khi kể đến ảnh hưởng của hiệu ứng P
delta, giá trị sẽ tăng thêm 16 % so với sơ đồ 1 (sơ đồ nút cứng được
để tham chiếu). Tuy nhiên, trong trường hợp động đất, các đại
lượng như gia tốc đỉnh công trình, mô men lớn nhất ở cột dưới
cùng, lực cắt đáy gần như không chịu ảnh hưởng của hiệu ứng P
Kết luận
Từ lâu, các kỹ sư xây dựng đã nhận thấy nút khung có độ mềm
nhất định, chứ không cứng tuyệt đối như lâu nay vẫn mô phỏng trong
các mô hình tính toán thiết kế. Độ mềm nút khung, như biểu hiện trong
ví dụ khảo sát của bài báo, là có ảnh hưởng đáng kể đến ứng xử của
kết cấu, cụ thể là độ cứng của khung, từ đó làm gia tăng chu kỳ dao
động công trình, tăng chuyển vị ngang của đỉnh công trình và mô men
uốn ở chân công trình trong các trường hợp kết cấu chịu tải trọng ngang
(như gió và động đất). Do vậy, tác giả đề nghị cần thiết đưa độ mềm
của nút khung vào sơ đồ khi mô hình hoá kết cấu để tính toán thiết kế.
Hiệu ứng P delta trong kết cấu cũng là một hiệu ứng thường
xuyên tác động lên công trình, tuy nhiên dường như cũng hay bị bỏ
quên khi mô hình hoá kết cấu. Theo khảo sát trong bài báo này, tác giả
nhận thấy hiệu ứng P delta bổ sung tác dụng làm giảm độ cứng của kết
cấu, kéo theo gia tăng chu kỳ dao động, tăng chuyển vị ngang, tăng giá
trị mô men uốn trong các cột dưới cùng (do gió). Tác giả cũng đề xuất
đưa hiệu ứng P delta vào trong mô hình khi mô phỏng kết cấu, nhất là
trong trường hợp nhà cao tầng, lực nén dọc trong các cột ở các tầng
dưới lớn, hiệu ứng P delta có khả năng thể hiện rõ hơn.
Ngoài ra, tác giả cũng xin lưu ý còn những yếu tố khác nữa cũng
ảnh hưởng đến sự làm việc của kết cấu , chẳng hạn sự lệch tâm
giữa cột trên và cột dưới (trong trường hợp nhà nhiều tầng), hiện tượng
từ biến của vật liệu, hiện tượng P do biến dạng cục bộ của cấu kiện
chịu nén, sự xuất hiện và phát triển vết nứt (đối với kết cấu bê tông cốt
thép)… cũng cần có những nghiên cứu khảo sát để có thể đánh giá
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến ứng xử của kết cấu, nhằm
phản ánh đầy đủ hơn sự làm việc của kết cấu
Lời cảm ơn
Tác giả xin cảm ơn Trường Đại học Bách khoa Đại học Quốc
Gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành
nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo
M.E. Kartal, H.B. Başağa & A. Bayraktar, M. Muvafık
”,
Võ Mạnh Tùng, Nguyễn Lê Ninh, “Biến dạng của nút khung bê tông cốt thép
chịu động đất”, Tạp chí KHCN Xây dựng,
”,
, “ ”,
Nguyễn Hải Quang, Lê Dũng Bảo Trung, Vũ Quốc Anh, “Tổng quan về các
mô hình liên kết nửa cứng trong kết cấu khung thép”, Tạp chí Xây dựng
Bộ Xây dựng
Beyhan Bayhan, Gokhan Ozdemir, Polar GunKan, “
Type RC Buildings”,
, “Optimization
of frame structures with flexible joints”,
S. J. P. J. Marques Filho; Borowitz, “
concrete concentric frame joints”,
Computers & Structures Inc., “Structural Engineering Software”,
”,
”,
*Liên hệ tác giả: ntbhang.sdh231@hcmut.edu.vn
Nhận ngày 09/05/2025, sửa xong ngày 09/06/2025, chấp nhận đăng ngày 11/06/2025
Link DOI: https://doi.org/10.54772/jomc.03.2025.972
Xây dựng khung tiêu chí đo lường hiệu quả giao tiếp trong các dự án
xây dựng theo mô hình ứng dụng BIM tại Việt Nam
Nguyễn Anh Thư 1,2, Nguyễn Thị Bích Hằng 1,2*
1 Bộ môn Thi Công & Quản Lý Xây Dựng, Khoa Kỹ thuật Xây Dựng, Trường Đại Học Bách Khoa
2 Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
TỪ KHOÁ
TÓM TẮT
BIM
Giao ti
ếp hiệu quả
Khung tiêu chí đo lư
ờng
Trao đ
ổi thông tin
Giao tiếp hiệu quả là yếu tố quyết định thành công của các dự án xây dựng, nhưng tại Việt Nam, sự rời rạc
trong trao đ
ổi thông tin gây nhiều thách thức và chưa có khung tiêu chí đo lường cụ thể. Nghiên cứ
u đã xây
d
ựng khung 30 tiêu chí đo lường hiệu quả giao tiếp trong các dự án theo mô hình ứng dụ
ng BIM, thông qua
t
ổng hợp tài liệu, tham khảo ý kiến chuyên gia và khảo sát 152 người (tỷ lệ hợp lệ 87,4 %). Kết quả
phân
tích ch
ỉ ra rằng các tiêu chí như mức độ chính xác, tính nhất quán thông tin, và khả năng phát hiệ
n xung
đ
ột, khẳng định vai trò quan trọng của chúng trong việc nâng cao chất lượng trao đổi thông tin trong dự
án.
Khung đo lư
ờng này không chỉ hỗ trợ cho thực tiễn mà còn mở ra hướng đi cho sự phát triể
n BIM trong
tương lai t
ại Việt Nam. Tuy nhiên, cần mở rộng quy mô mẫu để tăng tính đại diện và tìm hiểu về yếu tố
văn
hóa s
ẽ là yếu tố quan trọng giúp hoàn thiện hơn trong các nghiên cứu tiếp theo.
KEYWORDS
ABSTRACT
Mass concrete
Thermal stress
Thermal cracking
Delayed Ettringite Formation
Cooling pipe system
finite element analysis
Hydration heat
Effective communication is pivotal to the success of construction projects; however, in Vietnam, fragmented
information exchange poses significant challenges, and a specific framework for measuring communication
effectiveness has been lacking. This study developed a framework of 30 criteria to evaluate communication
effectiveness in construction projects adopting Building Information Modeling (BIM), utilizing literature
review, expert consultation, and a survey of 152 participants (87.4% valid response rate). The analysis
highlights criteria such as information accuracy, consistency, and conflict detection capability, underscoring
their critical role in enhancing information exchange quality within projects. This framework not only
provides practical support
but also paves the way for the future development of BIM in Vietnam.
Nevertheless, expanding the sample size to enhance representativeness and exploring cultural factors are
essential for further refinement in subsequent studies
.
1. Giới thiệu
Ngành xây dựng toàn cầu đang trãi qua một cuộc cách mạng
công nghệ, trong đó Mô hình Thông tin Công trình (BIM) nổi lên như
một giải pháp cốt lõi, thay đổi cách thức quản lý và thực hiện các dự
án xây dựng [1]. Sự thành công của các dự án xây dựng không thể
thiếu giao tiếp, đây là yếu tố quyết định với 55 % (theo viện PMI)
thành công phụ thuộc vào khả năng quản lý giao tiếp [2].
Theo Quyết định số 258/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban
hành từ năm 2023, việc áp dụng bắt buộc BIM cho các công trình sử
dụng vốn đầu tư công cấp I trở lên đã chính thức có hiệu lực. Điều
này cho thấy yêu cầu cấp thiết trong việc đo lường hiệu quả giao tiếp
giữa các bên liên quan trong quá trình triển khai BIM.
Các phương pháp truyền thống sử dụng bản vẽ 2D thường dẫn
đến hiểu lầm, thiếu thông tin và gây khó khăn trong việc đồng bộ
giữa các bên liên quan, dễ bị chậm trễ và chi phí phát sinh [3]. Mô
hình BIM giúp khắc phục những hạn chế này bằng cách cung cấp một
nền tảng dữ liệu chung, cho phép các bên liên quan truy cập dữ liệu
thời gian thực, cải thiện tính chính xác và minh bạch [4]. Tuy nhiên,
việc áp dụng BIM vẫn đối mặt với các thách thức như chi phí triển
khai cao, thiếu kỹ năng chuyên môn và sự kháng cự về văn hóa tổ
chức [5].
Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng ứng dụng BIM không
chỉ giúp giúp giảm thiểu sai sót thiết kế, tối ưu hóa nguồn lực mà còn
cải thiện năng suất thông qua khả năng phát hiện xung đột sớm và
chia sẻ thông tin minh bạch [6, 7]. Nghiên cứu của tác giả Yao Huang
và cộng sự cho biết BIM làm tăng mật độ kết nối giữa các bên liên
quan, giảm độ tập trung của mạng giao tiếp, từ đó nâng cao hiệu quả
phối hợp liên tổ chức và nội tổ chức trong các dự án xây dựng [8].
Tại Việt Nam, các nghiên cứu như của Nguyễn Ngọc Anh và cộng
sự, Lê Ngọc Quyết và cộng sự [9, 10] đã cho thấy tiềm năng của BIM
trong việc nâng cao hiệu quả quản lý và giao tiếp trong các dự án xây

JOMC 70
Tạp chí Vật liệu & Xây dựng Tập 15 Số 03 năm 2025
dựng. Tuy nhiên, việc ứng dụng BIM tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn
chế bởi các yếu tố như quản lý thủ công, thiếu tiêu chuẩn hóa và sự
thiếu đồng bộ giữa các phần mềm BIM với quy trình hiện tại.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về BIM và các lợi ích mà nó
mang lại nhưng các nghiên cứu hiện tại vẫn chưa cung cấp một khung
tiêu chí toàn diện để đo lường hiệu quả giao tiếp trong các dự án BIM,
đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển như Việt Nam
[4]. Vì các lý do trên, tác giả nhận ra rằng cần có một khung tiêu chí
đo lường hiệu quả giao tiếp để phù hợp với bối cảnh Việt Nam, nơi
các dự án xây dựng yêu cầu kỹ thuật cao và ngày càng phức tạp về
quy mô. Bằng cách xây dựng một khung tiêu chí đo lường hiệu quả
giao tiếp trong các dự án xây dựng theo mô hình ứng dụng BIM tại
Việt Nam, nghiên cứu này sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp có cái nhìn ấn
tượng và hiểu được tầm quan trọng của BIM từ đó nâng cao năng lực
cạnh tranh. Bên cạnh đó, khung tiêu chí cũng góp phần làm cơ sở xây
dựng một bộ tiêu chuẩn BIM hoàn chỉnh cho đất nước trong tương
lai gần.
2. Khái niệm, định nghĩa và tổng hợp các tiêu chí
2.1. Các khái niệm và định nghĩa
Mô hình Thông tin Công trình (Building Information Modeling
- BIM) được định nghĩa là một trong những phát triển quan trọng
nhất trong ngành xây dựng, mang đến những quy trình, công nghệ và
tương tác lành mạnh mới vào thực tiễn [11].
Giao tiếp được ví như là hoạt động truyền đạt, trao đổi và
truyền tải thông tin. Quá trình giao tiếp bao gồm việc trao đổi và chia
sẻ thông tin giữa bên gửi và bên nhận trong bối cảnh dự án [12]. Hiệu
quả giao tiếp được đánh giá dựa trên mức độ mà quá trình trao đổi
thông tin để đạt được mục tiêu của dự án.
Như vậy, BIM là một công cụ và quy trình tăng cường sự cộng
tác giữa các bên liên quan và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi
thông tin. [4].
2.2. Tổng hợp khung tiêu chí đo lường hiệu quả giao tiếp
Tác giả đã tổng hợp được 34 tiêu chí có liên quan đến việc đo
lường hiệu quả giao tiếp trong dự án xây dựng theo mô hình ứng dụng
BIM, sau khi nghiên cứu kỹ các nguồn tài liệu như sách, báo, tạp chí
cũng như tham khảo các luận văn liên quan và xây dựng thành bảng
câu hỏi sơ bộ. Bảng này được gửi đến các chuyên gia có kinh nghiệm
trong ngành xây dựng tại Việt Nam để đánh giá, bổ sung, và điều chỉnh,
nhằm đảm bảo các tiêu chí phản ánh đúng về việc đo lường hiệu quả
giao tiếp giữa các bên liên quan và mức độ áp dụng BIM vào dự án. Tuy
nhiên, các chuyên gia đã không bổ sung thêm tiêu chí nào và sau khi
hiệu chỉnh, bảng câu hỏi rút gọn còn 30 tiêu chí và được phân thành 6
nhóm được trình bày trong Bảng 1 dưới đây:
Bảng 1. Tổng hợp các tiêu chí đo lường hiệu quả giao tiếp trong dự
án xây dựng.
STT
Mã
hóa Tiêu chí đo lường
Nguồn
tham
khảo
NHÓM A: CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN DỰ ÁN
1
A1
Mức độ chính xác của thông tin
[13]
2
A2
Mức độ đầy đủ của thông tin
[13, 14]
3
A3
Tính kịp thời của thông tin
[15]
4
A4
Mức độ minh bạch của thông tin
[15]
5
A5
Tính nhất quán của thông tin giữa các phiên
bản
[13]
6
A6
Mức độ nhất quán giữa các nguồn dữ liệu
[14, 15]
7
A7
Mức độ phân quyền truy cập thông tin mật
trong dự án
[16]
NHÓM B: HIỆU QUẢ GIAO TIẾP & PHỐI HỢP
8
B1
Mức độ liên kết thông tin giữa các bộ phận
[14, 17]
9
B2
Khả năng quản lý và chỉnh sửa thông tin
[18]
10
B3
Mức độ phản hồi trong giao tiếp
[14, 19]
11
B4
Tính tiếp cận của thông tin
[20]
12
B5
Khả năng kiểm tra trạng thái thông tin
[18]
13
B6
Sự phù hợp giữa kênh giao tiếp và nội dung
thông tin
[21]
NHÓM C: HIỂN THỊ & TÍCH HỢP DỮ LIỆU
14
C1
Mức độ trực quan và hiển thị dữ liệu
[21]
15
C2
Khả năng chia sẻ và tích hợp dữ liệu
[10]
16
C3
Khả năng phát hiện xung đột
[10]
17
C4
Tính tương thích dữ liệu trong toàn đời dự án
[10]
18
C5
Mức độ hỗ trợ đa nền tảng giữa các phần mềm
[16]
NHÓM D: CỘNG TÁC & GIAO TIẾP ĐA NGÀNH
19
D1
Hiệu quả giao tiếp giữa các nhóm đa ngành
[14, 17]
20
D2
Khả năng cộng tác thời gian thực
[22]
21
D3
Khả năng tích hợp dữ liệu GIS vào dự án
[14, 23]
22
D4
Hỗ trợ giao tiếp qua nền tảng đám mây
[20]
23
D5
Tính liên tục trong giao tiếp giữa các giai
đoạn dự án
[14, 24]
NHÓM E: KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG & ĐÀO TẠO
24
E1
Hiệu quả đào tạo kỹ năng giao tiếp
[14]
25
E2
Mức độ sẵn sàng tiếp nhận công nghệ
[25]
26
E3
Tác động của đào tạo giao tiếp đến hiệu suất
dự án
[25]
NHÓM F: KHẢ NĂNG LÀM VIỆC TỪ XA
27
F1
Ảnh hưởng của khoảng cách địa lý đến giao tiếp
[26]
28
F2
Hiệu quả giao tiếp đa ngôn ngữ
[26]
29
F3
Khả năng duy trì hiệu suất giao tiếp từ xa
[15]
30
F4
Độ tin cậy của hệ thống hỗ trợ làm việc từ xa
[15]

JOMC 71
Tạp chí Vật liệu & Xây dựng Tập 15 Số 03 năm 2025
ự ệ ứ ụ ạ ệ ẫ ề ạ
ế ở ế ố như quả ủ ế ẩ ự
ếu đồ ộ ữ ầ ề ớ ệ ạ
ặc dù đã có nhiề ứ ề ợ
ại nhưng các nghiên cứ ệ ạ ẫn chưa cung cấ ộ
ện đểđo lườ ệ ả ế ự
đặ ệ ố ả ốc gia đang phát triển như Việ
ả ậ ằ ầ ộ
đo lườ ệ ả ếp để ợ ớ ố ả ệt Nam, nơi
ự ự ầ ỹ ậ ứ ạ ề
ằ ự ộ đo lườ ệ ả
ế ự ự ứ ụ ạ
ệ ứ ẽ ỗ ợ ệ ấ
tượ ểu đượ ầ ọ ủ ừ đó nâng cao năng lự
ạ ạnh đó, khung tiêu chí cũng góp phần làm cơ sở
ự ộ ộ ẩ ỉnh cho đất nước trong tương
ầ
ệm, định nghĩa và tổ ợ
ệm và định nghĩa
BIM) được định nghĩa là mộ ữ ể ọ
ấ ựng, mang đế ữ ệ
tương tác lành mạ ớ ự ễ
ếp được ví như là hoạt độ ền đạt, trao đổ
ề ả ế ồ ệc trao đổ
ẻ ữ ử ậ ố ả ự ệ
ả ếp được đánh giá dự ức độmà quá trình trao đổ
thông tin để đạt đượ ụ ủ ự
Như vậ ộ ụ và quy trình tăng cườ ự ộ
ữ ạo điề ệ ậ ợ ệc trao đổ
ổ ợp khung tiêu chí đo lườ ệ ả ế
ả đã ổ ợp được 34 tiêu chí có liên quan đế ệc đo
lườ ệ ả ế ự ự ứ ụ
ứ ỹ ồ ệu như sách, báo, tạ
cũng như tham khả ận văn liên quan và xây dự ả
ỏi sơ bộ ảng này đượ ửi đế ệ
ự ạ ệt Nam để đánh giá, bổ sung, và điề ỉ
ằm đả ả ản ánh đúng về ệc đo lườ ệ ả
ế ữ ức độ ụ ự
nhiên, các chuyên gia đã không bổ
ệ ỉ ả ỏ ọ và đượ
nhóm đượ ảng 1 dướ đây
ảổ ợp các tiêu chí đo lườ ệ ả ế ự
ự
Tiêu chí đo lường
Nguồn
khảo
CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN DỰ ÁN
1 Mức độ chính xác của thông tin
2 Mức độ đầy đủ của thông tin 14]
3 Tính kịp thời của thông tin
4 Mức độ minh bạch của thông tin
5 Tính nhất quán của thông tin giữa các phiên
bản
6 Mức độ nhất quán giữa các nguồn dữ liệu 15]
7 Mức độ phân quyền truy cập thông tin mật
trong dự án
NHÓM B: HIỆU QUẢ GIAO TIẾP & PHỐI HỢP
8 Mức độ liên kết thông tin giữa các bộ phận 17]
9 Khả năng quản lý và chỉnh sửa thông tin
0 Mức độ phản hồi trong giao tiếp 19]
1 Tính tiếp cận của thông tin
2 Khả năng kiểm tra trạng thái thông tin
3 Sự phù hợp giữa kênh giao tiếp và nội dung
NHÓM C: HIỂN THỊ & TÍCH HỢP DỮ LIỆU
4 Mức độ trực quan và hiển thị dữ liệu
5 Khả năng chia sẻ và tích hợp dữ liệu
6 Khả năng phát hiện xung đột
7 Tính tương thích dữ liệu trong toàn đời dự án
8 Mức độ hỗ trợ đa nền tảng giữa các phần mềm
NHÓM D: CỘNG TÁC & GIAO TIẾP ĐA NGÀNH
9 Hiệu quả giao tiếp giữa các nhóm đa ngành 17]
0 Khả năng cộng tác thời gian thực
1 Khả năng tích hợp dữ liệu GIS vào dự án 23]
2 Hỗ trợ giao tiếp qua nền tảng đám mây
3 Tính liên tục trong giao tiếp giữa các giai
đoạn dự án
24]
NHÓM E: KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG & ĐÀO TẠO
4 Hiệu quả đào tạo kỹ năng giao tiếp
5 Mức độ sẵn sàng tiếp nhận công nghệ
6 Tác động của đào tạo giao tiếp đến hiệu suất
dự án
NHÓM F: KHẢ NĂNG LÀM VIỆC TỪ XA
7 Ảnh hưởng của khoảng cách địa lý đến giao tiếp
8 Hiệu quả giao tiếp đa ngôn ngữ
9 Khả năng duy trì hiệu suất giao tiếp từ xa
0 Độ tin cậy của hệ thống hỗ trợ làm việc từ xa
3. Phương pháp nghiên cứu
Sau khi hình thành nên ý tưởng nghiên cứu, xác định mục tiêu
và đối tượng nghiên cứu, tác giả đã tiến hành bước đầu trong quy trình
là thu thập dữ liệu. Từ việc tham khảo các sách, bài báo và tìm kiếm
các chuyên gia trong ngành xây dựng để được tham vấn ý kiến trãi qua
quá trình sàng lọc các tiêu chí, một bảng khảo sát sơ bộ đã được hình
thành và gửi đến các chuyên gia có từ 5-10 năm kinh nghiệm khảo sát
thử. Dựa trên phản hồi, các tiêu chí trùng lặp được lược bỏ, bảng câu
hỏi chính thức gồm 30 tiêu chí được hoàn thiện.
Bảng khảo sát sau khi hoàn thiện đã được gửi đi rộng rãi thông
qua hình thức trực tuyến bằng Google Form và trực tiếp là bản giấy để
tiện giải thích đến các anh chị em hiện đang công tác tại các công ty
xây dựng ở Việt Nam, các diễn đàng, hội nhóm để đảm bảo dữ liệu thu
về đa dạng đại diện được cho tổng thể. Tác giả áp dụng phương pháp
lấy mẫu thuận tiện do giới hạn tiếp cận và thời gian, tuy nhiên đã thực
hiện bước sàng lọc và loại bỏ các bảng không hợp lệ để đảm bảo độ tin
cậy dữ liệu.
Để đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu, việc xác định kích thước mẫu
là bước không thể thiếu trong nghiên cứu. Theo Hoàng Trọng [27], số
lượng quan sát cần tối thiểu gấp 4 đến 5 lần số biến trong nghiên cứu.
Với bảng khảo sát gồm 30 tiêu chí, cỡ mẫu phù hợp cần nằm trong
khoảng từ 120 đến 150 mẫu hợp lệ. Trong nghiên cứu này, tác giả đã
thu thập được tổng cộng 152 bảng khảo sát hợp lệ, đạt tỷ lệ 87,4% trên
tổng số phát ra.
Sau khi kiểm duyệt, dữ liệu được nhập vào phần mềm SPSS để
tiến hành phân tích thống kê. Để đánh giá mức độ quan trọng của từng
tiêu chí đo lường hiệu quả giao tiếp trong các dự án xây dựng, tác giả
sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, bao gồm: (1) Hầu như không quan
trọng, (2) Ít quan trọng, (3) Quan trọng trung bình, (4) Khá quan trọng,
và (5) Rất quan trọng. Tiêu chí được đánh giá thông qua giá trị trung
bình và độ lệch chuẩn.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Thông tin người tham gia khảo sát
Dữ liệu sau khi thu thập và tổng hợp kiểm duyệt, tác giả nhận
được 152/174 bảng dữ liệu hợp lệ tương đương 87,4 %, có 22 bảng
không hợp lệ vì khuyết câu trả lời hoặc trả lời đồng thời cùng một mức
độ ở các tiêu chí chiếm khoảng 12,6 %.
Nhóm đối tượng tham gia khảo sát chủ yếu đến từ đơn vị Tư vấn
thiết kế với tỷ lệ cao nhất là (44,7 %) tương ứng 68/152 người, tiếp
theo là Đơn vị thi công (36,8 %), trong khi Chủ đầu tư/Ban Quản lý dự
án và Tư vấn giám sát lần lượt chỉ chiếm 14,5 % và 3,9 %. Như vậy,
dữ liệu tập trung chủ yếu ở đơn vị Tư vấn thiết kế và Đơn vị thi công.
Về thời gian công tác trong ngành xây dựng của người tham gia
khảo sát thì nhìn chung nhóm có kinh nghiệm từ 3 đến 5 năm với số
phiếu là 58/152 người tương ứng tỷ lệ 58 % là cao nhất. Các nhóm còn
lại lần lượt là từ 5 đến 10 năm (24,3 %), trên 10 năm (19,1 %) và dưới
3 năm (18,4 %) đã phản ánh rằng phần lớn người tham gia khảo sát
đều có đủ kinh nghiệm thực tiễn để cung cấp thông tin đáng tin cậy về
giao tiếp trong các dự án xây dựng ứng dụng BIM tại Việt Nam.
Đối với chức vụ hoặc vị trí công tác của người tham gia khảo sát
thì nhìn chung, phần lớn đến từ các kỹ sư xây dựng (42,8 %) tiếp theo
là kỹ sư các cán bộ cấp trung như Trường, phó phòng (15,1 %), Giám
sát công trình/Chỉ huy trưởng (9,2 %) hay Chủ nhiệm – Chủ trì (7,2 %)
và, Kỹ sư BIM chiếm tỷ lệ tương đối khá là (13,2 %). Các nhóm còn lại
có tỷ lệ thấp hơn như Kiến trúc sư/Họa viên (4,6%), Giám đốc/Phó
Giám đốc và nhóm Khác (cùng 3,9%).
Loại dự án hoặc công trình người tham gia khảo sát đã từng tham
gia đa dạng trong loại hình công trình mà người tham gia đã trải nghiệm,
với trọng tâm là công trình dân dụng, phù hợp với xu hướng phát triển
xây dựng tại Việt Nam. Trong đó Công trình dân dụng chiếm 48/152 câu
trả lời, tương đương 31,6 %. Nhóm dự án tương đương nhau là các nhóm
tham gia dự án như công trình dân dụng, công trình công nghiệp/năng
lượng, công trình hạ tầng giao thông/kỹ thuật (21,7 %), công trình hạ
tầng giao thông/kỹ thuật (21,1 %), và công trình dân dụng, công trình
công nghiệp/kỹ thuật (21,1 %). Hai nhóm còn lại là công trình năng
lượng, công trình hạ tầng giao thông/kỹ thuật và công trình công
nghiệp/kỹ thuật có tỷ lệ thấp nhất, lần lượt là 3,3 % và 1,3 %.
4.2. Phân tích trị trung bình và xếp hạng các tiêu chí
Dựa trên khảo sát dữ liệu từ 152 người tham gia, tác giả tiến
hành phân tích thống kê mô tả bao gồm trị trung bình và độ lệch chuẩn
cho 30 tiêu chí. Từ đó lọc ra kết quả xếp hạng trị trung bình của 10 tiêu
chí đo lường hiệu quả giao tiếp trong các dự án xây dựng ứng dụng
BIM tại Việt Nam có mức độ quan trọng lớn nhất được trình bày trong
Bảng 2.
Trong Bảng 2, kết quả phân tích cho thấy “Mức độ chính xác của
thông tin” được xếp hạng cao nhất và có trị trung bình là 4,13; điều
này mang ý nghĩa rằng tiêu chí này trong giao tiếp giữa các dự án là vô
cùng quan trọng đối với người tham gia khảo sát. Sự thành công của
các dự án xây dựng nói chung cần thông tin chính xác và có độ tin cậy
cao. Bên cạnh đó, các tiêu chí như “Mức độ nhất quán giữa các nguồn
dữ liệu”, “Mức độ đầy đủ của thông tin”, “Tính nhất quán của thông tin
giữa các phiên bản”, “Khả năng phát hiện xung đột”, “Tính tương thích
dữ liệu trong toàn đời dự án” và “Tính liên tục trong giao tiếp giữa các
giai đoạn dự án” đều có trị trung bình trên mức 4,0 phản ánh nhu cầu
về sự đồng bộ, đầy đủ và tính liên tục trong giao tiếp đồng thời đảm
bảo tất cả các công việc liên quan đều cùng một bộ dữ liệu và được cập
nhật liên tục. Tương tự, các tiêu chí còn lại có trị trung bình gần với
ngưỡng 4,00 như “Mức độ minh bạch của thông tin”, “Hỗ trợ giao tiếp
qua nền tảng đám mây” và “Mức độ liên kết thông tin giữa các bộ phận”
cũng tương đối quan trọng nhưng cần cải thiện thêm. Như vậy, tất cả
các kết quả trên đã cung cấp một khung các tiêu chí đo lường về mức
độ quan trọng của hiệu quả giao tiếp đối với các bên tham gia trong dự
án xây dựng tại Việt Nam.

JOMC 72
Tạp chí Vật liệu & Xây dựng Tập 15 Số 03 năm 2025
Bảng 2. Xếp hạng các tiêu chí đo lường hiệu quả giao tiếp trong các
dự án xây dựng.
Mã
hóa
Tiêu chí
Trung
Bình
Độ lệch
chuẩn
Xếp
hạng
A1
Mức độ chính xác của thông tin
4,13
0,88
1
A6
Mức độ nhất quán giữa các nguồn dữ liệu
4,07
0,88
2
A2
Mức độ đầy đủ của thông tin
4,06
0,93
3
A5
Tính nhất quán của thông tin giữa các
phiên bản
4,01
0,93
4
C3
Khả năng phát hiện xung đột
4,01
0,95
5
C4
Tính tương thích dữ liệu trong toàn
đời dự án
4,00
0,96
6
D5
Tính liên tục trong giao tiếp giữa các
giai đoạn dự án
4,00
0,86
6
A4
Mức độ minh bạch của thông tin
3,99
0,87
8
D4
Hỗ trợ giao tiếp qua nền tảng đám mây
3,99
0,85
8
B1
Mức độ liên kết thông tin giữa các bộ phận
3,96
0,9
10
D2
Khả năng cộng tác thời gian thực
3,93
0,93
11
A3
Tính kịp thời của thông tin
3,93
0,94
12
C2
Khả năng chia sẻ và tích hợp dữ liệu
3,91
0,98
13
B2
Khả năng quản lý và chỉnh sửa thông tin
3,89
0,84
14
D1
Hiệu quả giao tiếp giữa các nhóm
đa ngành
3,89
0,83
14
D3
Khả năng tích hợp dữ liệu GIS vào dự án
3,88
0,94
16
C1
Mức độ trực quan và hiển thị dữ liệu
3,86
0,94
17
F4
Độ tin cậy của hệ thống hỗ trợ làm việc
từ xa
3,84
0,83
18
B3
Mức độ phản hồi trong giao tiếp
3,83
0,84
19
A7
Mức độ phân quyền truy cập thông tin
mật trong dự án
3,8
0,94
20
B5
Khả năng kiểm tra trạng thái thông tin
3,8
0,86
21
E3
Tác động của đào tạo giao tiếp đến
hiệu suất dự án
3,77
0,87
22
E1
Hiệu quả đào tạo kỹ năng giao tiếp
3,73
0,88
23
B4
Tính tiếp cận của thông tin
3,72
0,87
24
C5
Mức độ hỗ trợ đa nền tảng giữa các
phần mềm
3,72
0,94
24
F2
Hiệu quả giao tiếp đa ngôn ngữ
3,72
0,91
25
F3
Khả năng duy trì hiệu suất giao tiếp từ xa
3,7
0,86
27
F1
Ảnh hưởng của khoảng cách địa lý đến
giao tiếp
3,68
0,94
28
E2
Mức độ sẵn sàng tiếp nhận công nghệ
3,67
0,94
29
B6
Sự phù hợp giữa kênh giao tiếp và nội
dung thông tin
3,66
0,91
30
5. Kết luận
Nghiên cứu đã thành công xây dựng một khung tiêu chí đo lường
hiệu quả giao tiếp trong các dự án xây dựng tại Việt Nam theo mô hình
ứng dụng BIM. Thông qua việc tổng hợp tài liệu tham khảo và tham
vấn ý kiến từ chuyên gia, nghiên cứu đã xác định 30 tiêu chí quan trọng,
được đánh giá qua bảng câu hỏi khảo sát từ 152 người tham gia (tỷ lệ
hợp lệ 87,4 %), chủ yếu đến từ các đơn vị tư vấn thiết kế và thi công,
sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Kết quả nổi bật với 10 tiêu chí hàng
đầu, trong đó "Mức độ chính xác của thông tin" đạt trị trung bình 4,13,
khẳng định vai trò cốt lõi của thông tin là đáng tin cậy, cùng các tiêu
chí như "Mức độ nhất quán giữa các nguồn dữ liệu" và "Khả năng phát
hiện xung đột" cũng đạt trên 4,0. Khung này cung cấp nền tảng quan
trọng, giúp các công ty xây dựng cải thiện giao tiếp, đảm bảo thông tin
chính xác và thúc đẩy sự liên kết giữa các bộ phận thông qua BIM. Đối
với doanh nghiệp, cần ưu tiên triển khai các tiêu chí được đánh giá cao
nhất, đồng thời xây dựng lộ trình đào tạo nhân lực và tích hợp BIM vào
quy trình nội bộ. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần xem xét xây
dựng chính sách hỗ trợ, chuẩn hóa và khuyến khích áp dụng BIM trong
các dự án công trình, đặc biệt là các dự án sử dụng vốn nhà nước. Tuy
nhiên, nghiên cứu còn hạn chế do quy mô mẫu và thời gian thực hiện,
cùng với việc chưa phân tích sâu các yếu tố văn hóa tổ chức – một nhân
tố có thể ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả giao tiếp. Các nghiên cứu
tương lai cần mở rộng phạm vi, áp dụng lấy mẫu ngẫu nhiên và khám
phá thêm khía cạnh văn hóa để hoàn thiện khung tiêu chí, góp phần
nâng cao hiệu quả giao tiếp trong các dự án xây dựng ứng dụng BIM
tại Việt Nam.
Lời cảm ơn
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh (ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ Đề tài mã số: DS2025-20-12.
Chúng tôi xin cảm ơn Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG-HCM đã hỗ
trợ cho nghiên cứu này.
Tuyên bố tác giả
Nhóm tác giả không có xung đột lợi ích.
Tài liệu tham khảo
[1]. M. Viklund Tallgren, M. Roupé, M. Johansson, and P. Bosch-Sijtsema, "BIM
tool development enhancing collaborative scheduling for pre-construction,"
Journal of Information Technology in Construction, vol. 25, pp. 374-397,
07/28 2020, doi: 10.36680/j.itcon.2020.022.
[2]. S. Ali, Y. Hegazi, H. Shanawany, and A. Othman, "BIM Roles in Enhancing
Building Performance in Construction Projects Through Communication
Management Case Study: The Grand Egyptian Museum," in IOP Conference
Series: Earth and Environmental Science, 2024, vol. 1283, no. 1: IOP
Publishing, p. 012008.
[3]. K. C. Goh, H. H. Goh, S. Toh, and S. Ang, "Enhancing communication in
construction industry through BIM," 2014.

JOMC 73
Tạp chí Vật liệu & Xây dựng Tập 15 Số 03 năm 2025
Bảng Xếp hạng các tiêu chí đo lường hiệu quả giao tiếp trong các
dự án xây dựng
Mã ng Độ lệch
chuẩn
Xếp
hạng
A1 Mức độ chính xác của thông tin 13
A6 Mức độ nhất quán giữa các nguồn dữ liệu 07
A2 Mức độ đầy đủ của thông tin 06
A5 Tính nhất quán của thông tin giữa các
phiên bản
01
C3 Khả năng phát hiện xung đột 01
C4 Tính tương thích dữ liệu trong toàn
đời dự án
00
D5 Tính liên tục trong giao tiếp giữa các
giai đoạn dự án
00
A4 Mức độ minh bạch của thông tin 99
D4 Hỗ trợ giao tiếp qua nền tảng đám mây 99
B1 Mức độ liên kết thông tin giữa các bộ phận 96 0
D2 Khả năng cộng tác thời gian thực 93 1
A3 Tính kịp thời của thông tin 93 2
C2 Khả năng chia sẻ và tích hợp dữ liệu 91 3
B2 Khả năng quản lý và chỉnh sửa tin 89 4
D1 Hiệu quả giao tiếp giữa các nhóm
đa ngành
89 4
D3 Khả năng tích hợp dữ liệu GIS vào dự án 88 6
C1 Mức độ trực quan và hiển thị dữ liệu 86 7
4 Độ tin cậy của hệ thống hỗ trợ làm việc
từ xa
84 8
B3 Mức độ phản hồi trong giao tiếp 83 9
A7 Mức độ phân quyền truy cập thông tin
mật trong dự án
,8 0
B5 Khả năng kiểm tra trạng thái thông tin ,8 1
3 Tác động của đào tạo giao tiếp đến
hiệu suất dự án
77 2
1 Hiệu quả đào tạo kỹ năng giao tiếp 73 3
B4 Tính tiếp cận của thông tin 72 4
C5 Mức độ hỗ trợ đa nền tảng giữa các
phần mềm
72 4
2 Hiệu quả giao tiếp đa ngôn ngữ 72 5
3 Khả năng duy trì hiệu suất giao tiếp từ xa ,7 7
1 Ảnh hưởng của khoảng cách địa lý đến
giao tiếp
68 8
2 Mức độ sẵn sàng tiếp nhận công nghệ 67 9
B6 Sự phù hợp giữa kênh giao tiếp và nội 66 0
ế ậ
ứu đã thành công xây dự ột khung tiêu chí đo lườ
ệ ả ế ự ự ạ ệ
ứ ụ ệ ổ ợ ệ ả
ấ ế ừ ứu đã xác đị ọ
được đánh giá qua bả ỏ ả ừ 152 ngườ ỷ ệ
ợ ệ ủ ếu đế ừ các đơn vị tư vấ ế ế
ử ụng thang đo Likert 5 mức độ ế ả ổ ậ ớ
đầu, trong đó "Mức độ ủa thông tin" đạ ị
ẳng đị ố ủa thông tin là đáng tin cậ
chí như "Mức độ ấ ữ ồ ữ ệ ả năng phát
ện xung đột" cũng đạ ấ ề ả
ọ ự ả ệ ếp, đả ả
chính xác và thúc đẩ ự ế ữ ộ ận thông qua BIM. Đố
ớ ệ ần ưu tiên triển khai các tiêu chí được đánh giá cao
ất, đồ ờ ự ộ trình đào tạ ự ợ
ộ ộ ề phía cơ quan quản lý nhà nướ ầ
ự ỗ ợ ẩ ế ụ
ựán công trình, đặ ệ ự ử ụ ốn nhà nướ
ứ ạ ế ẫ ờ ự ệ
ớ ệc chưa phân tích sâu các yế ố văn hóa tổ ứ ộ
ố ể ảnh hưởng đáng kể đế ệ ả ế ứ
tương lai cầ ở ộ ạ ụ ấ ẫ ẫ
ạnh văn hóa để ệ ầ
ệ ả ế ự ự ứ ụ
ạ ệ
ờ ảm ơn
ứu đượ ợ ởi Đạ ọ ố ố ồ
Minh (ĐHQG ổ Đề ố
ảm ơn Trường Đạ ọc Bách khoa, ĐHQG HCM đã hỗ
ợ ứ
ố ả
ả không có xung độ ợ
ệ ả
[4]. N. Van Tam, D. T. Ngoc, Q. T. Nguyen, and N. and Le Dinh Quy, "Factors
affecting adoption of building information modeling in construction
projects: A case of Vietnam," Cogent Business & Management, vol. 8, no. 1,
p. 1918848, 2021/01/01 2021, doi: 10.1080/23311975.2021.1918848.
[5]. Y. Li, M. Skibniewski, Z. wu, R. Wang, and Y. Le, "Information and
Communication Technology Applications in Architecture, Engineering, and
Construction Organizations: A 15-Year Review," Journal of Management in
Engineering, vol. 31, p. A4014010, 07/09 2014, doi:
10.1061/(ASCE)ME.1943-5479.0000319.
[6]. M. N. Maliha, B. A. Tayeh, and Y. I. Abu Aisheh, "Building information
modeling (BIM) in enhancing the applying of knowledge areas in the
architecture, engineering and construction (AEC) industry," The Open Civil
Engineering Journal, no. 1, 2020.
[7]. Q. Dao and Q. Nguyen, "A Case Study of BIM Application in a Public
Construction Project Management Unit in Vietnam: Lessons Learned and
Organizational Changes," Engineering Journal, vol. 25, pp. 177-192, 07/31
2021, doi: 10.4186/ej.2021.25.7.177.
[8]. Y. Huang, L. Wu, J. Chen, H. Lu, and J. Xiang, "Impacts of building
information modelling (BIM) on communication network of the construction
project: A social capital perspective," PLOS ONE, vol. 17, 10/11 2022, doi:
10.1371/journal.pone.0275833.
[9]. N. Q. Le, M. Er, and S. Sankaran, "The Implementation of Building
Information Modelling (BIM) in Construction Industry: Case Studies in
Vietnam," International Journal of Engineering and Technology, 2018.
[10]. Đ. T. S. Nguyễn Ngọc Anh , Nguyễn Thanh Việt, "Phân tích mức độ quan
trọng của các chỉ số đánh giá chất lượng trao đổi thông tin giữa các bên
tham gia dự án xây dựng," Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng, vol.
14(01), pp. Trang 75 – Trang 80., 2024. [Online]. Available:
https://doi.org/10.54772/jomc.01.2024.626.
[11]. A. Okakpu, A. GhaffarianHoseini, J. Tookey, J. Haar, A. Ghaffarianhoseini,
and A. Rehman, "A proposed framework to investigate effective BIM
adoption for refurbishment of building projects," Architectural Science
Review, vol. 61, no. 6, pp. 467-479, 2018/11/02 2018, doi:
10.1080/00038628.2018.1522585.
[12]. S. Littlejohn, K. Foss, and e. p. Utomo, Theories of Human Communication.
2011.
[13]. C. Eastman, P. Teicholz, R. Sacks, and K. Liston, "BIM handbook: A guide to
building information modeling for owners, managers, designers, engineers
and contractors," in BIM handbook, I. Saeed Ed. Canada: John Wiley & Sons,
Inc., Hoboken, New Jersey, 2011.
[14]. K. C. Goh, H. H. Goh, S. Toh, and S. Peniel Ang, "Enhancing communication
in construction industry through BIM," in 11th International Conference on
Innovation and Management, 2014, pp. 313-324.
[15]. E. Safapour, S. Kermanshachi, S. Kamali Rad, and D. Tran, "Identifying
Effective Project-Based Communication Indicators within Primary and
Secondary Stakeholders in Construction Projects," Journal of Legal Affairs
and Dispute Resolution in Engineering and Construction, vol. 11, 02/12
2019, doi: 10.1061/(ASCE)LA.1943-4170.0000332.
[16]. E. Safapour, S. Kermanshachi, and S. Kamali Rad, "Analysis of Effective
Project-Based Communication Components within Primary Stakeholders in
Construction Industry," Built Environment Project and Asset Management,
10/01 2020, doi: 10.1108/BEPAM-02-2020-0026.
[17]. M. A. R. Befrouei and M. Taghipour, "Identification and management of risks
in construction projects," American Journal of Civil Engineering, vol. 3, no.
5, pp. 170-177, 2015.
[18]. C. Merschbrock and B. E. Munkvold, "Effective digital collaboration in the
construction industry – A case study of BIM deployment in a hospital
construction project," Computers in Industry, vol. 73, pp. 1-7, 2015/10/01/
2015, doi: https://doi.org/10.1016/j.compind.2015.07.003.
[19]. R. Davies and C. and Harty, "Measurement and exploration of individual
beliefs about the consequences of building information modelling use,"
Construction Management and Economics, vol. 31, no. 11, pp. 1110-1127,
2013/11/01 2013, doi: 10.1080/01446193.2013.848994.
[20]. A.-M. Mahamadu, M. Lamine, and C. A. and Booth, "Critical BIM
qualification criteria for construction pre-qualification and selection,"
Architectural Engineering and Design Management, vol. 13, no. 5, pp. 326-
343, 2017/09/03 2017, doi: 10.1080/17452007.2017.1296812.
[21]. E. N. Shaqour, "The role of implementing BIM applications in enhancing
project management knowledge areas in Egypt," Ain Shams Engineering
Journal, vol. 13, no. 1, p. 101509, 2022/01/01/ 2022, doi:
https://doi.org/10.1016/j.asej.2021.05.023.
[22]. J. Won, G. Lee, C. Dossick, and J. Messner, "Where to Focus for Successful
Adoption of Building Information Modeling within Organization," Journal
of Construction Engineering and Management, vol. 139, no. 11, p.
04013014, 2013/11/01 2013, doi: 10.1061/(ASCE)CO.1943-
7862.0000731.
[23]. A. M. Abdelalim and Y. Abo. elsaud, "Integrating BIM-based simulation
technique for sustainable building design," in International Congress and
Exhibition" Sustainable Civil Infrastructures: Innovative Infrastructure
Geotechnology", 2018: Springer, pp. 209-238.
[24]. A. Dainty, D. Moore, and M. Murray, "Communication in Construction:
Theory and Practice," Communication in Construction: Theory and Practice,
pp. 1-263, 01/01 2005, doi: 10.4324/9780203358641.
[25]. M. Barison and E. Santos, "An overview of BIM specialists," 01/01 2010.
[26]. N. T. V. Nguyễn Hồng Vũ "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác
giữa các bên tham gia dự án xây dựng trong giai đoạn thi công," Tạp chí
Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng, vol. 2, pp. Trang 74 – Trang 82, 2021,
doi: 10.54772.
[27]. C. N. M. Ngọc, Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh. Nhà xuất bản
Thống kê, 2008.

