172
YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH HÀNG NÔNG
SẢN GIỮA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC ĐÔNG
NAM Á
TS. Võ Thy Trang1, ThS. Phạm Văn Công2
(1),(2)Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Tóm tắt:
Bài viết này tập trung làm những nhân tố đặc trưng của quốc gia về thương mại
nội ngành hàng nông sản giữa Việt Nam những đối tác thương mại trong khu vực Đông
Nam Á dựa trên ước lượng tác động ngẫu nhiên. Kết quả chỉ ra thương mại nội ngành hàng
nông sản chịu ảnh hưởng cùng chiều bởi quy quốc gia, mức thu nhập bình quân, độ mở
nền kinh tế, dân số diện tích đất nông nghip, và chịu ảnh hưởng ngược chiều với sự khác
biệt về quy kinh tế thu nhập, khoảng cách, và smất cân bằng thương mại. Bài viết
đưa ra một số đề xuất giải pháp nhằm phát triển thương mại nội ngành hàng nông sản giữa
Việt Nam và đối tác thương mại trong khu vực Đông Nam Á.
Từ khóa: Thương mại, Thương mại nội ngành, hàng nông sản, Việt Nam
1. Khái quát thương mại nội ngành hàng nông sản
Thực tiễn cho thấy một phần đáng kể trong thương mại quốc tế thể hiện sự gia tăng các
hoạt động thương mại các hàng hóa tương tự” v phân loại hàng hóa giữa c quốc gia
“tương tự” về điều kiện các yếu tố sản xuất, sau đó gọi thương mại nội ngành (IIT). Theo
Grubel và Lloyd (1975) chỉ ra IIT việc mua bán đồng thời các hàng hóa giống nhau
hoặc tương tự nhau. thể xảy ra trong cùng một ngành thể cùng một giai đoạn
sản xuất hoặc thc giai đoạn sản xuất khác nhau. Theo Phan Anh các đồng
nghiệp (2014) cho rằng IIT việc đồng thời xuất khẩu nhập khẩu những loại hàng hóa
thuộc cùng một ngành hay nhóm hàng theo phân loại tiêu chuẩn hàng hóa. IIT hàng nông
sản một vấn đề của IIT nói chung nhưng được xem t ở phạm vi hẹp hơn, tức dưới góc
độ của một nhóm hàng nông sản. IIT được thể hiện nhiều mức độ khác nhau về phạm vi,
bao gồm IIT cho sản phẩm và IIT cho từng quốc gia trong những điều kiện nhất định. IIT
hàng nông sản hiểu là hoạt động của thương mại quốc tế, là việc đồng thời xuất khẩu và nhập
khẩu các sản phẩm trong cùng một nhóm hàng nông sản dựa trên phân cấp hàng hóa theo tiêu
chuẩn phân loại hàng hóa quốc tế.
Chỉ sIIT của nhóm hàng nông sản cấp mã 2 chữ số theo tiêu chuẩn SITC giữa Việt
Nam và đối tác thương mại là:
n
g
gg
n
g
gg
n
g
gg
n
g
gg
ij
MX
MX
MX
MX
IIT
1
1
1
1
,min*2
)(
1
Trong đó:
Xg kim ngạch xuất khẩu mặt hàng g cấp 2 chữ số theo tiêu chuẩn SITC trong
nhóm hàng nông sản giữa Việt Nam và đối tác thương mại
Mg kim ngạch nhập khẩu mặt hàng g cấp 2 chữ số theo tiêu chuẩn SITC trong
nhóm hàng nông sản giữa Việt Nam và đối tác thương mại
2. Lợi ích của thương mại nội ngành hàng nông sản
IIT ngày càng phát triển vai trò quan trọng giữa các nước. Qua thực tế cho thấy,
các nước scùng hưởng lợi khi trao đổi thương mại hàng hóa với nhau. IIT mở rộng khả
năng sản xuất tiêu dùng hàng nông sản của một ớc. Lợi ích đem lại từ IIT nói chung
trong hàng nông sản nói riêng cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng. Trong mỗi quốc gia,
(2)
173
nhà sản xuất chỉ việc chuyên môn hóa sản xuất một số loại sản phẩm nông sản khác biệt với
qui lớn hơn, điều đó giúp vận dụng được lợi thế theo quy mô. Nhà sản xuất thể khai
thác một thị trường lớn hơn với chi phí thấp hơn. Thông qua đó sản phẩm nông sản có cơ hội
cung ứng cho cả thị trường trong ngoài nước. Qua thực tế cho thấy, các nước sẽởng lợi
ích khi trao đổi buôn bán hàng nông sản với nhau. Nhà sản xuất có thể tìm kiếm được một thị
trường cung ứng đầu vào với chi phí thấp dồi dào từ các ớc khác. Thêm vào đó, IIT
hàng nông sản còn tác động đến sự dịch chuyển phân phối thu nhập của c yếu tố sản
xuất tương đối nhỏ, bởi c yếu tố sản xuất chỉ dịch chuyển trong ngành nông nghiệp sẽ
không đòi hỏi chi phí thích ứng và thay đổi lớn. Do đó, doanh nghiệp khả năng phát triển
hoạt động sản xuất tận dụng lợi thế theo qui mô. Việc hình thành một thị trường nông sản
chung thay các thị trường riêng biệt mỗi quốc gia cho các nhà sản xuất cũng giúp cho
người tiêu dùng không còn bị giới hạn bởi khả năng sản xuất của nước mình.
Lợi ích đạt được đây là người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn về quy chủng
loại các mặt hàng nông sản sản xuất trong nước. Do đó mrộng khả năng tiêu dùng hàng
nông sản của một quốc gia thông qua trao đổi. IIT hàng nông sản đem lại nhiều lợi ích cho
người tiêu dùng cho cả các nhà sản xuất nếu các hàng hóa trung gian được đem trao đổi,
những điều chỉnh chỉ diễn ra trong nội bộ ngành nông nghiệp. Hơn nữa, người tiêu dùng cũng
được ởng lợi thể mua hàng với giá thấp hơn từ việc tính kinh tế theo quy thỏa
mãn được nhu cầu tiêu dùng từ việc khác biệt hóa sản phẩm từ hàng nông sản.
IIT chịu tác động của quá trình tự do hóa thương mại đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ
của thương mại hàng hóa toàn cầu. Khi đó mỗi quốc gia trở thành một công đoạn của quá
trình kinh doanh quốc tế, tham gia vào quá trình hình thành chuỗi giá trị gia tăng trên thị
trường quốc tế. Thị trường trong nước trở thành một bộ phận của thị trường quốc tế, phân
công lao động trở thành một bộ phận của phân công lao động quốc tế. Qtrình chuyển hóa
một bộ phận lao động trong nước thành lao động xuất khẩu thông qua xuất khẩu hàng hóa,
dịch vụ. Điều này có lợi cả về phương diện về kinh tế và xã hội.
3. Thực trạng IIT hàng nông sản giữa Việt Nam đối tác thương mại trong khư vực
Đông Nam Á
IIT hàng nông sản giữa Việt Nam và đối tác thương mại trong khư vực Đông Nam Á có
xu hướng ngày càng phát triển theo thời gian. Tuy nhiên mức đthương mại hàng nông sản
còn khá khiêm tốn không đồng đều giữa các quốc gia trong từng giai đoạn khác nhau.
Việt Nam có mức đIIT hàng nông sản lớn nhất vi các nước Thái Lan, Indonesia, Singapore,
Malaisia. Việt Nam có mức độ IIT cao hơn với các ớc trong khu vực do sự tương đồng, ít
sự khác biệt hơn về quy kinh tế thu nhập bình quân đầu người so với các thành viên khác
trong khu vực Đông Nam Á, cùng với đó là nhng thun lợi về khoảng cách địa lýng tham
gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN. IIT hàngng sản của Việt Nam tập trung chủ yếu các mặt
hàng tươi sống như rau quả, thịt động vt sốngới dạng thô hoặc chế nên chưa tạo giá tr
cao để tăng lợi nhuận cho nông dân. IIT hàngng sản của Việt Nam chỉ tập trung vào một số
c n chủng loại mặt ng nông sản trên thị trường nội địa chưa đa dạng. Hầu hết Việt Nam
xuất khẩu và nhập khẩu vào các thtrường truyền thống. Do vậy Việt Nam muốn đẩy mạnh IIT
hàng ng sản của Việt Nam trong thời gian tới cần quan tâm tới vấn đề an toàn vsinh thực
phẩm, yêu cầu về các ssản xuất, chế biến, đóng gói, phân phối, tiếp nhận bảo quản
thực phẩm cho người tiêu dùng.
174
Bảng 1: Khối lượng thương mại nội ngành hàng nông sản giữa Việt Nam và các đối tác thương mại thuộc Đông Nam Á
Đơn vị: Triệu USD
Nước 2000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
1. Brunei 0 0 0 0 0 0 0 0 2 0 0 0 0 1 0
2. Campuchia 11 40 44 45 54 210 180 248 226 85 133 196 380 451 445
3. Indonesia 59 91 109 196 73 108 276 696 184 207 970 1113 1171 521 709
4. Malaysia 159 152 168 342 372 389 506 627 935 858 993 1407 1503 380 403
5. Myanmar 1 5 2 6 19 7 11 14 36 46 23 40 34 78 145
6. Lào 6 5 7 6 17 23 20 37 42 42 59 73 78 106 117
7. Philippines 8 12 26 33 64 74 112 109 147 129 165 247 211 259 303
8. Singapore 304 263 261 252 311 201 271 203 313 159 308 342 440 641 860
9. Thái Lan 122 108 101 112 107 141 162 194 300 246 351 561 768 739 955
Bảng 2: Chỉ số thương mại nội ngành hàng nông sản giữa Việt Nam và các đối tác thương mại thuộc Đông Nam Á
Đơn vị:%
Thành viên 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
1. Brunei 0,000
0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,000 0,032 0,000 0,000 0,000 0,014
0,008 0,005
2. Campuchia 0,001
0,001 0,016 0,033 0,017 0,031 0,026 0,014 0,044 0,057 0,092 0,157 0,103
0,122 0,135
3. Indonesia 0,040
0,132 0,067 0,099 0,123 0,195 0,164 0,127 0,250 0,310 0,233 0,179 0,354
0,478 0,427
4. Malaysia 0,108
0,106 0,111 0,112 0,134 0,165 0,184 0,169 0,175 0,173 0,176 0,153 0,144
0,175 0,202
5. Myanmar 0,000
0,009 0,025 0,032 0,041 0,025 0,025 0,048 0,061 0,030 0,048 0,049 0,045
0,042 0,035
6. Lào 0,011
0,015 0,029 0,013 0,031 0,026 0,028 0,030 0,037 0,040 0,039 0,052 0,076
0,051 0,065
7. Philippines 0,016
0,011 0,048 0,045 0,028 0,016 0,030 0,046 0,045 0,050 0,058 0,095 0,094
0,216 0,114
8. Singapore 0,119
0,170 0,177 0,233 0,269 0,362 0,368 0,404 0,241 0,162 0,126 0,109 0,091
0,214 0,229
9. Thái Lan 0,128
0,121 0,150 0,148 0,193 0,178 0,176 0,218 0,246 0,182 0,227 0,276 0,307
0,271 0,263
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu của UN COMTRADE.
, 175
4. Mô hình các yếu tố tác động đến thương mại nội ngành hàng nông sản
Mô hình phân tích
Yếu tố quyết định đến IIT hàng nông sản giữa Việt Nam đối tác thương mại trong
khu vực trong nghiên cứu y sẽ sử dụng hình trọng lực (GM). Mô hình được phát triển
độc lập bởi Tinbergen (1962), Poyhonen (1963) Linneman (1966) được áp dụng rộng
rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm nhằm lượng hóa tác động về thương mại song phương.
hình nghiên cứu dđoán về dòng thương mại song phương phụ thuộc vào quy mô nền
kinh tế và khoảng cách giữa các nước. Mô hình trọng lực chuẩn tắc như sau:
ijijjiij uDISYAYT 3
21
Trong đó: Tij là thương mại song phương giữa quốc gia i và quốc gia j
A là hệ số trọng lực (hấp dẫn/cản trở)
Yi là quy mô kinh tế của quốc gia i
Yj là quy mô kinh tế của quốc gia j
DIS là khoảng cách giữa hai quốc gia
321 ,,
là mức độ tác động của các yếu tố trong mô hình
uịj là sai số ngẫu nhiên
Sau đó hình trọng lực được chỉnh sửa bằng việc mở rộng các biến trong hình.
Mô hình các yếu tố tác động đến IIT hàng nông sản
LnIITij = β0 + β1lnGDPi*GDPj+ β2DGDPij + β3lnPCIi*PCIj+ β4DPCIij + β5lnDISTij +
β6lnPOPi*POPj+β7lnOPENi*OPENj+β8lnTIMBi*TIMBj+ β9lnAGRILANDi* AGRILANDj +
β10BOR + uijt
Trong đó:
i là Việt Nam
j là đối tác thương mại
GDP là tổng sản phẩm quốc nội
PCI là thu nhập bình quân đầu người
DGDPij là sự khác biệt về GDP giữa Việt Nam và đối tác thương mại
DPCIij là sự khác biệt về thu nhập bình quân đầu người giữa Việt Nam và đối
tác thương mại
DISTij là khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và đối tác thương mại
POP là dân số của Việt Nam
OPEN là độ mở nền kinh tế của Việt Nam
TIMB là mức độ mất cân bằng thương mại
AGRILAND là diện tích đất nông nghiệp
i
là hs hồi quy riêng
BOR là các biến giả thể hiện sự chung nhau về biên giới giữa Việt Nam và đối
tác thương mại
uijt là sai số ngẫu nhiên
Giả thuyết về xu hướng tác động của các biến trong mô hình phân tích
Giả thuyết 1: Khi quy kinh tế trung nh của hai nước càng cao thì IIT hàng nông sản
càng cao.
Theo Helpman và Krugman (1985) cho rằng khi quy mô kinh tế lớn hơn, các nhà sản xuất
sẽ có cơ hội lớn trong việc khai thác lợi thế kinh tế nhờ quy mô với một loạt các sản phẩm khác
biệt. Đồng thời khi nền kinh tế lớn n, Balassa (1986) cho rằng cũng thể một nhu cầu
cao hơn cho hàng hóa nước ngoài. Quy mô thị trường càng lớn thì lợi nhuận mong đợi từ tiềm
năng kinh tế của quy mô sản xuất và thương mại càng lớn. Kết quả làm phong phú các loại sản
phẩm các sản phẩm khác biệt về chất lượng. Trong trường hợp này mong đợi một mối tương
quan cùng chiều giữa quy mô nền kinh tế với IIT, và .
, 176
Giả thuyết 2: Sự khác biệt quy mô kinh tế của hai nước càng nhỏ tIIT hàng nông sản
càng lớn.
Theo HelpMan và Krugman (1985) cho rằng 2 quốc gia có sự khác biệt về quy mô kinh
tế càng nhỏ thì mức độ IIT giữa 2 quốc gia ng lớn. Khi 2 nền kinh tế càng sự tương
đồng về quy thị trường thì càng có nhiều cầu chồng chéo về sản phẩm có sự khác biệt
hóa. Hai quốc gia càng có sự khác biệt về nguồn lực sẵn thì khả năng về IIT càng thấp,
nhưng giữa hai quốc gia này càng cao. Nghiên cứu y mong đợi mối quan hệ ngược chiều
giữa sự khác biệt về quy mô kinh tế với IIT.
Dựa trên nghiên cứu của Balassa and Bauwens (1988), Sawyer các cộng sự
(2010) biến sự khác biệt quy kinh tế được hiệu DGDPij thay phương pháp nhận
giá trị tuyệt đối, một phương pháp tính toán nhận giá trị tương đối theo cách thể hiện như sau:
2
ln
)1ln()1()ln(
1wwww
DGDP ij
Trong đó:
ji
i
GDPGDP
GDP
w
Giả thuyết 3: Thu nhập bình quân đầu người càng cao, IIT hàng nông sản càng lớn
Theo Barker (1977), các quốc gia mức thu nhập bình quân đầu người cao thì
cấu về cầu sẽ phức tạp sự khác biệt nhiều hơn, bao gồm cnhu cầu v các sản phẩm
skhác biệt về chất lượng. Nhu cầu của khách hàng có mức thu nhập bình quân đầu người
thấp thường không lớnơng đối chuẩn hóa đối với các đặc điểm của sản phẩm. Mức thu nhập
c động đến nhu cầu tiêu dùng, thu nhập khác nhau sẽ có nhu cầu vng ng sản khác nhau.
Các nhà sản xuất dựa vào mức thu nhập của người dân sản xuất ra loại ng nông sản p
hợp và được nhiều người ưa chuộng, còn số ít người còn lại thì sử dụng hàngng sản được nhập
khẩu từ các ớc khác. Vì thế, sự phân phối trong thu nhập khác nhau giữa các ớc có thxảy
ra IIT. Balassa and Bauwens (1987) đã đưa ra được minh chứng v mối tương quan cùng chiều
giữa IIT mức thu nhập bình quân đầu người. Vì vậy nghiên cứu kỳ vọng có tương quan cùng
chiều giữa mức thu nhậpnh quân đầu người với cả IIT.
Giả thuyết 4: Sự khác biệt về thu nhập bình quân đầu người giữa các nước càng nhỏ,
IIT hàng nông sản càng lớn
Sự khác nhau về GDP bình quân đầu người cho thấy thể hiện mức độ khác nhau về
nhu cầu đối với các sản phẩm sự khác biệt hóa. Như vậy mức độ IIT giữa 2 quốc gia
mức độ GDP bình quân đầu người tương đồng nhau sẽ cao hơn so với 2 quốc gia có sự
khác biệt lớn về GDP bình quân đầu người. Balassa và Bauwens (1987) cho rằng sự khác biệt
về mức thu nhập bình quân đầu người thể hiện sự khác biệt về cơ cấu cầu. Điều đó có nghĩa
khi mức thu nhập bình quân đầu người của hai quốc gia như nhau tcấu cầu của hai
quốc gia này sẽ trở nên tương đồng với nhau hơn. Sự tương đồng trong cấu cầu sẽ kích
thích xuất khẩu những sản phẩm trong nước sự khác biệt nhập khẩu sản phẩm nước
ngoài có skhác biệt. Điều này sẽ tạo hội khai thác lợi thế theo quy mô, do đó thúc đẩy
IIT. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu kỳ vọng sự
khác biệt về thu nhập bình quân đầu người quan hệ ngược chiều IIT. Trong nghiên cứu
này, sự khác biệt về thu nhập đầu người được ký hiệu DPCI. Thay vì nhận giá trị tuyệt đối,
một phương pháp tính toán khác thể hiện sự khác biệt tương đối theo Balassa &Bauwens
(1987) [34] được tính toán như sau:
2
ln
)1ln()1()ln(
1wwww
DPCI ij
ji
i
PCIPCI
PCI
w
(1.16)
(1.17)