140
CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH DƯỚI GÓC NHÌN
DOANH NGHIỆP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP. NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP TỈNH BẮC GIANG, VIỆT NAM
ThS. NCS. Trần Thị Thanh Xuân1, TS. Hà Xuân Linh2
(1)Trường Đại học Công nghệ Giao Thông Vận Tải – Cơ sở đào tạo Thái Nguyên
(2)Văn Phòng - Đại học Thái Nguyên
Tóm tắt:
Bài viết này được thực hiện nhằm phân tích thực trạng một số chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (một số chỉ số thuộc nhóm thấp điểm so với các
tỉnh thành trong cả nước), xác định xu hướng biến động của các chỉ số đó, xác định những
mặt đạt được, những mặt hạn chế trong mỗi chỉ số. Đồng thời, tác giả thực hiện tính toán kết
quả khảo sát các doanh nghiệp về đánh giá của doanh nghiệp về các thang đo trong từng chỉ
số, thang đo nào doanh nghiệp đánh giá thấp, thang đo nào đánh giá cao. Từ đó, tác giả
góc nhìn đa chiều từ kết quả thống kê của cả nước và từ kết quả khảo sát doanh nghiệp tại
địa phương để thể đưa ra các kiến nghị góp phần cải thiện một số chỉ số đang thấp điểm
so với các tỉnh thành của Việt Nam
Từ khóa: năng lực cạnh tranh, Việt Nam, doanh nghiệp
1. Đặt vấn đề
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) chsố đánh giá xếp hạng chính quyền
cấp tỉnh và thành phố trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp
dân doanh, việc tăng về giá trị của chỉ số và tăng thứ hạng đồng nghĩa với việc các chính sách
của cơ quan quản đã góp phần tác động tích cực đối với khu vực doanh nghiệp dân doanh
kinh tế chung của địa phương khảo t. Chỉ số ng lực cạnh tranh cấp tỉnh mối quan
hệ chặt chẽ tới chính sách cải thiện môi đầu tư của một địa phương, thể coi năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh như một thước đo sức khỏe nền kinh tế của tỉnh chính sách cải thiện môi
trường đầu tư như một phương thức hình thành và bảo vệ sức khỏe ấy.
Trong giai đoạn từ 2006 đến 2016, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc
Giang đã sự thay đổi theo hướng tích cực, tuy nhiên với điều kiện, tiềm năng, thế mạnh
của tỉnh những kết quả đó chưa thực sự tương xứng, một số chỉ số còn mức thấp so với các
tỉnh thành khác trong cnước, nguyên nhân của tình trạng đó thể do sự phối hợp giữa
các cơ quan quản lý nhà nước và việc thực thi công vụ của công chức thiếu chặt chẽ; công tác
hỗ trợ tiếp thu xử các thông tin cũng như trợ giúp doanh nghiệp, doanh nhân trên địa
bàn tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh các thủ tục hành chính phát triển sản xuất kinh doanh còn
hạn chế…
Nghiên cứu y được thực hiện nhằm phân tích chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, xem xét đánh giá của doanh nghiệp về những thang đo trong chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh để từ đó xác định những mặt đạt được những mặt hạn chế
trong các chỉ số ng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp góp
phần cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở địa bàn nghiên cứu
2. Tổng quan nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đã nhận được sự quan m không chỉ của các nhà hoạch
định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu, có nhiều bài viết, ấn phẩm hội thảo liên quan
đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đã được
công bố. Các đại diện của trường phái cổ điển tiêu biểu như Adam Smith, David Ricardo đến
trường phái hiện đại như Micheal Porter, Li Tan, w.chan Kim… đã nghiên cứu những vấn đề
liên quan đến cạnh tranh năng lực cạnh tranh các cấp độ khác nhau. Năm 2002, tác giả
141
Bạch Thụ Cường (2002) đã tổng kết tương đối cụ thể và toàn diện các lý thuyết cạnh tranh và
đề cập sâu đến cạnh tranh toàn cầu trong nghiên cứu của mình
Về ng lực cạnh tranh cấp tỉnh, một trong số những nghiên cứu đầu tiên được thực
hiện đó tại Việt Nam nghiên cứu của tác giả Thành Hưng (2005), nghiên cứu đã khái
quát một số vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Việt Nam, thông qua xếp
hạng chỉ số ng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) phân tích thực trạng ng lực cạnh tranh cấp
tỉnh của các địa phương trong cả nước, trên sở đó một số kiến nghị được đưa ra nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Việt Nam. Cũng lựa chọn nghiên cứu về năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh, tuy nhiên tác giả Phan Nhật Thanh (2011) tập trung phân tích chỉ số năng
lực cạnh tranh cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Việt Nam trong giai đoạn 2006 2010,
so sánh chỉ số này của tỉnh Hải Dương với một số địa phương khác trong cả nước để góc
nhìn đa chiều hơn về thực trạng năng lực cạnh tranh của tỉnh. Đồng thời, nghiên cứu đã
khẳng định những nỗ lực chỉ ra những bất cập của chính quyền tỉnh Hải Dương trong cải
thiện môi trường kinh doanh, đồng thời xác định trọng tâm đổi mới hoạt động của chính
quyền tỉnh trong những năm tới. Trọng tâm của những khuyến nghị nhằm vào những chỉ số
thành phần thứ hạng thấp như Tính minh bạch tiếp cận thông tin; Thiết chế pháp lý;
Đào tạo lao động; Tính năng động tiên phong của lãnh đạo tỉnh và những chỉ sthành
phần có xu hướng giảm, bao gồm tiếp cận đất đai sự ổn định trong sử dụng đất; Chi phí
gia nhập thị trường. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này là thống kê
tả và diễn dịch kết quả nghiên cứu dựa vào số liệu thống kê của VCCI và số liệu khảo sát
của tác giả từ các doanh nghiệp và từ đại diện chính quyền địa phương.
Tóm lại, các nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay liên quan đến vấn đề năng lực cạnh
tranh đang tập trung tương đối nhiều vào việc phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh chung
của cả nước hoặc ng lực cạnh tranh cấp tỉnh của các địa phương thông qua chỉ số năng lực
cạnh tranh được công bố, tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh đó,
nhưng chưa nhiều nghiên cứu tập trung đi tìm hiểu nội tại nguyên nhân tại sao năng lực
cạnh tranh của địa phương lại có đánh giá khác nhau. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm
tìm hiểu nội tại của vấn đề, các doanh nghiệp- chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình đánh
giá về chỉ snăng lực cạnh tranh đối tượng hướng tới trực tiếp của khảo sát, để từ đó tác
giả góc nhìn từ chính các doanh nghiệp về đánh giá của các doanh nghiệp về từng chỉ số
nghiên cứu hướng tới trong quá trình phân tích.
3. Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Phương pháp nghiên cứu
3.1.1. Phương pháp thu thập số liệu
*) Địa bàn nghiên cứu
Tỉnh Bắc Giang một tỉnh miền núi nằm trong khu vực 14 tỉnh miền núi phía Bắc,
tỉnh có nhiều lợi thế phát triển kinh tế đa dạng như thương mại, dịch vụ, nông nghiệp và trọng
tâm phát triển công nghiệp. Tính đến hết năm 2016, tỉnh Bắc Giang, địa phương có chỉ
số năng lực cạnh tranh đứng trong nhóm không n định, những chỉ số rất thấp chưa khai
thác được hết lợi thế về tài nguyên trong tỉnh (bảng 1).
*) Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ o cáo tổng kết hàng năm của tổng cục thống ,
theo báo cáo ng năm của VCCI báo cáo tổng kết của Sở Kế hoạch Đầu tỉnh Bắc
Giang, báo cáo khoa học các công trình nghiên cứu trước đây về tỉnh Bắc Giang,.Bên cạnh
đó, các dữ liệu được thu thập từ các tài liệu công bố trên các tạp chí, ấn phẩmcũng được
tác giả sử dụng trong nghiên cứu.
*) Số liệu sơ cấp
Có nhiều cách khác nhau để xác định quy mô mẫu, theo Nguyễn Văn Thắng (2014), để
đạt được độ tin cậy cho các phân tích này số quan sát thường kích thước lớn n 100,
142
chính vì vậy việc tác giả khảo sát 256 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đáp ứng
được yêu cầu số quan sát tối thiểu thực hiện các phép toán thống kê
Bảng u hỏi c giả sử dụng được thiết kế dựa trên mẫu phiếu khảo sát của VCCI khi
khảo sát năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, cthể nội dung của phiếu khảo sát có sự kế thừa
điều chỉnh phù hợp với đối tượng khảo sát nghiên cứu của tác giả, nội dung của bảng hỏi
được chia làm 2 phần:
Phần 1: Thông tin chung về doanh nghiệp
Phần 2: Đánh giá của doanh nghiệp về các tiêu chí
Thang đo Likert 5 bậc được tác giả sdụng cho nghiên cứu y với chiu đánh giá
tăng dần từ rất không hài lòng đến rất hài lòng.
Sau khi khảo sát, toàn bộ dữ liệu được làm sạch nhập liệu trên phần mềm excel để
thực hiện việc phân tích.
3.1.2. Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng nhằm so sánh sbiến động của chỉ số năng
lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Bắc Giang tương quan với các địa phương khác trong khu
vực và trong cả nước
Phương pháp thống được tác giả sử dụng nhằm phân tích tính toán đánh giá của
doanh nghiệp về các chỉ số cạnh tranh của doanh nghiệp, giá trị trung bình độ lệch chuẩn
được tác giả tính toán để phân tích trong bài báo này
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Nghiên cứu tập trung nghiên cứu ba nhóm tiêu chí trong nhóm chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh thấp điểm và giảm điểm của tỉnh Bắc Giang theo thống kê của VCCI năm 2016
đó là 3 chỉ số thấp điểm (Chỉ số gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai; Thiết chế pháp lý;Cạnh
tranh bình đẳng)
Bảng 1: Thống kê kết quả điểm số PCI tỉnh Bắc Giang với các tỉnh lân cận
2012 2013 2014 2015 2016
Bắc Ninh 62.26 61.07 60.92 59.91 50.55
(10-T) (12-T) (10-T) (13-K) (17-T)
Hà Nội 53.4 57.67 58.89 59 60.74
(51
-
K)
(33
-
K)
((26
-
K)
(24
-
K)
(14
-
T)
Hải Dương 56.29 56.37 58.63 58.37 57.95
(33-K) (41-TB) (31-K) (34-K) (36-K)
Lạng Sơn 56.29 52.76 55.05 54.61 56.29
(34-K) (59-Thấp) (54-TĐT) (57-TĐT) (55-TB)
Quang Ninh 59.55 63.51 62.16 65.75 65.6
(20
-
K)
-
RT)
-
RT)
-
RT)
-
RT)
Thái Nguyên 60.07 58.96 61.25 61.21 61.82
(12-T) (25-K) (8-T) (7-T) (7-T)
Bắc Giang 57.08 54.79 57.33 57,61 58.2
(31-K) (49-TĐT) (44-K) (40-K) (33-K)
Nguồn: Tổng hợp số liệu VCCI
Ghi chú: T- Tốt; K - Khá; TB - Trung bình; TĐT – Tương đối thấp
143
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
4.1.1. Chi phí gia nhập thị trường
một trong mười chỉ số thành phần những thay đổi quan trọng nhất với trong
phân tích các chỉ tiêu của chỉ số này có 7 chỉ tiêu mới và loại bỏ 2 chỉ tiêu cũ, đây cũng là chỉ
số thành phần năm 2016 tăng nhẹ đạt 8.51 điểm so với năm 2015 xếp thứ 55/63 tỉnh thành
của cả nước số điểm vẫn thấp hơn mức trung vị của cả nước 0.03 điểm. Năm 2015 chỉ đạt
8,00 điểm (54/63), giảm điểm mạnh nhất trong 5 m gần đây. Cụ thể năm 2014 đạt (8,72
điểm) tăng được 2,51 điểm so với năm 2013.
Trong số 5 chỉ tiêu không thay đổi so với m 2012, đến 3 chỉ tiêu bị đánh giá kém
đi đó là: Thời gian chờ đợi để được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất; % DN phải chờ
hơn một tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động; % DN phải chờ hơn
ba tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động.
Bảng 4.1: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Bắc Giang (2006-2016)
CHỈ SỐ 2006
2007 2008 2009
2010
2011
2012
2013 2014
2015 2016
Nhóm các chỉ số cao điểm
Hỗ trợ doanh
nghiệp 6.66 4.54 6.91 5.62 6.3 3.25 4.36 5.57 5.72 4.71 5,28
Xếp thứ 28 26 47 17 17 41 16 20 27 27 42
Đào tạo lao
đ
ộng
6.41 6.59 3.79 4.29 5.36 4.92 4.69 5.11 5.92 5.69 6.44
Xếp thứ 13 10 43 49 29 26 41 45 3 26 19
Chi phí thời
gian 4.78 5.16 4.65 5.94 5.83 7.72 6.23 5.6 6.19 6.98 7.11
Xếp thứ 24 54 48 46 41 11 21 48 44 22 12
Nhóm các chỉ số thấp điểm
Gia nhập thị
trường 8.18 7.49 6.31 8.37 6.44 8.53 8.95 6.21 8.72 8 8.51
X
ếp thứ
12
44
63
29
40
36
27
61
14
54
35
Tiếp cận đất đai 6.01 6.46 6.61 6.09 4.8 5.98 5.78 6.1 6.03 6.05 5.63
Xếp thứ 32 29 35 42 53 48 54 52 23 27 39
Tính minh b
ạch
5.81
5.15
6.35
6.99
6.11
6.19
5.91
5.89
5.87
5.83
6.0
4
Xếp thứ 15 53 31 6 20 18 28 18 40 48 46
Thiết chế pháp
4 4.24 2.76 4.39 4.85 4.18 4.02 5.1 5.91 5.65 4.76
X
ếp thứ
17
34
61
58
36
59
18
46
2
36
55
Cạnh tranh bình
đ
ẳng
N/A N/A N/A N/A N/A N/A 3.53 4.06 4.64 4.35
Xếp thứ
53 48 61 54
Nhóm các chỉ số giảm điểm
Chi phí không
chính thức 6.32 6.92 6.6 4.84 6.43 6.7 5.65 5.9 4.51 5.76 5.1
Xếp thứ 33 15 36 60 26 36 53 45 48 16 40
Tính năng động 4.89 5.19 4.89 4.77 5.5 4.84 4.84 4.96 4.74 4.7 4.67
Xếp thứ 32 27 42 33 24 28 33 44 27 38 40
PCI 56 55.48
47.44
57.5 58 60.8 57.1 54.79
57.3 57.61
58.22
15 33 50 37 32 23 31 49 41 40 33
Tốt Khá
Thấp
khá Khá Tốt Khá
Thấp
Khá Khá Khá
(Nguồn: Số liệu tác giả tự tổng hợp báo cáo của VCCI từ năm 2006 đến năm 2016)
144
Thời gian chờ đợi để được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất ng từ 45 ngày
lên 228 ngày (tính theo giá trị trung vị - nghĩa nhiều doanh nghiệp phải mất hơn 228 ngày
để được cấp GCNQSDĐ) trong m 2013 rút xuống 60 ngày nhưng so với mức trung vị
vẫn cao hơn 30 ngày. Kết quả đánh giá trên thể chỉ ra nguyên nhân chính khiến chỉ số Chi
phí gia nhập thị trường giảm điểm mạnh trong m 2013 : c doanh nghiệp được khảo sát
đánh giá Thời gian chờ đợi để được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quá i
tăng đột biến so với các năm trước. Đến nay Thời gian để được cấp GCNQSDĐ đã được cải
thiện rút ngắn còn 20 ngày song vẫn còn cao n so với cnước 5 ngày, các chỉ tiêu khác
như: khó khăn để có được mặt bằng kinh doanh, khó khăn để có đủ loại giấy tờ….
4.1.2. Chỉ số tiếp cận đất đai
một trong những chỉ stăng điểm nhưng không đáng kể trong giai đoạn 2012 đến
2016. Năm 2015 với 6,05 điểm tăng 0,02 điểm so với năm 2014 nhưng lại giảm 0,06 điểm so
với năm 2013, đến năm 2016 thì chỉ số này bị giảm điểm xuống còn 5.63 điểm thấp hơn mức
trung bình của cả nước 5.81 điểm so với năm 2015 giảm 0.42 điểm. Chỉ tiêu bị đánh giá
tương đối thấp, cthể: 19% DN được khảo sát đồng ý rằng DN ngoài quốc doanh không gặp
cản trở về tiếp cận đất đai hoặc mở rộng mặt bằng kinh doanh 29% DN được khảo sát
đồng ý rằng DN thực hiện các thủ tục hành chính vđất đai trong vòng 2 năm qua nhưng
không gặp bất kỳ khó khăn nào về thủ tục, khó khăn vẫn nằm ở nội dung giải phóng mặt bằng
để có được mặt bằng kinh doanh.
4.1.3. Chỉ số thiết chế pháp lý
Đo lường lòng tin của doanh nghiệp nhân đối với hệ thống tòa án, pháp của tỉnh,
liệu các thiết chế pháp này có được doanh nghiệp xem công cụ hiệu quả để giải quyết
tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp th khiếu nại các nh vi nhũng nhiễu của cán bộ
công quyền tại địa phương…Chỉ số Thiết chế pháp năm nay chỉ số giảm điểm mạnh
nhất trong 10 chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Bắc Giang. So với năm 2015 giảm 0.89
điểm, so với năm 2014 giảm 1.15 điểm, so với m 2012 ng 0.73 điểm. thể thấy chỉ số
Thiết chế pháp lý có sự ng giảm không ổn định, mặt khác chỉ số Thiết chế pháp của Bắc
Giang còn thấp hơn so với giá trị trung bình của cả nước (5,50 điểm) thấp hơn nhiều so
với các tỉnh chỉ số Thiết chế pháp cao (7,91 điểm). Các DN còn chưa đánh giá cao một
số chỉ tiêu như: Chỉ có 33% DN cho rằng. Hệ thống pháp luật có cơ chế giúp DN tố cáo hành
vi tham nhũng của các bộ; 64% DN được khảo sát đồng ý rằng Tòa án các cấp của tỉnh xử
các vụ kiện kinh tế nhanh chóng.
4.1.4. Chỉ số cạnh tranh bình đẳng
Đây chỉ số mới trong chỉ số PCI năm 2013, chỉ số này đánh giá việc ưu đãi cho các
tổng công ty, tập đoàn của Nhà nước, các công ty lớn, các DN liên kết chặt chẽ với chính
quyền tỉnh và các doanh nghiệp FDI trong việc: tiếp cận đất đai, tiếp cận các khoản tín dụng,
cấp phép khai thác khoáng sản, thủ tục hành chính, tiếp cận các hợp đồng từ quan nhà
nước, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ sCạnh tranh bình đẳng của Bắc Giang
năm 2016 giảm hơn so với năm 2015 thấp điểm hơn so với mức trung vị của cả nước chỉ
đạt 4.35 điểm vẫn thuộc nhóm tỉnh điểm thấp về cạnh tranh bình đẳng xếp thứ
54/63 (thấp hơn giá trị trung bình của cả nước là 0.71 điểm; thấp hơn các tỉnh đứng đầu 3,77
điểm và chỉ hơn tỉnh có số điểm thấp nhất 0,51 điểm).
Nhiều doanh nghiệp được khảo sát cho rằng các tập đoàn kinh tế của nhà nước được
ưu ái có nhiều thuận lợi hơn trong việc tiếp cận đất đai, tiếp cận các khoản tín dụng, thuận
lợi trong cấp phép khai thác khoáng sản, thủ tục hành chính nhanh chóng hơn dễ dàng
được các hợp đồng từ quan Nhà nước hơn. Các doanh nghiệp FDI thì được ưu tiên giải
quyết các vấn đề khó khăn hơn DN trong nước; nhiều doanh nghiệp cho rằng tỉnh ưu tiên
thu hút đầu tư nước ngoài hơn là phát triển khu vực tư nhân; việc tiếp cận đất đai, miễn giảm
thuế TNDN, thủ tục hành chính nhanh chóng đơn giản những đặc quyền của các doanh
nghiệp FDI hoạt động của các doanh nghiệp FDI nhận được nhiều quan tâm hỗ trợ hơn t