Ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp
1. Những dấu vết hiện sinh
Tinh thần nhân bản của học thuyết hin sinh, theo chúng tôi, biểu hiện tp trung ở
ch nêu và trả lời câu hỏi về bản thể:con người, anh là ai?”. Sc hấp dẫn của truyn ngắn
Nguyễn Huy Thiệp cũng thế, nó chủ yếu bắt nguồn từ cách nêu và trả lời câu hỏi này. Bằng
chính hot động sángc của mình, Nguyễn Huy Thiệp dường như đã tiệm cận các nhà lý
thuyết hiện sinh ch nghĩa ở cái lõi nhân bản – trung tâm hng thú trong triết học của
họ: Con người là một thực thể hiện sinh,tự biết mình ai, đang đâu, cần và s
phải làm gì.
Thật vậy.
Trong khi qu quyết rằng Chủ nghĩa hiện sinh là một chnghĩa nhân bản, Jean-
Paul Sartre viết:Con người, không chỉ như anh ta tự quan niệm, mà còn như anh ta muốn,
như anh ta tự quan niệm sau khi đã sng, và n anh ta muốn sau khi đã ao ước sống; con
người không là gì khác ngoài cái mà bản thân anh ta t làm nên. Đó là nguyên tắc đầu tiên
ca thuyết hiện sinh. Đóngi mà người ta gọi là tính chủ thể(1). Và cũng chính ông
giải thích: Theo chúng tôi, trước hết con người tồn tại, nghĩa là trước hết con người
ớng tớiơng lai, đồng thời có ý thc về sự hướng tớiơng lai đó. Con người trước hết
là mt dự án (project) tự tồn tại chquan, chứ không như một đám rêu, một vật đang thối
ra, hoặc một cây súp lơ […](2).
Những trích dẫn trên, cũng đủ cho thy – ít nhất trênnh diện lý thuyết – giá tr
nhân bản của chủ nga hin sinh (CNHS) và lí do tồn tại lâu bền của triết thuyết này trong
hệ thống tưởng văn học của nhân loại.
Còn trong truyện ngắn của mình, có thật là Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnhởng và rất
hng thú bởi một tinh thần hiện sinh như thế?
Thc ra, trong sáng tác, ảnh hưởng và việc tiếp thu ảnh ởng của mộtng, một
to lưu triết học, thường mang tính tổng hợp, lại thường không được phát biu một cách
hiển ngôn, mà bc lộ đầy ẩn ý bng hình tượng nghệ thuật. (Chng hạn, trênnh diện này,
khó có thể chỉ ra rõ rệt đâu âmởng hin sinh hữu thần, âm hưởng hiện sinh thần;
đâu là bóng dáng của Kierkegaard hoặc của Marcel; của Nietzsche, Sartre hay
Camus,… Song, Người ta vẫn thể phần nào nhận ra âm ởng của học thuyết này qua
một số biểu hin cụ thể trong ý nghĩa của hình tưng nghệ thuật ứng với cốt lõi ca các khái
niệm thuyết cơ bản, mang linh hồnng của chủ nga hiện sinh).
Theom hiểu của chúng tôi, âm hưởng hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thip
rất gần gũi với chnghĩa hiện sinh vô thần, ch yếu gần với quan điểm của Jean-Paul Sartre.
S gần gũi ấy thnhận diện qua các biểu hiện sau đây.
Thnhất, theo quan nim của J-P Sartre: được ném vào trong thế giới hiện sinh như
một thách thức, con người là thực thể cô đơn, bé nhỏ và bơ vơ, thiếu vng đim tựa.
Đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, độc giả cũng thường bị ám ảnh bởi điều
này. đây, cũng như nhà triết học, nhà văn muốn trả lời câu hỏi: Con người là ai? Anh ta
đang sống trong tình trạng nào? Khi gián tiếp hay trực tiếp trả lời các câu hỏi này qua các
nh tượng nhân vật của mình (Chương Con gái thủy thần, những Hiếu Thương nhớ
đồng quê, nhng Ngọc Những người thợ x, hoặc, những “tôiChảy đi ng ơi, chẳng
hạn), Nguyễn Huy Thip cũng đã gieo vào lòng người một nim ray rứt không nguôi v
nh trạng đơn bé nhỏ cùng s bơ vơ thiếu vắng đim tựa của con người.
Thhai, theo J-P Sartre, con ngưi không chỉ là thc thể, mà còn là một chủ thể.
nh ch thể phân biệt con người với các thực thể khác như một đám rêu, mt vật đang thối
ra, hoặc một cây súp lơ… Con người luôn có ý thức về tính chủ thcủa mình trong mọi
hoàn cảnh tồn tại, thm chí trong từng hành vi ứng x, từng tình huống cụ thể. Người đọc
cũng thể ddàng nhận ra dấu vết lun điểm triết học quan trọng, nổi tiếng này trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp qua thế giới nhân vật của anh.
Ý thc về ch thể, thái độ dấn thân, lựa chọn, hành động của con người trước những
nh huống, hoàn cảnh cụ thể… chủ yếu để lại dấu vết qua hai loại nam nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Loại thứ nhất thường là những anh hùng, danh nhân, thiên
tài,… có vai trò, khả năng tác động đến lịch sử, tập tục, văn hóa, trong một chừng mực nào
đó, h“là những kẻ có khả năng dạt quần chúng về cả một phía” (Những bài học nông
tn)(3), nhưng lại đành đcho lịch sử quyết định số phận của mình, theo qui luật lạnh lùng
ca nó. Nguyễn Du Vàng lửa, Quang Trung và Nguyễn Ánh Kiếm sắc, Phẩm tiết,
Nguyễn TrãiNguyn Thị L, Trn Tế Xương Thương ccho đời bạc,… thuộc loại này.
Loại thứ hai thường là hạng đàn ông bm trợn, giàu quái tính như Bường Nhng người
th xẻ, Đoài, lão Kin Không vua, trùm Thnh Chảy đi ng ơi, huyện Thặng Chút
thoáng Xuânơng,… Loại nhân vật này, nhiều khi chiếm vị trí trung tâm trong truyện
ngắn ca Thiệp, đều chất “nổi loạn” của con người cá nhân cực đoan, bướng bỉnh sống
theoc quan nim, triết lí của mình; tuy rng trong những quan nim, triết đó, không ít
điều chỉ là ngụyn (mauvaise foi)(4).
Thba, theo các nhà hiện sinh chủ nghĩa, ý thc về chthể của con người, cũng
luôn có mặt thái quá của nó. Nếu dựa trên các ngy tín, ý thc nàythể đưa con nời tới
chỗ hành động cực đoan, lm lạc, mang nh chất “nổi loạn”. Tuy nhiên, cho dẫu thế, những
hành động cực đoan, lm lạc này muốn dù không vẫn cần phải nhìn nhận như là biểu
hiện của ý thức cao về bản thể. Nhiều nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp, nhất là nhân vật nữ
những biểu hin “nổi loạn” rất mạnh mẽ.
Hiện thân cho tinh thần “nổi lon mà rõ nhất và ch yếu: “nổi loạn” trongng
th hạnh phúc, tình yêu, tình dc trong truyện ngn Nguyễn Huy Thiệp là ba loi nhân vật
n, ba mẫu người. Loại thứ nhất, không phổ biến nng lại là mẫu người rt nổi bật trong
truyện ca anh. Tiêu biểu người đàn tên Phượng trong Con gái thủy thần. Nhân vật nữ
này nhân danh n quyền,ng hồn chế nho rằng “trật tự phụ quyn” truyền thống hiện tồn
trong xã hội đương đại chỉ là th trật tự “phn dân ch”, “tục tĩu”, “dối trá và đy bạo lực”;
đồng thời công khai bênh vc quyền ởng th, nhất là quyền thỏa mãn nhu cầu tình dc
ca bản thân mình và ca cả giới nữ. Phượng cả một hệ thống lập luận, thm chí cả
một lí thuyết để bênh vc cho thái độ sống, văn a sống của mình, nhưng trong đóng
không ít điu chỉ là ngụy tín. Loại thứ hai thuộc mẫu người đàn lâm vào thế lưng lự
giữa đôi bờnổi lon” và thuần hậu. Đó thể là nhân vật người đàn b chồng ruồng bỏ
sống với đứa con sáu tuổi (Đời thế mà vui), là nàng Mơng đỏng đảnh biến chàng
Tơng Chi thành anh hề lố bịch trước đám quần thần cặn bã (Trương Chi). Loại thứ ba
gồm những ngườiờng như vừa đi qua một kiếp nhân sinh, họ đang ngoái lại xemi mất
i được trong đời mình là gì. Những kẻ già nua như bà Lâm (Thương nhớ đồng quê), hay
lão (Mưa Nhã Nam) là hin thân cho một chuỗi hồi c buồn. Họ hình như chưa kịp sống,
chưa kịp yêu, chưa kịp hưởng hạnh phúc th hạnh phúc vi nghĩa trần thế nhất. Khi đã
đến tuổi gần đất xa trời, họ hoặc tiếp tục sống lng lẽ, cam phận, hoặc luôn miệng thốt lên
những li tiếc nuối, chua xót cho thân phn thua thiệt của mình, t đó nảy sinh tâm ng
vc cả những qui chuẩn đạo đức (nhất là nghĩa lí của những cái mà người đời vẫn đề cao
như chính chuyên, đc hạnh,).
Như vậy, nếu không kể c nhân vật nữ mang dáng dấp “Thiên s” như Vinh Hoa
(Phẩm tiết), Sinh (Không vua), Xuânơng (Chút thoáng Xuân Hương), thì hầu như cả
thế gii nhân vật trong truyện ngn Nguyễn Huy Thiệp đu mang âm ởng hiện sinh, nhìn
tkhía cạnh này hay khía cạnh khác. Hin hữu ở đây nói như Sartre con người không
chỉ nanh ta tự quan niệm, mà còn như anh ta muốn, như anh ta tự quan niệm sau khi đã
sng, và như anh ta muốn sau khi đã ao ước sống.