intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Thị Minh Tin

Chia sẻ: Đào Đức Mạnh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:11

0
26
lượt xem
4
download

Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Thị Minh Tin

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài dự thi "Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017" do Nguyễn Thị Minh Tin trình bày về những biểu hiện sinh động của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó thuỷ chung, son sắt của hai dân tộc Việt Nam - Lào dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước từ khi thiết lập mối quan hệ hợp tác và hữu nghị năm 1962, 1977 đến nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài dự thi: Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017 - Nguyễn Thị Minh Tin

  1. BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM ­ LÀO, LÀO ­ VIỆT NAM NĂM 2017 Người tham gia:  Họ và tên: Nguyễn Thị Minh Tin Đơn   vị:  Chi   đoàn  Công   an,   Đoàn  Ngày sinh: 23/8/1987 phường   Phước   Long,   Nha   Trang,  Giới tính: Nữ Khánh Hoà Nghề nghiệp: Công an Nơi thường trú:  Dân tộc: Kinh Số điện thoại: 0995.378.968 Tôn giáo: không NỘI DUNG BÀI DỰ THI Trong khuôn khổ  bài viết tham gia cuộc thi “ Tìm hiểu lịch sử  quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, Lào ­ Việt Nam năm 2017”, tôi xin trình bày về  những biểu hiện sinh động của mối quan hệ  đoàn kết, gắn bó thuỷ  chung, son   sắt của hai dân tộc Việt Nam ­ Lào dưới sự  lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà  nước từ khi thiết lập mối quan hệ hợp tác và hữu nghị năm 1962, 1977 đến nay. Trước hết, xin giới thiệu một chút về  nước Lào anh em. Lào là quốc gia  Đông Nam Á trong bán đảo Đông Dương có chung đường biên giới dài 2069 km  trải dài suốt 10 tỉnh của Việt Nam  tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào. Quan hệ  đặc  biệt Việt Nam ­ Lào có nhiều cơ sở thực tiễn quan trọng. Lịch sử đã khẳng định quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ  đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về  sự  gắn kết   bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì   độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Khi cả khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ,   hai Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vẫn  vững vàng. Chính thể  do Đảng lãnh đạo vẫn vững bước, hai đất nước, hai dân  tộc cùng sánh vai xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, phát triển kinh tế theo   định hướng Xã hội chủ  nghĩa, đập tan mọi âm mưu gây chia rẽ, phá hoại mối  quan hệ đoàn kết của các thế lực thù địch phản động. Tình hữu nghị, đoàn kết giữa hai Đảng, hai nước Việt­Lào và sự  gắn bó  thủy chung, keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ  tộc Lào được  
  2. Chủ  tịch Hồ  Chí Minh và Chủ  tịch Cay­xỏn Phom­vi­hản trực tiếp gây dựng,  được các thế  hệ  lãnh đạo kế  tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai   nước quý trọng, nâng niu và dày công vun đắp. Trải qua nhiều giai đoạn và biến   cố của lịch sử, mối quan hệ Việt­Lào được tôi luyện và hun đúc bằng công sức   và xương máu của biết bao anh hùng liệt sỹ, bằng sự  hy sinh phấn đấu của  nhiều thế  hệ  người Việt Nam và Lào và đã thực sự  trở  thành mối quan hệ  truyền thống, rất   đặc biệt, rất thủy chung và trong sáng. Chủ  tịch Cay­xỏn  Phom­vi­hản đã từng nói: “Trong lịch sử  cách mạng thế  giới đã có nhiều tấm   gương sáng chói về  tinh thần quốc tế  vô sản, nhưng chưa  ở  đâu và chưa bao   giờ có sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài và toàn diện như vậy”. Ảnh tư  liệu: Tổng Bí thư  Nguyễn Phú Trọng tiếp Chủ  tịch Quốc hội Lào   Pany Yathotou. Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam Hơn nửa thế  kỷ  đã trôi qua, dù tình hình thế  giới có rất nhiều thay đổi,  song dưới sự  lãnh đạo của hai đảng, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào vẫn   chung lòng chung sức, kề  vai sát cánh trong công cuộc đấu tranh giải phóng và   thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của mỗi  nước. Là hai nước láng giềng núi sông liền một dải, quan hệ gắn kết anh em giữa  hai dân tộc đã được hình thành và củng cố  cùng bề  dày lịch sử  dựng nước và  giữ nước. Đặc biệt, trong nhiều thập kỷ qua, mối quan hệ truyền thống tốt đẹp,   sự  gắn bó thủy chung giữa nhân dân hai nước đã được Chủ  tịch Hồ  Chí Minh,   Chủ  tịch Kaysone Phomvihane và Chủ  tịch Suphanuvong đặt nền móng, được 
  3. các thế hệ lãnh đạo của hai đảng, hai nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun  đắp, được tôi luyện qua nhiều thử  thách và được hun đúc bằng công sức và  xương máu của bao thế hệ các anh hùng liệt sĩ, để  trở thành tài sản vô giá của   hai dân tộc. 55  năm  trước,  sau  khi  Hiệp   định  Giơ­ne­vơ   về   Lào  được  ký  kết  (năm  1962), Việt Nam và Lào đã nhất trí thiết lập quan hệ  ngoại giao, mở  ra một  chương mới trong sự  nghiệp củng cố  và phát triển hơn nữa mối quan hệ  giữa   hai nước. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giành độc lập của mỗi nước,   sự gắn bó khăng khít, sự hỗ trợ, giúp đỡ vô tư, chí tình, chí nghĩa giữa hai nước,   hai dân tộc Việt Nam và Lào, đã trở thành sức mạnh vô song và là nhân tố quan   trọng góp phần đưa cách mạng hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác,  tiến tới thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975. Bước vào thời kỳ  mới ­ thời kỳ  hòa bình, xây dựng đất nước, nhận thức  sâu sắc về  ý nghĩa và mối quan hệ  đặc biệt Việt Nam ­ Lào, ngày 18 tháng 7  năm 1977, hai nước đã ký Hiệp  ước hữu nghị  và hợp tác, khẳng định tình đoàn  kết đặc biệt trước sau như  một, hợp tác,  ủng hộ, giúp đỡ  lẫn nhau trong sự  nghiệp xây dựng và bảo vệ  độc lập, chủ  quyền, toàn vẹn lãnh thổ  của mỗi   nước. Đây là văn kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu bước phát triển mới,   toàn diện của mối quan hệ đặc biệt Việt ­ Lào, là cơ sở pháp lý vững chắc cho  việc tăng cường và mở rộng mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước trong thời kỳ  mới; tạo cơ  sở  để  hai nước thúc đẩy ký kết hàng loạt các thỏa thuận hợp tác   sau này. Sau khi ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, quan hệ hợp tác toàn diện Việt  Nam ­Lào không ngừng được củng cố, đổi mới và phát triển sâu rộng. Nội dung   hợp tác thêm thực chất, hiệu quả hợp tác liên tục được nâng cao và tăng cường   trên tất cả  các lĩnh vực. Quan hệ  chính trị  được thúc đẩy mạnh mẽ, ngày càng   gắn bó tin cậy, hai bên đã phối hợp tổ chức tốt các chuyến thăm, các cuộc gặp   gỡ, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai đảng, hai nước.
  4. Hợp tác quốc phòng ­ an ninh giữa Việt Nam và Lào tiếp tục được củng cố  chặt chẽ. Hai nước đã ký 2 văn kiện pháp lý quan trọng là “Nghị  định thư  về  đường biên giới và mốc quốc giới” và “Hiệp định về quy chế quản lý biên  giới   và   cửa  khẩu   biên  giới   trên   đất  liền  giữa  Chính  phủ  Việt   Nam  và  Chính phủ  Lào”. Việc hoàn thành hệ  thống mốc quốc giới đã góp phần hoàn  thành chất lượng đường biên giới Việt Nam­Lào cả về pháp lý và thực tiễn. Về hợp tác kinh tế, trong thời gian qua, với tinh thần đưa quan hệ  hợp tác   kinh tế  hai nước đi vào thực chất hơn nữa, trong chuyến thăm chính thức của  Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới Lào vào tháng 4 và tại Kỳ họp lần thứ 39 Ủy  ban liên chính phủ, hai nước đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác quan trọng, như  Thỏa thuận về  hợp tác đầu tư  quản lý và khai thác cảng Vũng Áng (cầu cảng  1,2,3); Thỏa thuận thành lập công ty liên doanh đầu tư  dự  án xây dựng đường   dây tải điện 500 Kv Lào­Việt Nam; Thỏa thuận về   đầu tư  xây dựng tuyến  đường sắt Vientiane­Tha Khaek­Mụ Giạ­Tân Ấp­Vũng Áng... Chương tình thắp nến tri ân 'Khúc tráng ca Việt­Lào. Ảnh: TTXVN Hai  bên cũng nhất  trí cùng phối hợp triển khai có  hiệu quả  Hiệp  định  thương mại giữa hai chính phủ ký ngày 3 tháng 3 năm 2015 và Hiệp định thương 
  5. mại biên giới giữa hai chính phủ ký ngày 27 tháng 6 năm 2015; ưu tiên việc kết  nối hai nền kinh tế, nhất là kết nối về thể chế, hạ tầng giao thông, năng lượng   và du lịch... Các thỏa thuận hợp tác này cùng với thỏa thuận dự án cao tốc Viêng­chăn ­  Hà Nội có ý nghĩa hết sức quan trọng, mang lại lợi ích chính trị, kinh tế, xã hội,   phát huy tối đa lợi thế  về  vị  trí địa lý và điều kiện tự  nhiên của hai nước, đặc  biệt là tiềm năng về vị trí trung tâm trên đất liền của Lào và tiềm năng biển của   Việt Nam. Trao đổi thương mại giữ một vị trí quan trọng trong quan hệ song phương   và có xu thế tăng liên tục trong nhiều năm gần đây, từ 422 triệu USD năm 2008  lên 1,12 tỷ USD năm 2015. Năm ngoái, kim ngạch thương mại hai nước đạt 801  triệu USD, trong đó nhập khẩu của Việt Nam từ Lào đạt 342 triệu USD và xuất   khẩu từ Việt Nam sang Lào đạt 459 triệu USD. Hai nước đang phấn đấu nâng chỉ  số  này tăng thêm 10% trong năm nay.   Trong lĩnh vực đầu tư, tính tới thời điểm hiện tại, Việt Nam là nhà đầu tư nước   ngoài lớn thứ 3 tại Lào với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 3,7 tỷ USD trên 408  dự án được cấp phép. Nhiều dự án đầu tư có hiệu quả, sản xuất kinh doanh có lãi, đóng góp tích  cực vào công cuộc phát triển của hai nước, tạo nhiều công ăn việc làm, giúp   nâng cao đời sống của người dân Lào và được phía Lào đánh giá cao. Hợp tác giáo dục­đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn là lĩnh vực ưu  tiên trong quan hệ hợp tác Việt­Lào. Hai nước đã xây dựng và triển khai “ Đề án  nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác Việt Nam­Lào trong lĩnh vực giáo  dục và phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011­2020”, coi đây là cơ sở để  phát triển nguồn nhân lực hai nước, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc   phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước. Trong năm học 2015 ­ 2016, Việt Nam tiếp tục dành cho Lào 1.000 suất học   bổng và Lào dành cho Việt Nam 60 suất học bổng. Hiện nay có hơn 14.000 cán  bộ, sinh viên Lào học tập tại Việt Nam, trong khi Việt Nam cũng có gần 300 cán   bộ, sinh viên đang theo học tại Lào...
  6. Đánh giá về hợp tác giữa Việt Nam ­ Lào trong 55 năm qua, Thủ tướng Lào  Thongloun Sisoulith cho biết, ông rất hài lòng với sự hợp tác giữa hai nước ở cả  lĩnh vực hợp tác song phương cũng như trên trường quốc tế, đồng thời bày tỏ tin  tưởng trong tương lai, hai nước Lào và Việt Nam anh em sẽ tiếp tục cùng tiến  lên phía trước, không để  bất cứ  điều gì có thể  cản trở, phá hỏng mối quan hệ  hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước. Nguyên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Choummaly Sayasone nhấn mạnh:  “Tôi cho rằng tình đoàn kết thủy chung son sắc giữa hai nước là yếu tố  quyết   định sự  thành công của hai nước Lào và Việt Nam, trong hoàn cảnh nào, hai   nước Lào­Việt Nam chúng ta cũng luôn phải sát cánh bên nhau, bởi vận mệnh   của hai nước là không thể tách rời”. Trong chuyến thăm hữu nghị  chính thức  Lào vào cuối tháng 11 năm 2016  vừa qua, Tổng Bí thư  Nguyễn Phú Trọng và các nhà lãnh đạo Lào cũng thống  nhất nhận thức và khẳng định, mối quan hệ  đoàn kết gắn bó đặc biệt Việt  Nam­Lào là tài sản vô giá, là quy luật sống còn, là nhân tố  không thể thiếu đối  với thắng lợi của hai đảng và nhân dân hai nước trong cuộc đấu tranh giành, giữ  và bảo vệ  nền độc lập, tự  do trước đây cũng như  công cuộc xây dựng, phát  triển và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trong bối cảnh thế  giới đang diễn biến phức tạp, mỗi nước cũng đang   trong giai đoạn quan trọng của sự phát triển, dù ở hoàn cảnh cảnh nào, hai đảng,   hai nước và nhân dân hai nước cũng trước sau như một, quyết tâm gìn giữ mối  quan hệ  hữu nghị  truyền thống, đoàn kết đặc biệt mãi mãi xanh tươi, đời đời   bền vững, đưa quan hệ ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng, hiệu quả. Nhìn lại chặng đường lịch sử  hào hùng 55 năm qua, đặc biệt qua 40 năm   thực hiện Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, nhân dân Việt Nam và Lào có thể hoàn   toàn tự hào về mối quan hệ thủy chung trong sáng, đoàn kết đặc biệt và hiếm có  giữa hai dân tộc anh em. Với những gì đã có trong quá khứ cùng với sự quyết tâm và nỗ lực của lãnh  đạo và người dân hai nước,  quan hệ  hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc  biệt và sự  hợp tác toàn diện giữa hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước  
  7. Việt Nam­Lào chắc chắn sẽ  có những bước phát triển mới, năng động, hiệu   quả, thiết thực, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước là xây dựng thành  công nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và  xây dựng thành công nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và phồn   vinh, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và  trên thế giới. Là nước láng giềng anh em gần gũi, nhân dân Việt Nam luôn tự  hào có  nhân dân Lào là người bạn thủy chung, son sắt, trong sáng trong suốt thời kỳ  đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như  trong công cuộc đổi mới, xây  dựng và phát triển đất nước ngày nay. Mỗi người dân Việt Nam đều vui mừng   chứng kiến các thành tựu, những đổi thay nhanh chóng đang diễn ra hằng ngày,  hằng giờ trên đất nước Triệu Voi tươi đẹp và chân thành mong muốn nhân dân  các bộ  tộc Lào anh em, dưới sự  lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách   mạng Lào sẽ  xây dựng thành công một nước Lào phồn vinh và vững mạnh, có   quan hệ đối ngoại rộng mở, có vai trò và vị thế không ngừng được nâng cao trên  trường quốc tế. Kỷ  niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ  ngoại giao và 40 năm ngày ký  Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt – Lào, chúng ta cùng khẳng định quyết tâm   phấn đấu, kế  thừa và vun đắp tình đoàn kết đặc biệt, quan hệ  hữu nghị  thủy   chung gắn bó và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân  hai nước Việt – Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, góp phần tích cực   vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước, cũng  như vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Sau đây sẽ  là câu chuyện dung dị nhưng đầy ý nghĩa, xúc động của người  lính năm xưa tình nguyện trên nước bạn Lào để minh họa về mối tình hữu nghị  đặc biệt được vun đắp bằng công sức, xương máu của nhiều thế hệ. Từ  thị  trấn Khánh Yên (huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai) xuôi về  xã Khánh  Yên Hạ, chúng tôi ngược dốc đến Bản Sung, nơi có câu chuyện tình đẹp của   người chiến sĩ tình nguyện Việt Nam với cô gái xứ sở Triệu Voi. Ông Vũ Viết  Giàng cầm chiếc điếu cày, vân vê mẩu thuốc, rít một hơi thật dài. Thật khó hình 
  8. dung được, lão nông đã bước qua cái tuổi 70 đang ngồi đối diện với tôi từng là   một chiến sĩ vào sinh ra tử trên khắp chiến trường Nam Lào. Nghe chúng tôi hỏi   lại chuyện ông phải bán một con trâu to mới đủ  tiền về  thăm quê ngoại, ông  cười lớn, giọng tếu táo: “Thì lâu lâu mới đi một lần mà chú!”. Đó cũng là lần  đầu tiên ông trở lại Lào sau ngày giải phóng, về thăm quê ngoại, thăm lại chiến   trường xưa đầy ắp kỷ niệm. Trong căn nhà sàn nhỏ, ông dành một góc riêng để lưu giữ những kỷ vật từ  thời chiến, nhìn những tấm huân chương, huy hiệu đủ  loại trong tủ, tôi biết  ở  ông có cả  một bảng thành tích dày về  những năm tháng chiến đấu  ở  chiến   trường Lào. Tháng 5 năm 1965, Vũ Viết Giàng trở  thành người lính trong Binh   đoàn Trường Sơn. 13 năm sống và chiến đấu ở Lào, ông cũng chẳng nhớ được  hết những trận đánh mà mình tham gia, từ thành cổ Quảng Trị, Đà Nẵng, ngã ba   Kon Tum đến Atôpư, Xaravan… chiến trường Nam Lào ông đều đặt chân đến  cả.  Năm 1968, ông nhận nhiệm vụ cố vấn quân sự, xây dựng cơ sở, hỗ trợ bộ  đội Pa Thét Lào về chiến thuật và tổ chức trận đánh ở tỉnh Khăm Muộn. Nhiệm  vụ chính của ông lúc này là xây dựng cơ sở, “ ba cùng” với nhân dân Lào, hướng  dẫn cho người dân phát triển sản xuất, xây dựng tình cảm gắn bó giữa quân tình  nguyện Việt Nam với quân và dân Lào. Cũng từ đây đã mở đầu cho câu chuyện   tình đẹp “như trong phim” của người chiến sĩ Việt Nam với cô thiếu nữ Lào. Cô  gái Hoàng Thị Bông, con gái của Phó bí thư Tỉnh ủy Khăm Muộn sau nhiều lần  theo cha đến nơi đóng quân của bộ đội Pha­thét đã cảm mến chàng trai Vũ Viết   Giàng từ lúc nào không hay. Ông kể: “Thỉnh thoảng bà ấy gói phong lương khô,   điều thuốc nhét vào túi áo, lúc đầu cũng không để ý lắm, dần dần mến nhau rồi   thì lúc nào cũng muốn gặp mặt. Cùng sống, chiến đấu với bộ  đội và nhân dân   Lào, cùng sống chết với họ, lúc ấy đâu có nghĩ đang là công dân của hai nước ”.  Một năm sau, với sự cho phép của chính phủ  hai nước, đám cưới giản dị  được  tổ chức theo đúng kiểu đám cưới thời chiến. Ba người con được sinh ra ở Khăm   Muộn mang hai dòng máu Việt – Lào như một cái kết có hậu cho mối tình đẹp   này.
  9. Năm 1975, đất nước thống nhất, ông được phép đưa vợ con từ Lào về  quê  hương Văn Bàn. Hàng chục năm qua, trong căn nhà nhỏ  của ông luôn tràn ngập  tiếng cười, các con đều đã trưởng thành, mối tình của ông bà như thêm vào một  trang nữa trong những câu chuyện đẹp về  tình hữu nghị  đặc biệt Việt Nam ­  Lào. Chúng tôi may mắn khi gặp cựu chiến binh La Văn Son, thị trấn Khánh Yên  khi ông đang trò chuyện với những người đồng đội cũ: Ông Hà Kim Dinh, Nông   Hương Bài và Vi Quang Lành, họ  là những thành viên trong hội đồng ngũ Sư  đoàn 316. Nhưng hôi  ̃ ̀ ức cua h ̉ ơn 40 năm trươc c ́ ứ ao at tuôn ra trong câu chuyên ̀ ̣ ̣   của những người lính năm xưa, với họ  vẫn như  mới xảy ra hôm qua. Tháng 3   năm 1972, họ  cùng khoác ba lô lên đường làm nhiệm vụ  bảo vệ  Tổ  quốc. Có  một ngày họ  sẽ  mãi mãi không bao giờ  quên, đó là ngày 26 tháng 8 năm 1972,  ngày chính thức đặt chân sang đất bạn Lào. Nhắc nhớ lại một thời sống, chiến đấu tại chiến trường nước bạn, người   lính già hào hứng với kỷ niệm không thể nào quên. Khi ấy ông Hà Kim Dinh là   chiến sĩ B40 của đơn vị, trên vai súng đạn nặng trĩu, ngang lưng còn đeo một   ruột tượng gạo to vậy mà vẫn đi băng băng trong rừng. Có những trận đánh ác  liệt, sau khi bắn B40 ông bị sức ép đến ù tai, choáng váng đầu óc, phải nhịn cơm   cả  ngày. Kể  về  những trận đánh đã qua, ông Dinh luôn tự  hào khi mình được  chiến đấu trong đội hình Đại đội 9 anh hùng (Đoàn Sơn Ca), đơn vị  của ông  từng là nỗi khiếp sợ của địch bởi đã đánh là thắng. Ngồi xem lại thước phim tư  liệu về  Sư đoàn 316 trong thời gian giúp đỡ  nước bạn Lào, cựu chiến binh La Văn Son và Vi Quang Lành không khỏi bồi   hồi, năm xưa họ cùng chiến đấu trong trung đoàn 174 (Đoàn Bông Lau), ông Son  nhớ  lại trận đánh đầu tiên mình được tham gia: Trận  ấy đơn vị  giao cho ông   khẩu trung liên để bắn yểm trợ cho đồng đội xung phong đánh chiếm cao điểm   chết. Với lực lượng chênh lệch chỉ  sau thời gian ngắn, quân ta đã chiếm được  điểm cao này. Không chịu thua, địch cho máy bay đến ném bom trả  đũa. Chỉ  nghe uỵch một tiếng rồi không biết gì nữa. Khi tỉnh lại thấy tức ngực vì bị  đất   vùi, không thể  cử  động được, may sao lúc  ấy có đồng đội đến tìm, tôi lấy hết 
  10. sức đưa cây súng lên mặt đất làm dấu hiệu và được kéo lên. “ Lúc ấy tôi đã nghĩ   có lẽ mình sẽ bị chôn sống ở nơi này rồi” ­ ông Son kể lại.   Tết Nhâm Tý, năm 1972, cái Tết đầu tiên xa nhà của người lính trẻ  Nông   Hương  Bài.   Đó   là  những   giờ  phút  hiếm  hoi,  chiến  trường  lặng  tiếng  súng,  những người lính chia nhau từng điếu thuốc lá, từng mẩu lương khô. Cựu chiến  binh Nông Hương Bài mở  đầu câu chuyện với chúng tôi bằng kỷ  niệm về  cái  Tết đầu tiên  ở  cánh rừng Xiêng Khoảng, với ông hồi  ức về  những năm tháng   sống và chiến đấu ở nước bạn Lào luôn là những kỷ niệm đẹp nhất. Đơn vị của  ông được lệnh chốt giữ ở một trong ba địa bàn chiến lược quan trọng nhất trên   chiến trường bấy giờ đó là vùng chiến lược Cánh đồng Chum ­ Xiêng Khoảng.  Khoảng cách giữa sự  sống và cái chết trở  nên mong manh dường như  lại làm  cho con người lạc quan đến lạ. Giờ  phút đón giao thừa, anh em đồng chí cùng   cất tiếng hát, có người đã khóc khi nhớ  về  quê nhà, nhớ  về  đồng đội chỉ  ngã  xuống cách đây ít phút và họ cùng động viên nhau mạnh hơn để chiến đấu trong  những ngày tháng phía trước. Đã   hơn   40   năm   trôi   qua,   nhưng   trong   ký   ức   của   cựu   chiến   binh   Nông   Hương Bài vẫn nhớ mãi trận đánh vào cuối mùa khô năm 1972, đơn vị của ông  được lệnh chốt giữ  điểm cao 1530 thuộc Bản Khổng (Xiêng Khoảng),  ở  vị  trí   tiền tiêu, cái chết luôn cận kề, nhưng chưa bao giờ ông và đồng đội có một phút  yếu lòng. Trận đánh ác liệt, kéo dài 2 ngày, nhiều đồng đội đã ngã xuống để  bảo vệ  điểm chốt, ông cũng bị  thương và phải chuyển về  trạm phẫu. Sau này   khi xem lại tư liệu, ông mới biết trận đánh ấy Mỹ  huy động lực lượng rất lớn   gồm quân đội Thái Lan và lực lượng Vàng Pao nhằm tái chiếm toàn bộ khu vực   Cánh đồng Chum ­ Xiêng Khoảng. Và đơn vị  của ông đã góp công lớn vào một  trong những chiến thắng vẻ vang của Sư đoàn 316 anh hùng. Ông Bài kể:  Trong chiến tranh, gian khổ  mới thấy tình cảm của những   người đồng đội, đồng chí. Nhiều thời điểm, lương thực từ  hậu phương chưa   kịp chuyển ra, một bữa ăn cả  tiểu đội chỉ  có một phong lương khô cho vào   xoong rồi trộn thêm rau. Có những người đêm hôm trước vừa mới nằm võng nói   chuyện vui với nhau vậy mà hôm sau mình đã phải đi tìm xác đồng đội. Nói đến  
  11. đây ông như nghẹn lại, ông nhớ đến trận đánh giữa tháng 11 năm 1972, trận ấy   đồng đội của ông hy sinh nhiều. Đi tìm đồng đội trong đêm chỉ  nghe tiếng thở   mà không biết là ta hay địch bị thương, khiêng thương binh về khu vực an toàn,   mệt rồi ngủ đi lúc nào không hay, đến sáng tỉnh dậy nhìn xung quanh mới biết   ca thương binh đưa ra đã hy sinh rồi. Những người chiến sĩ năm xưa sôi nổi kể  về  những trận đánh, những kỷ  niệm thời chiến nhưng lại e ngại nói về  mình, họ  chỉ tâm niệm rằng, dù ở  bất   cứ hoàn cảnh nào họ vẫn luôn giữ vững phẩm chất của người lính Cụ Hồ. Khi   tìm hiểu chúng tôi được biết trong số họ còn rất nhiều người có hoàn cảnh khó   khăn, rất nhiều người vì lý do khách quan mà thất lạc giấy tờ  nên chưa được   hưởng những chế  độ  chính sách mà nhà nước dành cho…, thiết nghĩ cần có sự  quan tâm xứng đáng hơn.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản