
Bài 2: Bảo hiểm hàng hải
INS101_Bai2_v1.0013111228 33
BÀI 2 BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Hướng dẫn học
Bài này giới thiệu về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải. Sinh viên cần nắm được các khái niệm
của bảo hiểm hàng hải, vai trò của bảo hiểm hàng hải, đối tượng bảo hiểm, phạm vi bảo
hiểm, phí bảo hiểm của các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển, bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu. Bên cạnh
đó, cần hiểu rõ về phạm vi bảo hiểm cũng như các điều kiện bảo hiểm, từ đó giải quyết
các tình huống rủi ro phát sinh liên quan tới hàng hóa, tàu biển và trách nhiệm dân sự của
chủ tàu.
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu: Giáo trình Bảo hiểm, PGS. TS. Nguyễn Văn Định chủ biên, NXB Đại
học KTQD.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qu
a
email.
Trang Web môn học.
Nội dung
Bài học giới thiệu về nội dung của các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải và cách giải quyết bồi
thường khi có tổn thất xảy ra đối với hàng hóa, tàu biển và trách nhiệm dân sự chủ tàu.
Mục tiêu
Sau khi học xong bài này, sinh viên cần thực hiện được các việc sau:
Hiểu được các khái niệm cơ bản trong nội dung bài học;
Phân biệt được các loại rủi ro và các loại tổn thất;
Nắm vững được các điều kiện bảo hiểm;
Vận dụng được các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết bồi thường bảo hiểm.

Bài 2: Bảo hiểm hàng hải
34 INS101_Bai2_v1.0013111228
Tình huống dẫn nhập
Tai nạn đâm va vào tàu biển
Ngày 20/08/2011, hai tàu An Nam và Bình Minh đâm va nhau.
Theo biên bản giám định, mỗi tàu lỗi 50%. Thiệt hại các bên như sau:
Thiệt hại Thân tàu Kinh doanh Tổng
Tàu An Nam 10.000 USD 4.000 USD 14.000 USD
Tàu Bình Minh 20.000 USD 8.000 USD 28.000 USD
Tàu An Nam mua bảo hiểm thân tàu ngang giá trị theo điều kiện bảo hiểm ITC tại công ty bảo
hiểm Bảo Việt Hải Phòng từ ngày 12/07/2011 đến ngày 12/07/2012. Tàu Bình Minh mua bảo
hiểm thân tàu ngang giá trị theo điều kiện bảo hiểm ITC tại công ty bảo hiểm Pjico Đà Nẵng với
thời hạn 12 tháng từ ngày 09/09/2010.
1. Trách nhiệm của các chủ tàu sau vụ tai nạn đâm va như thế nào ?
2. Trách nhiệm của các công ty bảo hiểm theo các hợp đồng bảo hiểm như
thế nào ?

Bài 2: Bảo hiểm hàng hải
INS101_Bai2_v1.0013111228 35
2.1. Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
2.1.1. Vì sao phải bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Cho đến nay vận chuyển bằng đường biển được
phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại
trong hệ thống vận tải quốc tế, chiếm khoảng 90%
tổng khối lượng hàng hoá XNK của thế giới. Tuy
nhiên, vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều
rủi ro và gây ra thiệt hại lớn. Trong lịch sử loài
người, đã có nhiều biện pháp chống lại những tác
động xấu trên, nhưng thực tế cho thấy biện pháp
hữu hiệu nhất là bảo hiểm cho hàng hoá XNK. Mặt
khác, ngày nay trong nền kinh tế mở, ngành bảo
hiểm ra đời không những đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn cho những chủ hàng, mà
còn góp phần thúc đẩy mối quan hệ kinh tế quốc tế thông qua con đường thương mại
và có ảnh hưởng sâu sắc tới vấn đề kinh tế – xã hội cho cả hai nước xuất và nhập. Vì
vậy, bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển là sự cần thiết khách quan,
đến nay đã trở thành tập quán thương mại quốc tế.
2.1.2. Các loại rủi ro và các loại tổn thất
2.1.2.1. Các loại rủi ro
Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây ra làm hư
hỏng hàng hóa và phương tiện chuyên chở.
Rủi ro hàng hải có nhiều loại:
Phân loại theo nguyên nhân, rủi ro hàng hải bao gồm rủi ro do thiên tai, rủi ro do
tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người.
o Thiên tai: là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động, bão, lốc,
sét, thời tiết quá xấu … mà con người không chống lại được.
o Tai nạn bất ngờ trên biển: mắc cạn, đắm, bị phá huỷ, cháy, nổ, mất tích, đâm va
với tàu hoặc một vật thể cố định hay di động khác không phải là nước, phá hoại
của thuyền trưởng và thuỷ thủ trên tàu,..
o Hành động của con người: ăn trộm, ăn cắp hàng, mất cướp, chiến tranh, đình
công, bắt giữ, tịch thu...
o Ngoài ra còn các rủi ro khác như rủi ro lúc xếp dỡ hàng, hàng bị nhiễm mùi,
lây bẩn...
Phân loại theo nghiệp vụ bảo hiểm, có 4 nhóm rủi ro là: rủi ro chính được bảo
hiểm, rủi ro phụ có thể được bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc
biệt và rủi ro loại trừ:
o Rủi ro chính được bảo hiểm là rủi ro được bảo hiểm trong những điều kiện bảo
hiểm hàng hóa thông thường. Bao gồm các rủi ro mắc cạn, chìm đắm, cháy nổ,
đâm va.
o Rủi ro phụ có thể được bảo hiểm là các rủi ro: rách, vỡ, gỉ, bẹp, cong vênh, hấp
hơi, mất mùi, lây hại, lây bẩn, va đập vào hàng hóa khác, nước mưa, hành vi ác
ý, trộm, cắp, cướp, móc cẩu...

Bài 2: Bảo hiểm hàng hải
36 INS101_Bai2_v1.0013111228
o Rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt (còn gọi là rủi ro phải bảo
hiểm riêng): Là những rủi ro loại trừ đối với bảo hiểm hàng hải. Ðó là các rủi
ro đặc biệt, phi hàng hải như chiến tranh, đình công, bạo loạn… Các rủi ro này
chỉ được bảo hiểm nếu có mua riêng, mua thêm. Khi chỉ mua bảo hiểm hàng
hải thì những rủi ro này bị loại trừ. Trong trường hợp chủ hàng yêu cầu, rủi ro
chiến tranh sẽ được nhận bảo hiểm kèm theo rủi ro thông thường được bảo
hiểm với điều kiện trả thêm phụ phí đặc biệt.
o Rủi ro loại trừ (còn gọi là rủi ro không được bảo hiểm): Là những rủi ro thường
không được bảo hiểm trong mọi trường hợp. Bao gồm: buôn lậu, tịch thu, phá
bao vây, các hành vi sai lầm cố ý của người tham gia bảo hiểm, nội tỳ, ẩn tỳ,
bao bì không đúng quy cách, vi phạm thể lệ XNK hoặc vận chuyển chậm trễ
làm mất thị trường, sụt giá, tàu không đủ khả năng đi biển, tàu đi chệch hướng,
chủ tàu mất khả năng tài chính…
Các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất. Việc phân biệt
nguyên nhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò rất quan trọng để xác định
rủi ro gây ra tổn thất có phải là rủi ro được bảo hiểm hay không. Những tổn thất nào
có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro được bảo hiểm gây ra mới được bồi thường.
2.1.2.2. Các loại tổn thất
Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá XNK là những
thiệt hại, hư hỏng của hàng hóa được bảo hiểm do
rủi ro gây ra.
Căn cứ vào quy mô, mức độ tổn thất có thể chia ra
tổn thất bộ phận (TTBP) và tổn thất toàn bộ (TTTB).
TTBP là một phần của đối tượng được bảo hiểm
theo một hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) bị mất
mát, hư hỏng, thiệt hại. TTBP có thể là tổn thất
về số lượng, trọng lượng, thể tích, phẩm chất hoặc giá trị.
Ví dụ: Xi măng bị mất 2 bao (100kg), gạo bị ướt giảm giá trị thương mại 20%,
chất lỏng (xăng, dầu) rò rỉ, bay hơi...
TTTB là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư hỏng, mất mát,
thiệt hại.
Có hai loại TTTB là TTTB thực tế và TTTB ước tính:
TTTB thực tế là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư hỏng,
mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới được bảo
hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa. Chỉ có "TTTB thực tế"
trong 4 trường hợp sau:
o Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn
o Hàng hoá bị tước đoạt không lấy lại được
o Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm
o Hàng hoá ở trên tàu mà tàu được tuyên bố mất tích

Bài 2: Bảo hiểm hàng hải
INS101_Bai2_v1.0013111228 37
Ví dụ: Một tàu chở cà phê xuất khẩu từ Hải Phòng sang Nhật Bản. Trên hành
trình, tàu gặp bão lớn. Cà phê bị ướt và vón cục. Nếu tiếp tục chở đến Nhật Bản thì
cà phê sẽ bị hỏng toàn bộ (không còn giá trị thương mại). Trong trường hợp này,
khi hàng đến Nhật Bản thì TTTB là không thể tránh khỏi.
TTTB ước tính là trường hợp đối tượng được bảo hiểm bị thiệt hại, mất mát chưa
tới mức độ TTTB thực tế, nhưng không thể tránh khỏi TTTB thực tế; hoặc nếu bỏ
thêm chi phí ra cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể bằng hoặc lớn hơn GTBH.
Ví dụ: Một tàu chở sắt thép xây dựng bị đắm trên hành trình do gặp bão. Nếu
tiến hành trục vớt thì chi phí trục vớt có thể bằng hoặc lớn hơn giá trị ban đầu của
lô hàng.
Nếu phân loại theo trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất bao gồm tổn thất riêng
(TTR) và tổn thất chung (TTC).
TTR là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc
một số quyền lợi của các chủ hàng và chủ tàu
trên một con tàu. Như vậy, TTR chỉ liên quan
đến từng quyền lợi riêng biệt. Trong TTR, ngoài
thiệt hại vật chất, còn phát sinh các chi phí liên
quan đến TTR nhằm hạn chế những hư hại khi
tổn thất xảy ra, gọi là tổn thất chi phí riêng.
Tổn thất chi phí riêng là những chi phí bảo quản hàng hoá để giảm bớt hư hại hoặc
để khỏi hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp, dỡ, gửi hàng, đóng gói lại, thay thế bao
bì... ở bến khởi hành và dọc đường. Có tổn thất chi phí riêng sẽ làm hạn chế và
giảm bớt TTR.
TTR có thể là TTBP hoặc TTTB.
TTC là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý và hợp lý
nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi một sự nguy hiểm chung,
thực sự đối với chúng.
Theo quy tắc York Antwerp 1994, có hành động TTC khi và chỉ khi có sự hy sinh
hoặc chi phí bất thường được tiến hành một cách cố ý và hợp lý vì an toàn chung
nhằm cứu các tài sản khỏi một tai hoạ trong một hành trình chung trên biển.
Các thiệt hại, chi phí hoặc hành động được coi là TTC khi có các đặc trưng sau:
o Hành động TTC phải là hành động tự nguyện, hữu ý của những người trên tàu
theo lệnh của thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyền trưởng;
o Hy sinh hoặc chi phí phải đặc biệt, bất thường;
o Hy sinh, hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung cho tất cả các quyền lợi
trong hành trình;
o Nguy cơ đe doạ toàn bộ hành trình phải nghiêm trọng và thực tế;
o Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành động TTC.
o TTC phải xảy ra trên biển.
TTC bao gồm hai bộ phận chủ yếu đó là hy sinh TTC và chi phí TTC

