
Bài 1: Tổng quan về bảo hiểm thương mại
INS101_Bai1_v1.0013111228 1
BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu: Giáo trình Bảo hiểm, PGS. TS. Nguyễn Văn Định chủ biên, NXB Đại
học KTQD.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qu
a
email.
Trang Web môn học.
Nội dung
Bài 1 trình bày các vấn đề có tính nguyên lý về bảo hiểm nói chung và bảo hiểm thương
mại nói riêng. Đây là bài dẫn nhập, trình bày các khái niệm và nguyên tắc cơ bản, quan
trọng trong bảo hiểm thương mại để hỗ trợ cho nghiên cứu, tìm hiểu các nghiệp vụ bảo
hiểm thương mại cụ thể ở bài tiếp theo. Trong bài sẽ tập trung vào:
Nguồn gốc của bảo hiểm thương mại;
Khái niệm và bản chất của bảo hiểm thương mại;
Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm thương mại;
Các loại bảo hiểm thương mại;
Giới thiệu về ngành kinh doanh bảo hiểm.
Mục tiêu
Sau khi học xong bài này, sinh viên cần:
Hiểu được khái niệm về rủi ro và các loại rủi ro;
Nắm vững các biện pháp xử lý rủi ro của các cá nhân và tổ chức trong xã hội;
Hiểu được khái niệm và bản chất của bảo hiểm, bảo hiểm thương mại;
Hiểu và biết vận dụng các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm thương mại;
Nắm vững cách phân loại bảo hiểm thương mại theo các tiêu thức khác nhau;
Hiểu rõ các đặc điểm cơ bản trong bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự, và
bảo hiểm con người;
Hiểu biết về ngành kinh doanh bảo hiểm từ góc độ thị trường bảo hiểm và các thành tố
trong thị trường bảo hiểm như DNBH, sản phẩm bảo hiểm, khách hàng bảo hiểm;
Hiểu được các vấn đề quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Bài 1: Tổng quan về bảo hiểm thương mại
2 INS101_Bai1_v1.0013111228
Tình huống dẫn nhập
Bảo hiểm tình yêu?
Dưới đây là các thông tin trích xuất từ một bài báo trên VnExpress.net năm 2009 viết về Dịch
vụ bảo hiểm tình yêu của Công ty Marketting Mặt trời Việt – Sunvico:
Một số cựu sinh viên thế hệ 8X của Đại học Kinh tế Quốc dân đã đưa ra một ý tưởng táo bạo là
cung cấp "Dịch vụ bảo hiểm tình yêu":
Không giống như các loại hình dịch vụ bảo hiểm rủi ro khác, "bảo hiểm tình yêu" không phải
là dịch vụ bồi thường cho các thành viên tham gia mà chỉ là nơi tiếp nhận tình cảm và nâng
niu giá trị cảm xúc cho các cặp tình nhân.
Để tham gia dịch vụ bảo hiểm tình yêu, điều kiện đầu tiên là phải có người yêu. Phí cho dịch
vụ này vào khoảng 600.000 đồng đến 3 triệu đồng, tùy theo mức độ chắc chắn của tình cảm.
Người tham gia phải cung cấp đầy đủ các thông tin cơ bản như tên, tuổi, ảnh (riêng và chung
của hai người), địa chỉ, email, điện thoại... Ba gói dịch vụ tương ứng với giá trị và độ bền
chắc của tình yêu là 600.000 đồng, 1,2 triệu đồng và 3 triệu đồng. Mức phí chỉ đóng một lần
và duy nhất vào thời điểm ký hợp đồng.
Trong một năm sẽ có một buổi để các đôi nhìn nhận, đánh giá lại tình cảm của mình. Các đôi
yêu nhau sẽ được:
Chăm sóc vào những ngày đặc biệt trong năm bằng thiệp mừng, hoa hồng. Áo đôi cho
ngày sinh nhật, chocolate và hoa hồng cho ngày Valentine;
Tham gia các bữa tiệc kỷ niệm ngày tình yêu;
Một chuyến du lịch hàng năm (trong nước hoặc nước ngoài) tương ứng với giá trị gói
hợp đồng...
Các dịch vụ chăm sóc này chỉ được dừng lại khi hai người yêu nhau tay trong tay đến nhận quà
tại công ty vào những ngày đặc biệt hoặc đã cưới nhau.
Đã có trên 50 cặp tình nhân đăng ký sử dụng dịch vụ bảo hiểm tình yêu của Sunvico với đủ mọi
lứa tuổi từ học sinh, sinh viên đến những người ra trường đi làm ở độ tuổi 25 – 28.
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin–tuc/doanh–nghiep/
dich–vu–bao–hiem–tinh–yeu–2697386.html 28/3/2009
Liệu Sunvico có thể kinh doanh bảo hiểm tình yêu như trên hay không?
Tại sao?

Bài 1: Tổng quan về bảo hiểm thương mại
INS101_Bai1_v1.0013111228 3
1.1. Nguồn gốc của bảo hiểm thương mại
1.1.1. Rủi ro và biện pháp xử lý rủi ro
1.1.1.1. Khái niệm và phân loại rủi ro
Khái niệm rủi ro
Môi trường hoạt động và tồn tại của chúng ta luôn ẩn
chứa các biến cố, các sự kiện nằm ngoài dự kiến. Có
những sự kiện ngoài dự kiến mang lại những tốt đẹp,
thuận lợi cho cuộc sống con người. Tuy nhiên, có
không ít biến cố mà không ai mong muốn vì kết cục
đi kèm là các thiệt hại hay thương tổn mà con người
phải gánh chịu. Hiểu theo cách thông thường, các
biến cố không mong đợi đó được gọi là rủi ro. Dù mức độ thiệt hại gánh chịu nặng
hay nhẹ, nhưng nhìn chung rủi ro thường khiến cho chúng ta lâm vào hoàn cảnh khó
khăn hơn so với khi không có rủi ro.
Khi nghiên cứu về rủi ro, trong từng hoàn cảnh, từ các góc độ khác nhau, rủi ro có thể
được diễn đạt cụ thể khác nhau. Chẳng hạn:
Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất;
Rủi ro là một giá trị dự tính về một kết cục;
Rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ; hay
Rủi ro là sự biến động xảy ra quanh một giá trị đã dự tính.
Có thể thấy có 2 quan điểm. Quan điểm thứ nhất coi rủi ro là sự kiện bất lợi, gắn với
việc có tổn thất. Quan điểm thứ hai hiểu rủi ro rộng hơn một chút, coi rủi ro sự chệch
ra khỏi kết quả dự kiến nào đó. Nếu hiểu rủi ro theo quan điểm thứ hai này thì “rủi ro”
không chỉ là mang lại kết cục bất lợi mà “giá trị thực tế chệch ra khỏi giá trị dự kiến
(hay kỳ vọng)” cũng có thể là tích cực. Theo các nhà bảo hiểm, rủi ro là sự cố không
may bất ngờ xảy ra gây thiệt hại về người hoặc tài sản.
Đặc điểm liên hệ rõ ràng nhất giữa các định nghĩa về rủi ro mà chúng ta vừa nhắc tới
là sự không chắc chắn, hay còn gọi là tính bất định, của một biến cố nào đó.
Không chắc chắn về khả năng xảy ra rủi ro. Khả năng xảy ra một rủi ro nào đó
được đo lường qua xác suất của nó. Khả năng một ngôi nhà nằm cạnh một xưởng
hóa chất bị cháy sẽ là một xác suất nào đó nằm từ 0 đến 1, tức là nằm trong dải từ
“không cháy” đến “cháy”.
Không chắc chắn về thời điểm xảy ra rủi ro. Chẳng hạn, không thể chắc chắn được
chiếc ô tô để trong một khu sân vào ban đêm không có người trông coi có bị mất
hay không và vào lúc nào.
Không chắc chắn về mức độ của rủi ro. Mức độ rủi ro là sự kết hợp của tần suất
và tính khốc liệt của rủi ro. Sự kết hợp này được có thể biểu diễn như các đường
cong trong Hình 1.1. Mỗi một điểm trên đường kết hợp giữa tần suất và tính khốc
liệt của rủi ro thể hiện một kết cục có thể xảy ra của một biến cố. Rủi ro có thể xảy
ra với tần suất không đáng kể và mức độ thiệt hại không đáng kể (như ở những
điểm đầu của các đường kết hợp). Có những rủi ro xảy ra với tần suất thấp nhưng

Bài 1: Tổng quan về bảo hiểm thương mại
4 INS101_Bai1_v1.0013111228
mức độ nghiêm trọng của tổn thất thì rất lớn và ngược lại, có những rủi ro có tần
suất cao nhưng mức độ nghiêm trọng lại không lớn.
Hình 1.1: Sự kết hợp giữa tần suất và tính khốc liệt của rủi ro
Phân biệt rủi ro, nguy cơ, hiểm họa để làm rõ khái niệm rủi ro:
Rủi ro là từ chung để chỉ một biến cố gây ra tổn thất. Ví dụ, một ngôi nhà nằm
cạnh một xưởng hóa chất bị cháy và gây tổn thất cho chủ ngôi nhà.
Hiểm họa (peril) là nguyên nhân chính gây tổn thất. Ở đây, “cháy” được coi là
hiểm họa.
Nguy cơ (hazard) là (tập hợp) nhân tố ảnh hưởng đến tổn thất hậu quả. Bản thân
nguy cơ không phải là nguyên nhân gây tổn thất nhưng có thể làm tăng hoặc giảm
khả năng tổn thất khi hiểm họa xảy ra. Việc “nằm cạnh xưởng hóa chất” là một
nguy cơ gây ra rủi ro cháy xưởng hóa chất. Nguy cơ thường có nguy cơ vật chất và
nguy cơ đạo đức. Chẳng hạn, nguy cơ đối với một tổn thất do cháy nhà có thể liên
quan đến kết cấu ngôi nhà (nguy cơ vật chất), nhưng cũng có thể là nguy cơ liên
quan đến ý thức trách nhiệm của chủ nhà trong việc lắp hệ thống phun nước tự
động phòng chống cháy (nguy cơ đạo đức).
Phân loại rủi ro
Căn cứ vào vào khả năng kiếm lời trong kết cục của rủi ro: rủi ro thuần và rủi ro
đầu cơ1
o Rủi ro thuần túy chỉ liên quan đến hoặc có tổn thất hoặc không bị tổn thất. Ví
dụ một người nào đó có thể bị tàn tật, và vì thế người đó có thể phải bỏ ra các
khoản chi phí y tế phát sinh và chịu các tổn thất về thu nhập do không thể làm
việc được nữa. Ngược lại, nếu không bị tàn tật thì sẽ không bị tổn thất do rủi ro
đó gây ra.
o Rủi ro đầu cơ liên quan đến 3 kết cục có thể xảy ra: tổn thất, có lãi hoặc không
thay đổi. Ví dụ: rủi ro từ việc mua cổ phiếu là rủi ro đầu cơ. Ở đây, rủi ro đầu
cơ vì người mua cổ phiếu có thể lời, lỗ hoặc không bị mất tiền nhưng cũng
chẳng kiếm được khoản lời nào từ việc mua cổ phiếu đó.
1 Một số tài liệu dịch sang tiếng Việt sử dụng thuật ngữ rủi ro suy đoán thay cho thuật ngữ rủi ro đầu cơ.

Bài 1: Tổng quan về bảo hiểm thương mại
INS101_Bai1_v1.0013111228 5
Căn cứ vào việc đo lường hậu quả của rủi ro: rủi ro tài chính và rủi ro phi tài chính
o Rủi ro tài chính là rủi ro mà có thể xác định hậu quả bằng tiền hoặc quy được
thành tiền.
o Rủi ro phi tài chính là những rủi ro mà kết cục/hậu quả không đo lường theo
thước đo tài chính mà theo các tiêu chí liên quan đến tâm sinh lý con người.
Chẳng hạn, việc vào ăn một nhà hàng mới khai trương được coi là tình huống
có yếu tố rủi ro. Và rủi ro ở đây là cảm giác bực bội khó chịu về phong cách
phục vụ của một nhà hàng mới chưa chuyên nghiệp mà nhẽ ra có được nếu
trước đó đi vào một nhà hàng ngon quen thuộc.
Căn cứ vào cả nguyên nhân và hậu quả của rủi ro: rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt
o Rủi ro cơ bản là những rủi ro phát sinh từ
những nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm
soát của con người và gây ảnh hưởng đến số
đông người. Nhìn chung, nguyên nhân dẫn
đến các rủi ro cơ bản thường do thiên nhiên.
Ví dụ như, động đất, hạn hán, bão lụt,…Một
số loại rủi ro cơ bản do các biến động trong
môi trường kinh tế – chính trị – xã hội. Ví dụ như thất nghiệp,…
o Rủi ro riêng biệt có nguyên nhân và hậu quả mang tính cá nhân của một người
hay một tổ chức. Trong một cộng đồng hẹp, rủi ro riêng biệt có thể xảy ra đối
với người này mà không xảy ra với người kia. Các rủi ro như tai nạn giao
thông hay tai nạn lao động là những ví dụ điển hình về rủi ro riêng biệt.
1.1.1.2. Các biện pháp xử lý rủi ro
Rủi ro có thể xảy ra với bất kỳ ai, bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào. Cuộc sống con người
luôn đối mặt với các biến cố bất ngờ gây tổn thất khôn lường và nhiều mặt. Các tổn
thất có thể là những mất mát, thiệt hại về tài chính như nhà cửa bị phá hủy; tài sản bị
mất; phải bỏ ra một khoản tiền ngoài dự tính để trang trải cho các chi phí y tế do ốm
đau, tai nạn; hoặc đơn giản là một khoản tiền buộc phải bỏ ra để đền bù tổn thất của
người khác do lỗi của mình gây nên. Các tổn thất có lúc không thể đong đếm được
bằng tiền nhưng gây ra rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Đó là các tổn thất về tinh
thần, tổn thất về mặt xã hội như sự chia lìa tình cảm gia đình, đôi lứa; những mất mát
về niềm tin;… Bởi vậy, tìm ra các biện pháp để đối phó với rủi ro, hay bao trùm hơn
là để xử lý các rủi ro luôn được đặt ra trong bất kỳ xã hội nào. Đối với các doanh
nghiệp, trong một nền kinh tế thị trường và có tính toàn cầu, nhận thức và xác định
các biện pháp quản lý rủi ro thích hợp là yếu tố then chốt để quản lý vốn một cách có
hiệu quả và đạt được thành công.
Từ góc độ quản trị rủi ro, có thể phân loại các biện pháp xử lý rủi ro theo một số tiêu
thức khác nhau. Dựa vào mục đích, các biện pháp xử lý rủi ro có thể xếp thành nhóm
biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm biện pháp tài trợ rủi ro. Nếu nhóm thứ nhất tập
trung vào kết quả xử lý rủi ro là ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro tổn
thất (như tránh né rủi ro, đề phòng hạn chế rủi ro) thì nhóm thứ hai chủ yếu thực hiện
để giải quyết, khắc phục hậu quả của rủi ro, nhất là các hậu quả tính được thành tiền

