Chương 6
Chuyển hoá vật chất và năng lượng,
Điều hoà thân nhit
6.1. Ý nghĩa của chuyển hoá vật chất và năng lượng
Chuyển hoá vật chất là tng hợp của hai quá trình đồng hoá và dị hoá:
Sđồng hoá: Các thức ăn lấy môi trường ngoài vào thường phải biến đổi tương đối
phức tạp mi thành chất riêng của tế bào.Tất cả quá trình biến đổi từ chất đơn giản được
máu đưa ti tế bào thành những chất hữu cơ phức tạp gi là sự đồng hoá. Trong quá trình
này tế bào phát trin và tích trữ thêm năng lượng.
Sdị hoá: Các chất to thành trong tế bào cũng luôn ln phân giải thành những chất
đơn giản n như CO2, urea và nhiều chất thải khác. Đồng thời ng ợng tim tàng
trong các chất bị phân giải cũng được giải phóng thành nhiệt năng và các dng năng
lượng khác cần cho shoạt động của các quan. Các quá trình phân giải vật chất phức
tạp để giải phóng năng lượng như thế gọi là sự d hoá.
Đồng hoá và d hoá ln luôn được tiến hành song song với nhau theo hai chiều ti
ngược và liên h chặt chẽ với nhau: đồng ht ly những chất bên ngoài đưa vào cơ thể
để tạo thành chất hữu đặc trưng, dị hoá thì thải những chất trong cơ thể ra ngoài thành
những chất đơn giản. Đồng hoá tích năng lượng vào cơ thể, dị hoá giải phóng năng lượng
ra. thể có đồng hoá mới bù được những chất đã phân giải trong lúc d hoá.
Sliên hgiữa hai hiện tượng này chặt chẽ đến nỗi không thể xem là hai hiện tượng
riêng biệt mà như hai mặt của một quá trình duy nhất là chuyển hoá vật chất.
Chuyển hvật chất là biểu hiện của sự sống. Nhờ chuyển hoá vật chất mà sinh vật ln
luôn lấy được chất mới làm cơ thể lớn lên pt triển. Nếu sự chuyển hoá ngừng thì cơ
th chết. Những chất mà cơ thể sống trao đổi với môi trường thuộc hai loi: loại cung cấp
chất kiến tạo lẫn ng lượng là protid, lipid glucid; loi chỉ cung cấp chất kiến tạo là
nước, muối khoáng và vitamin.
6.2. Chuyển hoá vật chất
6.2.1 Chuyển hoá glucid
6.2.1.1.Chuyển hoá glucid trong cơ thể (hình 6.1)
Trong thể, nồng độ glucose trong u không đổi 0,1 - 0,12g%. Sau khi được hấp thu
ruột, các monosaccharide theo máu đến các t chức để được tổng hợp thành glycogen
cần cho sự xây dựng nguyên sinh chất. Kho dự trữ glycogen chủ yếu là gan cơ, gan
d trữ 82% glycogen của thể.
ỐNG TIÊU HOÁ GAN CÁC
Protid acid amin
Các acid béo
Chất o Glycogen Glycogen
Glycerin
Tinh bột Glucose Glucose CO2 +H2O
Hình 6.1. Sơ đồ chuyển hoá glucid
- Glucid nguồn năng ợng chủ yếu thể dùng để sinh hoạt và sản xuất ng. Một
phần ln protid lipid trước khi bị phân huỷ hoàn toàn thường biến thành glucid trong
cơ. Ngoài ra sản phẩm phân huỷ của protid và lipid tống tiêu hoá sđến gan và biến
tnh glycogen. Trao đổi glucid ảnh hưởng lớn đến trao đổi protid, lipid và nước.
- Glucid rất dễ bị phân huỷ, sự phân huỷ glucid gicho nhiệt độ thể không đổi và
nguồn năng lượng chủ yếu của cơ.
- Glucid cần cho sự hoạt động bình thường của hệ thần kinh. Nếu lưng đường trong máu
giảm thì nhiệt độ thể sẽ hạ xuống, syếu, hoạt động thần kinh bị biến loạn (trường
hp b choáng hạ đường huyết, đường huyết hạ ở mức 45mg% ).
- Trong các t chức, một phần nhỏ glucid do máu đưa đến được ng để phóng thích
năng lượng. Nguồn trao đổi glucid tổ chức ch yếu glycogen. Lúc làm việc,
dùng d trglycogen chứa ngay trong cơ. Chỉ khi nào dtrấy hết, mi bắt đầu dùng
thng glucose do máu đưa đến (glucose được giải phóng từ glycogen trong gan). Lúc ti
làm việc lại tiếp tục tích tr glycogen từ glucose của máu, gan lại thu nhận
monosaccharid từ ống tiêu hoá đưa li, đồng thời phân huỷ protid và lipid để xây dựng lại
dtrữ glycogen của mình. Sphân huỷ glucose trong cơ thể thể xảy ra mà không cần
đến O2 (phân hu thành a.lactic) hoặc O2 thành CO2 nước. Sự phân huỷ glucid
không cn O2, acid phosphoric tham gia rất quan trọng đối với hoạt động của cơ. Nếu
trong thức ăn thiếu glucid thì cơ thể có thể chuyển hoá để tạo glucid từ protid và lipid.
6.2.1.2. Nhu cầu và ý nghĩa chuyển hoá của glucid
Trong các loi thức ăn thì glucid ngun năng lượng dễ kiếm rtin nhất, li được
hp thu và tiêu hdễ dàng, vi mt khối lượng lớn. Khi cơ thể không có đủ glucid thì s
oxy hoá quá nhiều mỡ để năng ợng cho hoạt động sống slàm sn sinh nhiều thể
ceton gây toan huyết. Khi không đủ glucid, cơ thể phân hu nhiều protein t chức, sinh ra
nhiều amoniac, độc đối với cơ thể. Một gam glucid khi được oxy hoá cho 4,1 kcalo.
6.2.1.3. Tóm tt vài điểm về chuyển hoá glucid
- Giai đoạn I: Dị hoá polysaccharid thành glucose.
- Giai đoạn II: D hoá glucose đến acid pyruvic gi đưng phân (yếm khí). Đường
phân bao gồm cả dị hoá glucose lẫn glycogen đến a. pyruvic.
Glucose được phosphoryl hoá (nh enzyme hexokinase) thành G-6-P, glycogen được
phân hu thành G-1-P rồi ng thành G-6-P. T G-6-P tr xuống, dị hoá glucose
glycogen y hệt nhau.
* Nếu thiếu O2 thì a. pyruvic bị khử thành acid lactic (C3H6O3).
* Nếu đủ O2 thì a.pyruvic sẽ tiếp tục bị oxy hoá cho CO2 H2O.
- Giai đon III là dhoá oxy hoá a.pyruvic thành CO2 H2O (chu trình Krebs), đây là
giai đon chuyển hoá cuối cùng, chung cho clipid và protid. Dhoá ái k(có tham gia
của oxy), acid pyruvic cho rất nhiều năng lượng.
6.2.1.4. Điều hoà chuyển hoá glucid
Nói đến điều hoà chuyển hoá glucid, thường là nói về sự điều hoà mức đường trong máu
(đường huyết). Bình thường mức đường huyết dao động t 80 - 100mg %. Nếu mức
đường huyết vượt quá 120mg % thì gi tăng đường huyết, còn khi mức đường huyết
thp hơn 60mg % thì gi là hđường huyết. Mức đường huyết được điều hoà do chế
thn kinh thdịch phức tạp. Hệ thần kinh thông qua hệ giao cảm tác dụng lên gan, tụy và
thượng thận mà điều hoà đường huyết.
Các ch t của tuyến nội tiết tác dụng lên nhiều khâu của chuyển hoá glucid. Hormon
của vỏ tuyến thượng thận (glucocorticoid) cũng có tác dụng làm tăng đường huyết. Các
glucocorticoid tác dụng theo hai cơ chế: gim mức sử dụng glucose trong các mô và tăng
quá trình sinh đường mới. Glucagon - một hormon của tuyến tụy nội tiết ng tác
dụng làm tăng đường huyết ging như tác dụng của adrenalin. Các hormon khác như
ACTH, STH, thyroxin cũng tham gia vào quá trình chuyn hoá glucid m tăng lượng
đường trong máu.
Tác dụng ngược lại các hormon kể trên insulin - một hormon của tuyến tu nội tiết.
Tác dụng của insulin làm tăng tính thấm của màng tế o đối với glucose, làm hoạt hoá
hexokinase còn yếu t cảm ng tng hợp glucose, do đó đẩy nhanh quá trình
phosphoryl hoá, tăng chuyển hoá glucose trong tế bào và làm giảm đường huyết.
Gan vai trò rất bản trong việc duy trì mức đường huyết. Gan là i sinh glucose
mới, tức là glucose hình thành từ các chất không là glucid (chủ yếu là từ protein).
6.2.2 Chuyển hoá lipid
6.2.2.1.Chuyển hoá lipid trong cơ thể (hình 6.2)
ỐNG TIÊU HOÁ CÁC KHO DỰ TRỮ CHẤT BÉO
Tinh bột Glucose
Các acid béo
Chất béo Chất béo
Glyxerine
CÁC MÔ GAN
Glycogen Glycogen
CO2 + H 2O Glucose
Hình 6.2. Sơ đồ chuyển hoá lipid
Nguồn lipid (mỡ) của cơ thể là lipid của thức ăn hấp thu ở ruột, ngoài ra còn một lượng lớn lipid
lipoid được tạo thành ngay trong thể từ glucid nếu thừa glucid, hoặc khi cả từ protid.
Lipid sau khi hấp thu có thể theo nhiều con đường:
- Lipid được oxy hoá hoàn toàn cho CO2, H2O nhiều năng lượng. Acetat hoạt động (Acetyl
CoA) là một chất chuyển hoá trung gian của mỡ có thể dùng tổng hợp nhiều chất.
- Lipid được dự trữ dưới dng mỡ trung tính. Kho dự trmcó thể rất nhiều, tới 10 % khối
lượng cơ thể (dự trglucid chỉ dưới 0,5 kg). Mỡ dtrnằm trong tế bào lấn chỗ của bào tương,
mỡ dự trữ có thể được lấy vào trong máu, m(adipocyte) chứa trong các mô đệm dưới da (bụng,
da, gan) để biến thành glycogen. Mtham gia cấu tạo các tổ chức: mỡ hấp thu và cholesterid
thành phn chủ yếu của màng tế bào, vào trong cơ thể sẽ phân phối đi khắp các tổ chức, dùng làm
nguyên liệu kiến tạo như lecithin. Lecithin có ở sợi thần kinh, các sphingomyelin và cerebrosid có
nhiu hệ thn kinh trung ương, các steroid tham gia cấu tạo nhiều kích tố quan trọng.Mỡ cấu
tạo không biến đổi đáng kể khi ta nhịn đói, gọi là thành phần hằng định, mỡ dự trữ bị sử dụng khi
nhịn đói gọi là thành phần biến đổi. Nguồn gốc mdự trữ là do tmăn vào tglucid (lợn
béo do nuôi bằng glucid).
6.2.2.2.Mối liên quan giữa chuyển hoá lipid và glucid
a). Glucid chuyển hoá thành lipid
Ta đã biết glucid ăn vào thể chuyển hoá thành mdự trữ, ta cũng biết glucid và lipid một
bước chuyển hoá trung gian chung là acid acetic. Vy con đường chuyển hoá glucid qua acid
pyruvic acid acetic thành acid béo. Con đường chuyển hoá đó được xúc tiến bởi insulin và b
ức chế bởi kích tố tiền yên. Triose do d hoá glucid cũng có thể chuyển hoá thành glycerol tham
gia tổng hợp lipid.
b). Lipid chuyển hoá thành glucid
Glycerol của lipid thể vào con đường chuyển hoá glucid và xây dựng glucose hay glycogen.
Theo con đường này 100g lipid ch chuyển thành 12g glucose của máu. Khi nhịn đói, t l
chuyển thành glucose có thcao hơn.Nghiên cứu bằng đồng vị phóng xạ cho thấy acid acetic (từ
mỡ) được gan dùng xây dng glucose. Tuy vậy, con đường chuyển acid béo thành glucose không
rõ rệt, điều này giúp ta hiu hiện tượng thông thường là: cho động vật (lợn) ăn nhiều glucid để thu
hoạch mỡ, thì rõ ràng lợi hơn bất cứ cơ thể nào tiêu thụ mỡ để cho ta glucid.
6.2.2.3. Sự phụ thuộc của chuyển hoá lipid đối với glucid
Muốn lipid được d hoá hoàn toàn trong gan qua Acetyl CoA t cn cung cấp đầy đủ acid
oxaloacetic đ "xúc tác" cho chu trình Krebs. Lipid không thcung cấp acid oxaloacetic vì phản
ứng acid pyruvic sang acid acetic không đảo ngược được. Vậy nguồn chủ yếu cung cấp acid
oxaloacetic glucid qua a.pyruvic, ý kiến này được phát biểu rất hình tượng là "mcháy trên
ngọn lửa của glucid". Như vậy gim oxy hoá glucid gan gây giảm oxy hoá hoàn toàn acetyl
CoA, mà không gây giảm tốc độ sản xuất acetyl CoA, hơn nữa sự sản xuất acetyl CoA lại tăng vì
lúc y chcòn mlà nguồn năng ợng chủ yếu. Những mnh 2 carbon là acetyl CoA rt hoạt
động đó không thể tích luđược mà tập hợp thành acid acetoacetic CH3-CO-CH2-COOH gây
đọng các thể ceton.
Tóm lại, mỗi khi tlệ sử dụng glucid so với sự dùng lipid trong gan bị giảm thấp như trong bệnh
đái tháo đường, khi nhịn đói v.v.. thì đưa đến bệnh ceton.
6.2.2.4. Nhu cầu và vai trò sinh lý của lipid
Lipid có giá trnăng lượng cao, 1g lipid oxy hoá cho 9,3 Kcal. Mỗi ngày người trưởng thành cn
khoảng 100g, khi lao động thể lực nặng nhọc cần đến 115- 165g lipid. Lớp mdưới da cũng là
lớp cách nhiệt rất tốt giúp ta chống rét. Lipid còn tác dụng nuôi dưỡng và tạo hình. Mtham
gia cấu tạo cơ thể. Mỡ là dung môi hoà tan của nhiều sinh tố quan trọng như A, D, E, K...
6.2.2.5. Điều hoà chuyển hoá lipid
Lipid trong thể luôn được thay đổi do mbị chuyển hoá và mmới được thu nhn theo
thức ăn . Sự thay đổi lipid trong cơ thể chịu nhiều ảnh hưởng khác nhau, trước hết là hệ thần kinh,
h nội tiết, chc năng của gan và liên quan với chuyển hoá glucid.
Cấu trúc thần kinh điều hoà chuyển hoá lipid nằm trong vùng dưới đồi. Sự điều hoà chuyển hoá
lipid của vùng dưới đồi, có lẽ thông qua hoạt động của các tuyến nội tiết. Khi tuyến tụy sản xuất
ít insulin, qtrình chuyển hoá glucid giảm, mỡ dự trữ sđược huy động để oxy hoá sinh năng
lượng thay cho glucid. Ngược lại, khi tuyến tụy ng tiết insulin, thì quá trình chuyển hoá glucid
thành mdự trữ lại được tăng cường. Cortisol của vỏ tuyến thượng thận, hormone tuyến giáp,
cũng như GH ACTH của thuỳ trước tuyến yên đều tác dng huy động mỡ dự trữ vào quá
trình chuyn hoá. Gan quan hot động mạnh nhất trong chuyển hoá lipid. Gan nơi ch
yếu đphân giải và tổng hợp các acid béo, phospholipid cholesterol. Quá trình chuyển hoá
lipid cũng có thể bị rối loạn do trong thức ăn thiếu glucid và nhiều lipid hoc không đủ các acid
béo cần thiết như acid linoleic, acid arachidonic. Trong thức ăn có nhiều cholesterol, cystin, serin,
thiamin, biotin cũng có thể gây rối loạn chuyển hoá lipid, gây tích mỡ trong gan.
6.2.3. Chuyển hoá protein
6.2.3.1.Chuyển hoá các acid amin trong cơ thể (hình 6.3)
thể không hấp thu được protid nếu chưa được phân huỷ qua ống tiêu hoá. Acid amin phn
nholygopeptid được hấp thu sẽ theo máu tĩnh mch cửa vào gan, đây chúng được sử dụng
ngay hoặc tạm thời coi như chất dự trữ. Sau đó một phần chuyển o máu đi tới các tế bào khác,
ở đó acid amin sẽ tạo thành chất nguyên sinh mới. Năng lượng cần cho sự tổng hợp do ATP cung
cấp. Sự tổng hợp protid các tế bào tiến hành liên tục trong suốt đời sống của sinh vt. Trong
giai đon thể đang lớn (ở nhi đồng và thiếu nhi, gia súc non) sự tổng hợp protid diễn ra rất
mnh, càng v già tổng hợp protid càng giảm.
ỐNG TI ÊU HO Á GAN
Protid Skhgốc amin
Các acid amin NH3 Cặn không ni
Urê Glucose
Urê Glycogen
THẬN CÁC MÔ
Protid
Các acid amin
Glycogen
CO2 + H2O
Hình 6.3. Sơ đồ chuyển hoá protid
Nhphương pháp ng acid amin đánh dấu bằng đồng v15N, đã chứng minh được rằng
protid trong cơ thể ln nhanh chóng bị phân huỷ và được tổng hợp li.
- Nếu thức ăn chứa acid amin nhiều hơn lượng cần thiết để duy trì chất nguyên sinh, các
enzyme của gan sẽ tách nhóm amin khỏi các a.amin đó, nghĩa là xy ra hiện tượng khử
amin (trong gan sxảy ra hiện tượng khử amin). Các enzyme khác kết hợp nhóm amin đã
bị tách với kCO2 tạo thành urea chất thải loại của trao đổi chất, urea sẽ chuyển theo
máu tới thận và thải ra ngoài cùng với nước tiểu. Khi thể tăng mức oxy a các acid
amin để sản xuất năng lượng, mức urea máu sẽ tăng cao. Cắt b gan trên động vật, con
vt sẽ chết vì trúng độc NH3. Thận hoạt động yếu cũng làm urea máu tăng cao.
- Phần acid amin sau khi đã khamin là những acid hữu đơn giản gm C, H, O được
gan chuyển thành glucose hoặc thành glycogen để sử dụng như nguồn năng lượng hoặc
m dự trữ.
Protein không được giữ lại hoặc hầu như không được giữ lại trong cơ thể làm cht dự trữ,
thể sẽ tiêu thprotein sau khi đã ng hết dự trữ glucid lipid, đó không phải là
protein dự trữ mà là các enzyme và protein cấu trúc của chính tế bào.
6.2.3.2. Protid toàn diện và khiếm diện - Giá trị sinh hc của protid
Protid vào cơ thể theo thức ăn, về mặt sinh hc chia làm 2 loại: toàn diện và khiếm diện.
- Protid toàn din về mặt sinh học là những protid chứa đủ tất cả các acid amin cần thiết
cho tng hợp các protid của thể sống. Các acid amin này thể không tng hợp được