Bài 2: Đo lường các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản
ECO102_Bai2_v2.0018102208
25
Bài 2 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN SỐ
KINH TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN
Nội dung Mục tiêu
Giúp sinh viên hiểu biết được các phương
pháp đo lường sản lượng quốc gia, phương
pháp tính lạm phát, thất nghiệp,...
Chỉ cho sinh viên phương pháp tính GDP
nêu được ý nghĩa, vai trò của các chỉ tiêu
GNP, GDP, các đồng nhất thức trong phân
tích kinh tế vĩ mô.
Trình bày và phân tích được các phương pháp
đo lường sản lượng quốc gia, phương pháp
tính lạm phát, thất nghiệp,...
Xác định được phương pháp tính GDP.
Trình bày được ý nghĩa, vai trò của các chỉ
tiêu GNP, GDP, các đồng nhất thức trong
phân tích kinh tế vĩ mô.
Hướng dẫn học
Trong bài y, người học sẽ được tiếp cận
các nội dung:
Đo lường các chỉ tiêu sản lượng của
quốc gia như: Tổng sản phẩm quốc
dân (GNP), Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP).
Chỉ ra cách xác định các chỉ số g
tiêu dùng (CPI) chỉ số điều chỉnh
GDP và tỷ lệ lạm phát.
Xây dng các phương pháp c đnh
GDP.
Phân tích ý nghĩa của các chỉ tiêu
GNP GDP trong phân tích kinh tế
vĩ mô.
Phân tích các đồng nhất thức kinh tế vĩ
mô cơ bản.
Sinh viên nên đọc k nguồn tài liệu tham
khảo để chọn ra những tài liệu tham khảo hữu
ích nhất cần xem các nguồn tài liệu thứ
tự tài liệu được cung cấp cho bài y để học
tập tốt hơn.
Trong bài này sinh viên cần phải học thuộc
các công thức liên quan đến việc xác định sản
lượng của nền kinh tế. Sinh viên cũng cần
sự cố gắng thực hành các loại bài tập đã cung
cấp, càng làm nhiều i tập thì học viên càng
nhớ lâu hiểu sâu các công thức cũng như
các khái niệm xác định hạch toán thu nhập
quốc dân.
Bài 2: Đo lường các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản
ECO102_Bai2_v2.0018102208
26
ột quốc gia hay một doanh nghiệp đều luôn tìm cách đo lường kết quả hoạt động của
mình sau mỗi thời kỳ nhất định. Đo lường Tuy vậy, doanh nghiệp quan tâm nhiều đến
lợi nhuận thu được. Lợi nhuận thước đo tốt nhất kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Trong khi đó, thành tựu kinh tế của một quốc gia phản ánh trong việc quốc gia đó
sản xuất ra được bao nhiêu, nói cách khác, đã sử dụng những yếu tố sản xuất của mình đến
mức độ nào, để tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống người dân của đất nước mình.
Hiện nay, hầu hết các chính phủ của các quốc gia trên thế giới đều phải dựa vào các số liệu thống
về thu nhập, san lượng, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất
nghiệp, lãi suất,… để đo lường sự biến động của các biến số kinh tế mô qua từng thời kỳ. Các
ước tính về GNP và GDP để lập các chiến lược phát triển kinh tế dài hạn và kế hoạch ngân sách,
tiền tệ ngắn hạn. Từ các chỉ tiêu GNP GDP, các quan hoạch định chính sách đưa ra các
phân tích về tiêu dùng, đầu tư, ngân sách, lượng tiền, xuất nhập khẩu, giá cả, tỷ giá hối đoái,...
Các phân tích này thường được tiến hành trên cơ sở các mô hình toán kinh tế vĩ mô.
Nhiều câu hỏi đặt ra gồm: Thiếu các thống chính xác về GNP GDP, Nhà nước thiếu
thiếu sở cần thiết để y dựng hoạch định chính sách cho quá trình quản lý điều tiết
kinh tế không? Các số liệu tiêu dùng, đầu tư, ngân sách, lượng tiền, xuất nhập khẩu, giá cả, t giá
hối đoái,... được tính toán hàng kỳ hàng năm nhằm mục đích gì? Liệu GNP/GDP phải là
thước đo hoàn hảo về thành tựu kinh tế cũng nphúc lợi kinh tế của một đất nước không?
Những câu hỏi này sẽ được phân tích và giải thích cụ thể trong bài học số 2.
2.1. Các chỉ tiêu đo lường sản lượng quốc gia
2.1.1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
GDP chỉ tiêu đo ờng tổng giá trị của cácnga và dịch vụ cui cùng được sản xuất
ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời knhất định (thường mộtm).
Chỉ tiêu GNP kết quả của hàng triệu hoạt động kinh tế xảy ra bên trong lãnh thổ của
đất nước. Những hoạt động y thể do công ty, doanh nghiệp của công dân nước
ngoài sản xuất tại nước đó. Nhưng GDP không bao gồm kết quả hoạt động của công dân
nước sở tại tiến hành nước ngoài. Đây một dấu hiệu để phân biệt GDP GNP.
Trong thực tế, một hãng kinh doanh của nước ngoài sở hữu một nhà máy, dưới hình thức
bỏ vốn đầu tư hay liên doanh với các công ty ở nước ta, thì một phần lợi nhuận của họ sẽ
chuyển về nước họ để chi tiêu hay tích lũy. Ngược lại, công dân sinh sống và làm việc ở
nước ngoài cũng gửi một phần thu nhập về nước. Tuy vậy, hầu hết các khoản thu nhập
chu chuyển giữa các nước không phải thu nhập từ lao động thu nhập từ lãi tiền
gửi, lãi cổ phần, lợi nhuận,... Khi hạch toán các tài khoản quốc dân, người ta thường
dùng thuật ngữ “Thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài” để chỉ phần chênh lệch giữa thu
nhập của công dân nước ta nước ngoài và công dân nước ngoài ở nước ta. Từ đó, ta
đẳng thức thể hiện mối quan hệ giữa GDP và GNP như sau:
GNP = GDP + Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài.
Hoặc GNP = GDP + Tổng thu về thu nhập nhân tố sản xuất từ nước ngoài - Tổng chi v
thu nhập nhân tố sản xuất trả nước ngoài.
M
Bài 2: Đo lường các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản
ECO102_Bai2_v2.0018102208
27
2.1.2. Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
GNP chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hóa dịch vụ cuối cùng
mà một quốc gia sản xuất trong một thời kỳ (thường lấy là một năm) bằng các yếu tố sản
xuất của mình. GNP đánh giá kết quả của hàng triệu giao dịch hoạt động kinh tế do
công dân của một đất nước tiến hành trong một thời kỳ nhất định. Đó chính là con số đạt
được khi dùng thước đo tiền tệ để tính toán giá trị của các hàng hóa khác nhau mà các hộ
gia đình, các hãng kinh doanh, Chính phủ mua sắm tiêu dùng trong một thời gian đã
cho. Những hàng hóa dịch vụ đó là các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng của các hộ gia
đình; thiết bị nhà xưởng mua sắm xây dựng lần đầu của các hãng kinh doanh; nhà
mới y dựng; hàng hóa dịch vụ các quan quản lý nhà nước mua sắm phần
chênh lệch giữa hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu.
Dùng thước đo tiền tệ để đo lường giá trị sản phẩm thuận lợi thông qua giá cả thị
trường chúng ta thể cộng giá trị của các loại hàng a hình thức nội dung vật
chất khác nhau như cam, chuối, xe ôtô, tàu du hành trụ, dịch vụ du lịch, y tế, giáo
dục,... Nhờ vậy, thể đo lường kết quả sản xuất của toàn bộ nền kinh tế chỉ bằng một
con số, một tổng lượng duy nhất. Nhưng gcả lại một thước đo co dãn. Lạm phát
thường xuyên đưa mức giá chung lên cao. Do vậy, GNP tính bằng tiền có thể tăng nhanh
trong khi giá trị thực của tổng sản phẩm tính bằng hiện vật thkhông tăng hoặc tăng
ít. Để khắc phục được nhược điểm y, các nhà kinh tế thường sử dụng các khái niệm:
GNP danh nghĩa và GNP thực tế.
GNP danh nghĩa (GNPn) đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một
thời kỳ, theo giá cả hiện hành, tức là giá cả của cùng thời kỳ đó.
Ví dụ: GNP(2019)n = P2019×Qi2019
GNP thực tế (GNPr) đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời k,
theo giá cả cố định ở một thời kỳ lấy làm gốc.
Ví dụ: GNP(2019)r = P2010×Qi2019
Tỷ lệ giữa GNP danh nghĩa GNP thực tế chỉ số giá cả hay còn được gọi chỉ số
điều chỉnh GNP (ký hiệu: DGNP).
DGNP = [GNP danh nghĩa/(GNP thực tế)] ×100
Như vậy, khi biết chỉ số điều chỉnh DGNP chúng ta thể tính được GNPr từ GNPn.
Ngược lại, khi biết GNPr chỉ sđiều chỉnh DGNP chúng ta thể tính được GNPn của
cùng một thời kỳ.
Chỉ tiêu GNP danh nghĩa và GNP thực tế thường được dùng cho các mục tiêu phân tích
khác nhau. Chẳng hạn, khi muốn nghiên cứu mối quan hệ tài chính, ngân hàng người ta
thường dùng GNP danh nghĩa; khi cần phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế người ta
thường dùng GNP thực tế.
2.1.3. Tổng sản phẩm quốc dân ròng (NNP)
Sản phẩm quốc dân ròng (NNP) phần GNP còn lại sau khi trừ đi khấu hao. Như đã
biết các liệu lao động bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất. Sau khi tiêu thụ sản
phẩm các doanh nghiệp phải đắp ngay phần hao mòn y. Chúng không trở thành
nguồn thu nhập của nhân xã hội không tham gia vào quá trình phân phối cho
các thành viên trong xã hội.
Bài 2: Đo lường các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản
ECO102_Bai2_v2.0018102208
28
Như vậy, suy cho cùng, không phải tổng đầu tư mà đầu tư ròng cùng với các thành phần
khác của GNP mới là những bộ phận quyết định tốc độ tăng trưởng, nâng cao mức sống
của người dân. Những bộ phận này tạo thành sản phẩm quốc dân ròng (NNP). Vậy ta có:
NNP = GNP - Khấu hao (TSCĐ).
Tuy nhiên, việc xác định tổng mức khấu hao trong nền kinh tế đòi hỏi nhiều thời gian và
rất phức tạp. vậy, để đáp ứng kịp thời nhu cầu phân tích tránh phiền phức do việc
thu thập số liệu khác nhau, hay biến động về khấu hao, Nhà nước các nhà kinh tế
thường sử dụng GNP.
2.1.4. Thu nhập quốc dân và thu nhập có thể sử dụng (Y và YD)
Thu nhập quốc dân (Y hoặc NI): Là phần thu được khi lấy tổng sản phẩm quốc dân ròng
(NNP) trừ đi phần thuế gián thu.
Thu nhập quốc dân phản ánh tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất: lao động, vốn, đất
đai, tài nguyên, khả năng quản lý,... của nền kinh tế hay đồng thời cũng thu nhập của
tất cả các hộ gia đình (các cá nhân) trong nền kinh tế. Như vậy, khái niệm thu nhập quốc
dân trùng hợp với khái niệm sản phẩm quốc dân ròng theo chi phí cho các yếu tố sản
xuất. Ta có: Y = W + i + r + .
Thu nhập quốc dân ròng cũng thể tính bằng cách lấy tổng sản phẩm quốc dân trừ đi
khấu hao và thuế gián thu.
Y = GNP - Khấu hao (DP) - Thuế gián thu (Te)
Hay Y = NNP - thuế gián thu (Te)
Thuế gián thu: Thông thường đây được coi những loại thuế đánh vào sản xuất
kinh doanh hàng hóa dịch vụ do vậy, việc trả thuế chỉ gián tiếp (người nộp
thuế không phải là người chịu thuế mà thực chất là người tiêu dùng phải gánh chịu).
Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế hải quan thuế giá trị gia tăng là các dụ về thuế gián
thu. Sự phân biệt giữa thuế trực thu và thuế gián thu là một sự phân biệt truyền thống
trong tài chính công cộng. Tuy nhiên, sự phân biệt này không phải một sự phân
biệt hoàn toàn chặt chẽ, đồng thời cũng không phải đặc biệt bổ ích theo quan điểm
phân tích. một số ví dụ về thuế sự phân loại là không dễ dàng và sự phân biệt
giữa chúng không phải là rất có ích theo quan điểm phân tích phạm vi ảnh hưởng.
Thuế thu nhập doanh nghiệp loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ
các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Tuy thu nhập quốc dân là chỉ tiêu phản ánh thu nhập từ tất cả các yếu tố của nền kinh tế,
do vậy đã phản ánh mức sống của dân cư. Nhưng để dự đoán khả năng tiêu tích y
của dân cư, Nhà nước phải dựa vào các chỉ tiêu trực tiếp hơn, tác động đến tiêu dùng và
tích lũy. Đó thu nhập thể sử dụng. Thu nhập thể sử dụng là phần thu nhập quốc
dân còn lại sau khi các hộ gia đình nộp lại các loại thuế trực thu nhận được các trợ
cấp của Chính phủ hoặc doanh nghiệp.
Bài 2: Đo lường các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản
ECO102_Bai2_v2.0018102208
29
YD = Y - Td + TR
Bảng 2.1. Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu xét dưới góc độ thuế
C
Thuế trực
thu – trợ
cấp = Y
D
YI
Thuế gián
thu
Thuế
gián
thuNNP
G
GDP
NX
Khu haoKhu
hao
Khu
hao
Thu nhp
ròng tài
sn
Thu
nhp
ròng tài
sn
GNP
C
Thuế trực
thu – trợ
cấp = Y
D
YI
Thuế gián
thu
Thuế
gián
thuNNP
G
GDP
NX
Khu haoKhu
hao
Khu
hao
Thu nhp
ròng tài
sn
Thu
nhp
ròng tài
sn
GNP
Thuế trực thu chủ yếu là các loại thuế đánh vào thu nhập do lao động; thu nhập do thừa
kế tài sản của cha ông để lại, các loại đóng góp của nhân như bảo hiểm hội, lệ phí
giao thông,... Thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh thể hay chung vốn cũng
một dạng thuế trực thu phải trừ ra từ thu nhập quốc dân. Tương tự các loại thuế lợi
tức đánh vào các công ty cổ phần (công ty do nhiều người sở hữu) phần lợi nhuận
không chia của các công ty để lại để tích lũy tái sản xuất mở rộng, cũng không nằm
trong thành phần của thu nhập có thể sử dụng (YD).
Toàn bộ thu nhập thể sử dụng (YD) chỉ bao gồm thu nhập các hộ gia đình thể
tiêu dùng (C), và để dành hay tiết kiệm (S). Ta có: YD = C + S
Bảng 2.2. Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu dựa vào yếu tố chi phí đầu vào
2.1.5. Ý nghĩa của các chỉ tiêu GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô
Chỉ tiêu GNP hay GDP là những thước đo tốt về thành tựu kinh tế của một đất ớc. Ngân
ng thế giới (WB) hay quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ng như các nhà kinh tế khác tờng sử
dụng c chtiêu này để so nh quy mô sản xuất của các ớc khác nhau trên thế gii.
GNP GDP thường được sử dụng để phân ch những biến đổi về sản lượng của một