LỜI MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA LUẬN ÁN
Châu Á được đánh giá là khu vực tiềm năng với nhiều nền kinh tế phát triển đa dạng.
Đặc biệt, các quốc gia đang phát triển ở châu Á hiện nay đang đứng trước nhiều lựa chọn về
chế độ tỷ giá (CĐTG) thích hợp nhằm duy trì sự ổn định kinh tế, tăng trưởng bền vững cũng
như hạn chế những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Theo Latter (1996) đã nhấn mạnh
“không có một cơ chế tỷ giá nào có thể áp dụng hiệu quả cho tất cả các quốc gia”. Bên cạnh
đó, nhóm quốc gia này lại dễ dàng bị ảnh hưởng trước các biến động kinh tế toàn cầu. Ảnh
hưởng từ các cuộc khủng hoảng, từ đại dịch COVID-19 đã cho thấy tầm quan trọng của việc
lựa chọn chế độ tỷ giá phù hợp để giảm thiểu rủi ro và ổn định nền kinh tế. Ví dụ, khi cố
định tỷ giá có thể giúp các quốc gia nhỏ giảm chi phí giao dịch và ổn định giá cả nhưng lại
hạn chế khả năng ứng phó với biến động quốc tế. Ngược lại, chế độ linh hoạt như Hàn Quốc
áp dụng đã giúp tăng khả năng tự chủ tiền tệ nhưng lại gây ra biến động lớn hơn trong lạm
phát và tăng trưởng. Do đó, việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chế độ tỷ giá
là cần thiết để cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, đặc biệt trong bối
cảnh kinh tế toàn cầu ngày càng bất ổn. Về mặt lý luận, các nghiên cứu từ lý thuyết khu vực
tiền tệ tối ưu (OCA) của Mundell (1961), McKinnon (1963), và Kenen (1969) đã đặt nền
móng cho việc phân tích các nhân tố như quy mô nền kinh tế, độ mở cửa thương mại, sự đa
dạng trong xuất khẩu, và mức độ tập trung xuất khẩu theo khu vực địa lý. Sau đó, các
nghiên cứu tiếp tục mở rộng với các nhân tố kinh tế và tài chính như lạm phát (Dornbusch,
2001), sự phát triển tài chính (Aghion và cộng sự, 2009; Lin và Ye, 2011), độ mở tài khoản
vốn (Fischer, 2001; Williamson, 2000), và dự trữ ngoại hối (Edwards, 1996; Chang và Lee,
2017). Các nhân tố chính trị và thể chế, như sự ổn định chính trị (Edwards, 1996; Berdiev
và cộng sự, 2012), sự độc lập của ngân hàng trung ương (Larran và Velasco, 2001; Bodea,
2010) cũng được xác định là có ảnh hưởng đáng kể. Mặc dù có nhiều nhân tố tác động
nhưng khó để xác định chiều ảnh hưởng cố định của các nhân tố bởi theo các nghiên cứu
thực nghiệm khác nhau lại có thể đưa ra những kết quả trái chiều, Russell (2011). Chẳng
hạn, trong khi Mundell (1961) và McKinnon (1963) lập luận rằng các quốc gia có độ mở
thương mại cao thường ưu tiên CĐTG cố định, Bleaney và Francisco (2005) lại phát hiện
rằng các quốc gia có xu hướng chọn CĐTG linh hoạt hơn khi nghiên cứu trên mẫu 102 quốc
gia đang phát triển giai đoạn 1990-2000. Sự khác biệt này cho thấy rằng các nhân tố ảnh
hưởng đến lựa chọn CĐTG phụ thuộc mạnh mẽ vào bối cảnh thời gian, khu vực địa lý, và