
BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
72
là Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án hành chính
trong phạm vi cả nước và các quyết định về phần tài sản, quyền tài sản trong
các bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính được thi hành theo
Pháp lệnh thi hành án dân sự
-----------------------------------------------------------
MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Giáo trình Luật hành chính Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội-
Nhà xuất bản Công an nhân dân
- Tìm hiểu pháp luật Luật hành chính Việt Nam- Tiến sĩ Phạm Hồng
Thái - Tiến sĩ Đinh Văn Mậu - Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh.
- Hiến pháp năm 1992
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
- Pháp lệnh cán bộ, công chức .
- Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
1
CHƯƠNG I
LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM -
NGÀNH LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
I.KHÁI NIỆM
1.Khái niệm quản lý
Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ
vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay
quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những
mục đích đã định từ trước.
Dưới góc độ pháp lý, Mác đã coi “quản lý là một chức năng đặc biệt
nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”.
Như vậy, ở đâu có sự lao động chung của nhiều người thì ở đó cần có
sự quản lý, trong đó sự liên kết các hoạt động của mỗi cá nhân con người là rất
cần thiết. Hoạt động liên kết chính là nội dung của công tác tổ chức. Tổ chức
là sự phân công, phân định rõ ràng chức trách của từng người trong tập thể, là
sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ của các cá nhân trong tập thể. Do đó, tổ
chức là yếu tố quyết định mang lại hiệu quả cho quản lý.
Để điều khiển, phối hợp hoạt động của các cá nhân trong tập thể con
người, quản lý cần có phương tiện để buộc con người phải hành động theo
những nguyên tắc nhất định, phải phục tùng những khuôn mẫu, mệnh lệnh
nhất định. Phương tiện đó là uy tín hoặc quyền uy, quyền lực.
Tóm lại, quản lý nảy sinh bất kỳ lúc nào và bất cứ đâu, nếu ở đó có
hoạt động chung của nhiều người. Vì vậy, quản lý tồ tại từ xã hội cộng sản
nguyên thuỷ đến xã hôị có nhà nước và cả khi xã hội không còn giai cấp và
nhà nước nữa.
- Chủ thể quản lý là con người hay tổ chức của con người. Những cá
nhân hay tổ chức này là những đại diện có quyền uy.
- Khách thể quản lý là trật tự quản lý nhất định mà các bên tham gia
quan hệ quản lý cụ thể đều hướng tới. Trật tự này được điều chỉnh bởi nhiều
quy phạm khác nhau như quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm
tôn giáo, quy phạm pháp luật...
2.Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập
pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và chức năng
đối ngoại của nhà nước.
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Thông qua pháp luật, nhà
nước có thể trao quyền lực của mình cho các cá nhân hay tổ chức xã hội để các
CPD College

BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
2
chủ thể đó thay mặt nhà nước tiền hành hoạt động quản lý nhà nước đối với
toàn xã hội.
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp là hoạt động chỉ đạo thực
hiện pháp luật gọi là quản lý hành chính nhà nước hay còn gọi là quản lý công
hoặc hành chính công.
Quản lý hành chính nhà nước là hình thức hoạt động của nhà nước
được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có
nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ
quan quyền lực nhà nước nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp
và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội và hành chính -
chính trị ở nước ta. Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động
chấp hành và điều hành của nhà nước.
- Chấp hành là làm đúng những yêu cầu của pháp luật, là hoạt động
đưa pháp luật vào thực tiễn quản lý nhà nước.
- Điều hành là việc chỉ đạo đối tượng thuộc quyền thực hiện chức
năng, nhiệm vụ theo pháp luật, là việc các cơ quan hành chính nhà nước, cán
bộ nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể quản lý hành chính khác phải tiến
hành hoạt động liên tục, thường xuyên nhằm trực tiếp và tổ chức chỉ đạo thực
hiện pháp luật đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền để đạt mục đích là
năng suất, chắt lương, hiệu quả.
Trong quá trình điều hành, các chủ thể quản lý nhà nước có quyền
nhân dânh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước ban hành các văn bản quản
lý để đặt ra quy phạm pháp luật hay mệnh lệnh pháp luật cụ thể có tính bắt
buộc đối với các đối tượng quản lý có liên quan. Đồng thời tăng cường công
tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pjháp luật của các đối tượng quản lý đó.
Chấp hành và điều hành có mối liên hệ mật thiết với nhau. Ngoài ra
quản lý hành chính nhà nước luôn mang tính chủ động, sáng tạo.
- Chủ thể quản lý nhà nước là cá nhân hay tổ chức mang quyền lực
nhà nước, bao gồm nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân
được nhà nước uỷ quyền để nhân danh nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước
thực hiện quyền lực nhà nước. Chủ thể quản lý hành chính nhà nước là cá nhân
hay tổ chức có quyền năng thực hiện quyền lực nhà nước, bao gồm: cơ quan
hành chính nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền, các cá nhân thuộc các
cơ quan kiểm sát, xét xử và các tổ chức xã hội hoặc cá nhân khác được nhà
nước trao quyền quản lý hành chính nhà nước trong một số trường hợp cụ thể.
- Khách thể của quản lý nhà nước là trật tự quản lý nhà nước. Khách
thể quản lý hành chính nhà nước là trật tự quản lý hành chính nhà nước tức là
trật tự quản lý trong lĩnh vực chấp hành điều hành.
BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
71
Khoản 1 Điều 67 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
quy định: “Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
a. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;
b.Phần quyết định trong bản án, quyết định không phù hợp với những
tình tiết khách quan của vụ án;
c. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật”.
Khoản 2 Điều 67 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
quy định: “Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
a.Mới phát hiện tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không
thể biết được khi giải quyết vụ án;
b.Đã xác định được lời khai của người làm chứng, kết luận của người
giám định, lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc có
giả mạo bằng chứng;
c.Thẩm phán, Hội thẩm, kiểm sát viên, Thư ký Toà án cố tình làm sai
lệch hồ sơ vụ án;
d.Bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền mà Toà án dựa vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ bỏ”.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền:
- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật;
- Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới
đã bị huỷ hoặc bị sửa;
- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm
hay phúc thẩm lại;
- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải
quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Điều 41 của Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
6.Thi hành bản án hành chính
Đây là giai đoạn cuối cùng của tố tụng hành chính. Việc thi hành các
bản án, quyết định hành chính có hiệu lực được giao cho Cơ quan thi hành án
dân sự. Điều 74 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định
CPD College

BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
70
Xét lại bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc
thẩm là giai đoạn độc lập trong tố tụng hành chính. Giai đoạn này có nhiệm vụ
sửa chữa những sai lầm mà vi phạm của Toà án cấp sơ thẩm, đảm bảo việc áp
dụng pháp luật đúng đắn và thống nhất.
Tính chất của việc xét lại bản án và quyết định theo thủ tục phúc thẩm
là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án và quyết định sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.
Về trình tự, thủ tục xét xử phúc thẩm cũng tương tự như trình tự, thủ
tục xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, Toà án cấp phúc thẩm
không phải hỏi lại toàn bộ những vấn đề đã được hỏi ở Toà án cấp sơ thẩm.
việc xét xử phúc thẩm chủ yếu tập trung vào những vấn đề liên quan đến
kháng cáo, kháng nghị.
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm 3 Thẩm phán. Toà án cấp phúc thẩm
có quyền:
- Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án,
quyết định sơ thẩm;
- Sửa một phần hoặc toàn bộ phần quyết định của bản án, quyết định
sơ thẩm;
- Huỷ bản án, quyết định sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Toà án cấp sơ
thẩm xét xử lại trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng
hoặc việc xác minh, thi thập chứng cứ không đầy đủ mà Toà án cấp phúc thẩm
không thể bổ sung được;
- Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;
- Huỷ bản án, quyết định sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án;
- Đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, nếu việc xét
xử phúc thẩm vụ án cần phải có mặt của người kháng cáo và họ đã được triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Trong
trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
5.Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Đây là giai đoạn đặc biệt trong tố tụng hành chính ,bao gồm thủ tục
giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm.
BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
3
II. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH
CỦA LUẬT HÀNH CHÍNH
1. Đối tượng điều chỉnh
Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là các quan hệ xã hội hình
thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Những quan hệ này được
gọi là quan hệ quản lý hành chính nhà nước hay quan hệ chấp hành - điều
hành.
Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính có thể được chia thành 3
nhóm quan hệ quản lý:
Nhóm 1 là các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan
hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, bao gồm:
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan
hành chính cấp dưới theo hệ thống dọc. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND tỉnh
Quảng Nam với UBND huyện Thănng Bình).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp. (Ví dụ:
Quan hệ giữa UBND tỉnh với Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên
môn cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp
dưới trực tiếp. (Ví dụ: Quan hệ giữa Sở giao thông tỉnh Quảng Nam với
UBND thành phố Tam Kỳ).
- Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền
chuyên môn cùng cấp với nhau, cơ quan này có quyền hạn nhất định đối với
cơ quan kia trong việc thực hiện chức năng của mình theo quy định của pháp
luật. Song giữa các cơ quan này không có sự lệ thuộc về mặt tổ chức. (Ví dụ:
Quan hệ giữa Sở tài chính với Sở tài nguyên và môi trường trong việc quản lý
thu chi ngân sách).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước địa phương với các đơn
vị trực thuộc trung ương đóng tại địa phương đó. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND
quận Thủ Đức với Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh).
- Giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị cơ sở trực thuộc.
(Ví dụ: Quan hệ giữa UBND tỉnh Quảng Nam với Trường cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Quảng Nam).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế
thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. (Ví dụ: Giữa UBND huyện
Duy Xuyên với Hợp tác xã dệt may Duy Trinh).
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội.
(Ví dụ: Quan hệ giữa Chính phủ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).
CPD College

BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
4
- Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân, người
nước ngoài. (Ví dụ: Quan hệ giữa UBND phường An Sơn với công dân A
trong việc xử phạt vi phạm hành chính do A có hành vi gây rối trật tự công
cộng).
Nhóm 2 là nhóm quan hệ quản lý hình thành trong quá trình cơ quan
nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan. (Ví dụ:
Quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan với các cán bộ trong cơ quan đó).
Nhóm 3 là nhóm là các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân
và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện quản lý hành chính nhà nước
trong một số trường hợp cụ thể. (Ví dụ: Thẩm phán chủ toạ phiên toà được
phạt hành chính đối với cônbg dân có hành vi gây rối phiên toà).
2.Phương pháp điều chỉnh
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là mệnh lệnh đơn
phương, được hình thành từ quan hệ quyền lực phục tùng giữa một bên có
quyền nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc thi hành với một bên
có nghĩa vụ phục tùng các mệnh lệnh đó. Do đó, trong quan hệ quản lý hành
chính nhà nước có sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ này.
III. QUY PHẠM VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
1.Quy phạm pháp luật hành chính
Quy phạm pháp luật hành chính là những quy tắc xử sự chung do cơ
quan hay cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành, chủ yếu điều chỉnh những
quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, có hiệu
lực bắt buộc thi hành đối với những đối tượng có liên quan và được bảo đảm
thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Quy phạm pháp luật hành chính do nhiều chủ thể ban hành, do nhiều
cấp và ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nên có số lượng rất lớn và hiệu
lực pháp luật của chúng rất khác nhau.
Các quy phạm pháp luật hành chính được thực hiện bằng nhiều cách,
nhưng tập trung nhất và phổ biến nhất là hai hình thức như chấp hành và áp
dụng.
- Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là việc các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế và cá nhân làm theo đúng những yêu cầu
của quy phạm pháp luật hành chính. Các chủ thể của quan hệ pháp luật hành
chính thực hiện hành vi chấp hành quy phạm pháp luật hành chính trong các
trường hợp sau đây:
+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính
quy định.
+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành hcính
buộc phải thực hiện.
BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
69
- Sự việc đã được giải quyết bằng bản ân hoặc quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Toà án;
- Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
b.Chuẩn bị xét xử
Trong giai đoạn này, Toà hành chính thực hiện các công việc chuẩn bị
như yêu cầu các bên cung cấp thông tin, tài liệu, giải trình bằng văn bản những
vấn đề có liên quan đến nội dung vụ kiện. Khi xéy thấy cần thiết, Toà án có thể
thu thập thêm chứng cứ, xem xét tại chỗ, trưng cầu giám định...
Sau khi thấy việc thu thập chứng cứ đã đầy đủ, Toà án xem xét ra một
trong các quyết định sau đây:
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử;
- Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;
- Đình chỉ việc giải quyết vụ án.
c.Xét xử sơ thẩm
Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính gồm một Thẩm phán và hai
Hội thẩm nhân dân.
Phiên toà sơ thẩm được tiến hành với sự có mặt của đương sự hoặc
người đại diện hợp pháp của họ. Tuỳ từng vụ án cụ thể mà Toà án xét thấy cần
có mặt của người làm chứng, người phiên dịch, người giám định hay không.
Viện kiểm sát tham gia là bắt buộc. Viện kiểm sát có quyền tham gia
tố tụng từ bất cứ giai đoạn nào khi xét thấy cần thiết. Ngoài ra, Viện kiểm sát
cũng có quyền khởi tố vụ án hành chính và cung cấp chứng cứ.
Về thủ tục bắt đầu phiên toà: Chủ toạ phiên toà đọc quyết định đưa vụ
án ra xét xử, kiểm tra căn cước của những người tham gia tố tụng, giải thích
cho đương sự biết quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà. Chủ toạ phiên toà
giới thiệu các thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án
và hỏi các đương sự có đề nghị thay đổi ai không. Trước khi hỏi các đương sự,
Chủ toạ phiên toà cần tóm tắt vụ án, yêu cầu của các bên. Sau khi kết thúc
phần thẩm vấn chuyển sang phần tranh luận và sau đó Hội đồng xét xử vào
nghị án.
Các quyết định của Hội đồng xét xử phải do các thành viên của Hội
đồng thảo luận và quyết định theo đa số. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại
các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử.
Trong bản án của Toà án phải ghi rõ nội dung vụ án, yêu cầu của các
đương sự, những tình tiết đã chứng minh, những chứng cứ, căn cứ mà Toà án
dựa vào đó để giải quyết các vấn đề trong vụ án như quyết định của Toà án về
giải quyết vụ án, về án phí, quyền kháng cáo.
d.Xét lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ
tục phúc thẩm
CPD College

BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
68
- Quy định thành phần những người tiến hành tố tụng, những người
tham gia tố tụng trong từng giai đoạn tố tụng hành chính; cũng như quyền và
nghĩa vụ của họ;
- Quy định trình tự, thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính;
- Quy định trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ; trình tự, thủ tục xét xử
sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án hành chính;
- Quy định trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định của Toà án
nhân dân đối với các vụ án hành chính.
Các nhiệm vụ gián tiếpcủa luật tố tụng hành chính bao gồm:
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan nhà nước,
tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế thông qua việc thực hiện chức năng của mình;
- Bảo đảm việc giải quyết các khiếu kiện hành chính được đúng đắn,
kịp thời;
- Bảo đảm cho việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án về vụ
án hành chính được nghiêm chỉnh, có hiệu lực và hiệu quả;
- Góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
4.Các giai đoạn của tố tụng hành chính
a.Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chính
Trước khi khởi kiện vụ án hành chính, cá nhân, tổ chức phải khiếu nại
với cơ quan nhà nước, người ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành
chính mà họ cho là trái pháp luật; trong trường hợp không đồng ý với quyết
dịnh giải quyết khiếu nại thì họ có quyền khiếu nại đến cấp có thẩm quyền giải
quyết khiêưú nại tiếp theo hay khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm
quyền.
Việc khởi kiện phải lập thành văn bản. Đơn khởi kiện phải đầy đủ các
nội dung theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính. Kèm theo đơn kiện phải có bản sao quyết định hành chính.
Sau khi nhận được đơn khởi kiện, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm
quyền của mình thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng
án phí. Trong thời hạn bảy ngày, người khởi kiện phảo nộp tiền tạm ứng án
phí, trừ trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
Toà án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp
tiền tạm ứng án phí. Trong trường hợp người khởi kiện được miến nộp tiền
tạm ứng án phí thì Toà án thụ lý vụ án vào ngày nhận được đơn khởi kiện.
Toà án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây:
- Người khởi kiện không có quyền khởi kiên;
- Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;
- Không đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 2
pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;
BÀI GIẢNG LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG
www.phuongdongqn.vn / phuongdongqn.edu.vn
5
+ Khi không thực hiện những hành vi mà pháp luật của nhà nước
nghiêm cấm.
- Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là việc các chủ thể quản lý
hành chính nhà nước căn cứ vào pháp luật hiện hành để giải quyết các công
việc cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước. Áp dụng
quy phạm pháp luật hành chính là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay
chấm dứt một hay nhiều quan hệ pháp luật hành chính nhất định.Việc áp dụng
quy phạm pháp luật hành chính phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng với nội dung,
mục đích của quy phạm pháp luật hành chính.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thực hiện bởi cơ
quan hay cán bộ nhà nước có thẩm quyền.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được tiến hành theo
đúng thủ tục do pháp luật quy định.
+ Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được tiến hành nhanh
chóng trong thời hạn pháp luật quy định và phải trả lời công khai, chính thức
kết quả giải quyết cho các đối tượng có liên quan.
+ Kết quả áp dụng quy phạm pháp luật hành hcính phải được thể hiện
bằng văn bản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
+ Quyết định áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được bảo
đảm thực hiện trên thực tế.
2. Quan hệ pháp luật hành chính
Quan hệ pháp luật hành chính là quan hệ xã hội được quy phạm pháp
luật hành chính điều chỉnh giữa những chủ thể mang quyền và nghĩa vụ đối
với nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
Quan hệ pháp luật hành chính có những đặc trưng, đó là:
- Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật hành
chính luôn gắn với hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước.
- Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh do yêu cầu hợp pháp
của bất kỳ bên nào, sự thoả thuận của bên kia không phải là điều kiện bắt buộc.
- Trong quan hệ pháp luật hành chính, một chủ thể được sử dụng
quyền lực nhà nước. Chủ thể này là chủ thể bắt buộc, nếu thiếu chủ thể này thì
không thể hình thành quan hệ pháp luật hành chính.
- Phần lớn tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính
được giải quyết theo thủ tục hành chính và chủ yếu thuộc thẩm quyền của cơ
quan hành chính nhà nước hay cán bộ nhà nước có thẩm quyền trong những cơ
quan này.
- Trong quan hệ pháp luật hành chính, bên vi phạm phải chịu trách
nhiệm trước nhà nước chứ không phải trước bên kia
CPD College

