
Bàn về xã hội dân sự - 1
Khái niệm xã hội dân sự từ lâu đã trở thành một khái niệm quan trọng và ngày
càng trở nên quan trọng khi quá trình toàn cầu hoá đang làm thế giới xích lại gần
nhau hơn. Và khi các giá trị cá nhân ngày càng được khẳng định thì một xã hội
dân sự nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của con người ngày càng trở nên cần thiết.
Thế kỷ Khai Sáng với nhiều tác phẩm bất hủ của các nhà triết học nổi tiếng như
Rousseau hay Montesquier tuy chưa thực sự nhắc đến một xã hội dân sự nhưng
những tư tưởng về chủ quyền nhân dân và sự phủ định vai trò tuyệt đối của nhà
nước đã góp phần tạo nền tảng cho sự hình thành khái niệm xã hội dân sự. Từ đó
đến nay, xã hội dân sự không còn là một khái niệm mới song cũng chưa đủ cũ để
người ta thôi luận bàn về nó. Nói cách khác, hơn 300 năm sau Thế kỷ Khai Sáng,
gần 300 năm sau khi "Khế ước xã hội" của Rousseau ra đời, loài người đã có một
bước tiến dài về phía xã hội dân sự nhưng vẫn còn sự nhận thức khác nhau giữa
các cộng đồng dân tộc. Xã hội dân sự, ở một số nơi, chưa được thừa nhận và tôn
trọng, do đó, nó không phát huy được vai trò của mình trong tiến trình phát triển.
Vậy xã hội dân sự là gì? Vai trò của nó cũng như tương quan giữa nó và sự phát
triển của con người là gì? Sự thiếu vắng hay không được thừa nhận xã hội dân sự

ở một số quốc gia đang phát triển có ảnh hưởng thế nào đến quá trình tổ chức và
rèn luyện nền dân chủ của các quốc gia này? Đây là một vấn đề cần được nghiên
cứu và thảo luận một cách rất nghiêm túc.
1. Xã hội dân sự và đặc điểm của nó
Xã hội dân sự là xã hội phi nhà nước
Tôi cho rằng, xã hội dân sự, hiểu một cách đơn giản nhất là xã hội phi nhà nước, ở
đó, mối quan hệ giữa con người với nhau dựa trên sự tự thảo luận và tạo ra sự
đồng thuận trên các vấn đề của cuộc sống mà không cần có sự can thiệp của nhà
nước. Xã hội dân sự là xã hội tự cân bằng. Nó có các tổ chức do xã hội lập ra để
thể hiện những loại hình ý chí khác nhau của cộng đồng. Nói cách khác, tự bản
thân xã hội dân sự sẽ điều chỉnh, hạn chế tất cả những sự cực đoan, những hành vi
không phù hợp với lợi ích cộng đồng bằng các quy tắc bất thành văn mà không
cần sự tham gia của các yếu tố nhà nước. Có thể nói tính tự lập là bản chất của xã
hội dân sự, tức là xã hội tự giải quyết các vấn đề của nó. Xã hội dân sự là xã hội tự
quản lấy mình và đến một mức độ mà nó không có khả năng để tự quản nữa thì
phần còn lại rơi vào nhà nước. Rất nhiều quốc gia chậm phát triển đã không nhận
thức được điều này. Người ta luôn cho rằng nhà nước phải có mặt trong mọi lĩnh
vực của cuộc sống mà không biết rằng nhà nước là bộ phận nối dài của xã hội dân
sự để giải quyết những công việc mà bản thân xã hội không tự giải quyết được.
Thực ra, nếu chúng ta thừa nhận sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội dẫn đến

sự ra đời của nhà nước nhằm dung hoà lợi ích của các cộng đồng người trong một
xã hội hay nếu chúng ta thừa nhận nhà nước được hình thành từ sự góp vốn tự do
của con người thì chúng ta sẽ thấy rằng, rõ ràng xã hội dân sự có trước nhà nước.
Nhà nước là bộ phận thượng tầng của xã hội, là nơi giải quyết những vấn đề xã hội
đòi hỏi, hay nói cách khác, con người tạo ra nhà nước để giải quyết những vấn đề
mà tự nó không giải quyết được. Còn nếu chúng ta quy lịch sử phát triển loài
người vào lịch sử phát triển các nhà nước, tức là nếu chúng ta cho rằng, con người
chỉ trở thành con người xã hội khi có nhà nước thì chúng ta sẽ biến nhà nước trở
thành kẻ sinh ra xã hội. Và như thế, chúng ta sẽ không thừa nhận tình trạng không
có con người nằm ngoài nhà nước, và nó dẫn đến một logic là Xã hội = Nhà nước.
Hầu hết các nước chậm phát triển hay đang phát triển đều nhận thức chưa đúng về
vai trò của nhà nước. Sự phong cho nhà nước một quyền lực quá lớn đã dẫn đến
một logic ngược lại, nhà nước không phải là nơi giải quyết những vấn đề xã hội
đòi hỏi mà xã hội là nơi để nhà nước áp đặt những đòi hỏi của mình. Sự phủ bóng
quá lớn của nhà nước xuống xã hội đã khiến đời sống dân sự của con người bị thu
hẹp lại thậm chí trở thành bất hợp pháp. Pháp luật ở một số quốc gia không thừa
nhận tình trạng không có nhà nước trong một loạt các khu vực khác nhau của đời
sống và làm mất đi những yếu tố của xã hội dân sự. Ví dụ, nhà nước không thừa
nhận vai trò làm chứng của một luật sư cho các cam kết dân sự của khách hàng mà
chỉ thừa nhận sự làm chứng của các cơ quan công chứng nhà nước. Nhận thức sai
lầm về vai trò của nhà nước, con người cũng nhận thức sai lầm về địa vị xã hội.

Một số người luôn quan niệm là phải làm việc ở cơ quan nhà nước mới có địa vị
xã hội và danh dự. Do đó, con người bằng mọi giá phấn đấu để được vào biên chế,
để được bao cấp, được bảo vệ bởi nhà nước. Con người mất tự tin khi bị tách khỏi
nhà nước và con người bơ vơ về tinh thần khi ra khỏi nhà nước. Trạng thái này
kéo dài ở một số quốc gia, làm hình thành nên một nền văn hóa không có dấu hiệu
dân sự. Nền văn hóa mà người ta lấy tất cả những ưu thế trong hệ thống nhà nước
làm thước đo của giá trị thì không còn đời sống dân sự, tức là con người không có
quyền lợi nào nếu không gắn với một nhà nước cụ thể. Nhưng trong hàng trăm
hành vi của con người hàng ngày, có bao nhiêu phần trăm là hành vi mang chất
lượng nhà nước và bao nhiêu hành vi mang chất lượng tự nhiên? Và con người
lành mạnh là con người hành động tự giác hay con người hành động trong sự giục
giã, giám sát và điều chỉnh của nhà nước? Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận
vai trò điều chỉnh và giám sát của nhà nước vì rõ ràng, có những vấn đề mà nếu
nhà nước không đảm nhiệm, xã hội dân sự không thể giải quyết nổi.
Ở đây, phải nói thêm một khía cạnh là trong một quốc gia bao giờ cũng có nhiều
cộng đồng dân sự, có nhiều quy tắc và điều này đã khiến một số người nhầm lẫn
giữa các quy tắc dân sự của cộng đồng với hương ước, lệ làng. Họ tưởng rằng đó
là thể hiện cơ bản của xã hội dân sự. Phải khẳng định rằng hương ước hay lệ làng
thực chất là những quy tắc phản ánh một xã hội khu trú và chậm tiến bộ. Nó là
những thói quen văn hóa rất chậm thay đổi, lưu truyền từ đời nọ sang đời kia, con
người mặc nhiên chấp nhận nó như một quy ước. Còn những quy tắc trong xã hội

dân sự được hình thành dựa trên cơ sở sự đồng thuận xã hội, tức là con người trực
tiếp tham gia vào quá trình thương thảo về những quy tắc và đấy là biểu hiện của
trình độ phát triển cao, trong đó mỗi người dân đều ý thức được vai trò, quyền và
lợi ích của mình. Những quy tắc này có thể biến đổi theo thời gian tùy thuộc vào
trạng thái phát triển của xã hội.
Sự khác biệt giữa xã hội dân sự và xã hội công dân
Các cuộc tranh luận giữa các học giả còn xoay quanh khái niệm xã hội công dân
hay xã hội dân sự. Ban đầu, ý tưởng về "xã hội dân sự" và "xã hội công dân" gần
như đồng nhất, nhưng dần dần hai khái niệm ấy tách khỏi nhau vì trong tiến trình
phát triển, con người ngày càng thấy rõ mỗi công dân đồng thời cũng là con người
với tất cả những đặc tính phong phú của mình. Cho nên, không thể quy toàn bộ
tính phong phú ấy vào trong khái niệm công dân. Vậy xã hội công dân là gì? Tôi
cho rằng, xã hội công dân là một xã hội mà các thành viên của nó là công dân theo
đúng nghĩa. Vấn đề đặt ra là công dân là gì? Công dân là các thành viên của một
xã hội hiện đại, ở đó mọi quyền của con người đều được tôn trọng, tức là mỗi một
con người trở thành chủ sở hữu xã hội và có các quyền hiến định và pháp định
rành mạch. Nói cách khác, nếu xã hội dân sự là xã hội nằm ngoài nhà nước, không
cần đến nhà nước thì xã hội công dân là pháp chế hóa xã hội dân sự. Như vậy, xã
hội dân sự rộng lớn hơn và cũng căn bản hơn nhiều so với xã hội công dân.

