
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
240
SO SÁNH HIỆU QUẢ PHÁT HIỆN LỖI GIỮA PHƯƠNG PHÁP
MOVING AVERAGE VÀ QUY TẮC WESTGARD
TRONG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG XÉT NGHIỆM
Lê Văn Chương1, Phạm Anh Thắng2,
Nguyễn Minh Sơn1, Lâm Kiến Thành1
TÓM TẮT34
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm so sánh hiệu
quả phát hiện lỗi giữa phương pháp Moving
Average và quy tắc Westgard truyền thống trong
kiểm soát chất lượng xét nghiệm.
Phương pháp: Bốn loại lỗi (dịch chuyển, xu
hướng, dao động và điểm ngoại lai) được mô
phỏng trên dữ liệu nội kiểm TG High của Bệnh
viện Phục hồi Chức năng Bình Thuận. Phương
pháp Moving Average bao gồm Bollinger Bands
(dải biên MA ± 1.5SD) và MA Crossover - kỹ
thuật phát hiện xu hướng dựa trên giao cắt giữa
MA10 và MA20, trong đó MA10 cắt lên trên
MA20 báo hiệu xu hướng tăng và ngược lại.
Kết quả: Đối với lỗi dịch chuyển, Bollinger
Bands và MA Crossover phát hiện sau 1 điểm,
trong khi Westgard cần 5 điểm. Với lỗi xu
hướng, MA Crossover phát hiện sau 2 điểm,
Bollinger Bands sau 2 điểm, Westgard cần 10
điểm. Với lỗi dao động và điểm ngoại lai, cả hai
phương pháp có hiệu quả tương đương.
Kết luận: Phương pháp Moving Average có
hiệu quả vượt trội trong phát hiện lỗi dịch chuyển
và xu hướng, trong khi cả hai phương pháp đều
hiệu quả với lỗi dao động và điểm ngoại lai. Kết
hợp cả hai phương pháp sẽ tạo hệ thống kiểm
soát chất lượng toàn diện và hiệu quả.
1Khoa Kỹ thuật Y học, Trường Đại học Văn Lang
2Bệnh viện Phục hồi Chức năng Bình Thuận
Chịu trách nhiệm chính: Lê Văn Chương
Email: chuong.lv@vlu.edu.vn
Ngày nhận bài: 8-4-2025
Ngày phản biện: 25-5-2025
Ngày duyệt bài: 8-6-2025
Từ khóa: Moving Average, quy tắc
Westgard, kiểm soát chất lượng xét nghiệm,
Bollinger Bands, MA Crossover.
SUMMARY
COMPARISON OF ERROR
DETECTION EFFICIENCY BETWEEN
MOVING AVERAGE METHOD AND
WESTGARD RULES IN LABORATORY
QUALITY CONTROL
Objective: This study aims to compare error
detection efficiency between Moving Average
method and traditional Westgard rules in
laboratory quality control.
Method: Four error types (shift, trend,
oscillation, and outliers) were simulated on TG
High internal quality control data from Binh
Thuan Rehabilitation Hospital. Moving Average
method includes Bollinger Bands (MA ± 1.5SD
bands) and MA Crossover - a trend detection
technique based on the intersection between
MA10 and MA20, where MA10 crossing above
MA20 signals an upward trend and vice versa.
Results: For shift errors, Bollinger Bands
and MA Crossover detected after 1 point, while
Westgard required 5 points. For trend errors, MA
Crossover detected after 2 points, Bollinger
Bands after 2 points, and Westgard needed 10
points. For oscillation and outlier errors, both
methods showed comparable efficiency.
Conclusion: Moving Average method
demonstrates superior efficiency in detecting
shift and trend errors, while both methods are
equally effective for oscillation and outlier errors.
Combining both methods would create a

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
241
comprehensive and effective quality control
system in medical laboratories.
Keywords: Moving Average, Westgard rules,
laboratory quality control, Bollinger Bands, MA
Crossover.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Kiểm soát chất lượng nội bộ (IQC) là
thành phần quan trọng trong hệ thống đảm
bảo chất lượng của phòng xét nghiệm y học,
giúp phát hiện sớm các vấn đề về chất lượng
và ngăn ngừa việc báo cáo kết quả xét
nghiệm không đáng tin cậy [4]. Phương pháp
kiểm soát chất lượng truyền thống vẫn tồn tại
những hạn chế đáng kể bao gồm tính gián
đoạn của việc thực hiện kiểm soát chất lượng
định kỳ có thể dẫn đến việc không phát hiện
các lỗi phân tích xảy ra giữa hai lần kiểm
soát liên tiếp, và vấn đề về tính giao hoán của
vật liệu kiểm soát chất lượng thương mại so
với mẫu bệnh phẩm thực tế do chúng thường
được đông khô và bổ sung các chất ổn định
[6].
Quy tắc Westgard được phát triển vào
những năm 1980 bởi James O. Westgard và
đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong kiểm soát
chất lượng phòng xét nghiệm, sử dụng biểu
đồ kiểm soát Levey-Jennings để phát hiện
các lỗi ngẫu nhiên và lỗi hệ thống [8]. Tuy
nhiên, mặc dù được sử dụng rộng rãi, quy tắc
Westgard có hạn chế đặc biệt là khả năng
phát hiện sớm các thay đổi tiệm tiến hoặc xu
hướng.
Moving Average (MA), còn được gọi là
kiểm soát chất lượng dựa trên kết quả bệnh
nhân theo thời gian thực (Patient-Based
Real-Time Quality Control - PBRTQC), là
phương pháp thay thế có thể bổ sung cho
kiểm soát chất lượng truyền thống bằng cách
sử dụng kết quả của bệnh nhân để tính toán
liên tục các giá trị trung bình động và sử
dụng chúng cho mục đích kiểm soát chất
lượng [5]. Phương pháp Moving Average
bao gồm các biến thể như MA10, MA20
(trung bình động của 10 hoặc 20 điểm gần
nhất) và Bollinger Bands (dải biên MA ±
1.5SD), có thể phát hiện sớm hơn một số loại
lỗi so với quy tắc Westgard truyền thống, đặc
biệt là các lỗi xu hướng và dịch chuyển nhỏ
[7].
Mặc dù quy tắc Westgard đã được áp
dụng rộng rãi trong hầu hết các phòng xét
nghiệm, phương pháp Moving Average vẫn
đang trong giai đoạn nghiên cứu và chưa
được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam. Do đó,
cần có nghiên cứu so sánh trực tiếp hiệu quả
phát hiện lỗi của hai phương pháp này trên
cùng một bộ dữ liệu trong điều kiện thực tế
tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm mục
đích đánh giá và so sánh hiệu quả của hai
phương pháp bằng cách phân tích hiệu quả
của quy tắc Westgard và phương pháp
Moving Average trong việc phát hiện bốn
loại lỗi phổ biến và đề xuất một chiến lược
tối ưu kết hợp cả hai phương pháp để cải
thiện hiệu quả kiểm soát chất lượng trong
phòng xét nghiệm.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô
phỏng lỗi trên dữ liệu nội kiểm thực tế có Six
Sigma cao với bốn loại lỗi phổ biến được mô
phỏng là lỗi dịch chuyển (shift error), lỗi xu
hướng (trend error), lỗi dao động (oscillation
error) và lỗi điểm ngoại lai (outliers). Hiệu
quả phát hiện lỗi được đánh giá thông qua số
điểm dữ liệu cần thiết để phát hiện lỗi (NEed
- Number of Episodes needed for Error
detection) đối với từng phương pháp. NEed
được định nghĩa là số điểm dữ liệu tối thiểu
kể từ khi lỗi bắt đầu xuất hiện cho đến khi

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
242
phương pháp kiểm soát chất lượng phát hiện
và đưa ra cảnh báo lần đầu tiên.
Dữ liệu nội kiểm được thu thập từ Bệnh
viện Phục hồi Chức năng Bình Thuận trong
thời gian 6 tháng, từ tháng 04/2024 đến
tháng 09/2024, bao gồm kết quả nội kiểm
hàng ngày của các xét nghiệm hóa sinh trên
máy AU480 (Beckman Coulter). Để đánh giá
hiệu quả phát hiện lỗi của các phương pháp
kiểm soát chất lượng, chúng tôi chọn xét
nghiệm TG High (Triglyceride nồng độ cao,
khoảng 150-400 mg/dL) có chỉ số Six Sigma
cao nhất (Sigma = 7.50) làm dữ liệu nền. Lý
do chọn xét nghiệm có Six Sigma cao bao
gồm tính ổn định ban đầu do xét nghiệm với
Six Sigma cao có sự biến thiên nội tại thấp,
giúp phân biệt rõ ràng giữa sự thay đổi do
mô phỏng lỗi và sự thay đổi ngẫu nhiên trong
quy trình phân tích, độ tin cậy của phát hiện
lỗi cũng được đảm bảo vì khi mô phỏng lỗi
trên nền dữ liệu ổn định, ta có thể chắc chắn
rằng các cảnh báo phát hiện được là do lỗi
mô phỏng gây ra, không phải do biến động
tự nhiên của phương pháp.
Dữ liệu gốc bao gồm 109 điểm dữ liệu
TG High liên tục, trong đó điểm 25 đến 85
được chọn làm vùng mô phỏng lỗi, còn các
điểm còn lại giữ nguyên giá trị gốc để mô
phỏng dữ liệu trước và sau khi khắc phục vấn
đề. Việc chọn vùng 25-85 (61 điểm) trong
tổng số 109 điểm nhằm đảm bảo có đủ dữ
liệu nền ổn định trước lỗi (24 điểm), tạo
vùng lỗi đủ dài để đánh giá hiệu quả phát
hiện, và giữ lại dữ liệu sau khắc phục (24
điểm) để đánh giá phản ứng của hệ thống. Số
lượng 24 điểm được chọn dựa trên khuyến
nghị của Westgard QC về cần tối thiểu 20
điểm dữ liệu để tính toán đáng tin cậy trung
bình và độ lệch chuẩn và nguyên tắc SPC
thường sử dụng 25 điểm dữ liệu để thiết lập
biểu đồ [3], đồng thời đảm bảo MA20 có đủ
dữ liệu nền để hoạt động hiệu quả.
Lỗi dịch chuyển được định nghĩa bằng
cách tăng đồng loạt tất cả các giá trị trong
vùng mô phỏng lỗi lên 2.5SD, tương đương
0.224 đơn vị, mô phỏng các tình huống thực
tế như thay đổi lô hóa chất, hiệu chuẩn
không chính xác, hoặc sự cố về thiết bị gây
ra sự dịch chuyển đột ngột của kết quả xét
nghiệm. Lỗi xu hướng được tạo ra bằng cách
tăng dần mỗi điểm trong vùng mô phỏng lỗi
thêm 0.02 đơn vị so với điểm trước đó, mô
phỏng sự suy giảm hiệu năng dần dần của
thuốc thử, hao mòn linh kiện, hoặc hiệu
chuẩn bị trôi theo thời gian. Lỗi dao động
được tạo ra bằng cách nhân độ lệch của mỗi
điểm so với giá trị trung bình với hệ số 2.0,
làm tăng biên độ dao động và mô phỏng tình
huống bất ổn định trong quy trình phân tích
như dao động nhiệt độ, độ ẩm, hoặc độ
không đồng nhất của mẫu. Lỗi điểm ngoại lai
được tạo ra bằng cách tăng giá trị của mỗi
điểm thứ 7 trong vùng mô phỏng lỗi lên
3.5SD, mô phỏng các lỗi ngẫu nhiên do sự cố
kỹ thuật tạm thời, nhiễu điện, hoặc lỗi đo
lường không hệ thống.
Dữ liệu được phân tích qua hai phương
pháp kiểm soát chất lượng song song gồm
quy tắc Westgard với việc áp dụng các quy
tắc tiêu chuẩn bao gồm 1:3s, 2:2s, R:4s, 4:1s,
10x và 1:2s trên biểu đồ Levey-Jennings, và
phương pháp Moving Average với bốn loại
chỉ báo được tính toán và đánh giá là MA10
(trung bình động của 10 điểm gần nhất),
MA20 (trung bình động của 20 điểm gần
nhất), Bollinger Bands (MA20 ± 1.5SD của
MA20), và MA Crossover (giao cắt trung
bình động) là kỹ thuật phát hiện xu hướng
thay đổi dựa trên sự giao cắt giữa hai đường
trung bình động có chu kỳ khác nhau (MA10
và MA20). Khi MA10 cắt lên trên MA20, tín
hiệu cho thấy xu hướng tăng; khi MA10 cắt
xuống dưới MA20, tín hiệu cho thấy xu
hướng giảm. Phương pháp này đặc biệt nhạy
cảm với các lỗi xu hướng do phản ứng nhanh

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 552 - THÁNG 7 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
243
với sự thay đổi hướng của dữ liệu. Các phân
tích thống kê và mô phỏng được thực hiện
bằng phần mềm Python (phiên bản 3.9) với
các thư viện pandas, numpy, matplotlib và
scikit-learn.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Biểu đồ Sigma Metrics (Hình 1) của các
xét nghiệm cho thấy TG High có Sigma
Metrics cao nhất (>7), thuộc mức "Excellent"
(>6σ) và là xét nghiệm duy nhất đạt mức
này. Với giá trị Sigma Metrics cao như vậy,
TG High có độ ổn định phân tích rất tốt, biến
thiên nội tại thấp, và do đó là lựa chọn lý
tưởng làm dữ liệu nền cho nghiên cứu mô
phỏng lỗi.
Hình 1. Six sigma của các xét nghiệm trong thời gian nghiên cứu
Hình 2. So sánh hiệu quả phát hiện lỗi của các phương pháp Westgard
và Moving Average cho các loại lỗi khác nhau

HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC – HỘI HÓA SINH Y HỌC VIỆT NAM NĂM 2025
244
(a) Lỗi dịch chuyển (Shift Error): +1.5s
từ điểm 25-85; (b) Lỗi xu hướng (Trend
Error): tăng dần từ điểm 25-85; (c) Lỗi dao
động (Oscillation Error): xen kẽ từ điểm 25-
85; (d) Lỗi điểm ngoại lai (Outliers): ngẫu
nhiên từ điểm 61-85. Biểu đồ trên mỗi panel:
dữ liệu QC gốc có lỗi. Biểu đồ dưới: kết quả
phát hiện của các phương pháp. Vùng tô màu
(điểm 25-85) là khu vực mô phỏng lỗi để
đánh giá hiệu quả phát hiện.
Kết quả so sánh hiệu quả phát hiện lỗi
cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các
phương pháp. Đối với lỗi dịch chuyển (Hình
2a), cả Bollinger Bands và MA Crossover
đều phát hiện lỗi rất sớm, chỉ sau 1 điểm dữ
liệu khi lỗi bắt đầu xuất hiện (NEed = 1),
trong khi quy tắc Westgard cần 5 điểm để
phát hiện ra lỗi (NEed = 5), sử dụng quy tắc
2:2s. Với lỗi xu hướng (Hình 2b), MA
Crossover phát hiện lỗi sau 2 điểm dữ liệu
(NEed = 2), Bollinger Bands phát hiện sau 2
điểm (NEed = 2), trong khi Westgard cần
đến 10 điểm mới phát hiện được (NEed =
10), sử dụng quy tắc 2:2s. Với lỗi dao động,
Westgard phát hiện sau 2 điểm dữ liệu bằng
quy tắc 1:3s (NEed = 2), tương đương với
Bollinger Bands cũng phát hiện sau 2 điểm
dữ liệu (NEed = 2) (Hình 2c). Với lỗi điểm
ngoại lai, cả Westgard và Bollinger Bands
đều có khả năng phát hiện cực kỳ nhanh, chỉ
cần 1 điểm dữ liệu sau khi xuất hiện lỗi
(NEed = 1), Westgard phát hiện thông qua
quy tắc 1:3s trong khi Bollinger Bands phát
hiện thông qua việc điểm dữ liệu vượt ra
ngoài dải ±1.5SD của MA20 (Hình 2d).
Tổng hợp kết quả cho thấy phương pháp
Moving Average có hiệu quả vượt trội trong
việc phát hiện lỗi dịch chuyển với NEed = 1
so với NEed = 5 của Westgard và lỗi xu
hướng với NEed = 2 so với NEed = 10 của
Westgard, trong khi cả hai phương pháp đều
có hiệu quả tương đương đối với lỗi dao
động và lỗi điểm ngoại lai với NEed = 2 và
NEed = 1 tương ứng.
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu này so sánh hiệu quả phát
hiện lỗi giữa phương pháp Westgard truyền
thống và phương pháp Moving Average, với
kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa
hai phương pháp trong việc phát hiện các
loại lỗi khác nhau. Đối với lỗi dịch chuyển,
kết quả thực nghiệm cho thấy phương pháp
Moving Average có hiệu quả vượt trội và sự
khác biệt này có ý nghĩa quan trọng trong
thực hành lâm sàng, đặc biệt khi xét nghiệm
được thực hiện theo ngày vì việc phát hiện
lỗi sớm hơn 4 ngày có thể giúp ngăn chặn
việc báo cáo khoảng 4 kết quả không chính
xác [5].
Đối với lỗi xu hướng, sự chênh lệch giữa
hai phương pháp còn lớn hơn với MA
Crossover phát hiện lỗi chỉ sau 2 điểm dữ
liệu trong khi Westgard cần tới 10 điểm để
phát hiện lỗi. Kết quả này nhấn mạnh một
trong những hạn chế lớn nhất của quy tắc
Westgard là khả năng phát hiện các xu
hướng tiệm tiến, vì lỗi xu hướng với mức
tăng 0.02 đơn vị/điểm có thể không đủ lớn để
kích hoạt các quy tắc Westgard ngay lập tức,
nhưng sau 10 ngày sẽ tích lũy thành sai số

