Bảo hiểm y tế cộng đồng
Nguyễn Văn Tuấn
Giới quan sát quốc tế nhận xét không sai rằng so vi các nước với nền kinh tế
tương đương cùng thu nhập, Việt Nam đã đạt được những thành quy tế đáng
khâm phục. Tuy nhiên, hthống y tế nước ta còn tồn tại rất nhiều vn đề cần phải
giải quyết. Một trong những vấn đề đó là bảo hiểm y tế cho dân số. Bài viết này
đề nghị một giải pháp bảo hiểm y tế cộng đồng.
Tính tthời điểm Đổi mi cho đến nay, nước ta đã đạt được nhiều thành
tựu y tế đáng kể. Tlệ tvong trẻ em và tr sinh giảm thấp n cnhững
nước trong vùng. Tuổi thọ trung bình hiện nay tương đương hay cao hơn các nước
trong vùng, tiếp tục gia tăng. Nhưng như là một hệ quả của phát triển kinh tế,
khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng ngày càng gia tăng, nhất là trong lĩnh
vc sức khỏe. Năm 1996, 34 triệu người không khả năng mua bảo hiểm y tế
hay thanh toán bệnh viện phí [1]. Tlệ tử vong trẻ em thuộc gia đình ngo vào
năm 1992 3,44% (tính trên số trẻ em mới sinh), và đến năm 1997, con số này
vẫn không giảm (3,36%); tuy nhiên, trong ng thời gian, tỉ lệ tử vong trẻ em
thuộc gia đình được xem là “không nghèo” giảm từ 3,94% xuống còn 2,45% [2].
Năm 1992, trong số 20% người nghèo nhất, 35% được xem là thiếu dinh dưỡng và
73% trem nằm trong nhóm “thiếu cân”; đến năm 1997, cũng trong số 20% người
nghèo nhất, tỉ lệ suy dinh dưỡng thậm ctăng lên đến 40%, và tlệ trẻ em thiếu
cân gim còn 69% [3]. Nói tóm lại, tính trung bình thì tình hình y tế nước ta
cải tiến tốt, song khoảng cách giữa người giàu và nghèo dẫn đến tình trạng thiếu
công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho người dân là một vấn đề nghiêm trọng.
Một xu hướng chung trên thế giới ngày nay các nước giàu chi tiêu
cho y tế nhiu hơn các nước nghèo, sức khỏe của họ nói chung tốt hơn so với
các nước nghèo. nước ta hiện nay, tổng số chi tiêu cho y tế chiếm khoảng 5,1%
tổng số GDP [4]. Tlệ này còn kkhiêm tốn, nếu so với 5,5% Trung Quốc,
6% ở Hàn quốc, 8% Nhật, và 9,2% ở Úc. Thật ra, đó chỉ là con strung bình,
theo một nghiên cứu chuyên sâu cho thấy các hộ nghèo nông thôn, chi tiêu cho y
tế chiếm khoảng 13% tổng thu nhập, so với c hộ “không nghèo” chi phí này ch
chiếm 3-5% ngân sách gia đình [5].
Theo một nghiên cứu ở các nước đang phát triển, kể cả Việt Nam, khoảng 1
phần 3 bệnh nhân đáng lẽ phải được điều trị ở bệnh viện nhưng không có khả năng
tài chính để nhập viện. Thực tế ở còn cho thy có không ít bệnh nhân phải … trốn
bệnh viện (dù trong tình trạng bệnh), vì không có tiền để thanh toán viện phí.
Phần lớn những người không có bảo hiểm y tế phải dựa vào hệ thống “mua
trả” (tức mua dịch vụ y tế và trtiền tại chỗ cho từng trường hợp). Bệnh nhân
đến km bác và trtiền thuốc và dịch vụ khám bệnh. Theo một ước tính, hệ
thống “mua trả”này chiếm đến 8% ngân sách gia đình của ni dân hiện nay.
Hthống này còn nguồn thu nhập chính của bác và những người cung cấp
dịch vụ y tế công cộng.
Thật ra, chi phí cho dịch vy tế không cao bằng so với chi phí cho thuốc
men. Thật vậy, tính trung bình, khoảng 70% ngân sách y tế gia đình chi tiêu cho
thuốc men. thnói rằng các cơ sở và nhân viên bán thuốc những nhà
cung cấp dịch v cứu viện, ch không phải nhà cung cấp dịch vụ sức khỏe.
Nhưng thực tế nước ta cho thấy đây lại là những nhà cung cấp sức khỏe, bởi vì
bệnh nhân nghèo không khnăng trả những dịch vụ y tế đắt tiền. các nước
đã phát triển, Nhà nước kiểm soát chặt chẽ hệ thống cung cấp thuốc cho bệnh
nhân, nhưng nước ta, phải nói rằng hệ thống kiểm soát các cơ sở bán thuốc còn
quá lỏng lẻo. Điều này dẫn đến lạm phát giá thuốc đến nổi nhiều bệnh nhân chỉ
chchết vì không có khả năng mua thuốc.
Giải pháp nào ?
Năm 1993, chính ch bảo hiểm y tế ra đời. Theo đó tất cả các công nhân
viên chức nhà nước bắt buộc phải đóng bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, trong dân số nói
chung, sni tự nguyện mua bảo hiểm còn khá thp. Sau một m chính sách
bảo hiểm y tế ra đời, chỉ 1% dân số mua bảo hiểm; đến m 1997, con snày
5,5%; con sdự kiến hiện nay là trên dưới 13%. Nói cách khác, ít nhất là
85% dân skhông bảo hiểm y tế [6]. Điều này không ngạc nhiên, thu nhập
của phần lớn nông dân vẫn còn thấp (trung bình mỗi ngày khoảng 25.000Đ đến
40.000Đ), do đó đối với họ, bảo hiểm y tế vẫn là một nhu cầu xa xỉ [7].
Tăng đầu của Nnước để nâng cao cơ sở vật chất y tế. Trong khi
sngười cao tuổi nước ta tăng dần hàng m, nhưng svật chất cho y tế thì
không tăng. Hiện nay, sngười trên 60 tuổi chiếm khoảng 6,7% tổng dân số, và
con snày dkiến sẽ gia tăng nhanh trong vòng 10 năm tới vì tuổi thọ trung bình
stăng từ 71 tuổi lên khoảng 75 tuổi. Hthống y tế phải phát triển theo nhu cầu
gia tăng dân số, nhưng rất tiếc trong vòng mt thập niên qua, sbệnh viện
nước ta không tăng. Chẳng hạn n năm 1997, cả nước 13.269 cơ sở y tế,
nhưng đến năm 2005, con số này giảm xuống còn 13.243 [8].
Vẫn theo số liệu của Bộ Y tế, tổng số giường bệnh trong năm 1997 là
khoảng 198 ngàn, nhưng đến năm 2005, con số này giảm xuống còn 197 ngàn. Vì
gia tăng dân số, cho nên sgiường bệnh tính trên 10.000 dân sgiảm từ 26,6 m
1997 xuống còn 23,7 năm 2005 [8]. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy tất cả các
bệnh viện đều qtải. Nhiều bệnh viện, hai, thậm chí ba, bệnh nhân phải nằm
cùng một giường! Tình trạng này, đối với các nước tiên tiến, là một khủng hoảng
y tế, nhưng nước ta, thì tình trạng này vẫn kéo dài hết m này sang m khác,
mà có khi còn trầm trọng hơn [9].
Kinh nghim Úc cho thấy hệ thống bảo hiểm y tế tư nhân chbổ sung,
chứ không thể thay thế hệ thống chăm sóc sức khỏe của Nhà nước. Nói cách khác,
không còn con đường nào khác: Nhà nước phải tăng ngân sách y tế. Hiện nay, đầu
của Nhà nước cho y tế còn quá khiêm tốn. Thật vậy, trong tổng số chi tiêu cho
y tế của cả nước, Nhà nước chỉ đóng góp khoảng 28%, phần còn lại (72%) là t
dân hay nhân [4]. Ngoài ra, chi tiêu của Nhà nước cho y tế chỉ chiếm 6,1%
tổng số chi tiêu của Nhà nước. Tỉ lệ này còn khiêm tốn so với các nước láng giềng
như Campuchea (16%), Lào (khoảng 7%), Mã Lai (6,5%), Trung Quốc (10%, và
Nhật (16.4%). Trong tương lai, có lNhà nước phải dành ít nhất là 10% GDP cho
y tế.
Bảo hiểm y tế cộng đồng (BHYTCĐ). Như đề cập trên, trong khi người
nghèo phải chi đến 13% ngân sách gia đình cho y tế, nhưng hơn 80% hộ nghèo
không bảo hiểm y tế, và vấn đề đặt ra nhiều thách thức cho viện chăm sóc sức
khỏe cho người nghèo. Một giải pháp đã được thực hiện thành công Trung
Quốc [10] và một số nước nền kinh tế phát triển tương đương như nước ta là
bảo hiểm y tế cộng đồng. Mục tiêu của chương trình BHYTCĐ phổ quát hóa
bảo hiểm y tế bìn diện cho toàn quốc, bằng cách huy động và sdụng ngân quĩ
tđịa phương và ngoài địa phương, kể cả ngoài hthống y tế, dựa vào nguyên tắc
tnguyện. Triết của chương trình này “lá lành đùm rách” (tương trợ xã
hội): người giảu hỗ trợ người nghèo, người có việc làm hỗ trợ người không có việc
làm, và người khỏe mạnh hỗ trợ người có bệnh.
Tùy theo quốc gia, chương trình BHYTCĐ dựa vào stự nguyện của dân
trong các làng nông thôn, và nguyên tắc hoạt động cũng giống như Quĩ tín
dụng hiện khá thành công nông thôn. Chương trình BHYTCĐ có thđược quản
bởi chính quyền địa phương, công ti nhân (không lấy lời), hay S Y tế tỉnh
hay Sthương binh xã hội. Một hội đồng quản trị được bầu ra để quản quĩ
BHYTCĐ, và công khai tất cả chi thu.
Theo chương trình BHYTCĐ, mỗi làng cn vận động khoảng 60% các
hđóng góp vào quĩ y tế như một hình thức đầu cho sức khỏe. Quĩ thể
hình thành từ hai nguồn: trích khoảng 1,5 đến 2% thu nhập,Nhà nước đóng góp
khoảng 0,2 đến 0,5% GDP. (các nước Phi châu, ngay cả niên lim 5% đến 10%
ngân sách gia đình được xem là quá đắt và rt ít người tham gia). Ở Thái Lan, sau
12 năm triển khai chương trình, hiện nay tỉ lệ dân số tham gia vào chương
BHYTCĐ chỉ 35%, nhưng quĩ thể cung cấp bảo hiểm cho 100% n số [11].
Quĩ BHYTCĐ chi cho các dịch vụ như khám thai, tiêm vắc-xin cho tr em dưới 8
tuổi, dịch vụ cứu thương, chi phí một số ngày nằm bệnh viện mỗi năm cho hội
viên. Qua thực tế triển khai tại các nước đang phát triển ở Phi châu và Á châu, quĩ
BHYTCĐ chẳng những tiết kiệm ngân sách gia đình còn cung cấp một
chắn” hữu hiệu cho các hộ nghèo khi có vấn đề bệnh tật [12].
Thật ra, chương trình BHYTCĐ cũng từng được giới thiệu Việt Nam,
nhưng việc triển khai chương trình vẫn còn gặp nhiều kkhăn. Do đó, cần phải
nghiên cứu tm vtính khả thi và lợi ích của chương trình đối với các hộ nghèo
nông dân. Kinh nghiệm triển khai chương trình BHYTCĐ các nước đang
phát triển cho thấy, một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào
chương trình: tiền niên lim và uy tín của chính quyền địa phương trong việc quản
lí chương trình.
Ngày nay, nước ta càng ngày càng có ít người chết vì những bệnh truyền
nhiễm, nhưng phần đông chết vì những bệnh liên quan đến ăn uống và thừa thải
thực phẩm, và việc điều trị thường quá khả ng tài chính của bệnh nhân. Những
bệnh thường hay gặp nhất nông thôn ngày nay là: cao huyết áp, tiểu đường,
khớp xương, tim mạch và tai biến mạch máu não. Chi phí cho điều trị, phần lớn là