TẠP CHÍ Y häc viÖt nam tẬP 486 - th¸ng 1 - 1&2 - 2020
89
BIẾN ĐỔI NĂNG LƯNG SÓNG ALPHA, SÓNG DELTA VÀ SÓNG THETA
TRÊN ĐIỆN NÃO BNH NHÂN TÂM THN PHÂN LIT
Đinh Việt Hùng*, Nguyễn Minh Hải*,
Cao Tiến Đức*, Trần Hải Anh
TÓM TT23
Mc tiêu: Tìm hiểu đặc điểm năng lượng ca
sóng alpha, sóng delta và sóng theta trên các bn ghi
đin não bnh nhân tâm thn phân lit (TTPL).
Phương pháp nghiên cứu: Phân tích v ch s năng
ng ca sóng alpha, sóng delta sóng theta trên
230 bệnh nhân TTPL được điều tr ti Khoa Tâm thn,
Bnh vin Quân y 103 so sánh vi 94 người
trưng thành khe mnh. Kết qu nghiên cu:
Năng lượng ng alpha nhóm bnh thấp hơn ý
nghĩa thống kê so vi nhóm chng điện não đồ nn,
trong khi đó năng ng sóng delta sóng theta
nhóm bnh lại cao hơn ý nghĩa thống so vi
nhóm chng đin não nn. nghim pháp kích
thích ánh sáng thì s biến đổi năng lượng sóng alpha,
sóng delta sóng theta chỉ những tính chất hoạt
động bình thường của các sóng điện não trên điện
não. Kết lun: Kết qu nghiên cứu này đưa ra bằng
chng v s biến đổi năng lượng sóng alpha, sóng
delta và sóng theta trên điện não bnh nhân TTPL.
T khóa:
Tâm thn phân lit, năng lượng, ng
alpha, sóng delta, sóng theta.
SUMMARY
CHANGES IN THE ENERGY OF ALPHA
WAVES, DELTA WAVES AND THETA WAVES
IN ELECTROENCEPHALOGRAMS OF
SCHIZOPHRENIA PATIENTS
Objectives: Investigated energy properties of
alpha waves, delta waves and theta waves from
electroencephalography (EEG) recordings in patients
with schizophrenia (SCZ). Methods: Analyzed energy
of alpha waves, delta waves and theta waves in 230
SCZ patients treated at Department of Psychiatry,
Military Hospital 103, which were then compared to
those in 90 healthy subjects. Results: Mean energy
of alpha waves in SCZ patients were significantly
lower than those in healthy subjects in basic
background EEG, when energy of delta waves and
theta waves was significantly higher than those in in
basic background EEG. In intermittent photic
stimulation test the changes in the energy of the
alpha, delta and theta waves are just the normal
properties of the brain wave in EEG recordings.
Conclusions: The present study provided new
evidence for changes in the energy of alpha waves,
delta waves and theta waves in EEG recordings from
patients with schizophrenia.
*Học viện Quân y
Chịu trách nhiệm chính: Trần Hải Anh
Email: anhhtr@yahoo.com
Ngày nhận bài: 22.10.2019
Ngày phản biện khoa học: 24.12.2019
Ngày duyệt bài: 30.12.2019
Keywords:
Schizophrenia, energy, alpha wave,
delta wave, theta wave.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tâm thn phân lit (TTPL) một bệnh loạn
thần nặng tiến triển từ từ, khuynh hướng
mạn tính, làm cho người bệnh dần dần tách khỏi
cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên
trong, mt dn kh ng lao đng kh ng
t chăm sóc bản thân. Các nghiên cu v dch t
hc cho thy TTPL chiếm t l khong 1,5 trên
10000 người dân [1]. T chc Y tế Thế gii xếp
TTPL mt trong 10 gánh nng bnh tt hàng
đầu trên thế giới [2]. Do đó, phát hin và có các
bin pháp can thip sm nhng gii pháp góp
phần ngăn chặn tiến trin ca bnh. Các nghiên
cu gn đây cho thấy nhng biến đổi sm
trên bnh nhân TTPL điện não. Hơn nữa, năng
ợng sóng alpha, sóng delta và sóng theta được
cho liên quan đến các ri lon trong TTPL
[3]. Bi vy, chúng tôi tiến hành nghiên cu này
nhm:
phân tích s biến đổi năng lượng sóng
alpha, sóng delta sóng theta trên đin não
bnh nhân TTPL.
II. ĐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
2.1. Đối tượng nghiên cu: 230 bnh
nhân TTPL được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của
Tổ chức y tế Thế giới (ICD-10F năm 1992) về rối
loạn tâm thần hành vi được điều tr ti Khoa
Tâm thn, Bnh vin Quân y 103 t tháng 2
năm 2017 đến tháng 3 năm 2018. Các bệnh
nhân được la chn phải đáp ng tiêu chí không
các bệnh thể nặng như: dị ứng, viêm gan
cấp mạn tính, gan, nhiễm khuẩn cấp hoặc
mạn tính, không bị các bệnh nội tiết, tim mạch,
tiêu hoá, hấp khác… Những bệnh nhân mắc
các bệnh thực tổn của não hay di chứng các
bệnh của não-màng não, bệnh nhân động kinh,
chậm phát triển tâm thần, bệnh nhân nghiện ma
tuý hay các chất tác động tâm thần khác các
loại rối loạn tâm thần khác đều bị loại trừ. Nhóm
chứng gồm 94 người kho mạnh, bình thường
phù hợp với nhóm bệnh nhân nghiên cứu v
tuổi, giới tính một số điều kiện khác, t
nguyn tham gia nghiên cu này.
2.2. Phương pháp nghiên cu: Nghiên
cu tiến cu, ct ngang, t trường hp. Đin
não bệnh nhân được ghi trong vòng 5 ngày đầu
vietnam medical journal n01&2 - january - 2020
90
sau khi vào viện. Đối với người bình thường
trước khi ghi điện não 3 ngày không dùng thuc
kích thích, an thn hoc gây ng, không tình
trng mt ng đêm hôm trước, mt mỏi, đói.
Điện não được ghi ti phòng ghi điện não yên
tĩnh, thoáng mát, vào 8 đến 11 gi sáng, trên tt
c đối tượng nghiên cứu. Phương pháp ghi đin
não được tiến hành theo quy trình ghi điện não
thường quy ca B Y tế [4]. Các thông số định
lượng điện não đồ thực hiện trên phần mềm
EEGLab v13.4.4b chạy trên môi trường MatLab
2017 (The Mathworks Inc). Phân tích các bản
ghi tại Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh
viện Quân y 103 - Học viện Quân y.
2.3. Phân tích s liu: Ch s năng lượng
điện não được phân tích bằng phương pháp so
sánh phương sai hai nhân t không lp bng
phn mm thng kê t động SPSS 20.0. S khác
biệt ý nghĩa thống được xác đnh vi p <
0,05. Kết qu nghiên cứu được biu din dưới
dng x
± SD.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Sóng alpha
3.1.1. Điện não nn
Biểu đồ 3.1. Năng lượng sóng alpha ở điện
não nền
Biểu đồ 3.1 th hiện năng lượng sóng alpha
đin não nn gia hai nhóm nghiên cu. S
dụng phương pháp so sánh phương sai hai nhân
t không lp cho thy s tương tác gia hai
nhân t kênh ghi nhóm nghiên cu ý
nghĩa thống [F(11, 3888)=6,516; p<0,001].
s khác biệt ý nghĩa thng v nhóm
[F(1, 3888)=201,387; p<0,001] kênh ghi
[F(11, 3888)=214,451; p<0,001]. Phân tích u
cho thấy: Năng lượng sóng alpha nhóm bnh
thấp hơn ý nghĩa thng so vi nhóm
chng hu hết các kênh ghi tr vùng trung
tâm hai bên (Bonferroni test; p<0,01).
3.1.2. Nghim pháp kích thích ánh sáng
Biểu đồ 3.2. Năng lượng sóng alpha ở
nghiệm pháp kích thích ánh sáng
Biểu đồ 3.2 th hiện năng lượng sóng alpha
nghim pháp kích thích ánh sáng gia hai nhóm
nghiên cu. S dụng phương pháp so sánh
phương sai hai nhân t không lp cho thy s
tương c giữa hai nhân t kênh ghi và nhóm
nghiên cứu ý nghĩa thống [F(11,
3888)=14,562; p<0,001]. s khác bit ý
nghĩa thống v nhóm [F(1, 3888)=71,678;
p<0,001] kênh ghi [F(11, 3888)=121,273;
p<0,001]. Phân tích sâu cho thấy: Năng lượng
sóng alpha cao hơn ý nghĩa so với nhóm
chng vùng trán trưc trái (Bonferroni test;
p<0,001) và thp hơn có ý nghĩa thống kê so vi
nhóm chng vùng chẩm, vùng đỉnh vùng
thái dương hai bên (Bonferroni test; p<0,05).
3.2. Sóng delta
3.2.1. Điện não nn
Biểu đồ 3.3. Năng lượng sóng delta ở điện
não nền
Biểu đồ 3.3 th hiện năng lượng sóng delta
đin não nn gia hai nhóm nghiên cu. S
dụng phương pháp so sánh phương sai hai nhân
t không lp cho thy s tương tác gia hai
nhân t kênh ghi nhóm nghiên cu ý
TẠP CHÍ Y häc viÖt nam tẬP 486 - th¸ng 1 - 1&2 - 2020
91
nghĩa thống kê [F(11, 3888)=2,227; p<0,05]. Có
s khác biệt ý nghĩa thng v nhóm [F(1,
3888)=113,657; p<0,001] nh ghi [F(11,
3888)=40,901; p<0,001]. Gia hai nhóm nghiên
cứu, năng lượng sóng delta nhóm bnh cao
hơn ý nghĩa thống so vi nhóm chng
hu hết các vùng, ngoi tr vùng đỉnh trái
(p<0,05). Đc bit, s khác bit nhiu nht
đưc thy vùng trán trưc hai bên. Gia các
kênh ghi, nhóm bệnh, ng lượng sóng delta
cao nht vùng trán trước hai n thp nht
vùng trung tâm trong khi nhóm chng, sóng
delta ưu thế vùng thái dương hai bên vi s
khác biệt là có ý nghĩa thng kê (p<0,01).
3.2.2. Nghim pháp kích thích ánh sáng
Biểu đồ 3.4. Năng lượng sóng delta
nghiệm pháp kích thích ánh sáng
Biểu đồ 3.4 th hin kết qu v năng lượng
sóng delta nghim pháp kích thích ánh sáng.
S dụng phương pháp so sánh phương sai hai
nhân t không lp cho thy s tương tác giữa
hai nhân t kênh ghi và nhóm nghiên cu là có ý
nghĩa thống [F(11, 3888)=5,911; p<0,001].
s khác biệt có ý nghĩa thng v nhóm
[F(1, 3888)=159,719; p<0,001] kênh ghi
[F(11, 3888)=65,810; p<0,001]. Gia hai nhóm
nghiên cứu, năng lượng sóng delta nhóm bnh
cao hơn ý nghĩa thống so vi nhóm
chng hu hết các kênh, ngoi tr vùng chm
trái ng đnh trái vi p<0,05. Đc bit, s
khác bit nhiu nhất đưc thy vùng trán
trước hai bên. Gia các kênh ghi, nhóm bnh,
năng lượng sóng delta cao nht vùng trán
tc hai bên thp nht vùng trung tâm
trong khi nhóm chứng, sóng delta ưu thế
vùng thái dương hai bên vi s khác bit ý
nghĩa thống kê (p<0,01).
3.3. Sóng theta
3.3.1. Đin não nn
Biểu đồ 3.5. Năng lượng sóng theta ở điện
não nền
Biểu đồ 3.5 th hin kết qu v năng lượng
sóng theta đin não nn. S dụng phương
pháp so sánh phương sai hai nhân t không lp
cho thy s tương tác gia hai nhân t kênh ghi
nhóm nghiên cứu ý nghĩa thống
[F(11, 3888)=2,594; p<0,01]. s khác bit
ý nghĩa thống kê v nhóm [F(1,
3888)=83,541; p<0,001] kênh ghi [F(11,
3888)=42,584; p<0,001]. Gia hai nhóm nghiên
cứu, năng lượng sóng theta nhóm bnh cao
hơn ý nghĩa thống so vi nhóm chng
vùng trán trước hai bên, vùng trán bên trái,
vùng trung tâm hai bên vùng chm bên phi
(Bonferroni test; p<0,05). Gia các kênh ghi,
nhóm bệnh, năng lượng sóng theta cao nht
vùng trán trước vùng chm hai bên thp
nht vùng trung tâm trong khi nhóm chng,
sóng theta ưu thế vùng chm hai n vi s
khác biệt là có ý nghĩa thng kê (p<0,01).
3.3.2. Nghim pháp kích thích ánh sáng
Biểu đồ 3.6. Năng lượng sóng theta ở
nghiệm pháp kích thích ánh sáng
Biểu đ 3.6 th hiện năng lượng sóng theta
nghim pháp kích thích ánh sáng gia hai nhóm
nghiên cu. S dụng phương pháp so sánh
phương sai hai nhân t không lp cho thy s
tương c giữa hai nhân t kênh ghi và nhóm
nghiên cứu ý nghĩa thống [F(11,
3888)=11,168; p<0,01]. Có s khác bit ý
nghĩa thống v nhóm [F(1, 3888)=101,725;
vietnam medical journal n01&2 - january - 2020
92
p<0,001] kênh ghi [F(11, 3888)=103,133;
p<0,001]. Năng lượng sóng theta nhóm bnh
cao hơn so với nhóm chng vùng trán trước,
vùng trán và vùng trung tâm hai bên (Bonferroni
test; p<0,05). S khác bit gia nhóm bnh
nhóm chng ng nht vùng trán trước hai
bên. nhóm bệnh, năng lượng sóng theta cao
nht vùng trán trước hai bên trong khi nhóm
chứng năng lượng sóng theta không s ưu
thế rõ ràng vùng nào.
IV. BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu hiện nay, chúng tôi nhận
thấy năng lượng sóng delta, sóng theta nhóm
bệnh nhân TTPL cao hơn ở nhóm chứng hầu
hết các vùng vỏ não được ghi. Đặc biệt, năng
ợng sóng delta, sóng theta tăng mạnh nhất
vùng trán trước hai bên một phần ở vùng trán
bên trái. Ngược lại, năng lượng sóng alpha
nhóm bệnh nhân thấp hơn so với nhóm chứng
những người khỏe mạnh cùng lứa tuổi với
người bệnh. Những kết quả này rất đáng quan
tâm trên người bệnh TTPL khi được chú ý đến giá
trị của năng lượng của các sóng trên điện não.
Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi
gợi ý rằng trên bệnh nhân TTPL, hoạt động của
sóng delta, sóng theta tăng hoạt động của
sóng alpha giảm so với đối tượng những
người khỏe mạnh. Sự biến đổi hoạt động của
các sóng điện não đánh giá sự mất cân bằng
giữa hoạt động ức chế hưng phấn trên v
não bệnh nhân TTPL. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Moeini M.
cs (2014) khi phân ch đin não 40 bệnh
nhân TTPL 40 người khỏe mạnh với 23 điện
cực thì tác giả thấy năng lượng sóng alpha xu
hướng giảm bệnh nhân so với các người khỏe
mạnh (p<0,05); đồng thời điện não nền tác
giả thấy sóng chiếm ưu thế của vùng chẩm
bệnh nhân sóng delta (khác biệt nhất về
công suất). Ngoài ra tác gicòn thấy rằng s
giảm đáng kể công suất sóng alpha với người
khỏe mạnh (p<0,05) từ 46,3% xuống 29,1%
[5]. Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng
năng lượng sóng theta bệnh nhân tăng so với
nhóm người khỏe mạnh, kết quả này giống như
kết quả của Kim J.W. cs (2015) cũng thấy
hoạt động sóng theta khác biệt đáng kể giữa các
vùng: cao nhất vùng chẩm thấp nhất
vùng trung tâm (F = 3,510; p=0,034; df=1,881)
[6]. Với Mitra S. cs (2017) cũng thấy rằng
công suất sóng theta tăng trên 15 bệnh nhân
TTPL vùng trán trước bên trái vùng thái
dương trái so với người khỏe mạnh [7].
Trong đó, chú ý rằng sóng delta, sóng theta
thể hiện sự ức chế của vỏ não và sóng alpha thể
hiện hoạt động hưng phấn vỏ não. Sự tăng
hoạt động của sóng delta, sóng theta trong khi
giảm hoạt động của sóng alpha thể hiện sự tăng
hoạt động ức chế giảm hoạt động hưng phấn
trên vỏ não bệnh nhân tâm thần phân liệt
TTPL. Đặc biệt, sự ng hoạt động của sóng
delta, sóng theta vùng trán trước hai bên cũng
rất đáng được chú ý. Vùng trán trước là vùng v
não liên quan đến hoạt động nhận thức cảm
xúc cao cấp của con người. Nghiên cứu của
chúng tôi về năng lượng sóng delta cũng phù
hợp với kết quả của Begić D. và cs (2011) đưa ra
nhận định hoạt động sóng delta bệnh nhân
tâm thần phân liệt tăng hơn so với những
người khỏe mạnh, trong đó công suất cao nhất là
vùng trán trước bên phải thấp nhất vùng
thái dương trái [8]. Sự tăng hoạt động của các
sóng chậm giảm hoạt động của sóng nhanh
vùng trán trước hai bên trên điện não bệnh
nhân TTPL thể là sự phản ánh hoạt động nhận
thức cao cấp ở bệnh nhân TTPL bị ức chế [9].
Hơn nữa, kết quả của chúng tôi cũng ghi
nhận được có sự khác biệt về năng lượng sóng ở
các vùng khác nhau của vỏ não cũng như sự
khác biệt khi thực hiện c nghiệm pháp chức
năng bản trong điện o như nghiệm pháp
kích thích ánh sáng. Tuy nhiên, sự biến đổi này
cũng thấy được nhóm chứng những người
khỏe mạnh. vậy, chúng tôi cho rằng những
biến đổi năng lượng sóng theo vùng ghi theo
nghiệm pháp chức ng chỉ những tính chất
hoạt động bình thường của các sóng điện não
trên điện não.
V. KẾT LUẬN
Phân tích điện não đồ vi s biến biến đổi
năng lượng sóng alpha, sóng delta và sóng theta
trên đin não bnh nhân TTPL so sánh vi
nhóm chng khe mnh cho thy:
Năng lượng ng alpha nhóm bnh thp hơn
có ý nghĩa thống so vi nhóm chng hu
hết các kênh ghi tr vùng trung m hain.
Năng lượng sóng delta nhóm bnh cao
hơn ý nghĩa thống so vi nhóm chng
hu hết các kênh, ngoi tr vùng đỉnh trái, đặc
bit s khác bit nhiu nhất được thy vùng
trán hai bên.
Năng ợng sóng theta cao hơn so với nhóm
chng vùng tn trước hai bên, vùng trán bên trái,
vùng trung tâm hai bên và vùng chm bên phi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. McGrath J, Saha S, Chant D, et al. (2004)
“Schizophrenia: a concise overview of incidence,
prevalence, and mortality”, Epidemiologic Reviews,