
quan tâm đến quá trình DH, phương pháp DH HSKT. Tuy nhiên, theo những tài liệu
chúng tôi tập hợp được thì chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về DHĐH
cho HSKT nói chung và HS KTTT nói riêng.
Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận án là “Biện
pháp dạy học đọc hiểu cho học sinh khuyết tật trí tuệ học hòa nhập đầu cấp tiểu học”,
mong muốn đề xuất các biện pháp phát triển KN ĐH cho HS KTTT học hòa nhập đầu
cấp TH, góp phần nâng cao chất lượng GDHN cho HS KTTT trong trường TH hòa
nhập.
2. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về dạy học đọc hiểu ở cấp tiểu học
Chúng tôi nghiên cứu các công trình của các tác giả nước ngoài như: Rouch và
Birr (1984), Kemba A. N’Namdi (2005), Paula J. Clarke (2013), R. Goigoux và S.
Cèbe (2011), J. Oakhill, K. Cain và C. Elbro (2015),… và các tác giả Việt Nam như:
Trần Đình Sử (2007, 2011), Nguyễn Thanh Hùng (2011), Trịnh Thị Cẩm Ly (2017),
Phạm Thị Huệ (2010), Lê Phương Nga (1995, 2001, 2009, 2014), Lê Phương Nga và
Nguyễn Trí (1999), Nguyễn Thị Hạnh (1995, 1996, 2002), Phạm Thị Thu Hương
(2012), Nguyễn Thị Hạnh và Trần Thị Hiền Lương (2020),... Tổng quan về các công
trình nghiên cứu về DHĐH ở TH, chúng tôi nhận thấy rằng các tác giả quan tâm nhiều
đến tiến trình DHĐH VB với các bước cụ thể, phương pháp DHĐH và các công cụ
đánh giá HS trong quá trình dạy và học.
Việc tiếp cận xu hướng về CT GDPT năm 2018 đã một lần nữa khẳng định ĐH
và NL ĐH là một yếu tố quan trọng trong quá trình GD nhằm phát huy tối đa khả năng
của HS. Các nghiên cứu của các nhà GD Việt Nam ngày càng gần hơn với xu thế GD
của một số nước tiên tiến trên thế giới. Vấn đề nghiên cứu về ĐH ngày càng được
nhiều nhà khoa học, nhà GD quan tâm. Những nghiên cứu cụ thể trên ngôn ngữ tiếng
Việt đã làm sáng tỏ những lí thuyết về ĐH cũng như ứng dụng thực tiễn các nghiên
cứu vào giảng dạy ở các cấp học, bậc học.
2.2. Những nghiên cứu về dạy học đọc hiểu cho học sinh khuyết tật trí tuệ đầu cấp
tiểu học
Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi nghiên cứu một số tài liệu của các tác giả
nước ngoài như: Thomas (1996), Polloway, Patton, và Serna (2001), Katims (2001),
Houston và Torgeson (2004), Bradford, Shippen, Alberto, Houschins và Flores (2006),