intTypePromotion=1
ADSENSE

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những yêu cầu đặt ra trong đào tạo ở các trường cao đẳng hiện nay

Chia sẻ: ViColor2711 ViColor2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

76
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh trên lĩnh vực vật lí và sinh học với trung tâm là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ na-nô… để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những yêu cầu đặt ra trong đào tạo ở các trường cao đẳng hiện nay

VJE Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 15-19<br /> <br /> <br /> <br /> CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA<br /> TRONG ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG HIỆN NAY<br /> Nguyễn Văn Liên - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng<br /> <br /> Ngày nhận bài: 10/01/2019; ngày sửa chữa: 18/01/2019; ngày duyệt đặng: 24/01/2019.<br /> Abstract: The Industrial Revolution 4.0 is the one, that based on digital technology and integrates<br /> all smart technologies in the field of physics and biology, the center is the development of artificial<br /> intelligence (AI), Internet of things (IoT), big data, nanotechnology,... to optimize production<br /> processes and methods. Achievements of the Fourth Industrial Revolution have created crucial<br /> foundations for improving quality of education and training in general, and of training in the<br /> colleges in particular. At the same time, this set new requirements for training in educational<br /> institutions.<br /> Keywords: Fourth Industrial Revolution, training, colleges.<br /> <br /> 1. Mở đầu nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo.<br /> Các trường cao đẳng (TCĐ) ở nước ta là những cơ sở Cuộc CMCN này được định nghĩa là một cụm thuật ngữ<br /> đào tạo giữ vị trí, vai trò rất quan trọng trong đào tạo cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi<br /> “nguồn nhân lực (NNL) có kiến thức, kĩ năng và trách giá trị đi cùng với các hệ thống vật lí trong không gian<br /> ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và Internet của các dịch<br /> nhiệm nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo<br /> vụ (IoS).<br /> đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kĩ thuật công nghệ của thị<br /> trường lao động trong nước và quốc tế” [1]. Đặc biệt, Trong lịch sử loài người, cho đến hiện nay đã trải qua<br /> 4 cuộc CMCN khác nhau. Nếu như cuộc CMCN đầu tiên<br /> trong bối cảnh hiện nay, để nâng cao chất lượng đào tạo,<br /> trên thế giới được bắt đầu ở nước Anh vào cuối thế kỉ<br /> đòi hỏi các nhà trường cần phải nhận thức đúng đắn về<br /> XVIII đầu thế kỉ XIX với khâu đột phá là sử dụng năng<br /> cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) và những<br /> lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc<br /> yêu cầu đặt ra trong đào tạo, từ đó làm cơ sở để có những CMCN lần 2 được khởi xướng từ cuối thế kỉ XIX, kéo<br /> hành động, bước đi phù hợp nhằm đào tạo được NNL dài đến đầu thế kỉ XX diễn ra nhờ ứng dụng điện năng<br /> đáp ứng tốt với yêu cầu của thực tiễn; phù hợp với mục để sản xuất hàng loạt. Bên cạnh đó, những nguồn năng<br /> tiêu, yêu cầu đào tạo và đặc điểm, điều kiện cụ thể của lượng mới hết sức phong phú và vô tận như năng lượng<br /> từng nhà trường [2]. nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng<br /> 2. Nội dung nghiên cứu lượng thủy triều… cũng được tìm ra để thay thế cho<br /> 2.1. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu về nguồn năng lượng cũ. Cuộc CMCN lần 3 diễn ra vào<br /> nguồn nhân lực trước thách thức trong thời kì mới những năm 1970 với đặc trưng sử dụng điện tử và công<br /> Có thể thấy, trong lịch sử, thế giới đã trải qua ba cuộc nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất… thì bây giờ,<br /> CMCN với những bước phát triển nhảy vọt về khoa học, cuộc CMCN 4.0 đang nảy nở từ cuộc CMCN lần 3, nó<br /> công nghệ và làm thay đổi toàn diện về mọi mặt đời sống kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới<br /> con người cũng như sự phát triển của nhân loại. Hiện nay, giữa vật lí, kĩ thuật số và sinh học. Bản chất của cuộc<br /> thế giới đang bước vào cuộc CMCN lần thứ Tư. Theo cách mạng này là dựa trên nền tảng công nghệ số và sự<br /> Gartner, CMCN 4.0 xuất phát từ khái niệm “Industrie tích hợp các công nghệ thông minh trên lĩnh vực vật lí,<br /> 4.0” trong một báo cáo của Chính phủ Đức năm 2013. sinh học với trung tâm là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo<br /> Industrie 4.0 kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất (AI), vạn vật kết nối (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), công<br /> thông minh để tạo ra sự hội tụ kĩ thuật số giữa công nghệ nano… Cụ thể như: Trên lĩnh vực công nghệ sinh<br /> nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong. học, cuộc CMCN 4.0 tập trung vào nghiên cứu để tạo ra<br /> Đề cập về vấn đề này, tác giả Klaus Schwab - Chủ tịch những bước nhảy vọt trong Nông nghiệp, Thủy sản, Y<br /> Diễn đàn Kinh tế Thế giới, trong Diễn đàn Kinh tế Thế dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng<br /> giới (WEF) lần thứ 46 với chủ đề “Cuộc cách mạng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu. Trong lĩnh vực Vật lí,<br /> Công nghiệp lần thứ 4” được tổ chức ngày 20/01/2016 cuộc cách mạng này đã nghiên cứu, chế tạo ra những<br /> tại thành phố Davos-Klosters của Thụy Sĩ cho rằng cuộc robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới<br /> CMCN 4.0 là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công (graphene, skyrmions…) và công nghệ nano đã và đang<br /> <br /> 15 Email: vanliennguyenvn@gmail.com<br /> VJE Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 15-19<br /> <br /> <br /> tạo điều kiện cho sản xuất thông minh được thực hiện chuyển dịch từ nhân công sang máy móc sẽ gia tăng sự<br /> rộng rãi [3], [4]. chênh lệch giữa lợi nhuận trên vốn và lợi nhuận với sức<br /> Cuộc CMCN 4.0 có tốc độ đột phá chưa từng có trong lao động. Điều này sẽ tác động đến thu nhập của lao động<br /> lịch sử, nó tạo ra những khả năng hoàn toàn mới, làm thay giản đơn và gia tăng thất nghiệp. Tỉ trọng lao động chất<br /> đổi hầu hết các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia, tác lượng cao gia tăng, làm phát sinh một thị trường việc làm<br /> động sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Khi so sánh ngày càng tách biệt thành các phân đoạn: thị trường kĩ<br /> với các cuộc CMCN trước đây thì cuộc CMCN 4.0 đang năng cao, thị trường kĩ năng thấp và sẽ dẫn đến gia tăng<br /> tiến triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ sự phân hóa, hoặc tạo ra nhu cầu việc làm hoàn toàn mới<br /> tuyến tính. Hơn nữa, nó đang làm biến đổi hầu hết ngành so với trước đây mà cần có sự chủ động chuẩn bị và chính<br /> Công nghiệp ở mọi quốc gia. Chiều rộng và chiều sâu của sách điều tiết thích hợp.<br /> những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ 2.2. Những yêu cầu đặt ra của cuộc Cách mạng công<br /> hệ thống sản xuất, quản lí và quản trị. Đặc trưng cơ bản nghiệp 4.0 đến đào tạo ở các trường cao đẳng<br /> của CMCN này là sự hợp nhất giữa các lĩnh vực công Những vấn đề trên cho thấy, đối với các TCĐ ở nước<br /> nghệ, kĩ thuật số, sinh học để giải quyết những vấn đề KT ta hiện nay, cuộc CMCN 4.0 đã tác động đan xen, đa<br /> -XH, sự kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực, các hệ thống chiều và tạo ra nhiều thuận lợi mới trong đào tạo ở các<br /> kết nối Internet. CMCN 4.0 làm thay đổi mạnh mẽ phương nhà trường, nhất là trong ứng dụng những thành tựu mà<br /> thức sản xuất và phương pháp quản trị “các nhà máy thông cuộc cách mạng đem lại vào trong đào tạo. Tuy nhiên,<br /> minh”, “công sở và thành phố thông minh” được kết nối bên cạnh đó nó cũng tác động và đặt các trường đứng<br /> Internet, liên kết với nhau thành một hệ thống thay vì các trước những thách thức mới trong đào tạo. Điều này được<br /> dây chuyền sản xuất và phương pháp quản trị hành chính thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau:<br /> trước đây. Nhờ khả năng kết nối bằng máy tính, các thiết<br /> bị di động tiếp cận với các cơ sở dữ liệu lớn từ nhiều 2.2.1. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra rào<br /> nguồn, những tính năng xử lí thông tin được nhân lên nhờ cản, làm cho các trường cao đẳng khó dự đoán được hết<br /> những đột phá về công nghệ bằng trí tuệ nhân tạo, người các kĩ năng mà thị trường lao động ở trong nước và quốc<br /> máy, công nghệ in 3D, công nghệ nano, công nghệ điện tế đang cần<br /> toán đám mây, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, Thực tiễn cho thấy, cuộc CMCN 4.0 là cuộc cách<br /> công nghệ vật liệu mới,… CMCN 4.0 sẽ mở ra kỉ nguyên mạng liên quan đến công nghệ và kĩ thuật số. Do đó, vấn<br /> mới của sự lựa chọn các phương án đầu tư kinh doanh, tối đề này được diễn ra rất nhanh và có xu hướng đổi mới<br /> ưu hóa sử dụng các nguồn lực, thúc đẩy năng suất lao động liên tục trong khoảng thời gian ngắn. Điều này kéo theo<br /> và hiệu quả, tạo bước đột phá về tốc độ phát triển, phạm vi kĩ năng NNL của thị trường lao động luôn luôn phải thay<br /> mức độ tác động làm biến đổi cơ bản hệ thống sản xuất và đổi để thích ứng với yêu cầu này. Nghĩa là, các TCĐ phải<br /> quản trị xã hội cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Đồng thời, cuộc đem lại cho người học cả tư duy những kiến thức, kĩ năng<br /> CMCN 4.0 cũng đặt ra những yêu cầu mới về kiến thức kĩ mới, khả năng sáng tạo, thích ứng với thách thức... Trong<br /> năng và tâm thế của NNL trong xã hội. Những kiến thức khi đó, quá trình đào tạo ở các TCĐ nước ta hiện nay vẫn<br /> và kĩ năng có thể chia thành 3 nhóm, cụ thể như sau: chủ yếu theo cách thức đào tạo truyền thống và những<br /> Một là, kiến thức và kĩ năng liên quan đến nhận thức, cách thức này không thể đáp ứng được với yêu cầu của<br /> tư duy hệ thống, tư duy phản biện, kĩ năng thích nghi, kĩ NNL trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0. Theo đó, các nhà<br /> năng sáng tạo. trường phải đối mặt với những thay đổi mạnh mẽ cả về<br /> tư duy, cơ cấu kiến thức, kĩ năng và phương pháp. Đây<br /> Hai là, các kĩ năng về thể chất: kĩ năng ngôn ngữ, kĩ được coi là thách thức lớn, nhất là trong bối cảnh nền<br /> năng số, kĩ năng kết nối. giáo dục đại học nước ta đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế<br /> Ba là, các kĩ năng về xã hội: giao tiếp, ứng xử, tạo lập cả về yếu tố nền móng và xu hướng phát triển.<br /> quan hệ, làm việc theo nhóm. Việc áp dụng tổng hòa Để khắc phục được những rào cản này, trước hết các<br /> những kiến thức, kĩ năng và tâm thế để đổi mới sáng tạo TCĐ phải đổi mới về tư duy trong đào tạo dựa trên những<br /> quan trọng hơn nhiều so với những kiến thức, kĩ năng triết lí giáo dục của Đảng, đó là đào tạo phải gắn với thực<br /> chuyên biệt trước đây [5]. tiễn, đáp ứng đúng nhu cầu của thực tiễn và NNL đang đòi<br /> Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực to lớn hỏi. Trong đào tạo phải đi trước, đón đầu những ngành,<br /> trên, cuộc CMCN 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc nghề và các kĩ năng của NNL mà thị trường lao động đang<br /> biệt sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu lao động và thị cần, từ đó tiến tới thay đổi triệt để chương trình, nội dung<br /> trường lao động. Các hệ thống tự động hóa sẽ thay thế đào tạo trước đây bằng chương trình, nội dung đào tạo mới<br /> dần lao động thủ công trong toàn bộ nền kinh tế, sự đảm bảo tính linh hoạt, chú trọng vào những kĩ năng thực<br /> <br /> 16<br /> VJE Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 15-19<br /> <br /> <br /> hành nghề nghiệp, khả năng sáng tạo và biết ứng dụng 2.2.3. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã đặt ra nhu<br /> những thành tựu của cuộc CMCN 4.0 vào trong công việc. cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao<br /> Bên cạnh đó, các nhà trường cần phải nắm bắt được những cho các trường cao đẳng<br /> tác động của cuộc CMCN 4.0 đến đời sống KT-XH... ở Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 hiện nay, những<br /> trong nước, quốc tế, trên cơ sở đó dự đoán chính xác xu công nghệ mới như trí thông minh nhân tạo, robot, mạng<br /> hướng phát triển của thực tiễn, yêu cầu của các ngành, Internet, phương tiện độc lập, in 3D, công nghệ nano,<br /> nghề trong tương lai, từ đó chủ động thay đổi, thậm chí công nghệ sinh học... đã khẳng định rõ nét mối quan hệ<br /> loại trừ các ngành, nghề đào tạo mang tính “lỗi thời, lạc giữa các công nghệ; vai trò và sự tác động của các công<br /> hậu”, không còn phù hợp với thực tiễn và tiến tới mở rộng nghệ đó tới đời sống xã hội. Trong khi đó, các TCĐ là<br /> các ngành, nghề đào tạo mới, đảm bảo tương thích với thời những cơ sở giáo dục trực tiếp đào tạo NNL thực hành,<br /> đại, đáp ứng nhu cầu của cơ cấu các ngành, nghề và nhu sử dụng các công nghệ đó. Điều này làm cho các TCĐ bị<br /> cầu của NNL đang và sẽ cần. tác động mạnh mẽ và toàn diện; danh mục các lĩnh vực<br /> 2.2.2. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã đặt ra cho ngành, nghề và mục tiêu đào tạo từng ngành nghề sẽ phải<br /> các trường cao đẳng phải đối mặt với những yêu cầu, điều chỉnh, cập nhật liên tục vì các ranh giới giữa các lĩnh<br /> thách thức về cải cách và cạnh tranh mới trong đào tạo vực rất mỏng manh.<br /> Có thể thấy, cuộc CMCN 4.0 đã làm giảm đáng kể Trong khi đó, trước bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đã làm<br /> ranh giới và khoảng cách về tri thức, khả năng sáng tạo cho sự liên kết giữa các lĩnh vực lí - sinh; cơ - điện tử - sinh<br /> giữa giáo dục đại học với thực tiễn làm việc của con ngày càng chặt chẽ. Điều này kéo theo hàng loạt nghề cũ<br /> người. Trong khi đó, ở nước ta ngày càng xuất hiện nhiều sẽ mất đi, thay vào đó là cơ hội cho sự phát triển của những<br /> doanh nghiệp có quy mô, có tiềm lực công nghệ, NNL ngành nghề đào tạo mới, đặc biệt là sự liên quan đến sự<br /> và tài chính rất lớn. Những doanh nghiệp này đã nắm bắt tương tác giữa con người và máy móc. Thị trường lao<br /> được nhu cầu NNL mà mình đang cần; lợi thế ở tuyến động trong nước cũng như quốc tế sẽ có sự phân hóa mạnh<br /> đầu trong cuộc chạy đua biến tri thức thành sản phẩm mẽ giữa nhóm lao động có trình độ thấp, trung bình và<br /> phục vụ cuộc sống; họ được trải nghiệm quý giá những nhóm lao động có trình độ cao. Trong đó đòi hỏi nhóm lao<br /> yếu tố cần thiết mà các TCĐ, thậm chí các trường đại học động có trình độ cao ngày càng được trọng dụng, còn<br /> lớn, có uy tín trong nước không có... từ đó bằng những nhóm lao động có trình độ trung bình, thấp từng bước bị<br /> kinh nghiệm, điều kiện, khả năng của mình họ trực tiếp đe dọa và thải loại. Từ những vấn đề trên đã tạo ra cho các<br /> đào tạo và trực tiếp sử dụng NNL mà họ đào tạo ra hoặc TCĐ có nhu cầu đào tạo NNL có chất lượng ngày càng<br /> cung cấp NNL cho các doanh nghiệp có nhu cầu NNL cao hơn so với trước đây. Bên cạnh mục tiêu đào tạo con<br /> tương đồng. Bên cạnh đó, từ thực tiễn cho thấy, sự kết người về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, các trường<br /> nối giữa các TCĐ với thị trường lao động, doanh nghiệp phải hướng tới mục tiêu đào tạo con người được trang bị<br /> trong đào tạo còn nhiều hạn chế; cơ cấu các ngành đào những kiến thức hiện đại phù hợp với thực tiễn, kĩ năng<br /> tạo về cơ bản tự phát, chưa có định hướng rõ nét; tập sáng tạo mới phục vụ cho nền kinh tế trước bối cảnh cuộc<br /> trung theo xu hướng học để bảo đảm cuộc sống hiện tại CMCN 4.0. Nghĩa là phải đào tạo con người có năng lực<br /> mà chưa chú ý đúng mức đến tiềm năng, kì vọng cá nhân, sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và<br /> xu hướng phát triển của thời đại và yêu cầu của đất kĩ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỉ luật lao động,<br /> nước... Những điều này đặt ra cho các TCĐ nước ta trong tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả<br /> bối cảnh cuộc CMCN 4.0 phải đối mặt với sự cạnh tranh năng thích ứng với những biến động của thị trường lao<br /> mới với các cơ sở giáo dục đại học khác. động trong nước và quốc tế.<br /> Để đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển và đứng vững 2.2.4. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã đặt ra yêu<br /> trước sự cạnh tranh này, đòi hỏi các trường phải thường cầu các trường cao đẳng thay đổi mọi yếu tố của quá<br /> xuyên cải cách, đổi mới toàn diện. Trong đó, cần tập trình đào tạo<br /> trung đổi mới công tác quản lí đào tạo theo hướng tăng<br /> cường ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình Sự tác động của cuộc CMCN 4.0 đã đặt ra yêu cầu<br /> quản lí, coi trọng quản lí chất lượng. Bên cạnh đó, các ngày càng cao về chất lượng NNL. Để đáp ứng được điều<br /> trường cần phải coi trọng phát triển NNL, nhất là phát đó, các TCĐ từng bước phải thay đổi mọi yếu tố của quá<br /> triển đội ngũ giảng viên. Đảm bảo cho đội ngũ giảng viên trình đào tạo, nhất là trong đổi mới công tác tuyển sinh đào<br /> luôn có đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, được chuẩn tạo, thực hiện đào tạo và đảm bảo “đầu ra” cho sinh viên.<br /> hóa về trình độ đào tạo và có kiến thức, kĩ năng sử dụng Để giải quyết được vấn đề này, trong công tác tuyển<br /> thành thạo ngoại ngữ, tin học để ứng dụng vào trong sinh đào tạo đòi hỏi các trường cần phải chú trọng nâng<br /> nghiên cứu, giảng dạy và hợp tác quốc tế... cao chất lượng “đầu vào”; thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ<br /> <br /> 17<br /> VJE Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 15-19<br /> <br /> <br /> các quy trình trong tuyển sinh; tuyệt đối không vì chạy Cuộc CMCN 4.0 đã tác động mạnh mẽ và làm thay<br /> theo số lượng đơn thuần mà bỏ qua chất lượng. Trong đổi toàn diện hệ thống giáo dục. Điều này đặt ra yêu cầu<br /> thực hiện đào tạo, phải xác định việc đổi mới chương Nhà nước, các cơ quan quản lí giáo dục cần phải đổi mới,<br /> trình, nội dung, phương pháp đào tạo là vấn đề mang tính hoàn thiện cơ chế, chính sách giáo dục nói chung, đào tạo<br /> cốt lõi. Chương trình, nội dung đào tạo phải linh hoạt, ở các TCĐ nói riêng. Thực hiện vấn đề này một mặt giúp<br /> phù hợp với từng ngành, nghề, từng lĩnh vực, trình độ cho các trường có cơ sở hành lang pháp lí phù hợp để<br /> đào tạo và có sự tích hợp cao; phản ánh rõ nét những vấn phát huy khả năng chủ động, sáng tạo, nâng cao hiệu quả<br /> đề mà thực tiễn đang cần, đáp ứng chuẩn đầu ra của nghề hoạt động đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo NNL<br /> nghiệp được đào tạo và có sự liên thông giữa các nghề. mà cuộc CMCN 4.0 đặt ra; phù hợp với xu thế toàn cầu<br /> Các phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo truyền thống hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Mặt khác, nó<br /> trước đây cần được đổi mới triệt để bằng những phương góp phần nâng cao năng lực, uy tín của nền giáo dục<br /> pháp, hình thức đào tạo mới theo hướng ứng dụng triệt nước nhà.<br /> để thành tựu công nghệ thông tin, cụ thể như: Xây dựng Thực tiễn hiện nay cho thấy, nhiều cơ chế, chính sách<br /> thư viện điện tử để giảng viên, sinh viên có thể truy cập trong đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học nói chung, ở<br /> nghiên cứu tài liệu ở mọi lúc mọi nơi; mở rộng các hình các TCĐ nói riêng đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, cụ<br /> thức đào tạo trực tuyến không cần lớp học, không cần thể như: thiếu tính đồng bộ, chồng chéo, không còn phù<br /> giáo viên đứng lớp, người học sẽ được hướng dẫn học hợp với thực tiễn và đặc điểm của các nhà trường; chưa<br /> qua mạng; giảng viên ứng dụng công nghệ thông tin vào huy động hết được các nguồn lực nhằm nâng cao chất<br /> trong thực hành giảng dạy để sinh viên dễ dàng tiếp thu lượng đào tạo... Thậm chí, trước xu hướng biến động<br /> kiến thức, phát huy tính tích cực trong học tập... Bên cạnh mau lẹ của thực tiễn đào tạo trong bối cảnh cuộc cách<br /> đó, các trường cần phải thực hiện tăng cường đầu tư các mạng, nhưng các cơ quan quản lí giáo dục chậm ban<br /> trang thiết bị, phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại; thực hành hoặc chưa ban hành các cơ chế, chính sách nhằm<br /> hiện xây dựng hệ thống đào tạo trực tuyến; xây dựng điều khiển, quản lí các hoạt động đào tạo... Điều này<br /> phòng học đa phương tiện, phòng chuyên môn hóa, hệ khẳng định việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách<br /> thống thiết bị ảo mô phỏng... trong đào tạo ở các TCĐ đang là yêu cầu cấp thiết hiện<br /> Trong đảm bảo “đầu ra” cho sinh viên sau khi tốt nay [6], [7], [8].<br /> nghiệp, các trường phải đổi mới tư duy theo hướng tạo Để khắc phục những rào cản, vướng mắc này, trong thời<br /> điều kiện tối đa cho sinh viên có việc làm sau khi tốt gian tới các cơ chế, chính sách trong đào tạo ở các TCĐ cần<br /> nghiệp. Đây được coi là vấn đề khó khăn, phức tạp trong phải được đổi mới, hoàn thiện theo hướng tiếp tục bổ sung<br /> bối cảnh cơ chế, chính sách của Nhà nước còn thiếu đồng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơ<br /> bộ, chưa thực sự phát triển; điều kiện và năng lực của các chế, chính sách quy định về tự chủ đại học, quyền và trách<br /> TCĐ còn chưa đáp ứng được yêu cầu... Tuy nhiên, để nhiệm của các TCĐ khi thực hiện tự chủ, chính sách đầu tư<br /> thực hiện có hiệu quả vấn đề này, các trường cần phải phát triển các nhà trường. Sớm hoàn thiện và ban hành văn<br /> xây dựng mối quan hệ, liên kết chặt chẽ và có cơ chế bản quy định cơ chế tự chủ của các TCĐ, trong đó nghiên<br /> chính sách rõ ràng trong hợp tác tuyển dụng NNL với các cứu đề xuất đồng bộ các giải pháp tự chủ về đào tạo, nghiên<br /> doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh phù hợp với cứu khoa học, tự chủ về tổ chức, bộ máy nhân sự, tự chủ về<br /> các ngành, nghề mà mình đào tạo trên từng địa bàn, từ tài chính để thúc đẩy phát triển các nhà trường. Thực hiện<br /> đó tạo điều kiện thuật lợi nhất cho sinh viên sau khi tốt nghiên cứu xây dựng và ban hành kịp thời hệ thống định<br /> nghiệp làm việc ở các cơ sở này. Mặt khác, trong bối mức kinh tế kĩ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng đối<br /> cảnh tính tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học hiện nay với các TCĐ làm cơ sở cho việc xây dựng cơ chế tính giá<br /> ngày càng được tăng cường và mở rộng đòi hỏi các dịch vụ đào tạo. Từ đó, xây dựng và ban hành cơ chế đặt<br /> trường phải nhạy bén, linh hoạt, biết tận dụng mọi nguồn hàng của Nhà nước đối với các cơ sở đào tạo theo năng lực,<br /> lực chất lượng cao mà mình hiện có như hệ thống cơ sở chất lượng đào tạo của đơn vị mà không có sự phân biệt loại<br /> vật chất, NNL chất lượng cao để tiến hành nghiên cứu hình trường. Bên cạnh đó, cần tập trung đổi mới cơ chế,<br /> khoa học, sản xuất, chế tạo các sản phẩm phù hợp với chính sách trong đầu tư ngân sách nhà nước đối với các<br /> năng lực để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Trên cơ sở TCĐ theo hướng giảm dần chi ngân sách cho bộ máy và<br /> đó định hướng và tạo điều kiện cho sinh viên sau khi tốt hoạt động thường xuyên của các trường, tiến tới các trường<br /> nghiệp trực tiếp được làm việc ngay ở nhà trường. tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên. Xây dựng cơ<br /> 2.2.5. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã đặt ra yêu chế cho phép cơ sở đào tạo được tự chủ quyết định mức thu<br /> cầu cần phải đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách học phí tương xứng với chất lượng dịch vụ đào tạo cung cấp<br /> trong đào tạo ở các trường cao đẳng và xã hội thừa nhận. Ngoài ra, cho phép các đơn vị tự chủ<br /> <br /> 18<br /> VJE Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 15-19<br /> <br /> <br /> được huy động các nguồn lực từ xã hội thông qua vay tín MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ...<br /> dụng trong nước và nước ngoài, để bổ sung nguồn vốn cho (Tiếp theo trang 14)<br /> phát triển GD-ĐT, xây dựng cơ sở vật chất...<br /> 3. Kết luận<br /> Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định, cuộc 3. Kết luận<br /> CMCN 4.0 ra đời là xu hướng tất yếu của thời đại. Nó Thực tế cho thấy, không có biện pháp nào là “vạn<br /> đặt ra cho các cơ sở giáo dục đại học ở nước ta nói chung, năng” mà thông thường, để giải quyết một nhiệm vụ, một<br /> các TCĐ nói riêng phải vận động không ngừng. Theo vấn đề cụ thể, phải vận dụng, phối hợp nhiều biện pháp.<br /> đó, các nhà trường muốn nâng cao được chất lượng đào Trong các biện pháp nêu trên, biện pháp 1 có ý nghĩa<br /> tạo nhằm đáp ứng thiết thực với nhu cầu của NNL mà thị định hướng, đóng vai trò nền tảng cho việc thực hiện các<br /> trường lao động đang cần trong bối cảnh này thì cần phải biện pháp khác vì chỉ có nhận thức đúng thì mới có hành<br /> tranh thủ mọi tiềm năng vốn có của mình; biết khai thác động đúng; biện pháp 2 có tính hạt nhân, đóng vai trò<br /> tối ưu những giá trị mà cuộc cách mạng đem lại, nhất là then chốt, quyết định đến chất lượng HĐDH; các biện<br /> những thành tựu về lĩnh vực công nghệ thông tin, số hóa pháp 3, 4, 5 có vai trò quan trọng, tạo điều kiện, hỗ trợ<br /> vào trong đào tạo; từng bước đưa những kiến thức, yêu HĐDH, để các nhà quản lí phát huy sức mạnh tổng hợp<br /> cầu mà xu hướng của cuộc cách mạng đang hiện hữu để trong quản lí HĐDH theo định hướng PTNL HS trong<br /> đưa vào trong chương trình, nội dung đào tạo... thì mới bối cảnh hiện nay.<br /> đảm bảo cho các nhà trường tồn tại và ngày càng phát<br /> triển, đáp ứng tốt với nhu cầu của thực tiễn đặt ra.<br /> Tài liệu tham khảo<br /> [1] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số<br /> Tài liệu tham khảo<br /> 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản,<br /> [1] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công<br /> 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị<br /> toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập<br /> nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị quốc tế.<br /> trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập [2] Bộ GD-ĐT (2018). Chương trình giáo dục phổ<br /> quốc tế.<br /> thông - Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo<br /> [2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018<br /> đại biểu toàn quốc lần thứ XII. NXB Chính trị Quốc của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT).<br /> gia - Sự thật.<br /> [3] Ban Chấp hành Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh (2015).<br /> [3] Nguyễn Hồng Minh (2017). Cuộc cách mạng công<br /> Nghị quyết đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ<br /> nghiệp 4.0 và những vấn đề đặt ra đối với hệ thống<br /> Chí Minh lần thứ X nhiệm kì 2015 -2020.<br /> giáo dục nghề nghiệp. Tạp chí Lao động và Xã hội,<br /> số tháng 2/2017. [4] Trần Trung Dũng (2016). Quản lí hoạt động dạy học<br /> [4] Nguyễn Viết Thảo (2017). Cách mạng công nghiệp ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát<br /> lần thứ tư. Tạp chí Lí luận chính trị, số 5/2017. triển năng lực học sinh. Luận án tiến sĩ Khoa học<br /> [5] Phan Chí Thành (2018). Cách mạng công nghiệp Giáo dục, Trường Đại học Vinh.<br /> 4.0 - Xu thế phát triển của giáo dục trực tuyến. Tạp [5] Đỗ Thị Thanh Thuỷ (chủ biên) - Nguyễn Thành<br /> chí Giáo dục, số 421, tr 43-46; 19. Vinh - Hà Thế Truyền - Nguyễn Thị Tuyết Hạnh<br /> [6] Thủ tướng Chính phủ (2012). Chiến lược phát triển (2017). Quản lí hoạt động dạy học trong trường phổ<br /> giáo dục 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định thông. NXB Giáo dục Việt Nam.<br /> số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012). [6] Hoàng Anh Tuấn (2017). Quản lí hoạt động dạy học<br /> [7] Phạm Ngọc Trang (2018). Cách mạng công nghiệp của các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh,<br /> 4.0 - Thực tiễn và thách thức đặt ra đối với các thành phố Cần Thơ. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số<br /> trường đại học và đội ngũ giảng viên trẻ. Tạp chí 76 (137) - tháng 7/2017, tr 113-115.<br /> Giáo dục, số đặc biệt, kì 2 tháng 5, tr 90-93. [7] Phạm Thị Mai Loan (2016). Một số giải pháp nâng<br /> [8] Nguyễn Thị Thanh Tùng - Ngô Văn Tuần (2018). cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trung học cơ<br /> Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt sở tại thành phố Hải Phòng theo tiếp cận phát triển<br /> Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công năng lực người học. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt<br /> nghiệp 4.0. Tạp chí Giáo dục, số 426, tr 1-4. tháng 5, tr 168-172; 167.<br /> <br /> 19<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2