Đặc điểm của Bào Ngư
a) Hình thái và phân b
4 loài Bào Ngư phân bchủ yếu biển nước ta.
Chúng được phân biệt thông qua đặc điểm hình thái vvà
địa lý phân bố.
Hình 40. Hình thái ngoài của Bào Ngư
Bào Ngư chín l (Haliotis diversicolor Reeve, 1846): V
có dạng hình vành tai người, chiều rộng bằng 2/3, chiều cao
bằng 1/4 chiều dài. Thông thường có 3 tần xoắn ốc. Bắt đầu
tmép vỏ của tần xoắn ốc thứ hai nhiều gờ nsắp xếp
có thứ tự đến tận mép của miệng vỏ, 7 - 9 gờ n cuối cùng
đầu không kín, dạng lỗ. Mặt ngoài v gờ xoắn ốc và g
sinh trưởng cắt nhau có dạng mặt vải sợi thô. Mặt trong của
vlà tầng xà cphát triển óng ánh. Thường bắt gặp các
thể có vỏ dài 60 - 90 mm. Bào Ngư chín lỗ thường phân bố
khu vực biển phía Bắc, nhất ven đảo Tô, Minh
Châu, Quan Lạn (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng),
sống khu vực độ sâu 5 - 10 m ớc, i có sóng gió,
đáy đá sỏi, đ muối 25 - 32 ppt, nhiệt đ tch hợp 20 -
28oC.
Bào Ngư bầu dục (Haliotis ovina Gmelin, 1791): V dạng
hình bầu dục, có 4 tầng xoắn ốc. Mặt vỏ gồ ghề có nhiều gờ
cong dạng phóng xạ, trong đó có 4 -6 nhô cuối cùng trên
gxoắn c gần mép vỏ biến thành dạng lỗ. Mặt ngoài v
màu nâu hồng hoặc nâu xám tro xen lẫn các phiến vân
màu vàng sm. Mặt trong v óng ánh kim loại bạc, lồi lõm
tương ng với gờ phóng xạ mặt ngoài vỏ. Trong quần thể
tnhiên thường thu được vỏ dài 21 - 85 mm, rộng 14 - 65
mm, cao 9 - 20 mm. Bào nbầu dục hầu như phân bố
các vùng biển Việt Nam, đặc biệt nhiều ven đảo như P
Quý (Bình Thuận), Trường Sa (Khánh Hoà), P Quc
(Kiên Giang). Bào Ngư bầu dục thích hợp độ muối 30 -
35 ppt, đô sâu 1 -10 m, chất đáy đá sỏi.
Bào Ngư vành tai (Haliotis asinina Linne', 1758): V dạng
bầu dục dài, dạng tai người, hơi cong lõm mặt bụng.
Chiều rộng vỏ bằng 1/2 chiều dài, chiều cao bằng 1/6 chiều
dài; v3 tầng xoắn ốc. Sgnhô trên vkhoảng 30,
trong đó 5-7 g nhô cuối cùng dạng lỗ. Gờ sinh trưởng
mịn, sắp xếp khít nhau. Từ đỉnh vỏ dọc theo mặt ng 4
gxoắn ốc nhỏ mịn. Da vỏ trơn bóng, trên đó nhiều vân
màu nâu sẫm hoặc vàng dạng hình tam giác sắp xếp không
th tự. Mựt trong vỏ tầng xà cóng ánh kim loại bạc, trơn
bóng. Thường bắt gặp thể dài 50 - 65 mm. Chúng phân
bhầu hết các vùng biển từ Quảng Nam đến Kiên Giang,
độ sâu 10 - 15 m nước, độ muối ổn định 30 - 34 ppt.
Bào Ngư dài (Haliotis varia Linne', 1758): V hình bầu
dục dài, mt vỏ gồ ghề nhiều gờ cong dạng phóng xạ,
trong đó 5 nhô cuối cùng của gờ xoắn ốc gần mép vỏ
biến thành dạng lỗ. Các đường sinh trưởng phần trước vỏ
thô hơn phần sau. Gờ xoắn ốc đường sinh trưởng cắt
nhau nét. Mặt ngoài v màu đỏ nâu, pha màu lục
nhạt. Mép nggoài miệng vỏ mỏng, gợn răng cưa. thể
trưởng thành v kích thước dài trên 50 mm, rộng 32
mm, cao 12 mm. Chúng phân bven các đảo, độ sâu từ
tuyến hạ triều đến một vài mét nước.
b) Phương thức sống
Phương thức sống của Bào Ngư thay đổi theo giai
đoạn phát triển của thể. giai đoạn ấu trùng sng bơi
lội, giai đoạn trưởng thành sống bán cố đinh (Sống bám
giá thnhưng khả năng di chuyển nhchân thể bò).
Bào Ngư thbò trên đá nhưng không thể bò trên cát.
Chân bám vào đá rất chắc, đặc biệt khi kẻ thù. Bào Ngư
loài s ánh sáng do đó ban ngày sống ẩn nấp, ban đêm
mới đi kiếm mồi
c) Thức ăn và phương thức bắt mồi
- Thức ăn của o Ngư phụ thuộc vào các giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của cơ thể:
+ Giai đoạn ấu trùng bánh xe (Trochophora), ấu trùng Diện
bàn (Veliger) không ăn thức ăn ngoài, sinh trưởng dựa vào
nguồn dinh dưỡng noãn hoàng của trứng. Ở M người ta đã
thành công ương ấu trùng trong ớc trùng. Tuy nhiên,
theo quy trình truyền thống của Nhật Bản thì ấu trùng Bào
Ngư được ương trong môi trường cung cấp tảo tươi cho
kết quả tốt hơn.
+ Khi kết thúc giai đoạn ấu trùng phù du chúng chuyển
sang sống bám, ấu trùng bám (Spat) dùng ỡi sừng đcạp
các tảo san hô (coralline) hoặc lớp chất nhầy trên bmặt đá
(slime) ly thức ăn. Chất nhầy trên mặt đá bao gồm các tảo
đơn bào các vi khuẩn tạo thành. Các loài tảo đơn bào đó
các loài tảo silic sống đáy như Navicula spp., Nitzschia
spp,...có kích thước nhỏ tới 5 m. Khi miệng của ấu trùng
mrộng các quan của thể phát triển, ấu trùng ăn
nhiều tảo đáy. Khối lượng thức ăn tăng đáng k khi Bào
Ngư con phát triển đến giai đoạn lỗ hô hấp đầu tiên trên
vỏ. Hoạt bắt mồi lúc này cũng tích cực hơn.
+ Giai đoạn trưởng thành, thức ăn của Bào Ngư các
loài rong biển (Seaweed) như rong câu (Gracilaria), rong
nâu (Laminaria), rong lục (Ulva), rong mơ (Sargassum).
Thí nghiệm về chọn lọc thức ăn cho thấy, Bào Ngư Nhật
Bản (Haliotis discus Hannai) ăn rong nâu (Laminaria)
53%, rong lục (Ulva) 6% rong đỏ (Porphyra) 2% (FAO,
1990). Hiệu suất sử dụng thức ăn của Bào Ngư phụ thuộc