BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC SÖ PHAÏM TP.HOÀ CHÍ MINH KHOA GIAÙO DUÏC TIEÅU HOÏC

__________________

LUAÄN VAÊN TOÁT NGHIEÄP

UÑeà Taøi U : ÑAËC ÑIEÅM TRUYEÄN DAÂN GIAN VAØ NGHEÄ THUAÄT KEÅ CHUYEÄN DAÂN GIAN CHO HOÏC SINH TIEÅU HOÏC

 Giaùo vieân höôùng daãn: TS. NGUYEÃN HOAØI THANH  Sinh vieân thöïc hieän: ÑAËNG HUEÄ CHAÂU

THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH - 2004

LÔØI TRI AÂN

Boä loâng laøm ñeïp con coâng, hoïc vaán laøm ñeïp con ngöôøi.

Ngaïn Ngöõ

Xin chaân thaønh caûm ôn taát caû caùc thaày coâ ñaõ naâng böôùc em treân con ñöôøng hoïc vaán,

cung caáp cho em nhöõng tri thöùc cuõng coù theå coi nhö laø nhöõng trang söùc quyù baùu ñeå höôùng

em ñeán vôùi caùi chaân, thieän, mó.

Xin baøy toû loøng bieát ôn saâu saéc ñeán khoa Giaùo duïc tieåu hoïc - Tröôøng Ñaïi hoïc sö

phaïm TP.HCM ñaõ taïo ñieàu kieän ñeå em böôùc ñaàu tieáp caän vôùi vieäc nghieân cöùu khoa hoïc

thoâng qua vieäc thöïc hieän Luaän vaên.

Xin ghi khaéc coâng ôn cuûa thaày Nguyeãn Hoaøi Thanh, ngöôøi thaày ñaõ taän tình höôùng

daãn em hoaøn thaønh Luaän vaên naøy.

Do ñeà caäp ñeán moät lónh vöïc khoù, khaù môùi meû, vôùi khaû naêng coøn giôùi haïn cuûa ngöôøi

vieát, Luaän vaên khoâng traùnh ñöôïc nhöõng sai soùt. Xin thaønh thaät caûm ôn caùc thaày coâ trong

Hoäi ñoàng nhaän xeùt- ñaùnh giaù ñaõ quan taâm goùp yù cho Luaän vaên.

Ngöôøi thöïc hieän Ñaëng Hueä Chaâu

MỤC LỤC

4TLÔØI TRI AÂN4T ...................................................................................................... 2

4TMỤC LỤC4T ........................................................................................................ 3

4TMỞ ĐẦU4T ........................................................................................................... 6

4T1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI4T ................................................................................................. 6

4T2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ4T ........................................................................................................ 7

4T3.GIỚI HẠN VẤN ĐỀ 4T ...................................................................................................... 8

4T4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU4T ................................................................................... 8

4T5.BỐ CỤC LUẬN VĂN4T .................................................................................................... 9

4TCHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ THỂ LOẠI 4T ................................ 10

4TTRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM4T ............................................................... 10

4T1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỆN THẦN THOẠI4T ............................................................ 11

4T1.1.1.Đặc điểm nội dung4T ............................................................................................. 13

4T1.1.2. Đặc điểm nghệ thuật4T .......................................................................................... 19

4T1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH4T .................................................................... 22

4T1.2.1.Đặc điểm nội dung4T ............................................................................................. 24

4T1.2.2. Đặc điểm nghệ thuật4T .......................................................................................... 37

4T1.3.ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỆN NGỤ NGÔN4T ................................................................ 49

4T1.3.1.Đặc điểm nội dung4T ............................................................................................. 50

4T1.3.2. Đặc điểm nghệ thuật4T .......................................................................................... 53

4T1.4. ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỆN CƯỜI4T .......................................................................... 58

4T1.4.1.Đặc điểm nội dung4T ............................................................................................. 61

4T1.4.2.Đặc điểm nghệ thuật 4T ........................................................................................... 69

4TCHƯƠNG 2 : NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN DÂN GIAN CHO HỌC SINH

BẬC TIỂU HỌC4T ............................................................................................ 77

4T2.1.CHƯƠNG TRÌNH VÀ NHỮNG TỒN TẠI TRONG VIỆC KỂ CHUYỆN DÂN GIAN

Ở TIỂU HỌC4T .................................................................................................................. 78

4T2.1.1.Hệ thống truyện dân gian ở Tiểu học4T .................................................................. 78

4T2.1.1.1.Truyện dân gian ở lớp Một (Chương trình 2000)4T ......................................... 78

4T2.1.1.2 Truyện dân gian ở lớp Hai (Chương trình 2000)4T .......................................... 81

4T2.1.1.3- Truyện dân gian ở lớp Ba4T .......................................................................... 83

4T2.1.1.4 - Truyện dân gian ở lớp Bốn4T ....................................................................... 84

4T2.1.1.5 -Truyện dân gian ở lớp Năm4T ....................................................................... 85

4T2.1.2.Những tồn tại của việc kể chuyện dân gian ở Tiểu học hiện nay4T ......................... 86

4T2.2.NHỮNG YÊU CẦU CHUNG CỦA NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH

TIỂU HỌC4T ...................................................................................................................... 90

4T2.2.1.Nghệ thuật chuẩn bị4T............................................................................................ 90

4T2.2.2.Nghệ thuật trình bày4T ........................................................................................... 93

4T2.2.3.Nghệ thuật tổ chức cho học sinh tập kể chuyện4T................................................. 101

4T2.3.NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN DÂN GIAN THEO THỂ LOẠI Ở TIỂU HỌC:4T ....... 107

4T2.3.1.Nghệ thuật kể chuyện thần thoại4T ....................................................................... 107

4T2.3.1.1- Vai trò giáo dục của truyện thần thoại4T ...................................................... 107

4T2.3.1.2- Nghệ thuật kể chuyện thần thoại4T .............................................................. 108

4T2.3.2- Nghệ thuật kể chuyện cổ tích4T .......................................................................... 110

4T2.3.2.1- Vai trò giáo dục của truyện cổ tích4T ............................................................... 110

4T2.3.2.2- Nghệ thuật kể chuyện cổ tích4T ................................................................... 112

4T2.3.3- Nghệ thuật kể chuyện ngụ ngôn4T ...................................................................... 115

4T2.3.3.1- Vai trò giáo dục của truyện ngụ ngôn4T....................................................... 115

4T2.3.3.2- Nghệ thuật kể chuyện ngụ ngôn4T ............................................................... 117

4T2.3.4- Nghệ thuật kể chuyện cười4T .............................................................................. 120

4T2.3.4.1- Vai trò giáo dục của truyện cười4T .............................................................. 120

4T2.3.4.2- Nghệ thuật kể chuyện cười4T ...................................................................... 121

4TKẾT LUẬN4T ................................................................................................... 126

4TTHƯ MỤC THAM KHẢO4T .......................................................................... 128

4T SÁCH GIÁO KHOA4T ................................................................................ 128

4T1. 4T

4TTiếng Việt 1 - NXB Giáo dục, 20024T ...................................................... 128

4T2. 4T

4TTiếng Việt 2 - NXB Giáo dục, 20034T ...................................................... 128

4TPHỤ LỤC4T...................................................................................................... 129

4TSÁCH TRUYỆN DÂN GIAN CỦA NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC 20034T ................. 136

4TGIÁ BÌA4T ....................................................................................................................... 136

4TTÊN TÁC GIẢ4T............................................................................................................. 136

4TSÁCH MẪU GIÁO4T ....................................................................................................... 136

4TDANH MỤC SÁCH ĐANG PHÁT HÀNH CỦA NXB TRẺ 20034T ............................ 141

4TTÊN SÁCH4T .................................................................................................................. 141

4TDANH MỤC SÁCH TRUYỆN DÂN GIAN XUẤT BẢN THƯỜNG KÌ CỦA NXB

KIM ĐỒNG20034T ......................................................................................................... 146

4TSỐ4T ................................................................................................................................. 146

4TTÊN SÁCH4T .................................................................................................................. 146

4TGIÁ BÌA4T ....................................................................................................................... 146

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Truyện dân gian (TDG) với những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật có sức

thu hút, sức hấp dẫn lớn đặc biệt là đối với thiếu nhi. Thưởng thức TDG là nhu cầu

giải trí hàng đầu của các em. Đến với TDG các em không chỉ được thỏa mãn nhu cầu

giải trí của mình mà còn được giáo dục về phẩm chất, về nhân cách, được bồi dưỡng

những tình cảm thẩm mĩ… Đáp ứng nhu cầu thưởng thức TDG của các em nhỏ, hàng

năm, nhiều Nhà xuất bản đã cho ra đời các TDG với số lượng đồ sộ. Xuất phát từ

những giá trị giáo dục và dạy học to lớn tiềm tàng trong TDG, các Nhà biên soạn

chương trình tiểu học cũng đã chọn lọc, đưa nhiều TDG vào hệ thống các truyện được

dạy trong phân môn Kể chuyện (PMKC). Những tiết kể chuyện dân gian trở thành các

tiết học mà học sinh (HS) chờ đón và tiếp thụ bằng một tâm trạng hào hứng, vui thích.

TDG lí thú, hấp dẫn, có nhiều những giá trị trong giáo dục và dạy học. Nhưng,

trong thực tế, hiệu quả của các tiết kể chuyện dân gian ở Nhà trường tiểu học hiện nay

vẫn chưa cao, vì còn tuỳ thuộc vào tài năng sư phạm của giáo viên (GV). Vai trò của

GV trong các tiết dạy TDG rất to lớn nhưng phần lớn GV tiểu học hoặc chưa nhận

thấy hoặc chưa xem trọng đúng mức vai trò giáo dục to lớn của TDG. Hiện tượng GV

chưa nắm được những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của TDG, những phương

pháp đặc trưng trong dạy TDG còn khá phổ biến. Và kết quả là những truyện chọn

mặc dù có nội dung phong phú, hấp dẫn, có giá trị giáo dục cao vẫn trở thành nhạt

nhẽo, không gây được ấn tượng đẹp đẽ trong tâm hồn HS

Nhìn chung, quá trình dạy học là một quá trình nghệ thuật, khoa học, phức tạp,

tinh tế. Quá trình dạy học PMKC cũng mang những đặc điểm này. Muốn có những tiết

kể chuyện dân gian đạt hiệu quả, người GV phải có công phu nghiên cứu, xây dựng

tiết lên lớp thật đầy đủ, chu đáo. Vì thế, việc tìm hiểu những đặc trưng của TDG và

những phương pháp đặc trưng trong dạy TDG là không thể xem nhẹ.

Thế nhưng, một thực tế mà chúng ta không thể phủ nhận là trong nhiều năm

qua những tài liệu nghiên cứu hoặc chỉ đạo về PMKC nói chung, về việc dạy TDG nói

riêng còn quá ít. Trong khi đó, hầu hết GV lại cần có những bản hướng dẫn cụ thể theo

phong cách ngôn ngữ nói sinh động sát với các bước của một tiết lên lớp trong dạy học

TDG ở các tiết kể chuyện. Đây là một thực tế còn tồn tại khá lâu và cũng chưa có điều

kiện khắc phục.

Xuất phát từ tình hình thực tế còn nhiều khó khăn trong dạy học TDG như vừa

trình bày ở trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Đặc điểm truyện dân gian và nghệ thuật kể

chuyện dân gian cho học sinh tiểu học” cho Luận văn. Luận văn bước đầu tìm hiểu

những đặc trưng của các thể loại TDG về nội dung, nghệ thuật và đi vào nghệ thuật

dạy từng thể loại TDG cụ thể; vận dụng những đặc trưng của TDG nói chung và từng

thể loại TDG nói riêng làm cơ sở lí luận, từ đó đưa ra những yêu cầu chung của nghệ

thuật kể chuyện cho HS tiểu học.

2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Những đặc trưng của TDG đã được nhiều sách đề cập như: giáo trình “Văn

học dân gian” của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, “Văn học dân gian Việt Nam”

của Đỗ Bình Trị, “Văn học dân gian Việt Nam: Những công trình nghiên cứu” do Bùi

Mạnh Nhị chủ biên…

Trong khi đó, những tài liệu nghiên cứuhoặc chỉ đạo về việc dạy học TDG còn

quá ít. Các sách Tiếng Việt dành cho GV dạy kể chuyện ở lớp 1,2; Truyện đọc dành

cho GV dạy kể chuyện ở lớp 3,4,5 và phần phương pháp dạy PMKC ở các Sách giáo

viên Tiếng Việt tiểu học là những căn cứ chính thức giúp GV soạn bài và lên lớp.

Nhưng do điều kiện số trang có hạn nên ngôn ngữ ở phần hướng dẫn cụ thể mới dừng

lại ở mức đề cương, còn khá sơ sài và chưa đủ tư liệu cho GV lên lớp. Ngoài ra, tài

liệu mà GV có thể tham khảo để tự bổ sung thêm tiềm lực về lí luận và phương pháp

dạy học có thể kể đến là sách “Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học” của Chu Huy. Sách

vừa tìm hiểu cơ sở của phương pháp vừa đi vào nghiên cứu phương pháp dạy từng thể

loại TDG cụ thể. Những sách bàn về những vấn đề tương tự vẫn còn quá ít, trong khi

nhu cầu về số lượng và chất lượng của những chuyên đề nghệ thuật kể chuyện dân

gian (CĐNTKCDG) là một nhu cầu cấp bách.

3.GIỚI HẠN VẤN ĐỀ

Đặc điểm TDG và NTKC trong việc dạy học TDG ở Tiểu học là một vấn đề

lớn bao gồm nhiều nội dung cả về chuyên môn lẫn nghiệp vụ. TDG là một thể loại của

văn học dân gian vừa có tính dân tộc, vừa có tính quốc tế. Trong khuôn khổ Luận văn

này, chúng tôi chỉ đề cập đến những đặc điểm cơ bản về nội dung, nghệ thuật của một

số thể loại TDG tập trung vào TDG Việt Nam đã được đưa vào Chương trình tiểu học.

Trên cơ sở nắm bắt được những đặc điểm này, kết hợp với việc tìm hiểu hệ thống

TDG trong toàn bộ Chương trình tiểu học, Luận văn bước đầu tìm hiểu NTKCDG theo

đặc trưng từng thể loại và đưa ra một số kiến nghị về việc KCDG cho HS tiểu học

nhằm nâng cao chất lượng dạy - học loại truyện này trong PMKC nói chung.

4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện Luận văn này, người viết sử dụng các phương pháp sau:

-Phương pháp nghiên cứu tư liệu: khảo sát, thống kê, phân loại để thấy bức

tranh chung của TDG ở Tiểu học, Trung học cơ sở và Phổ thông trung học.

-Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu lí luận của TDG để nắm bắt

được những đặc điểm của các thể loại TDG, qua đó thấy được những đặc sắc về nội

dung và nghệ thuật của từng thể loại; nghiên cứu về lí luận phương pháp giảng dạy, lí

luận về phương pháp giáo dục có thể vận dụng vào việc giảng dạy TDG, từ đó đưa ra

những yêu cầu chung của NTKC cho HS tiểu học và NTKCDG theo thể loại ở tiểu

học.

-Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: để tập hợp kết quả của những

luận điểm khoa học.

5.BỐ CỤC LUẬN VĂN

Ngoài Mở đầu và Kết luận, Luận văn được kết cấu thành hai chương:

-Chương 1: Đặc điểm của một số thể loại truyện dân gian Việt Nam

Ở chương này, Luận văn trình bày khái niệm về TDG, những nét chính trong

đặc điểm của các thể loại TDG về nội dung và nghệ thuật làm tiền đề cho những

nghiên cứu quan trọng của chương sau.

-Chương 2: Nghệ thuật kể chuyện dân gian cho học sinh bậc Tiểu học

Ở chương này, Luận văn sơ lược khảo sát Chương trình TDG ở từng lớp thuộc

bậc Tiểu học để thấy được mức độ phức tạp của TDG đối với HS, vị trí của TDG trong

PMKC, tư tưởng tích hợp trong việc dạy TDG ở PMKC với việc dạy các PM khác

thuộc môn Tiếng Việt; trình bày những tồn tại trong việc KCDG ở Tiểu học.

Mục thứ hai, thứ ba của chương tập trung trình bày những yêu cầu chung của

NTKC cho HS tiểu học, NTKCDG theo thể loại ở tiểu học trên cơ sở những kiến thức

về đặc điểm của một số thể loại TDG Việt Nam, những hiểu biết về Chương trình

TDG ở Tiểu học và những thu thập được về những tồn tại trong việc KCDG ở tiểu

học.

Sau Kết luận là Thư mục tham khảo và Phụ lục

CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ THỂ LOẠI

TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM

Khái niệm về truyện dân gian

Truyện dân gian (TDG) thường là văn xuôi nhưng cũng có khi là văn vần

được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng. Là sáng tác nghệ thuật của nhân dân,

TDG phản ánh đời sống nhân dân và thế giới tinh thần, tình cảm của nhân dân theo

quan điểm của nhân dân. Đó là toàn bộ sinh hoạt nhân dân, là cuộc sống lao động và

quan hệ gia đình của họ, là những sự kiện những vấn đề thiết yếu đối với nhân dân, là

cuộc đấu tranh của nhân dân chống áp bức, chống ngoại xâm. Sinh hoạt nhân dân là

mảnh đất nảy sinh, là nguồn nuôi dưỡng là nhân tố kích thích sự sáng tạo vốn có tính

chất tự phát của TDG. Nhân vật trung tâm của các TDG chính là bản thân nhân dân,

bắt nguồn từ những nguyên mẫu có thực trong cuộc sống mà khái quát lên thành nhân

vật văn học. Qua việc phản ánh đời sống nhân dân, đề cập đến những vấn đề thiết thân

đối với nhân dân, TDG biểu đạt những kinh nghiệm đời sống, diễn tả những khát vọng

và lí tưởng của nhân dân, thể hiện những quan niệm của nhân dân về tự nhiên, xã hội

và con người, về đạo đức, về mĩ học.

TDG mang tính dân tộc, tính quốc tế của văn học dân gian nói chung, càng

tiếp xúc rộng rãi với kho tàng TDG các dân tộc ở khắp nơi trên thế giới, ta càng thấy

rõ những đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của TDG dân tộc mình không hề biệt

lập mà chỉ biểu hiện trong tương quan với những cái tương đồng nhân loại. Nghiên

cứu so sánh các thể loại TDG, ta có thể bắt gặp những hiện tượng trùng lặp tương tự

nhau về đề tài, về cốt truyện, hình tượng nhân vật, về các mô típ nghệ thuật, các yếu tố

thi pháp.

Trong giai đoạn đầu tiên của sự nảy sinh và phát triển, TDG là hình thức sơ

khai của nghệ thuật, đồng thời cũng là hình thức nguyên hợp của sự sản xuất tinh thần

nói chung, về sau đã chuyển thành hình thức tổng hợp tự nhiên của sáng tác tạo văn

hóa và sáng tác nghệ thuật của nhân dân lao động.

Kho tàng TDG Việt Nam rất phong phú với nhiều thể loại: truyện thần thoại

(TTT), truyện cổ tích (TCT), truyện ngụ ngôn (TNN), truyện cười (TC). Mỗi thể loại

của TDG với những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật làm nên những giá trị to lớn

cho TDG để TDG vượt qua cuộc chọn lọc tự nhiên của thời gian, khẳng định được sức

sống ngay cả trong thời đại mới. Đi sâu vào từng thể loại TDG để tìm hiểu những đặc

điểm của mỗi thể loại, chúng ta sẽ hiểu hơn khả năng trường tồn của TDG bất chấp

quy luật đào thải khắc nghiệt của thời gian.

1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỆN THẦN THOẠI

TT là thể loại văn học xuất hiện sớm nhất. Vì thế Mác đã gắn TT với thời kì

“thơ ấu” của loài người nói chung cũng như mỗi dân tộc nói riêng. Từ “Thần thoại” có

nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nghĩa đen là truyền thuyết, truyền thoại. Thường người ta

hiểu TT là loại TDG kể về các vị thần, các nhân vật được sùng bái, các nhân vật anh

hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, phản ánh nhận thức và quan niệm của của thời cổ

về nguồn gốc thế giới và đời sống con người.

TT ra đời vào thời kỳ mà trình độ về mọi mặt của con người còn rất thấp, vốn

ngôn ngữ còn nghèo, sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng người còn rất ít

ỏi. Ở trình độ này, những điều quan sát thực tế, những kinh nghiệm lao động, những

thành quả của cuộc đấu tranh nhằm khắc phục thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên đã làm

nảy sinh những hình tượng nghệ thuật – thần thoại giàu trí tưởng tượng. Song người

nguyên thủy không có ý thức coi đó là những sáng tác nghệ thuật đúng với nghĩa của

nó mà M. Gorki đã từng nhận xét: “ Trong trí tưởng tượng của người nguyên thủy, một

vị thần không phải là cái gì trừu tượng mà là một nhân vật có thực, được trang bị bằng

một công cụ lao động nào đó. Thần là bậc thầy của nghề này hay nghề khác. Thần là

sự khái quát nghệ thuật của những sự tiến bộ lao động ...”. Điều này đã phản ánh vào

TT như sự tích “Thần Nông” của các dân tộc thiểu số miền Nam Trung Quốc, sự tích

“Nữ thần nghề mộc”, sự tích “Ông Tổ thợ rào Lư Cao Sơn” ở nước ta... Sự quan sát về

thiên nhiên, những suy nghĩ về thiên nhiên của người nguyên thủy có phần chính xác

nhưng cũng có nhiều sai lạc nên đã dẫn đến rất nhiều trường hợp người nguyên thủy

phải bị động trước những tác động của thiên nhiên và buộc phải sùng bái những lực

lượng thiên nhiên. Những vị thần trong TT phần lớn là những lực lượng thiên nhiên

mà người ta chưa chế ngự được: Thần Mặt Trời, Mặt trăng, Thần Mưa, Thần Gió,

Thần Biển… Và cũng với trình độ nhận thức rất hạn hẹp, người nguyên thủy chưa có

sự phân biệt ranh giới giữa con người và giới tự nhiên, người ta đi đến chỗ gán mọi ý

nghĩ, cảm xúc của mình cho giới tự nhiên. Không chỉ thế, người nguyên thủy còn cho

rằng tất cả mọi thành viên của thị tộc, bộ lạc đều là do một giống động vật, thực vật

hoặc một vật thể nào đó sinh ra. Tôtem hay là vật tổ của mỗi dân tộc mỗi khác, có thể

là con rồng của dân tộc Kinh, con chó của thần Bàn Hồ của dân tộc Dao, con đại thử

của một số bộ lạc thổ dân Xibia... Vật tổ vừa là vật, vừa là người được xem là tổ tiên

của người. Vật tổ là một trong những vị thần xuất hiện sớm nhất của người nguyên

thủy và được kể lại trong nhiều TTT của các dân tộc. Lạc Long Quân trong TT “Con

Rồng, cháu Tiên” thuộc nòi rồng. Chi tiết này phản ánh việc thờ giao long làm vật tổ...

Ăngghen đã cho rằng: “Cơ sở của mọi nhận định sai lầm ấy về giới tự nhiên, về sự cấu

tạo ra bản thân con người, về quỉ thần, về những thế lực mầu nhiệm... thường thường

chỉ là một yếu tố kinh tế tiêu cực mà thôi: tức là trình độ kinh tế thấp kém của thời tiền

sử thì đẻ ra những nhận định sai lầm về thiên nhiên...”.

Nhìn chung, TT là một bộ phận của nền văn hóa nguyên thủy, phát sinh trên

cơ sở những yêu cầu của thực tiễn lao động sản xuất và sinh hoạt xã hội của người

xưa. Vì vậy, TT có giá trị hiện thực nhưng đó là hiện thực được phản ánh dưới hình

thức hoang đường, những quan niệm huyễn hoặc về thực tạo vì trình độ nhận thức,

đánh giá thế giới của người nguyên thủy còn hạn chế. Đối với người đời sau, TT

không những có giá trị như là những tài liệu quý cho khoa học, dân tộc hoc, sử học,

tôn giáo… mà còn có giá trị thẩm mĩ to lớn, TT hấp dẫn chúng ta bằng những hình

tượng nghệ thuật độc đáo vì được sản sinh trong “những điều kiện xã hội vĩnh viễn

không bao giờ trở lại nữa”.

1.1.1.Đặc điểm nội dung

TT là một pho lịch sử thiêng liêng, kho kinh nghiệm sản xuất chiến đấu, là trí

tuệ của thị tộc, bộ lạc. TT lưu truyền từ đời này sang đời khác và do tính chất truyền

miệng của nó mà biến hóa dần. Thường thì chỉ có cốt truyện là giữ được lâu dài.

Nhưng bản thân cốt truyện này cũng dần dần được bổ sung thêm bằng những chi tiết

xuất hiện về sau. Ở Việt Nam, còn rất ít những văn bản cổ mà chúng ta còn lưu giữ

được: đó là những truyện ghi chép trong “Việt điện u linh” và “Lĩnh Nam chích quái”.

Nhưng trong các sách này, các truyện chưa được tập hợp thành hệ thống chặt chẽ.

Thời phong kiến, nhiều TT Việt Nam được biên soạn lại dưới hình thức các truyền

thuyết, dã sử và dưới hình thức các thần tích. Cho tới nửa đầu thế kỉ XX, nhiều TT

Việt Nam vẫn còn tồn tại dưới dạng truyền miệng với tư cách là những truyện kể nghệ

thuật; một số đáng kể vẫn còn gắn liền với phong tục nghi lễ, làm thành một nội dung

của những phong tục nghi lễ ấy hoặc dường như được kể lại để giải thích nguồn gốc.

Ngày nay, chúng ta chỉ có thể tìm hiểu những nội dung chính của kho tàng TT cổ qua

những mẫu còn sót lại dưới hình thức văn xuôi truyền miệng là chính. Chúng ta chưa

thể nghiên cứu TT với nội dung và hình thức của các tác phẩm ấy trong thời kì phát

triển mạnh mẽ nhất của chúng.

Hệ thống TTT Việt Nam đã cho ta thấy được tương đối rõ sự nhận thức và

quan nhiệm về thế giới của người Việt thời cổ đại. Các TT này đưa ra cách lí giải đầy

tưởng tượng của tổ tiên chúng ta về những vấn đề lớn mà TT của mọi dân tộc thường

đề cập đến: nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc loài người, sự sống chết...

Cùng với sự phát triển của tư duy, nhu cầu giải thích thiên ngày một tăng.

Người nguyên thủy quan sát và suy nghĩ về các sự vật như núi, rừng, sông, bể, mặt

trời, mặt trăng, về các hiện tượng như mưa, gió, sấm, chớp, lụt lội, về các sinh vật như:

cây cối, điểu thú... để rồi đi tìm cách lí giải cho những vấn đề vượt lên trên khả năng

trí tuệ của mình như: Thế giới này ở đâu mà ra? Loài người ở đâu mà ra? Tại sao vũ

trụ lại có một thứ trật tự, bốn mùa tuần hoàn? Tại sao các giống vật và con người đều

sinh ra rồi chết đi theo những qui luật nhất định? Và cách lí giải những vấn đề ấy đã

được bày tỏ trong những TT như: “Trần Trụ Trời”, “Thần Mặt Trăng và Mặt trời”,

“Thần Nữ Oa và Tứ tượng”, “Ông Đùng, Bà Đùng”...

Do chưa đủ điều kiện để nhận thức được đúng và rõ quá trình hình thành của

vũ trụ, nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên nguồn gốc của loài người nên người

Việt cổ cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới trong thời kì “thơ ấu” đã sùng bái tự

nhiên, coi mọi hiện tượng và sức mạnh trong tự nhiên đều có thần và do thần chi phối

điều khiển. Từ cảnh hỗn độn mờ mịt của vũ trụ thuở sơ khai, Thần Trụ trời đã tạo

dựng nên trời đất, vũ trụ. Thần Mưa thì dùng vòi rồng hút nước ở dưới đất lên trời rồi

phun đều trên mặt đất. Thần Gió thì dùng chiếc quạt thần làm nên gió, bão... Qua các

TT trên, ta thấy được trí tưởng tưởng ngây thơ cũng như niềm ở lao động của người

nguyên thủy. Dù là thần nhưng thần vẫn phải lao động và từ sự lao động mà đã làm

nên được tất cả.

Khi ông trời (Ngọc Hoàng) xuất hiện thì “xã hội“ các thần trong TT Việt có tổ

chức rõ ràng và quy củ hơn, tương ứng với sự phát triển của xã hội Việt thời cổ đại.

Trời đất đã phân khai gồm 3 cõi: cõi trời, cõi nước và cõi đất (cõi trần). Cõi trời là nơi

sinh sống của ông Trời và các Thiên thần. Ở cõi nước có Long Vương và các thủy

thần. Cõi đất không phải chỉ có thực vật, động vật và loài người mà còn có các lực

lượng khác luôn luôn can thiệp vào cuộc sống của muôn loài, nhất là của loài người.

Đó là các vị thần, thần có thể đem lại sự may mắn, mà cũng có thể đem lại sự rủi ro

cho con người. Thần có thể thiện và cũng có thể ác nhưng thường thì uy nghiêm. Con

người ta không thể lường trước được công việc của các vị thần mà buộc phải sùng bái

qui phục để mong được thần giúp đỡ, không quấy phá, Tôn giáo, nguyên thủy vì thế

mà phát sinh.

Bất cứ sự hiện tượng nào theo quan niệm của người xưa đều có những vị thần.

Thần Đất gần gũi với con người, thần biết các việc của người đời, thần có phép dời đá

thay núi. Thần Núi đặc việt là thần Tản Viên thì hay giúp người đời những khi có nguy

nan. Thần Nước làm chúa loài thủy tộc, thần thường gây ra nạn lụt nhằm mục đích

dâng nước lấy gỗ phục vụ cho việc kiến trúc của mình và cũng vì để trả thù Sơn Tinh

đã cướp mất Mỵ Nương. Nguyên nhân của trận dâng mưa đánh ghen của thần được kể

lại trong TT “Sơn Tinh, Thủy Tinh”... Tất cả các vị thần đều có nhiều uy lực và chịu

sự cai quản của Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng là chúa tể của muôn loài, cai quản và điều

hành toàn vũ trụ. Trời nhìn thấy mọi việc, lắng nghe và hiểu thấu ý nguyện của muôn

loài. Loài người luôn phải cố tìm hiểu tính cách của Ngọc Hoàng cũng như các vị thần,

không làm trái ý họ để tránh làm họ nổi giận. Bởi sự nổi giận của họ sẽ kèm theo việc

gây ra những nguy hiểm cho con người trong tính mạng cũng như làm giảm năng suất

lao động. Thế nhưng tính khí của một số các vị thần thay đổi thất thường không lường

trước được nên loài người luôn phải chịu những cơn nổi giận của thần và hậu quả là lũ

lụt, hạn hán... vẫn xảy ra.

Tuy vậy, đừng tưởng rằng các vị thần muốn làm gì thì làm. Những vị thần sai

trái quá đáng sẽ bị những kẻ ở cõi trần chống lại. Trong TT “Cường Bạo Vương đánh

Thần Sét”, Cường Bạo đã lập mưu làm cho Thần Sét hống hách ngã chổng kềnh và

nện cho thần một trận nên thân. Cường Bạo còn đánh trống ầm ầm, dọa lên phá thiên

đình làm cho Ngọc Hoàng cũng phải gờm. Không phải chỉ con người mới can đảm

chống lại các vị thần khi các vị thần ấy hoành hành quá đáng mà con cóc trong TT

“Cóc kiện trời” cũng đã từng kiện Thần Mưa, kiện cả Ngọc Hoàng. Thế mới có câu:

“Con cóc là cậu ông trời”. Truyện này vốn gốc là TT nhưng về sau đã trở thành truyện

ngụ ngôn. Các TT này đã phần nào phản ảnh niềm mong muốn chinh phục thiên nhiên

bằng chính sức mạnh của lẽ phải, tinh thần cũng cảm và mưu cơ đã manh nha hình

thành trong khát vọng của người xưa dù họ vẫn bị chi phối nhiều bởi thế giới quan

thần linh chủ nghĩa.

Bên cạnh việc phản ánh những băn khoăn, trăn trở của người xưa trong nhu

cầu tìm hiểu khám phá thế giới thể hiện ước mơ chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ

trụ; TT còn phản ánh khát vọng không kém phần táo bạo của người Việt cổ là được

trường sinh bất tử. Khi loài người do lao động bắt đầu có ý thức về sự tồn tại của mình

thì cũng là lúc họ suy nghĩ về lẽ sống, chết. Vấn đề này trở thành vấn đề tư tưởng có

tầm quan trọng đặc biệt. Không có được tư tưởng khoa học và duy vật cũng như nhân

sinh quan cách mạng như ngày nay, nhân dân lao động trước kia đã từng giải quyết

vấn đề này một cách ngây thơ, phản ảnh niềm ao ước của con người muốn sống một

cuộc đời trường sinh bất tử.

Theo quan niệm của người xưa, con người có nguồn gốc cao quý hơn muôn

loài do Ngọc Hoàng đã gạn lấy những gì là tinh túy trong vũ trụ để nặn ra người. Quan

niệm ấy bao hàm niềm tự hào về nhân loại và có ý nghĩa nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc.

Và như vậy thì khi sáng tạo ra loài người, Ngọc Hoàng đã có ý định cho họ được

trường sinh. Những người già sẽ được trút bỏ lớp già để lại hóa trẻ. Nhưng tiếc thay

khi thiên thần xuống trần gian ban bố lệnh ấy thì lại gặp “tai nạn”. Thiên thần bị lạc

vào ổ rắn và vì sợ sự đe dọa của rắn nên phải sửa đổi mệnh lệnh: “Người già người lột,

rắn già rắn tụt vào săng” thành “rắn già rắn lột, người già người tụt vào săng”. Thế là

mặc dù xứng đáng được trường sinh nhưng chỉ vì sự hèn nhát của sứ giả nhà trời mà

họ không thể nhận được đặc ân của Ngọc Hoàng và phải tuân theo quy luật sinh lão

bệnh tử.

Thế nhưng loài người không phải đã chịu yên với số phận đó, họ băn khoăn

tìm cách để rồi chính khát vọng sống lâu mãnh liệt đã đưa họ đến suy nghĩ có thứ

thuốc cải tử hoàn sinh phản ánh trong TT “Chú Cuội cung trăng”. Ở TT này, việc giải

thích nguyên nhân của những vết đen trên mặt trăng chỉ là thứ yếu, còn nội dung chủ

yếu là phản ánh ước mơ tìm thấy thứ thuốc trường sinh kéo dài tuổi thọ cho con người.

Như vậy là đã có lần, con người tìm thấy được thuốc cải tử hoàn sinh nhưng lại chỉ vì

sự ngu dốt của vợ Cuội “đái bên đông để cây giông lên trời” nên hành trình tìm kiếm

thuốc trường sinh của loài người vẫn tiếp tục. Việc Cuội tìm thấy cây thuốc trường

sinh, việc Cuội sống cuộc đời trẻ mãi không già trên cung trăng cũng như việc Cuội

“mượn ruột” của con chó thay cho ruột vợ bị hỏng... là ước mơ, khát vọng của người

xưa. Ngày nay, chúng ta vô cùng khâm phục khi những ước mơ của người xưa với

trình độ rất hạn hẹp khi đó lại có tính chất như những giả thiết mà loài người đã và

đang nghiên cứu thực hiện. Ngoài TT “Chú Cuội cung trăng”, trong TT Mường “Ta

Kheo Rau và cây bất tử”, TT Chàm “Người chăn trâu” cũng thấy kể đến thứ thuốc

trường sinh.

Như vậy, trừ những tư tưởng của tôn giáo khiến con người cố chịu đựng để

quen với đau khổ nhằm đạt tới “hạnh phúc sau khi chết” cũng như những tư tưởng của

giai cấp đang suy vọng, từ rất lâu rồi, con người luôn mơ ước được sống lâu, luôn đấu

tranh xây dựng cho cuộc sống tốt đẹp, đáng sống hơn.

TT không phải là lịch sử nhưng TT có bóng dáng của lịch sử. Điều này giải

thích vì sao các sử gia phong kiến đem TT bổ sung cho lịch sử nước nhà ở giai đoạn

khởi thủy. Các TT “Con rồng, cháu tiên”, “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, “Phù Đổng thiên

vương”... là những TT đã phản ánh lịch sử, nhưng đã phản ánh quá tấm lăng kính kỳ

diệu của óc tưởng tượng chất phác và táo bạo, của niềm tin tưởng và tự hào về lịch sử

dân tộc.

Truyện “Con Rồng, cháu Tiên” chẳng những là sản phẩm của ý thức lịch sử, ý

thức thẩm mỹ má ít nhiều còn phản ánh và lưu giữ được cả tâm linh, tiềm thức về cội

nguồn nòi giống của người Việt cổ, Lạc Long Quân thuộc nòi rồng, chi tiết này phản

ánh việc thờ giao long làm vật cổ, Lạc Long Quân chiến thắng các loài quái vật: Ngư

Tinh ở biển, Hồ Tinh ở đồng bằng, Mộc Tinh ở rừng núi phản ánh sự nghiệp khắc

phục thiên nhiên, xây dựng địa bàn cư trú của tổ tiên ta. Ở đây có sự kết hợp rất tự

nhiên và độc đáo giữa yếu tố siêu nhiên, kì ảo, phi thường với những yếu tố hợp lí,

bình thường. Như việc tiêu diệt Ngư Tinh, Lạc Long Quân đã dùng mưu “nung đỏ một

khối sắt”và giơ lên giả làm như cách ném mồi cho con vật và đã lừa được nó một cách

dễ dàng. Ta thấy, Lạc Long Quân chẳng dùng phép biến hóa gì cả mà bằng mưu cơ, tài

trí rất hợp lí để thắng con quái vật. Việc Lạc Long Quân tự xưng là thuộc tính rồng,

tức thuộc nòi giống của mẹ phản ánh vết tích của chế độ mẫu quyền và sự chuyển biến

mạnh mẽ sang chế độ phụ quyền. Người Việt Nam ở bất kì thời đại nào, phương trời

nào cũng xem Lạc Long Quân là tổ tiên, coi nhau là “đồng bào” và hãnh diện về nòi

giống “Rồng - Tiên“ của mình.

Bên cạnh truyện “Con Rồng, cháu Tiên” truyện “Quả bầu mẹ” cũng là truyện

rất phổ biến nhằm giải thích nguồn gốc các dân tộc ở nước ta. Từ quả bầu, chiếc bào

thai cùng một dòng máu sinh ra các dân tộc anh em, rõ ràng truyện nhắc nhở các dân

tộc trên đất Việt Nam rằng họ đã từ một cội nguồn duy nhất mà sinh ra. Sức sống của

truyện là ở chỗ nó nhuốm màu lịch sử, phản ánh được hiện thực lịch sử khi mọi người

Việt Nam đều chung sống đoàn kết yêu thương nhau như anh em một nhà, chung vai

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Như vậy, tinh thần đoàn kết đấu tranh khắc phục thiên nhiên chống giặc ngoại

xâm trong mỗi con người Việt Nam là niềm tự hào của dân tộc ta đã tìm thấy mầm

mống của nó ở những truyền thống rất xưa phản ánh rõ trong TT.

Lịch sử nước ta có thể tóm lại trong hai mặt chủ yếu: đấu tranh với thiên nhiên

để khai khẩn đất đai mà sinh sống và chống mọi cuộc xâm lược để bảo vệ đất nước.

TT “Sơn Tinh” và TT “Thánh Gióng” đã phản ánh hai mặt ấy lịch sử.

Có rất nhiều TT về Sơn Tinh hay Tản Viên sơn thần. Nhưng có lẽ nổi bật nhất

là TT “Sơn Tinh - Thủy Tinh” với cuộc phân tranh gay gắt giữa Sơn Thần và Thủy

Thần. Trong TT “Sơn Tinh, Thủy Tinh” ta còn thấy sự gửi gắm của nhân dân vào vị

Sơn Thần để đối chọi với sức mạnh của lũ lụt cũng như việc lí giải vấn đề theo chiều

hướng tích cực của nhân dân: sức nước sau cùng cũng thất bại.

Ở TT “Thánh Gióng” cái “lõi” của hiện thực lịch sử rõ hơn, nhân vật được xác

định cụ thể hơn và gần với thực tế hơn. Gióng có làng quê cụ thể, xác định (làng Phù

Đổng), có mẹ (là bà mẹ bình thường như những bà mẹ khác), được sinh ra và lớn lên

mang khát vọng đánh giặc cứu nước như bao chàng trai yêu nước. Bên cạnh nhiều

những nét rất đời thường, Thánh Gióng có cả những nét phi thường như việc mẹ

Gióng giẫm lên dấu chân của người khổng lồ để thụ thai, việc Gióng lớn nhanh như

thổi và bay lên trời khi đã đánh tan giặc Ân... Nhưng nét đặc sắc hơn cả của nhân vật

Thánh Gióng là ở tinh thần yêu nước của cậu bé, chỉ đợi lời kêu gọi cứu nước của sứ

giả mới cất lời nói đầu tiên là lời đánh giặc bảo vệ tổ quốc. “Thánh Gióng” là tác phẩm

mở đầu của dòng truyền thống chống giặc ngoại xâm nói riêng và dòng văn học yêu

nước chống giặc ngoại xâm nói chung của nước ta. Qua “Thánh Gióng” chúng ta thấy

được, từ rất lâu, nhân dân ta đã có ý thức đánh giặc không phân biệt tuổi tác. Khi giặc

đến thì tất cả mọi người dân đều phải đồng lòng đứng lên đánh đuổi, phải biết xây

dựng sức mạnh bao gồm sức mạnh của con người và sức mạnh của vũ khí để chiến

thắng. Từ “Thánh Gióng”, ta rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho công

cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Khác với các TT trên, TT “An Dương Vương” được xây dựng trên một sự

kiện lịch sử cụ thể về những nhân vật có thực. Nhưng chính tính chất kì vĩ trong việc

xây thành và chế nỏ đã tạo nên ý nghĩa TT rõ rệt cho truyện. Bên cạnh tấn bi kịch

nước mất nhà tan thì vấn đề liên quan đến bước phát triển của dân tộc ta với một hình

thức nhà nước tương đối qui mô cũng như bước phát triển trong kỹ thuật chế nỏ là nội

dung rất quan trọng được phản ánh trong TT “An Dương Vương”.

Qua TT, ta còn thấy sự giao lưu văn hóa biểu hiện quan hệ hòa bình giữa các

dân tộc. Theo TT “ Lạc Long Quân” thì Thần Nông là tổ tiên của Lạc Long Quân.

Nhưng Thần Nông lúc đầu vốn có trong TT của người Miêu (vùng kinh Dương, ven

sông Dương Tử, Trung Quốc). Do sự giao lưu văn hoá mà con cửu vĩ hổ tinh có trong

TT “Lạc Long Quân” của ta và trong văn học dân gian của hầu hết các dân tộc thiểu số

ở Hoa Nam, Việt Bắc, dân tộc Hán ở Trung Quốc.

1.1.2. Đặc điểm nghệ thuật

TT không phải là những tác phẩm có cốt truyện hoàn chỉnh và ổn định mà

thường chỉ là những mẩu truyện, những tình tiết mà người kể hoặc người biên soạn có

thể tùy ý sắp xếp theo những hệ thống ít nhiều khác nhau. Trong quá trình lưu truyền,

TT phải trải qua rất nhiều sự thêm bớt. Ngôn ngữ của TT đã bị cận đại hóa. Cơ cấu tác

phẩm không còn được nguyên vẹn như khi tác phẩm xuất hiện và lưu hành trong xã

hội với tất cả sinh khí của một thứ văn hóa tinh thần gắn liền với cuộc sống con người.

Vì thế, sẽ vô cùng khó khăn khi muốn phân tích nghệ thuật của TT một cách chi tiết.

Mặc dù ra đời trong buổi bình minh của dân tộc nhưng TT lại cống hiến cho chúng ta

rất nhiều những rung cảm khi thưởng thức.

Trước hết bởi “về một mặt nào đó TT được coi như những tiêu chuẩn, như

những mẫu mực không thể nào bắt chước được” (Mác). Sự hấp dẫn của TT có tính

chất đặc biệt, đó là sự hấp dẫn của một nghệ thuật nảy nở trên những điều kiện xã hội

sơ khai, một nghệ thuật về sau không bao giờ sản sinh được nữa. Hệ TT là sự cấu

thành của tư tưởng cổ xưa nhất, là sáng tác nghệ thuật cổ đại mà đời sau không bao giờ

bắt chước được. Ở thời kì sơ khai, người nguyên thủy chưa tách mình ra khỏi môi

trường tự nhiên và xã hội bao quanh. Họ đã nhân hóa hồn nhiên toàn bộ thiên nhiên,

hình dung các hiện tượng tự nhiên như con người và ngược lại con người cũng có thể

mang đặc điểm của đối tượng tự nhiên tạo nên sự hoang đường, kì lạ, đầy hấp dẫn cho

hệ TT. Trong TT, chuyện kể về các sự kiện quá khứ là phương tiện miêu tả sự kiến tạo

thế giới và là cách giải thích trạng thái hiện thời của nó. Tình trạng hiện thời của thế

giới là hệ quả của các sự kiện quá khứ và những hành động của các nhân vật TT.

Với óc tưởng tượng của người lao động tự do thời kì công xã thị tộc, chưa có

bóc lột, chưa có “ luân lí của chủ nô”, “luân lí của nô lệ”, thấy tầm vóc của thị tộc

chính là tầm vóc của mình, con người thể hiện khí thế hào hùng, phóng khoáng trong

TT. Họ tạo ra được những hình tượng kì vĩ, đã mô tả các sự kiện trong quá khứ với tất

cả những gì là đẹp đẽ, huyền ảo. Vì thế, sẽ rất thiếu sót nếu không để cho óc tưởng

tượng của mình vươn lên, cho tình cảm của mình rung động với bao nhiêu thi vị và ý

nghĩa kì vĩ có trong TT.

Bên cạnh những hình tượng kì vĩ và mĩ lệ, bằng sự nhận xét tinh vi, sự quan

sát cụ thể, trí tưởng tượng phong phú, người nguyên thủy đã tạo ra những tình tiết dí

dỏm trong TT. Việc thách cưới của Hùng Vương với những yêu cầu về các lễ vật dễ

dàng tìm thấy ở núi rừng hơn là sông nước đã cho thấy sự thiên vị của nhân dân đối

với vị thần Núi. Bởi theo quan niệm của người xưa, Sơn Tinh là vị thần tượng trưng

cho sức mạnh chống lũ lụt. Mối tình cảm và sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với Sơn

Tinh xuất phát từ sự sợ hãi, căm ghét dòng nước lũ ác nghiệt xảy ra hằng năm gây bao

tai họa. Trong TT “Mặt Trăng và Mặt Trời” có chi tiết tưởng như bất hợp lí nhưng

được lí giải rất lô gích, hợp lí từ trí tưởng tượng phong phú của người xưa. Giải thích lí

do vì sao ngày ở hạ giới dài ra hay ngắn đi, TT này đã đưa ra cách lí giải thật dí dởm.

Mặt trời đi kiệu có người khiêng. Khi nào người khiêng là những thanh niên thì hành

trình của thần chậm vì thanh niên tính thích đùa, la cà ở dọc đường, cũng vì nguyên

nhân ấy mà ngày ở hạ giới dài ra. Khi nào khiêng kiệu là những người đứng tuổi thì

hành trình của thần nhanh hơn vì họ không phí thời gian la cà ở dọc đường nên ngày

hạ giới ngắn đi...

TT thể hiện tầm hoành tráng của tư duy và tính chân thành trong cảm xúc của

người xưa nên nó có giá trị đặc biệt. Từ việc kết hợp trí tưởng tượng phong phú với

niềm mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp trong đó khả năng của con người cũng lớn như

nguyện vọng người xưa đã sáng tạo ra những vật thần kì như cái thảm bay, nồi cơm ăn

hết lại đầy, chiếc gậy thần vạn năng... Các vật thần kì do nhân dân sáng tạo ra trong

TT đã phần nào phản ánh nguyện vọng của họ về cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất

lao động. Và đó cũng là nguyện vọng của thời đại chúng ta hay nói đúng hơn là

nguyện vọng của mọi thời đại. Bởi nhân loại từ xưa đến nay trên bước đường tiến lên

bao giờ cũng có nguyện vọng ấy. Kết hợp nguyện vọng với trình độ khoa học của thời

đại hiện nay đã mang lại cho con người nhiều thành công trong mọi lĩnh vực cải tạo

thiên nhiên, chinh phục vũ trụ từ việc chế tạo ra máy bay đến tàu vũ trụ, từ việc đi sâu

xuống lòng đất cho đến việc đặt chân lên mặt trăng...

Mặc dù thời đại mà chúng ta đang sống cách xa với thời kì sản sinh ra TT

nhưng những vấn đề lớn TT nêu lên chính là những vấn đề chúng ta đang đặt ra: giải

phóng con người, đề cao giá trị con người. Tuy cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề của

TT có khác chúng ta bởi TT phản ánh hiện thực bằng phương pháp riêng của nó. Ở

TT, tính lãnh mạn kết hợp với hiện thực. Người xưa rút ngay cái cốt lõi trong thực tế

của vấn đề để rồi thể hiện bằng hình tượng. Với trí tưởng tượng phong phú của mình,

họ tô điểm thêm cho những hình tượng bằng khát vọng, ước mơ chính đáng để hình

tượng có vẻ đẹp thật trọn vẹn, thật lãng mạn.

TT vẽ lên được bức tranh thần thoại hóa về đất nước, con người, những sự

kiện lịch sử, xã hội trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc cùng những giá trị tinh

thần truyền thống đầu tiên của dân tộc. Tiếc là trong quá trình lưu truyền, TT đã mất đi

rất nhiều. Càng nuối tiếc cho những gì đã mất, chúng ta càng phải trân trọng những TT

còn lưu lại được đến ngày nay.

1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH

Truyện cổ tích (TCT) là một bộ phận quan trọng nhất trong kho tàng TDG của

người Việt cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới. TCT rất phong phú về đề tài và

phương pháp sáng tác. TCT hướng vào những vấn đề cơ bản, những số phận, những

quan hệ có tính chất riêng tư và phổ biến trong xã hội có giai cấp (ở Việt Nam chủ yếu

là xã hội phong kiến). TCT dùng một kiểu tưởng tượng và hư cấu riêng kết hợp với

các thủ pháp nghệ thuật đặc thù để phản ánh đời sống và khát vọng của nhân dân, đồng

thời nói lên những quan điểm đạo đức, những quan niệm về công lí xã hội của nhân

dân.

TCT sinh ra từ cuối thời kì công xã nguyên thủy, phát triển, tồn tại và diễn

biến qua các thời kì khác nhau của xã hội có giai cấp cho đến mãi gần đây. Mặc dù

giai cấp thống trị mượn giáo lí của tôn giáo thông qua hình thức truyện kể dân gian để

phục vụ cho mục đích xấu xa của chúng là làm mê muội nhân dân với những suy nghĩ

cam chịu, những mong đợi hạnh phúc sau khi chết. Nhưng những ảnh hưởng của tư

tưởng phong kiến và tôn giáo đối với TCT dù có cũng không phá hoại được tính chất

cơ bản của nó là tính nhân dân.

TCT là loại văn xuôi truyền miệng dài, lắm tình tiết nên dễ biến đổi về nội

dung và hình thức. Thường thì cốt truyện đầu tiên bắt nguồn từ một sự việc xảy ra ở

một địa phương nào đó và có liên quan đến những nhân vật có thực ít nhiều hấp dẫn,

gây chú ý đối với nhân dân. Cùng với quá trình lưu truyền từ đời này sang đời khác,

qua không gian và thời gian, chung quanh cốt truyện có những tình tiết mới dần dần

được bổ sung tạo nên cho TCT sự phong phú, phức tạp trong tình tiết. “Tấm Cám” là

truyện dài có nhiều tình tiết nhờ vào khả năng thu hút những sự việc mới để bổ sung

vào cốt truyện trong quá trình lưu truyền. Bên cạnh những vấn đề trung tâm là vấn đề

mẹ ghẻ con chồng, chị em cùng cha khác mẹ; là sự phản ánh mâu thuẫn giai cấp giữa

địa chủ (tức mẹ con Cám) và nông dân (tức cô Tấm) thì những việc nuôi cá bống, dự

hội mùa xuân, ướm giày, những kiếp luân hồi của Tấm, miếng trầu cánh phượng... đã

dần dần được đưa vào truyện với những nguyên nhân nhất định cùng những yêu cầu

nhất định.

TCT, trên con đường du lịch qua không gian và thời gian, không chỉ có khả

năng thu hút những tình tiết mới bổ sung vào nội dung truyện mà còn có khả năng kết

hợp với truyện khác để tạo thành một truyện dài hơn. Ví dụ: truyện “Khổng lồ đúc

chuông” móc lấy truyện “Trâu vàng Hồ Tây” (“Trâu vàng tiên du”); sự tích “Con dã

tràng” có hai phần: phần đầu chứa đựng những tình tiết lấy từ TCT Trung Quốc đã

Việt hóa đi, phần dưới là TCT của ta...

Cũng chính trong quá trình lưu truyền, “Tấm Cám” đã trở thành TCT lịch sử.

Nhờ vào trí tưởng tượng phong phú của nhân dân nên đã có những sự chuyển hóa kì lạ

ấy. Để chứng tỏ TCT là có thực, người xưa luôn cố ý gắn TCT với những di tích lịch

sử ở địa phương. Vì thế khi “Tấm Cám” truyền đến vùng Hà Bắc thì nơi Tấm vớt tép

được gắn ngay với sông Thiên Đức. Tương tự, truyện “Đá vọng phu” ở Lạng Sơn thì

gắn với hòn đá ở Lạng Sơn, ở Thanh Hoá thì gắn với một hòn đá khác cũng gọi là Đá

vọng phu.

Như vậy, sự hình thành TCT tuân theo hai xu hướng đối lập nhau: xu hướng

lịch sư hóa và xu hướng khái quát hóa. Trong đa số trường hợp thì xu hướng khái quát

hóa chiếm ưu thế. Tính không ổn định vừa là nhược điểm vừa là ưu điểm của tác phẩm

văn học dân gian nói chung, TCT nói riêng. Càng ít có tính chất ổn định, TCT lại càng

sinh động. Do đó, khi nghiên cứu TCT cần dựa vào nhiều dị bản khác nhau để có thể

phân tích và đánh giá đúng tác phẩm.

1.2.1.Đặc điểm nội dung

TCT phản ánh một cách sinh động, và chân thật đời sống dân tộc. Vì TCT đã

nảy sinh từ cuộc sống muôn màu muôn vẻ của nhân dân, đã phát triển cùng với trí

tưởng tượng đầy tính chất lãng mạn nhưng cũng rất chân thật của họ; là vì TCT không

bao giờ chịu bằng lòng với những gì đã có mà trái lại nó sẵn sàng thu hút lấy những

vấn đề mới từ trong cuộc sống vốn rất năng động và nhiều biến đổi, từ đời sống nội

tâm phong phú của nhân dân lao động.

TCT của ta bao gồm một số truyện có nguồn gốc trong nước và một số truyện

có nguồn gốc từ bên ngoài. Những truyện có nguồn gốc từ bên ngoài nhưng để được

nhân dân ta chấp nhận thì đó cũng phải là những truyện phù hợp với tâm hồn dân tộc,

đời sống dân tộc... Và cũng tuân theo tính chất không ổn định của TCT, những truyện

có nguồn gốc nước ngoài dần dần được bổ sung, biến đổi để ngày càng theo khuôn

khổ tư tưởng và tình cảm của dân tộc.

Theo quy luật chung của văn nghệ dân gian, TCT thường liên quan đến những

phong tục lâu đời của dân tộc. Vì thế, chúng ta dễ dàng tìm thấy những TCT có nội

dung giải thích một cách lí thú những phong tục mà nhân dân không hiểu tại sao lại có

và bắt đầu như thế nào với lời kết luận đại khái là: “.... Từ đó, người nước Nam có tục

lệ...” truyện “Trầu cau” gắn liền với tục ăn trầu, truyện “Bánh chưng, bánh giầy” gắn

liền với tục làm bánh chưng, bánh giầy vào ngày Tết, hội hè hay các sự tích “Ông bình

vôi”, “Ông đầu rau”, “Cây nêu ngày Tết”... đều gắn với những phong tục cổ xưa của

nhân dân ta. Tuy nhiên, không phải TCT gắn với một tục lệ nào đó thì cũng nhằm mục

đích chính là giải thích phong tục.

Trong đa số truyện, nội dung chính không nhằm giải thích tục lệ. Truyện

“Trâu vàng Hồ Tây” liên quan tới tục đúc con Kim ngưu để yểm núi sông. Nhưng

truyền cho đến bay giờ, truyện “Trâu vàng Hồ Tây” không hề biểu hiện mối liên quan

đó. Truyện “Tấm Cám” cũng thế, mặc dù gắn với tục lệ liên quan với đôi giầy trong

sinh hoạt của một số dân tộc và có vai trò quan trọng trong sự phát triển của tình tiết

truyện. Nhưng đến nay, nội dung của truyện đã mở rộng rất nhiều.

TCT nảy sinh trên cơ sở của mọi khía cạnh sinh hoạt xã hội. Điều đó có nghĩa

là không phải TCT nào cũng gắn với phong tục bởi rất nhiều khía cạnh sinh hoat xã

hội không hề bao giờ trở thành tục lệ. Nhiều TCT được sáng tác ra để giải thích các sự

vật trong thiên nhiên của đất nước ta, đặc biệt là những sự vật quen thuộc, gắn bó với

đời sống của nhân dân. Có thể nói bất cứ vùng nào trên đất nước tươi đẹp của ta cũng

đều có khả năng gợi mở trí tưởng tượng phong phú của người xưa để những quả núi,

những khúc sông, những cánh đồng... trở thành đối tượng giải thích của nhiều TCT

như: “Sự tích núi Bà đội om”, “Sự tích Vịnh Hạ Long”, “Sự tích Hồ Gươm”... Vì

thuộc thể loại tự sự nên cả trong những TCT phản ánh phong cảnh thiên nhiên của đất

nước ta cũng có thể tìm thấy vài nét phác họa đơn giản, súc tích. Nhưng bấy nhiêu

thôi, cũng đã giúp ta thấy được tấm lòng, tình cảm của tác giả dân gian đối với quê

hương đất nước.

Ngoài những cảnh trí của đất nước thì những sự vật trong thiên nhiên như

chim, thú, cây cỏ cũng là đối tượng giải thích của TCT. Các truyện “Sự tích quả dư

hấu”, “Sự tích chim “Quốc””, “Sự tích cây vú sữa”, ”Sự tích trái sầu riêng”, “Sự tích

con Khỉ”... là những truyện được phổ biến tương đối rộng trong số vô vàn TCT gắn bó

với thiên nhiên của đất nước trong quá trình phát triển dân tộc.

Do tính chất của thể loại, bao giờ TCT cũng nhân những vấn đề thiên nhiên để

nói những vấn đề xã hội. Tác giả dân gian qua truyện “Sự tích chim “Quốc” “để nói

lên tình bạn chung thủy... Trong TCT, những vấn đề xã hội thường chiếm ưu thế đối

với những vấn đề thiên nhiên. Vì xét cho kĩ, đa số TCT đã hình thành trên cơ sở những

vấn đề xã hội.

Phần lớn TCT nêu lên những bài học thực tiễn về cuộc sống trong xã hội. Có

khi tác giả dân gian vạch rõ xét người không nên quá chú trọng đến bề ngoài mà tài

năng, tâm hồn mới là giá trị đích thực đáng để ta lưu tâm (trong các truyện về những

nhân vật xấu xí có tài như: “ Sọ dừa”, “Trương Chi”, “Hà Ô Lôi”… ). Có khi tác giả

dân gian muốn tỏ rằng người đời không nên nóng vội (truyện “Lẩy bẩy như Cao Biên

dậy non”) hoặc không thể tự mãn được (truyện Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho”)…

Thực trạng xã hội mà TCT phản ánh hết sức đen tối, nhìn vào truyện thấy đầy

rẫy những cảnh tượng đáng sợ như anh cướp hết phần em (truyện “Cây khế”), chị gái

xô em xuống sông để cướp chồng (truyện “Sọ Dừa”), anh nuôi hãm hại em để hưởng

công danh (truyện “Thạch Sanh”)... Nêu lên những điều chua xót về thế tình bạc bẽo,

con người bất nhân, tác giả dân gian không coi đó là bản chất phổ biến. Những mặt

tiêu cực trong truyện nhằm làm nổi bật những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật chính,

nhằm khẳng định sức mạnh của chính nghĩa và thường thì kết thúc TCT cũng là lúc

khép lại những cảnh tượng đáng sợ bởi những kẻ xấu đều bị trừng phạt thích đáng.

Tinh thần lạc quan yêu đời và lòng yêu thương, quý trọng con người với

những phẩm chất cao quý, những mối quan hệ tốt đẹp là phần cốt lõi trong TCT thể

hiện triết lí sống và đạo lí truyền thống cao đẹp của nhân dân. Yêu đời và thương

người là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Tinh thần lạc

quan yêu đời là cơ sở của lòng yêu thương người và toàn bộ đạo đức truyền thống của

nhân dân. Tinh thần lạc quan trọng TCT không chỉ thể hiện qua biểu hiện dễ thấy là sự

kết thúc hậu. Có nhiều truyện kết cục bi thảm, không “có hậu” nhưng không thể cho

rằng đó là những truyện bi quan, tiêu cực. Trái lại, tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm

tin vào con người vẫn toả sáng cho dù số phận của nhân vật có bi thảm thậm chí họ

phải nhận lấy cái chết. Bởi đó là những cái bi thảm không bi quan, những cái chết

không tiêu cực. Trong “Sự tích con Sam”, những con Sam lúc nào cũng đi sóng đôi

chính là hậu thân của hai vợ chồng thương nhau rất mực nhưng không may chết đuối

khi chồng đang dìu vợ vượt biển. Hình tượng được tạo nên trong sự tích thật đẹp bởi

nó kết tinh được ý nghĩa của mối quan hệ vợ chồng mà nhân dân ta xem trọng và vẫn

duy trì được. Chúng ta còn tìm thấy trong nhiều TCT những cái chết để cho lẽ phải và

đạo lí cao đẹp của con người được sống. Đó là cái chết của anh Nhân trong “Sự tích

chim “Quốc”” để cho tình bạn thủy chung được sống, cái chết của người vợ trong “Sự

tích Đá vọng phu” để tình nghĩa vợ chồng sâu nặng tạc vào đá núi, tồn tại muôn đời.

Trong kho tàng TCT Việt Nam, có những truyện phản ánh khả năng của nhân

dân. Nhân vật chính thường có khả năng phi thường chất liệu để xây dựng nhân vật

được lấy từ thực tiễn cuộc sống về hình ảnh của những người lao động còn nhiều đói

khổ nhưng siêng năng, chăm làm. Khả năng của nhân vật được tạo nên từ sự kết hợp

của trí tưởng tượng với tâm lí chất phác ngây thơ cùng niềm tin ở khả năng lao động

của người dân xưa. Trong loại truyện này, có những truyện kể lại kì tích của những

người có sức khoẻ phi thường như truyện “Lê Như Hổ”, truyện “Thạch Sanh”, truyện

“Ông Ồ”... các nhân vật trong truyện đều kì vĩ bởi sức khỏe tuyệt luân nhưng lại rất

đời thường bởi họ cũng ở trong nhân dân lao động mà ra. Thạch Sanh tuy rất phi

thường với nhiều những chiến công: giết xà tinh, đại bàng, thắng quân mười tám nước

chư hầu... nhưng chàng cũng mang hình ảnh của người tiều phu vạm vỡ, đóng khố với

lưỡi búa và gánh củi từ bao giờ rồi đã rất gần gũi với nhân dân. Lê Như Hổ tuy rất

đáng phục khi chỉ trong một buổi đã phát ba mẫu cỏ, nửa ngày gặt xong hai mẫu lúa,

nhưng chàng cũng mang hình ảnh quen thuộc của người nông dân siêng năng với

những công việc đồng áng... TCT về nhân vật khỏe mạnh không những thể hiện ước

vọng thiết tha về một sức khoẻ phi thường, mà còn nói lên niềm tự hào của nhân dân

về khả năng lao động của mình.

Bên cạnh những truyện về người lao động khỏe, có những truyện đề cao tài

nghệ khéo léo của người lao động (các truyện “Ba chàng thiện nghệ”, “Người thợ

mộc Nam Hoa”, “Bùi Cầm Hổ”...) hoặc đề cao tinh thần nổ lực kiên trì của người lao

động (các truyện “Cố ghép”, “Cây tre trăm đốt”, “Bảy Giao Chín Quỳ”...). Có những

truyện miêu tả óc nhận xét tinh vi, trí phán đoán mẫn tuệ của các tác giả dân gian (như

các truyện: “ Có lai làm chứng”, “Người ả đào với giặc Minh”, “Chàng ngốc được

kiện”...)…

TCT thể hiện rất rõ triết lí “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lí của nhân dân.

Triết lí “ở hiền gặp lành” là biểu hiện cao nhất của ước mơ công lí. “Ở hiền gặp lành”

là niềm tin và triết lí được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong hầu hết các

thể loại sáng tác dân gian truyền thống của người Việt, nhưng tập trung nhất là ở TCT.

Triết lí này chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của nhiều TCT về nhiều

mặt từ đề tài, chủ đề đến xây dựng cốt truyện, nhân vật… Trong hầu hết các truyện, kẻ

có tội ác nhất định không tránh khỏi hình phạt thích đáng, bất kể y thuộc tầng lớp nào.

Bởi tác giả dân gian không chỉ phản ánh, tố cáo, lên án những âm mưu xấu xa, những

thủ đoạn độc ác của chúng mà còn tìm cách loại trừ, tiêu diệt chúng vì cuộc sống hạnh

phúc, bình yên cho những người lương thiện. Lý Thông tham tài tham sắc, phụ nghĩa

quên ơn, hãm hại Thạch Sanh, bị trời đánh và sau đó hóa kiếp bọ hung, đời đời chui

rúc nơi hôi hám. Người anh trong truyện “Cây khế” tự chuốc lấy cái chết nhục nhã từ

chính lòng tham không đáy của hắn. Cám trong truyện “Tấm Cám” phải chết để trả lại

cho Tấm cuộc sống bình yên mà Tấm xứng đáng được hưởng. Trừng phạt những nhân

vật đại diện cho cái ác, tác giả dân gian muốn có sự đền bù xứng đáng cho người

lương thiện. Nhiều nhân vật đại diện cho điều thiện đã được đổi đời, được đền bù xứng

đáng. Sọ Dừa thì đỗ trạng nguyên và lấy được con gái phú ông, Tấm trở về với ngôi vị

hoàng hậu, Thạch Sanh cưới công chúa và lên ngôi vua… Các TCT loại này cho thấy

tác giả dân gian của truyện có cái nhìn hiện thực xã hội rất sâu sắc và sự phản ánh ước

mơ công lí của nhân dân rất triệt để.

Trong TCT, những vấn đề xã hội thường chiếm ưu thế đối với những vấn đề

thiên nhiên. Điều đó cũng dễ hiểu. Xét cho kỹ, đại đa số TCT đã hình thành trên cơ sở

những vấn đề xã hội, trước hết là những mâu thuẫn giai cấp. Những mâu thuẫn đó thực

là thiên hình vạn trạng. Khi thì mâu thuẫn giai cấp được biểu hiện trong quan hệ của

Nhà nước phong kiến đối với nhân dân. Đó là trường hợp những truyện như “Người

họ Liêu và Diêm Vương”, “Quận He”, “Chàng Lía”… Khi thì mâu thuẫn giai cấp

được biểu hiện trong quan hệ của địa chủ hoặc phú thương đối với nhân dân. Đó là

trường hợp những truyện như: “Thạch Sanh”, “Cây tre trăm đốt”, “Bà chủ và người đi

cày”…

Mâu thuẫn giai cấp được biểu hiện trong quan hệ của địa chủ, phú ông hoặc

phú thương đối với nhân dân là mâu thuẫn chủ yếu được phản ánh trong TCT. Bởi đối

với nhân dân lao động thì bọn này trực tiếp đàn áp bóc lột nhiều hơn. TCT đã vạch rõ

sự đối lập giữa cảnh giàu có kiêu sa của bọn địa chủ, phú ông, phú thương với cảnh

bần hàn của nông dân. Người nông dân trong TCT thường được miêu tả là những con

người nghèo về vật chất mà giàu về nhân cách, chất phác mà thông minh, hiền lành mà

dũng cảm. Cô thôn nữ hay anh trai cày trong các TCT đều tiêu biểu cho bản chất tốt

đẹp của người lao động. Trái ngược hoàn toàn với bản chất và hoàn cảnh sống của

nông dân, bọn địa chủ, phú ông, phú thương thường được miêu tả như những kẻ giàu

có nhưng keo kiệt, gian ác nhưng ngu dốt, hống hách nhưng hèn nhát. Từ mụ địa chủ

(trong truyện “Bà chủ và người đi cày”), mụ dì ghẻ (trong truyện “Tấm Cám”), lão

phú ông (trong truyện “Cây tre trăm đốt”), đến tên phú thương Lý Thông (trong truyện

“Thạch Sanh”) đều cùng bản chất xấu xa của giai cấp bóc lột, là nguồn gốc chính của

mọi tai họa đối với nhân dân. Hình thức bóc lột của chúng cũng biến hóa khó lường.

Khi thì chúng che giấu âm mưu cay độc trong những lời nói dụ dỗ khéo léo đến nỗi

nông dân mắc lừa. Lão phú ông trong truyện “Cây tre trăm đốt” đã lấy con gái để làm

mồi và bằng những lời dụ dỗ đã giữ anh trai cày làm không công cho hắn qua năm này

tháng nọ. Khi thì chúng thể hiện sự bóc lột trắng trợn như trong các truyện “Tấm

Cám”, “Sự tích con Khỉ”.

Mâu thuẫn giữa bọn quan lại cao cấp và nhất là nhà vua ít được phản ánh

trong TCT. Bởi chúng ở xa và ít tiếp xúc với nhân dân. Tuy vậy, cũng có những TCT

vạch tội, đả kích mạnh vào vua chúa. Truyện “Tại sao sông Tô Lịch và sông Thiên

Phù hẹp lại” không chỉ đả kích vào một tên bạo chúa mà còn đả kích vào cả một triều

đại phong kiến.

TCT miêu tả xã hội của các tầng lớp bóc lột với các luật thú rừng tàn bạo với

thứ đạo lý tanh hôi “người ăn thịt người” không ngoài mục đích vạch rõ tội ác của giai

cấp thống trị và đề cao những nhân vật thuộc nhân dân lao động chống lại chúng. TCT

thường miêu tả cuộc đấu tranh giai cấp như là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác. Cái ác

lúc đầu bao giờ cũng mạnh hơn cái thiện. Nhưng trong quá trình diễn biến của truyện,

cái ác suy yếu dần, cái thiện lớn mạnh dần và sau cùng đã chiến thắng. Từ anh trai cày

trong các truyện “Cây tre trăm đốt”, “Bà chủ nhà và người đi cày”, cô thôn nữ trong

các truyện “Sự tích con Khỉ”, “Tấm cám” cho đến chàng dũng sĩ Thạch Sanh trong

truyện “Thạch Sanh”, dầu hoàn cảnh có những điểm khác nhau, nhưng họ đều thuộc

lực lượng đại diện cho cái thiện đấu tranh đến cùng với cái ác để đi đến thắng lợi. Tất

nhiên để thắng lợi, họ có được sự giúp đỡ của Bụt, Tiên, Thần linh. Chiến thắng của cô

Tấm trước mẹ con Cám có sự góp mặt của ông Bụt hiền hậu, con gà nhanh nhẩu, đôi

giày kì lạ… Chàng Thạch Sanh không phải một mình mà chiến thắng được bao nhiêu

thế lực hắc ám. Thiên thần đã dạy cho chàng võ nghệ, thái tử con vua thủy tề, cây đàn

thất huyền… đều có phần đóng góp vào thắng lợi của Thạch Sanh, thắng lợi của chính

nghĩa.

Thiện phải chiến thắng và được khen thưởng, ác phải thất bại và chịu hình

phạt. Đó là kết cục của mỗi TCT. Mức độ và hình thức thưởng phạt đối với các nhân

vật đại diện cho điều thiện và điều ác ở trong TCT Việt được thực hiện có phân biệt,

tương xứng với tài đức, tội trạng của từng nhân vật. Cô Tấm đẹp người, đẹp nết, chịu

thương chịu khó, chịu nhiều thiệt thòi, được lấy vua trở thành hoàng hậu. Thạch Sanh

có tài năng, đức độ, có nhiều công tích được lấy công chúa và làm vua. Sọ Dừa thì đỗ

trạng. Người em (trong truyện “Cây khế”) là người nghèo khổ, hiền lành nhưng không

có tài năng, công tích gì đặc biệt nên chỉ được Chim thần cho vàng (vừa đầy chiếc túi

“ba gang”) để trở thành giàu có mà thôi. Hình phạt dành cho bọn gây tội ác thường rất

khốc liệt và cũng có sự phân biệt rõ. Lý Thông vong ân bội nghĩa, lợi dụng, lừa gạt,

cướp công và hãm hại Thạch Sanh thì bị trời đánh hóa thành kiếp bọ hung. Người anh

(trong truyện “Cây khế”) ích kỉ, tham lam thì Chim thần cũng chỉ chiều theo tham

vọng của hắn để cho hắn phải tự chuốc lấy cái chết nhục nhã mà thôi…

Cuộc đấu tranh giai cấp dù có đưa đến biện pháp trừng phạt nào đi nữa thì

trong đa số trường hợp vẫn có ý nghĩa vì đạo đức. Sự thưởng, phạt trong TCT nhìn

chung đều được nhìn nhận và giải quyết theo yêu cầu đạo đức. Đạo đức trong TCT

vừa là đạo đức thực tiễn, vừa là đạo đức lí tưởng của nhân dân. Vì thế nó rất cao mà

không xa, rất xưa mà không cũ.

Ở giai đoạn hưng thịnh của chế độ phong kiến, khi giai cấp phong kiến còn đại

diện cho những quyền cơ bản của dân tộc, nó đã biết dựa trên cơ sở dân tộc, động viên

được lực lượng nhân dân để xây dựng và bảo vệ đất nước. Ở giai đoạn này, sự phân

hóa giai cấp chủ yếu diễn ra trong cầu trường sinh hoạt và quan hệ gia đình, được đánh

giá từ quan điểm của xã hội thị tộc cổ đại. Đa số TCT mới nêu cao được yêu cầu đạo

đức, mà chưa thể hiện rõ rệt yêu cầu chính trị của nông dân. Chỉ đến giai đoạn sau của

chế độ phong kiến khi mà ách thống trị của giai cấp phong kiến quá ư nặng nề thì yêu

cầu chính trị mới được đề ra cho cuộc đấu tranh của nhân dân. Người nông dân sau

nhiều đời nếm trải đủ mùi cau đắng của bộ máy quan liêu phi lí, thối nát, của thiên tai

liên tiếp, của loạn lạc triền miên… buộc phải lựa chọn con đường đấu tranh trường kì

chống giai cấp phong kiến. Các phong trào ấy tất nhiên được phản ánh vào trong văn

học dân gian. Điều này giải thích vì sao giai đoạn bão táp của chiến tranh nông dân

cũng là giai đoạn phát triển huy hoàng của văn học dân tộc. Cùng với các bài về nông

dân khởi nghĩa, các TCT về anh hùng nông dân đã ít nhiều phản ánh được yêu cầu

chính trị của nhân dân trong những cao điểm của lịch sử. Những truyện “Chàng Lía”,

“Quận He”, “Nam Cường”, “Cố Bu”, “Vợ Ba Cai Vàng”… đã miêu tả anh hùng nông

dân, đã giải quyết những yêu cầu chính trị theo quan điểm của nông dân thời xưa. Cảm

quan đạo đức vẫn xuyên thấm trong cấu trúc hình tượng nghệ thuật, đồng thời đã gắn

với ý thức xã hội - chính trị phát triển của người nông dân cách mạng.

Những nhân vật như Quận He, Chàng Lía, Nam Cường, Cố Bu… đều giống

nhau ở chỗ có sức khỏe, tài trí, có tinh thần dũng cảm, có lòng trượng nghĩa và niềm

căm thù sâu sắc đối với chế độ mục nát của nhà nước phong kiến. Họ mang những ưu

điểm của quần chúng nông dân và những nét phi thường mà nhân dân gán cho họ.

Chàng Lía một mình đánh tan cả bọn cướp Truông Mây, đi cướp của người giàu, chia

cho người nghèo, bày mưu đánh quân triều đình, tính mẹo giết bọn tham lam. Quận He

thì khỏe như voi, tiếng to như sấm, bơi giỏi như cá, một mình chém quân triều đình

như chém chuối, lừa ngục quan để thoát thân, giả thua để nhử địch mà tiêu diệt. Hầu

Tạo thì một mình vào doanh trại bắt võ tướng Lê Văn Duyệt ra đón và nộp tiền thuế…

Bên cạnh những ưu điểm, các anh hùng lại có những nhược điểm của nông dân. Chàng

Lía vì chủ quan đối với người vợ mới mà thua đậm đến nỗi bỏ mình. Ba Vành vì uống

rượu quá say mà bị bắt. Ngoài ra, những anh hùng nông dân còn mang những nhược

điểm của bản thân tư tưởng nông dân, phản ánh trình độ sản xuất thấp kém, kỹ thuật

lạc hậu, hiểu biết ít ỏi. Đó là đầu óc mê tín, bảo thủ, lệ thuộc tập quán… Cố Bu, Nam

Cường đều dùng phép phù thủy để đánh địch. Quận He lại rất tin vào mệnh trời thể

hiện qua câu nói: “Nếu thời không hại ta thì lũ chó chết đừng có hòng mó đến người

ta”.

Nhìn chung, các TCT về anh hùng nông dân có nhiều chỗ yếu do những hạn

chế trong tư tưởng của nhân dân thời xưa. Những anh hùng trong TCT được đề cao

quá đáng phản ánh tư tưởng sùng bái cá nhân anh hùng của nông dân. Các anh hùng

dù có mang những nét tiêu biểu của nông dân nhưng được coi là những bậc siêu nhiên

xuất hiện để cứu vớt sinh linh. Sự nghiệp giải phóng nhân dân gắn với số phận của họ:

họ sống thì sự nghiệp giải phóng nhân dân phát triển, họ chết thì sự nghiệp đó cũng

hết. Quá đề cao, sùng bái anh hùng dù là anh hùng của nhân dân tức là đang hạ thấp

vai trò của nhân dân. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho tư tưởng tính của

truyện bị giảm đi nhiều. Ngoài ra, ta còn tìm thấy chỗ yếu của TCT về anh hùng nông

dân ở chỗ truyện bị chi phối nhiều bởi những quan điểm phong kiến và tôn giáo ngự trị

trong đầu óc của nhân dân ngày xưa, ngay cả trong những lúc phong trào cách mạng

nông dân lên cao nhất. Tư tưởng của nhân dân xưa mặc dù đang chống lại ý thức hệ

phong kiến nhưng không thể một sớm một chiều có thể vươn ra khỏi khuôn khổ của ý

thức hệ ấy khi mà nó vốn đã là những tư tưởng thống soái cả thời gian dài qua các

triều đại phong kiến. Nông dân và thợ thủ công dầu có đấu tranh quyết liệt chống giai

cấp phong kiến thì cũng chưa thể quan niệm được một chế độ nào khác hơn chế độ

phong kiến. Cho nên chế độ xã hội lí tưởng trông mong ước của nhân dân vẫn là một

chế độ có vua quan tốt, dân chúng ấm no. Vì thế cao trào Tây Sơn dù có lật đổ chế độ

phong kiến thì cũng thiết lập một triều đại phong kiến mới là nhà Nguyễn Tây Sơn mà

thôi. Ngoài việc phải chịu những ảnh hưởng rất nặng của ý thức hệ phong kiến, nhân

dân xưa còn bị những quan điểm tôn giáo ngự trị trong đầu óc họ. TCT đã miêu tả anh

hùng nông dân với cả một vầng hào quang kì diệu. Bên cạnh sự đề cao các anh hùng

theo phương pháp của văn học dân gian, TCT thường có những sự bịa đặt mang tính

chất tôn giáo. Các tác giả dân gian đã rất tin vào mệnh trời và quy nguyên nhân thất

bại của các phong trào nông dân khởi nghĩa cho mệnh trời. Quả là những quan điểm

phong kiến, tôn giáo đã thống trị xã hội một cách ghê gớm!

Dầu sao TCT về anh hùng nông dân là loại truyện có tính tư tưởng cao, có tính

chiến đấu mạnh mẽ hơn những truyện khác ở chỗ phản ánh yêu cầu kinh tế của nông

dân là xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ và yêu cầu chính trị của nông

dân là đạp đổ chế độ thống trị tàn bạo của vua quan. Trong điều kiện các cuộc khởi

nghĩa nông dân bùng nổ khắp nơi và kéo dài hợp thành cơn bão táp làm chấn động nền

móng của các vương triều, TCT lịch sử đã phản ánh những sự kiện lịch sử mà chính sử

cố ý bỏ qua, đính chính những chân lý lịch sử bị giai cấp thống trị xuyên tạc… Vì vậy,

ngoài giá trị văn học, chúng lại có giá trị như những sử liệu của nhân dân.

Lịch sử nước ta không chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp mà còn là lịch sử hai

nghìn năm chống giặc ngoại xâm. Dân tộc ta đã luôn phải chống giặc từ mọi ngã kéo

đến, đặc biệt là phong kiến phương Bắc. TCT đã phản ánh sự thực lịch sử ấy. Do đó,

bên cạnh những TCT về nông dân khởi nghĩa còn có những TCT về những sự kiện lịch

sử, những nhân vật lịch sử khác. Đó là những anh hùng dân tộc như: Đinh Bộ Lĩnh, Lý

Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi… có công lớn trong công cuộc đấu tranh chống

xâm lăng, thống nhất đất nước. Sẽ là thiếu sót vô cùng to lớn nếu không nhấn mạnh

đến sự đóng góp của các nữ anh hùng cho truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc

hàng mấy nghìn năm của nhân dân ta. TCT lịch sử cũng đã lưu giữ cuộc khởi nghĩa

của Hai Bà Trưng, Bà Triệu đã ghi nhớ sự tích anh hùng của hai nàng công chúa nhà

Trần, nàng Đào Thị, Nang Quát phu nhân, và sau này là bà Thiếu Phó, bà vợ Ba Cai

Vàng… Các nhân vật lịch sử trong TCT lịch sử đã được tô điểm thêm rất nhiều phần

hư cấu, đã được xây dựng trong sự kế thừa TT Lạc Việt về mặt xây dựng hình tượng

anh hùng. Hình tượng anh hùng dân tộc trong TCT lịch sử không có được cái tầm vóc

khổng lồ như hình tượng các anh hùng trong TT nhưng cũng không kém phần kì vĩ.

Anh hồn của Bà Triệu quyện với thanh gươm báu biến thành ánh hào quang, Đinh Bộ

Lĩnh được rồng hiện ra giúp đỡ vượt qua dòng nước xiết, Lê Lợi được Long quân cho

mượn gươm thần… Như vậy, nếu tước bỏ đi cái màn tôn giáo, chúng ta vẫn thấy được,

từ rất lâu rồi, nhân dân ta đã có ý thức kế thừa truyền thống, tranh thủ lấy sức mạnh

của cha ông đã tích lũy được tạo nên sức mạnh mới để hoàn thành nhiệm vụ mới.

Vẫn với ý nghĩ các vị anh hùng quá cố còn đang sống ở một thế giới khác,

luôn theo dõi, phù hộ con cháu vượt qua khó khăn, gặp được nhiều may mắn, nhân dân

ta tôn các vị anh hùng quá cố lên địa vị thần linh và thờ cúng họ. Các TCT lịch sử là

yếu tố có cùng thời với các sự kiện lịch sử mà nó phản ánh. Nhưng sự thờ cúng có thể

xuất hiện rất lâu về sau so với thời điểm xảy ra những sự kiện lịch sử. Bởi nghi lễ và

phong tục gắn với một sự kiện lịch sử, một huyền tích là cả một chỉnh thể và không thể

hình thành trong một sớm một chiều. TCT lịch sử đã không tồn tại tách rời sự thờ

cúng, nghi lễ, tín ngưỡng, phong tục. Nó được kể như để viện dẫn nhằm minh giải cho

sự thờ cúng, nghi lễ, tín ngưỡng, phong tục đó. Ngược lại, chính những yếu tố này lại

chứng minh tính xác thực của TCT lịch sử. Các nhân vật anh hùng trong TCT lịch sử

đều được thờ hoặc ở quê quán, hoặc ở nơi ghi lại dấu tích chiến công, hoặc ở nơi tựu

nghĩa và trở thành thần hoàng của một làng xã (thờ ở đình) hay vị thần ở đây (thờ ở

đền). Trong nhận thức của nhân dân, TCT lịch sử không chỉ là lịch sử, không chỉ là kí

ức về sự kiện lịch sử mà còn là bài học lịch sử được ông cha nghiền ngẫm tự bao đời.

Nó không chỉ hướng về quá khứ mà còn cần cho người đang sống. Ngày xưa đã thế

mà ngày nay vẫn thế. Chúng ta luôn tìm thấy trong những TCT về anh hùng dân tộc

những kinh nghiệm quý báu cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc hiện nay. Do

đó, thưởng thức TCT, qua đó, học tập những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo phù

hợp với tình hình mới của đất nước bao giờ cũng cần thiết.

TCT phản ánh nhận thức của nhân dân về cuộc sống xã hội muôn màu muôn

vẽ với những xung đột đặc trưng cho các thời kì lịch sử. TCT biểu hiện cách nhình

hiện thực của nhân dân đối với thực tại. TCT nói lên những quan điểm đạo đức, những

quan niệm về công lý xã hội…. Nhưng TCT cũng có những mặt hạn chế, tiêu cực.

Dưới chế độ cũ, tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động

chỉ xuất hiện như những yếu tố cho nên không khỏi bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng

của giai cấp thống trị vốn đã được xây dựng thành hệ thống vững chắc. Giai cấp thống

trị không chỉ thống trị xã hội bằng những ý thức hệ phong kiến mà còn lợi dụng những

nhược điểm của bản thân tư tưởng nông dân để đưa những giáo lí của tôn giáo thâm

nhập vào trong nhân dân nhằm phục vụ cho lợi ích của chúng. Thuyết “thiên mệnh”,

thuyết “chính thống”, thuyết “túc mệnh” của tôn giáo đã được vua chúa đưa ra “dạy

dân” thông qua những huấn điều, giáo điều, được tăng lữ, đạo sĩ dùng dưới hình thức

những TCT những bài hát… khi thuyết pháp. Những truyện như “Giếng Việt”, “Từ

Đạo Hạnh”, “Mục Liên”, “Quỉ nhập tràng”… đã được sáng tác để phục vụ cho mục

dích của giai cấp thống trị ru ngủ nhân dân trong suy nghĩ an phận thủ thường, nhẫn

nhục phục tùng, hưởng lạc thoát li. Và chính trong quá trình lưu truyền, những yếu tố

tiêu cực của các truyện trên đã ảnh hưởng vào nội dung của các TCT do nhân dân sáng

tác theo quy luật chung của những tác phẩm truyền miệng.

Thực tế mà chúng ta không thể phủ nhận là những ý thức hệ của phong kiến,

tôn giáo đã nhiều hoặc ít, trực tiếp hoặc gián tiếp, ảnh hưởng đến tư tưởng nhân dân và

nhập vào TCT. Nhưng điều đó không có nghĩa là TCT tiếp thu hoàn toàn ý thức hệ

phong kiến hoặc tư tưởng tôn giáo. Trái lại, nhân dân nhiều khi đã thể hiện thái độ và

cách đánh giá riêng tạo nên một sự cách biệt rõ ràng với sự thể hiện thái độ và cách

đánh của giai cấp cầm quyền. Theo xu hướng tự nhiên, TCT lịch sử dân gian có sự chú

ý ưu tiên tới các vị anh hùng xuất thân tầm thường là những kẻ chăn trâu, đan sọt,

đánh cá… (những truyện về Đinh Bộ Lĩnh, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu…), những ông

vua có nguồn gốc bình dân hoặc “lí lịch không rõ ràng” (như trường hợp Lý Công

Uẩn, Lê Thánh Tông…). Trong khi đó các nhà chép sử phong kiến đã phải thêu dệt, tô

vẽ ra những chuyện nhằm thần thánh hóa sự ra đời của những ông vua đó hoặc cố gán

ghép, tán tụng sao cho có khẩu khí đế vương. TCT lịch sử thể hiện sự quan tâm khác.

Nhân dân chú trọng khai thác những tình tiết nói lên mối quan hệ gắn bó giữa các ông

vua, các vị anh hùng với nhân dân và nêu bật vai trò quyết định của nhân dân đối với

sự nghiệp của họ. Trong TCT thế sự, nhân dân đã xây dựng hình ảnh ông vua, bà

hoàng hậu đã được dân gian hóa theo mẫu mực anh trai làng và cô thôn nữ. TCT đưa

những ông vua, bà hoàng hậu mà nhân dân mơ ước vào lâu đài nhưng trong cách ứng

xử, trong thói quen hàng ngày, nó vẫn thuộc về nhân dân. Đó là ông vua với thú vui

bình dân la cà ở hàng nước, bà hoàng hậu trèo cau hái quả cúng bố… Cùng với ông

vua, bà hoàng hậu thì những tiết chế phong kiến khi đưa vào TCT đều được dân gian

hóa. Khi chưa thể quan niệm sức mạnh nào lớn hơn sức mạnh của ông Bụt, ông Tiên,

ông Thần, khi không mượn những cái đó nhân dân cũng không biết lấy gì để thể hiện

ước mơ đậm đà tính chất thế tục của mình về một tương lai tươi sáng, một xã hội công

bằng, nhân ái, một cuộc sống hạnh phúc trong lao động vui tươi, sáng tạo, nhân dân ta

đành phải gán cho chính nghĩa một sức mạnh siêu nhiên thần kì. Tuy vậy, Trời, Bụt,

Thần, Tiên, sự biến hình theo tín ngưỡng vật linh, sự hóa phép Đạo giáo phù thủy, sự

hóa kiếp theo tín niệm Phật giáo, sự hóa thân như là hư cấu nghệ thuật thuần túy… tất

cả những cái đó, trong TCT dân gian, xét đến cùng không có mục đích đề cao tôn giáo

tuyên truyền giáo lí, phụ họa tín ngưỡng mà còn ít nhiều thể hiện sự phản ứng lại,

chống lại. Cô Tấm trong TDG mỗi lần bị giết là một lần sống lại, không phải để chịu

đau khổ hơn như thuyết luân hồi quan niệm mà để thể hiện sự không chịu thua, sự đấu

tranh không khoan nhượng và để chiến thắng. Tác giả dân gian đã lấy ngay hình thức

thuyết luân hồi mà tăng lữ cố đưa vào truyện “Tấm Cám” để biểu hiện nội dung chống

lại thuyết luân hồi. Nếu như truyện “Người học trò và Liễu Thăng” có ý nghĩa chống

lại những điều mê tín nhảm nhí, thì truyện “Ba cái đầu lâu Tây Sơn làm mất vía Minh

Mệnh” đã ít nhiều chống lại thuyết thiên mệnh… Do đó, nếu không thấu hiểu ngôn

ngữ riêng của tín ngưỡng, của tập tục, nhiều khi chúng ta sẽ hiểu sai ý nghĩa một số

hình ảnh, chi tiết của TCT, hiểu sai ý nghĩa chung của tác phẩm. Việc đánh giá TCT

chỉ có thể chính xác trên cơ sở theo dõi, phân tích những ưu, nhược điểm của tư tưởng

nhân dân và quá trình trong đó tư tưởng nhân dân tiếp nhận cũng như phủ nhận ảnh

hưởng của ý thức hệ thống trị.

TCT còn có những hạn chế. Những hạn chế đó do hoàn cảnh lịch sử quy định.

Chúng ta không thể đòi hỏi nhân dân ngày xưa nghĩ khác, làm khác được cũng không

thể đòi hỏi tác giả dân gian xây dựng truyện theo chiều hướng khác. Nhưng nhìn

chung nội dung TCT về cơ bản là lành mạnh, tư tưởng của nhân dân trong TCT luôn

gắn bó với quyền lợi chính đáng của đa số người dân trong xã hội, luôn vươn về chân

lí.

1.2.2. Đặc điểm nghệ thuật

Chúng ta vẫn còn biết được những hình thức xuất hiện và lưu hành của TCT

trong xã hội như là một thứ văn hóa tinh thần gắn liền với cuộc sống của người dân

xưa. Về hình thức nghệ thuật của TCT, chúng ta có thể nghiên cứu hình tượng, kết

cấu, thậm chí cả ngôn ngữ văn học của tác phẩm trong một chừng mực nào đó.

Nếu như TT có hình thức văn vần trong buổi thịnh thời của nó thì TCT thường

là văn xuôi. TCT là văn xuôi mà lại tương đối dài và có tình tiết phức tạp. Cho nên vấn

đề đặt ra là làm thế nào tác phẩm văn xuôi tương đối dài, phức tạp như TCT lại có thể

ghi vào kí ức của nhân dân, phổ biến rộng rãi được trong dân gian bằng con đường

truyền miệng.

Để giải quyết vấn đề đặt ra, thỏa mãn được yêu cầu truyền khẩu, TCT thường

có cấu tạo theo đường thẳng. Cốt truyện được xây dựng theo trình tự thời gian (việc gì

xảy ra trước thì nói trước, việc gì xảy ra sau khi nói sau). Bên cạnh trình tự thời gian,

trong TCT, cốt truyện cũng được xây dựng theo trình tự không gian. Cốt truyện

thường phát triển theo một mạch tình tiết chính. Cùng với mạch tình tiết chính, cũng

có thể có một mạch tình tiết phụ nhưng thường ngắn và nhanh chóng nhập vào mạch

tình tiết chính. Chẳng hạn như truyện “Thạch Sanh” nhân vật chính - Thạch Sanh đã

dẫn ta đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác từ khi anh đi đốn củi, vượt qua bao

nhiêu gian truân, lấy được công chúa, rồi khiến quân mười tám nước phải quy hàng,

cho đến lúc anh được lên ngôi vua. Đó chính là mạch chính phát triển theo trình tự

những hành động của Thạch Sanh. Bên cạnh mạch chính đó cũng có mạch phụ như

đoạn kể công chúa tương tư Thạch Sanh, cảm thấy uất ức trước âm mưu cướp công

của Lý Thông nên mắc bệnh.

Cách cấu tạo theo đường thẳng có tính đơn giản, tạo sự thuận lợi cho việc ghi

nhớ truyện (đặc biệt là những truyện có tình tiết lắm khi chồng chất li kì như truyện

“Tấm Cám”), phục vụ đắc lực cho việc lưu truyền TCT qua không gian, thời gian.

Mặc dù cách cấu tạo này có nhược điểm là làm cho tác phẩm thiếu sinh động nhưng

TCT vẫn lựa chọn bởi chính những ưu điểm của nó cho việc ghi nhớ, phổ biến TCT

theo con đường truyền miệng.

Ở TCT, phạm vi dài ngắn, rộng hẹp của thời gian và không gian thường tương

ứng, tỷ lệ thuận với nhau. Thời gian càng dài thì sự việc diễn biến càng nhiều, không

gian hoạt động của nhân vật càng rộng. Cuộc đời của Thạch Sanh trong truyện “Thạch

Sanh” được phản ánh trong truyện khá dài (30 năm), phạm vi hoạt động của chàng

cũng khá rộng (từ cõi trời xuống đầu thai vào nhà vợ chồng ông lão nhà nghèo làm

nghề đốn củi, lớn lên và nối nghiệp cha vào rừng đốn củi, kết nghĩa anh em với Lý

Thông giết Trằn Tinh, cứu công chúa…). Thời gian dài, không gian rộng mà lại phản

ánh nhiều sự việc và truyền đạt bằng phương thức truyền miệng, TCT đã dùng thủ

pháp phiếm chỉ nhằm giúp truyện được ngắn gọn, dễ lưu giữ vào trong trí nhớ của

nhân dân qua nhiều thế hệ.

TCT thường phiếm chỉ về tên người, tên địa điểm, thời điểm. Nếu như trong

TCT lịch sử, người ta có nêu lên một số danh từ riêng chỉ nhân vật, không gian, thời

điểm (ví dụ : “Vào thời Lê, có một anh chàng nghèo khổ, quê ở Kẻ Treo, sát chân núi

Hồng Lĩnh tên là Hổ – truyện Bùi Cẩm Hổ”), thì trong TCT thế sự người ta thường bắt

đầu bằng : “ngày xửa ngày xưa” (phiếm chỉ thời gian), “ở một làng kia” (phiếm chỉ

không gian), “có một người nông dân” (phiếm chỉ nhân vật). Chẳng hạn như truyện

“Cây tre trăm đốt”, người ta kể rằng “Ngày xưa, ở một làng kia có một lão nhà giàu

thuê một anh canh điền…”. Như thế không có nghĩa là TCT lịch sử không có xu

hướng phiếm chỉ hóa nhân vật, không gian lịch sử, nhân vật lịch sử, những danh từ

riêng chỉ không gian lịch sử được giữ lại trong TCT lịch sử đôi khi là cái cớ để nhân

dân tin rằng truyện có thực, là cái nền trên đó là trí tưởng tượng của nhân dân xây

dựng những tình tiết kì vĩ, mĩ lệ. Vì vậy, những danh từ riêng trong TCT lịch sử nếu

được lưu giữ cũng chỉ là vì nó cần thiết hoặc có ích cho việc lưu truyền. Tức là ngay

cả trong TCT lịch sử, nhân dân cũng có xu hướng quên bớt những danh từ riêng không

cần thiết, có xu hướng thay tên nhân vật bằng các biệt hiệu có lợi cho ý nghĩa của cốt

truyện cũng như cho trí nhớ hơn… Tất nhiên ở TCT lịch sử không thể có sự phiếm chỉ

hóa tuyệt đối. Bởi nếu không móc vào lịch sử được thì truyện sẽ không còn là TCT

lịch sử nữa.

Trái lại, trong truyện đại đa số trường hợp, TCT thế sự không có danh từ riêng

chỉ nhân vật, không gian, thời gian. Tính phiếm chỉ ở đây là tuyệt đối. Bởi TCT thế sự

không có nhu cầu đặt ra danh từ riêng. Trước hết bởi số lượng nhân vật, địa điểm trong

truyện không nhiều. Truyện “Cây khế” chỉ gồm bốn nhân vật là người (vợ chồng

người anh, vợ chồng người em) và một nhân vật siêu nhiên thần kì (Chim Thần). Hơn

nữa, TCT thế sự thay danh từ riêng bằng danh từ chung chỉ nghề nghiệp, chức vụ, lứa

tuổi (“lão phú ông”, “cô con gái lão phú ông” “anh trai cày”…) không ngoài mục đích

muốn sự việc, hoàn cảnh của truyện là sự việc, hoàn cảnh phổ biến, tâm sự của nhân

vật trong truyện là tâm sự phổ biến. Hoàn cảnh, số phận của nhân vật có tính chất phổ

biến thì hoàn cảnh đó, số phận đó càng gần gũi với tất cả mọi người. Tất cả mọi người

có thể tìm đến TCT để nghe thấy tiếng lòng thổn thức, khát vọng cháy bỏng của bản

thân mình, của giai cấp mình. Hoàn cảnh của anh trai cày trong truyện “Cây tre trăm

đốt” cũng là hoàn cảnh của hàng ngàn hàng vạn anh trai cày khác thì những đau khổ

của anh càng dễ khiến ta thương xót, những mơ ước của anh càng dễ khiến ta thông

cảm và những thắng lợi của anh cũng là niềm mong ước của ta.

Xu hướng khái quát hóa là một xu hướng có tính chất văn học. Nhân dân khi

sáng tác và lưu truyền TCT đã theo xu hướng ấy. Bất cứ lão phú ông nào ở trong TCT

cũng mang tính chất của giai cấp hắn là tham lam, keo kiệt, độc ác, gian xảo. Bất cứ

anh thợ cày nào cũng mang tính chất của giai cấp anh là thông minh, chăm làm, phúc

hậu, thực thà. Tính chất phiếm chỉ ít nhiều liên quan với tính chất khái quát trong

TCT. Khi nào lão phú ông trong truyện tiêu biểu cho hàng ngàn hàng vạn lão phú ông

thì việc đặt tên cho hắn là không cần thiết.

Trong một số TCT thế sự, ta gặp các danh từ riêng. Điều đó không trái ngược

với nhận định trên. Bởi những danh từ riêng mà nhân dân lưu giữ hoặc là dễ nhớ,

không cố định, có thể gọi nhân vật bằng tên này hay tên khác cũng thế như : Tấm,

Cám, Ất, Giáp, Hai, Ba…; hoặc phải có ích cho việc biểu hiện nội dung tức là có ý

nghĩa nhất định: danh từ riêng chỉ tên nhân vật gợi lên hình dánh của nhân vật (“Sọ

Dừa” trong truyện Sọ Dừa), gợi lên thể chất của nhân vật (“Khô”, “Ướt” “Mạnh

Mẽ”… trong truyện “Năm anh em”), gợi lên tính cách của nhân vật (“Lường” trong

truyện “Con mụ Lường”), gợi lên ý nghĩa nghề nghiệp của nhân vật (“Điền” trong

truyện “Cây tre trăm đốt”).

Ở những TCT có mục đích giải thích phong tục tập quán thì những danh từ

riêng, nếu có, cũng gắn với việc giải thích ấy. Trong truyện “Trầu Cau”, hai anh em

nhân vật chính tên là Tân và Lang. Hai chữ “tân”, “lang” ghép lại thì có nghĩa là cây

cau, vợ người anh họ Lưu mà “phù lưu” có nghĩa là cây trầu không.

Tóm lại, TCT thường gạt bỏ những gì cồng kềnh đối với trí nhớ. Vì thế những

danh từ riêng có khả năng tồn tại trong TCT phải trực tiếp có ích cho nội dung của

truyện, hoặc phải là chỗ dựa để nhân dân có thể tin rằng truyện có thực trong lịch sử

mà không có hại cho việc truyền khẩu.

TCT ít khi miêu tả phong cảnh. Những phong cảnh được miêu tả trong TCT

thường gắn chặt với sự phát triển tình tiết. Cho nên ngay cả dưới hình thức kể miệng,

những cảnh đó phải được miêu tả như trong truyện “Gốc tích ruộng thác đao”. Việc

miêu tả hòn núi Băng Sơn nhô lên giữa cánh đồng là cần thiết để chuẩn bị cho tình tiết

quan trọng nhất của truyện – tình tiết Lê Phụng Hiểu đứng trên núi ném dao để nhận

ruộng. Trong truyện “Sự tích Hồ Ba Bể”, cần miêu tả tỉ mỉ cảnh đất sụt nước dâng,

bọn người đạo đức giả bị tai họa, người lương thiện được an toàn để làm toát lên chủ

đề tư tưởng của truyện: lẽ trời sáng suốt, đạo trời chí công, ở hiền thì gặp lành. Rõ

ràng, trong những trường hợp miêu tả tương đối kĩ như hai truyện “Sự tích Hồ Ba Bể”,

“Gốc tích ruộng thác đao”, ta vẫn nhận thấy miêu tả phong cảnh ở TCT không nhằm

mục đích biểu lộ cảm xúc với thiên nhiên mà chủ yếu là phục vụ cho sự phát triển của

tình tiết.

TCT nhiều khi miêu tả người. Nói chung sự miêu tả nhân vật thường đơn giản,

TCT chỉ đề cập vài nét không đi vào chi tiết. Cách miêu tả ít tỉ mỉ của TCT phù hợp

với tính chất của loại văn tự sự và đặc trưng truyền khẩu của văn học dân gian. Truyện

“Tấm Cám” kể rằng cô Tấm xinh đẹp và hiền hậu. Truyện “Thạch Sanh” kể Thạch

Sanh là chàng trai khôi ngô, tuấn tú, có sức vóc khác thường. Có những truyện qua tên

gọi ta hình dung được một nét nào đó của nhân vật có thể là về tính cách, hình dáng

như: Sọ Dừa, Ngốc, Khổng lồ, Như Hổ… TCT thường chú ý nhiều hơn vào hành động

của nhân vật. Qua hành động của nhân vật, người nghe thấy được nội tâm nhân vật,

chính lối miêu tả có tính chất khởi phát của TCT đã có tác dụng lớn trong việc kích

thích trí tưởng tượng của người thưởng thức. Truyện kể cô Tấm xinh đẹp nhưng cụ thể

là như thế nào? Mỗi thính giả có thể hình dung ra một cô Tấm đẹp nhất theo tưởng

tượng của mình để mô tả. Và như thế, cứ qua sự tưởng tượng của một thính giả lại có

một hình ảnh cô Tấm đẹp nhất trong sự thêu vẽ của họ. Như vậy, không thể có thái độ

thụ động trong thưởng thức TCT, bởi khi TCT lưu truyền trong dân gian không phải

chỉ người kể chuyện hoạt động mà người nghe truyện cũng phải hoạt động. Cả người

nghe cũng như người kể đều góp phần vào việc xây dựng nội dung của truyện. Trong

điều kiện ấy, người nghe và người kể gần gũi, đồng cảm với nhau hơn, đồng thời cũng

tự do hơn, tích cực và chủ động hơn trong sự truyền đạt, lĩnh hội và tham gia sáng tạo.

Đó cũng là điều kiện khiến cho tác phẩm văn học dân gian có thể ngắn, TCT có thể

không được kể đầy đủ, tỉ mỉ, chi tiết mà người nghe có thể lĩnh hội được tốt.

Trong TCT cũng như các loại truyện kể dân gian khác, cốt truyện và lời kể

chuyện có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Cốt truyện là

“phần cứng” tương đối ổn định, khó hoặc ít thay đổi. Còn lời kể truyện là “phần mềm”

có thể thay đổi phù hợp với từng địa phương, từng đối tượng và từng người kể chuyện

cụ thể. Vì thế, tìm dị bản ở phần cốt truyện nói chung là rất khó, còn ở phần mềm thì

rất dễ dàng (mỗi lần kể đều ít nhiều có biến dị). Để tránh những sai lầm, ngộ nhận đưa

đến cách kể xa rời với lời kể của nhân dân, người kể TCT phải tham khảo nhiều bản kể

khác nhau, phải kiểm tra, đối chiếu với cách kể của nhân dân ở những địa phương

khác nhau để xác định cốt truyện cơ bản.

TCT - bức vẽ nhân sinh phong phú vào bậc nhất của nhân dân đã phản ánh

cuộc sống với những mâu thuẫn của nó, phản ánh sự đối lập giữa những con người có

hoàn cảnh khác nhau, thành phần khác nhau. TCT thường hay sử dụng biện pháp

tương phản để phục vụ cho mục đích phản ánh đó. Nhân vật lí tưởng mang đạo đức,

tài năng của nhân dân luôn luôn được đối chiếu, so sánh với kẻ thù đối kháng về hoàn

cảnh, bản chất, đạo đức, tài năng… Nhờ đó, tâm lí nhân vật được khắc họa sâu sắc vì

người thưởng thức TCT có điều kiện để đối chiếu các nhân vật với nhau. Biện pháp

tương phản được TCT sử dụng là một hình thức nghệ thuật quan trọng, góp phần vào

việc triển khai cốt truyện, xây dựng nhân vật, chủ đề tác phẩm, phục vụ đắc lực cho

một đặc điểm trong nội dung của truyện là phân biệt ranh giới giữa tốt và xấu. Rất rạch

ròi nhân vật chỉ có thể thuộc về một trong hai cực : tốt hoặc xấu. Hầu như không thể

tìm thấy sự đan xen giữa hai cái tốt và cái xấu ở trong từng nhân vật. Thế tương phản

thể hiện rõ trong các truyện “Cây khế” (người em nghèo nhưng không tham lam, sống

có tình có nghĩa; người anh giàu thì lại tham lam, xem nhẹ nghĩa tình), truyện “Thạch

Sanh” (Thạch Sanh nghèo khó nhưng trọng tình nghĩa hơn vật chất, hiền lành nhưng

dũng cảm, Lý Thông giàu có mà lại tham lam của cải, danh vọng, gian xảo mà lại hèn

nhát), truyện “Tấm Cám” (Tấm xinh đẹp, hiền lành, siêng năng; Cám xấu xí, gian xảo,

lười biếng…).

Ngoài biện pháp tương phản, TCT hay sử dụng sự nhắc lại như là một phương

pháp nghệ thuật. Tính chất tương phản giữa các nhân vật biểu hiện qua hành động của

chúng và điều tiết sự lặp lại các tình huống cốt truyện. Sự lặp lại thường gặp nhất là sự

lặp lại ba lần. Nhân vật qua ba lần thi tài (trong truyện “Lấy vợ cóc”, vợ chồng anh

học trò nghèo phải qua ba lần thi thố tài năng qua ba cuộc thi: thi cỗ khéo, cỗ ngon; thi

may áo vừa, áo đẹp; thi vợ ai đẹp nhất), nhân vật phải qua ba lần thay đổi hoàn cảnh

sống (truyện “Ba bông hoa với ba điều ước”, nhân vật chính có hoàn cảnh nào tốt hơn

hoàn cảnh hiện tại của bản thân với nghề cha đã truyền cho)… Trong dân gian, ba là

con số biểu hiện sự may mắn, vì vậy, đến lần thử thách cuối cùng – lần thứ ba cũng là

lần khép lại những điều không hay để nhân vật chính được sống với niềm vui trọn vẹn,

sự nhắc lại có nhiều tác dụng khác nhau. Trong truyện “Cây khế” hoàn cảnh người em

và người anh gặp chim phượng hoàng và được chim hứa hẹn, đối xử y như nhau, sự

nhắc lại ở truyện này có tác dụng nêu bật giá trị phẩm chất của nhân vật này trong sự

đối chiếu với phẩm chất của nhân vật kia. Trong những hoàn cảnh như nhau, cách xử

sự của hai anh em khác hẳn nhau: anh giả dối và tham lam, em thật thà và trung hậu.

Với việc sử dụng biện pháp lặp lại, TCT “Cây khế” đã thể hiện rất rõ điều muốn nói:

kết cục số phận của mỗi người do chính cách xử sự, nói cho đúng là do phẩm cách của

họ quyết định. Truyện “Dì phải thằng chết trôi, tôi phải đôi sấu sành” gồm hai đoạn.

Đoạn dưới hầu như nhắc lại đoạn trên: đoạn trên kể việc gã thanh niên đánh lừa cha

con ông lão phú ông, đoạn dưới kể việc gã thanh niên đánh lừa cha con ông lão phú

thương. Truyện “Của trời, trời lại lấy đi” gồm sáu đoạn. Trong đó, cứ lần lượt mỗi

đoạn lại nhắc lại đoạn trước: lão phú ông đánh lừa ông cụ già mò cua để cướp mười

thỏi vàng nhưng rồi lão ta bị quan huyện cướp mất số vàng đó, lại đến con quan huyện

bị lão lái buôn đoạt số vàng. Với những sự nhắc lại chỉ có thay đổi chút ít trong tình

tiết như hai truyện vừa nêu, tác giả dân gian nhấn mạnh được, giới thiệu được với

người thưởng thức những mặt khác nhau của vấn đề trong truyện. Ở truyện “Tấm

Cám”, sự nhắc lại có tác dụng nâng cao chủ đề. Việc nhắc lại nhiều lần sự chết đi sống

lại của Tấm có ý nghĩa chiến đấu rất rõ. Mỗi lần Tấm chết đi sống lại là mội lần Tấm

khẳng định sức sống bất diệt của cái thiện, khẳng định quyết tâm không bao giờ chịu

đầu hàng. Sự nhắc lại trong TCT, nói chung, không làm cho truyện tẻ nhạt, đơn điệu,

máy móc mà làm cho tình tiết thêm li kì. Bởi mỗi lần nhắc lại đều kèm theo thứ hạng

tăng dần về số lượng và chất lượng các chi tiết. Sự lặp lại tạo tính cân đối cho cốt

truyện, tạo ra “phép tu từ” cho lời kể, làm chậm hành động lại để tăng sự hấp dẫn đối

với thính giả.

Trong quá trình lưu truyền, TCT có khi được xây dựng trong sự kết hợp của

nhiều truyện với nhau hoặc sự thu hút những tình tiết mới vào cốt truyện chính. Do đó,

ở TCT có hiện tượng những tình tiết giống nhau tồn tại ở những truyện khác nhau. Sự

kết hợp các truyện với nhau, sự thu hút những tình tiết mới không chỉ diễn ra trong

phạm vi các TDG trong nước mà với cả những TDG của nước ngoài. Trong truyện

“Thạch Sanh” và truyện “Cứu vật trả ân, cứu nhân trả oán” đều có tình tiết về nồi cơm

ăn hết lại đầy. Chi tiết chiếc giày kì diệu khiến cho chàng trai tìm được cô gái xinh đẹp

có thể tìm thấy trong truyện “Tấm Cám” của nước ta và các truyện kiểu “Tấm Cám” ở

nhiều nước như truyện “Cô bé Lọ lem”. Những tình tiết giống nhau có mặt ở nhiều

truyện phải là những tình tiết có ý nghĩa hay những hình tượng đẹp. Những tình tiết

hay, những hình tượng đẹp đó trở thành những khuôn mẫu đúc sẵn, những tài liệu có

sẵn trong kho văn liệu dân gian được tác giả dân gian thường sử dụng trong việc sáng

tác của mình. Vì thế không tránh khỏi những trường hợp tác giả dân gian lạm dụng

những khuôn đúc sẵn làm cho tác phẩm bị đơn điệu. Tính đơn điệu là nhược điểm của

nhiều TCT.

Tuy không có mục đích chủ yếu là gây tiếng cười như truyện cười nhưng

chúng ta vẫn thấy ở TCT cái mỉm cười tế nhị của tác giả dân gian. Trong các truyện

“Dì phải thằng chết trôi, tôi phải đôi sấu sành”, “Nói dối như Cuội”, “Cây tre trăm

đốt”… đều có những yếu tố khôi hài hay trào phúng. Tác giả dân gian làm cho chúng

ta cười vì những cử chỉ, những hành động, những hoàn cảnh của nhân vật thông qua sự

trừng phạt của tác giả dân gian dành cho nhân vật phản diện. Trong truyện “Nói dối

như Cuội”, tiếng cười được bật lên khi viên quan tham lam bị lừa lấy quần áo phải để

tồng ngồng vừa chạy vừa hỏi: “Có ai thấy tên “Bái Dưng” vừa chạy qua đây không?”.

Trong truyện “Cây tre trăm đốt” cũng có yếu tố gây cười: lão phú ông và cả họ nhà

trai, nhà gái bị dính chặt vào cây tre. Tiếng cười ở đây chỉ có vai trò điểm xuyến thêm

cho truyện làm cho thính giả vui thêm. Tuy cũng có khi yếu tố gây cười liên quan đến

chủ đề tư tưởng của tác phẩm nhưng nhìn chung nó không chiếm vị trí trung tâm trong

sự phát triển của truyện.

Trong TCT, chúng ta có thể tìm thấy những câu tục ngữ, thành ngữ hay ca

dao. Có khi TCT xuất hiện với mục đích giải thích cho những câu tục ngữ, ca dao có

trước (như trường hợp các truyện: “Bụng làm dạ chịu”, “Của Thiên trả Địa”…). Có

khi TCT xuất hiện song song với các câu tục ngữ hoặc ca dao (như trường hợp các

truyện: “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”, “Nợ như chúa chổm”…). Có khi chính từ

nội dung của truyện làm xuất hiện những câu tục ngữ, ca dao mới (như những truyện

“Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho”, “Dì phải thằng chết trôi, tôi phải đôi sấu sành”…).

Những câu tục ngữ, thành ngữ hay ca dao thường được dùng để đặt tên truyện đã đúc

kết một cách cô đọng nội dung của truyện, khắc hoạ được một cách sắc nét cốt truyện

hoặc chủ đề của truyện. Vì thế chỉ cần nhắc đến tên truyện người ta dễ dàng nhớ được

nội dung của truyện. Như vậy sự thâm nhập giữa TCT với những câu tục ngữ, những

câu ví, câu ca ngoài tác dụng thêm phần ý vị cho truyện còn có tác dụng lớn đối với

việc truyền khẩu.

TCT không chỉ dùng những câu tục ngữ, ca dao hoặc hình thức của những câu

tục ngữ, ca dao trong phạm vi đặt tên truyện mà còn cả trong sự phát triển của các tình

tiết. Trong truyện “Gốc tích tiếng kêu của Vạc, Dủ dỉ, Đa đa và Chuột” có những

thành ngữ, tục ngữ, ca dao gắn với những chi tiết của truyện như:

“ Ruộng cò bay thẳng cánh.”

“ Cờ bạc khát nước.”

“ Con vạc bán ruộng cho cò,

Cho nên vạc phải ăn mò cả đêm.”

“ Vạc sao vạc chẳng biết lo

Bán ruộng cho cò, vạc phải ăn đêm.”

Trong truyện “Tấm Cám” cũng có những câu ca dao hoặc là cung cách ca dao,

những câu có vần điệu thường được nhân dân dùng trong lời nói hàng ngày. Những

cân văn vần đầy ý vị trong truyện “Tấm Cám” có khi dùng làm ngôn ngữ của nhân vật

cũng có khi bắt chước âm thanh của thiên nhiên (tiếng kêu của con vật hay đồ vật). Ví

dụ như:

Lời Tấm gọi bống:

“Cái bống là cái bống bang!

Về ăn cơm vàng, cơm bạc nhà ta

Đừng ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.”

Lời mẹ Cám chế giễu Tấm:

“Chuông khánh còn chẳng ăn ai,

Nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bụi tre.”

Tiếng khung cửi kêu:

“Cót ca cót két,

Lấy tranh chồng chị,

Chị khoét mắt ra.”

Trong truyện “Cây khế” cũng có cân văn vần bắt chước tiếng kêu của Chim

Phượng hoàng:

“Ăn một quả

Trả cục vàng

Mang túi ba gang

Mang đi mà đựng.”

Trong TCT, chỉ có phần văn vần là tương đối kiên cố, dễ nhớ nên phục vụ rất

tốt cho việc truyền khẩu. Đặc biệt là những truyện dài như truyện “Tấm Cám” thì tác

dụng của những cân văn vần gắn với nội dung của truyện càng có giá trị cho việc ghi

nhớ và phổ biến truyện. Dù tỉ lệ phần văn vần tương đối ít so với văn xuôi nhưng nó

có tác dụng lớn trong việc miêu tả làm nổi bật nhân vật, sự việc gây nhiều hứng thú

cho người thưởng thức. Vì tính chất tương đối kiên cố, ổn định của phần văn vần, khi

nghiên cứu ngôn ngữ văn học của TCT chủ yếu là nghiên cứu phần văn vần này.

Đặc điểm của tiếng Việt là thứ ngôn ngữ có thanh điệu. Tác phong hay nói ví

von là tác phong của nhân dân ta. Do đó, từ rất lâu nhân dân ta đã quen thuộc với văn

vần. Đó cũng là nguyên nhân vì sao mà nhân dân ta lại ham thích thơ ca, dễ nhớ đối

với truyện thơ hơn truyện văn xuôi. Những truyện thơ vì thế mà được thúc đẩy hình

thành nhằm giúp TCT được lưu giữ dễ dàng trong trí nhớ của nhân dân, phục vụ tốt

cho yêu cầu truyền khẩu. Những truyện như “Tấm Cám”, “Lấy vợ cóc”, “Thạch

Sanh”… chẵng những được lưu truyền dưới hình thức văn xuôi mà còn dưới hình thức

thơ lục bát. Truyện theo thể văn xuôi xuất hiện trước, truyện thể thơ cùng một nội

dung xuất hiện sau. Ở trường hợp những truyện như “Vợ Ba Cai Vàng”, “Tống Trân -

Cúc Hoa”… thì song song truyện dưới hình thức văn xuôi xuất hiện một bài vè cùng

kể sự tích đó, lâu dần bài vè đó chuyển thành thơ lục bát.

Trong các loại TDG truyền thống của người Việt, không một loại nào có đội

ngũ nhân vật đông đảo và đa dạng như TCT. Bên cạnh các nhân vật là người, các nhân

vật là vật thì có cả các nhân vật thần kì siêu nhiên. Các nhân vật thần kì, siêu nhiên rất

quan trọng, không thể thiếu trong TCT. Nhân vật thần kì, siêu nhiên trong TCT có thể

chia làm bốn nhóm: Nhóm 1: Ngọc Hoàng và các thiên thần ở cõi trời hay “Thiên

đình”; Nhóm 2: Diêm Vương, các Thần Linh, các Âm Binh, Âm Tướng ở cõi âm bao

gồm cả hồn người sau khi chết; Nhóm 3: vua Thủy Tề và các Thủy thần, bộ hạ của

Long Vương ở cõi nước; Nhóm 4: Tiên, Phật (Bụt) và các nhân vật siêu nhiên thần kì

khác (như Chim thần, Rùa thần, Trằn tinh, Hồ tinh, ma, quỷ, Thần Trùng) ở những khu

vực đặc biệt thuộc cõi Trần (như trên núi cao, rừng rậm, hang động…). Như vậy, yếu

tố kì diệu đã từng thấy ở trong TT thì cũng đầy rẫy trong TCT nhưng ý nghĩa của sự có

mặt những yếu tố kì diệu ấy trong TCT đã khác. Trình độ nhận thức của con người

ngày càng nâng cao thì sự hiểu biết của con người về thế giới càng nhiều. Vì thế, nếu

như trong TT, tác giả dân gian tin một cách mạnh mẽ vào sức mạnh siêu nhiên của

những yếu tố thần kì, giải thích thiên nhiên một cách phi hiện thực thì trong TCT, tác

giả dân gian chỉ dùng yếu tố thần kì như là phương tiện cần thiết để có thể đưa sự phát

triển tình tiết của truyện theo ý muốn của mình. Những sức mạnh siêu nhiên của các

nhân vật thần kì ở các TCT là chỗ dựa vững chắc để nhân dân có thể mặc sức mơ ước

những viễn cảnh tốt đẹp cho cuộc sống với nhiều bế tắc trong hiện tại. Dù vẫn còn tin

ở những điều kì ảo nhưng tác giả dân gian trong TCT đã dần nhận thấy “ảo” không

gần, không sát với “thực”. Họ đã dần hướng sự chú ý của mình vào việc của người hơn

việc của thần, hướng sự chú ý vào cuộc đấu tranh xã hội ngày càng gay go phức tạp

thiết thân đối với mỗi con người hơn là giải thích sự hình thành của vũ trụ. Trong xã

hội cũ, khi mà nhân dân vẫn còn nhiều bế tắc, vẫn chưa vươn lên được trước sức đè

của giai cấp thống trị với nhiều quyền thế mạnh mẽ thì họ đành phải nhờ đến những

nhân vật thần kì, siêu nhiên đại diện cho điều thiện, lẽ phải tiếp sức cho họ – những

người có chính nghĩa nhưng chưa có thực lực. Tuy nhiên các nhân vật siêu nhiên, thần

kì chỉ là lực lượng hỗ trợ bởi hành động quyết định chính là do con người thực hiện.

Trong truyện “Cây khế”, Chim Phượng hoàng chỉ là phương tiện đưa nhân vật đến với

sự giàu có, nhưng được giàu có hay bị chết nhục là do chính phẩm chất của nhân vật

quyết định hành động và số phận của họ. Ở truyện “Cây tre trăm đốt”, Bụt chỉ hướng

dẫn, chỉ dẫn lời phù chú giúp cho các đốt tre nối liền với nhau nhưng để có được cây

tre trăm đốt, anh trai cày phải dùng sức lao động của mình vất vả chặt một trăm đốt

tre.

Mặc dù mang sức mạnh thần kì nhưng nhân vật siêu nhiên trong TCT cũng thể

hiện tính chất hợp lí, phải phục tùng luận lí thông thường. Chim Phượng hoàng trong

truyện “Cây khế” dù là Chim thần nhưng sức chim cũng có hạn. Ở truyện “Sọ Dừa”

bên cạnh những yếu tố phi thường trong khả năng của Sọ Dừa (biến lều tranh vách đất

thành nhà gạch đồ sộ, biến ra đầy đủ đồ sính lễ, biến thành một chàng trai khôi ngô

tuấn tú…) có cả những yếu tố không xa với thực tế bao nhiêu. Những vật Sọ Dừa đưa

cho vợ trước lúc đi xa là những vật đời thường với những công dụng rất bình thường

con dao để mổ bụng cá, hòn đá để tạo lửa, quả trứng nở ra hai chú gà trống, hai chú gà

cũng chẳng làm việc gì phi thường ngoài việc cất tiếng gáy để báo hiệu. Yếu tố kì diệu

trong TCT, nhìn chung không thể vượt quá phạm vi những điều kiện nhất định và trí

lực của con người đã dần thay thế sức mạnh của thần linh. Nhân vật thần kì siêu nhiên

trong TCT được tạo nên từ trí tưởng tượng phong phú của nhân dân. Và khi thưởng

thức TCT, thính giả cũng có thể để cho trí tưởng tượng của mình bay bổng cùng với

những sự kiện kì diệu trong truyện. Yếu tố kì diệu, siêu nhiên chính là một thủ đoạn

nghệ thuận gắn với nội dung lãng mạn của truyện chứ không phải chủ yếu là sản phẩm

của đầu óc mê tín bởi cả tác giả dân gian và thính giả cũng không hoàn toàn tin vào

những yếu tố siêu nhiên, thần kì trong truyện là có thực. Yếu tố kì diệu trong TCT chỉ

là phương tiện để tác giả dân gian giải quyết những vấn đề còn bế tắc trong xã hội cũ

theo ước vọng của họ.

Nhìn chung, mọi đặc điểm thi pháp của TCT đều bắt nguồn từ chức năng,

nhiệm vụ và điều kiện sinh thành, phát triển của thể loại này. Mặc dầu còn có hạn chế

về hình thức, kết cấu, ngôn ngữ nhưng TCT cũng chứa đựng rất nhiều những thành tựu

về nghệ thuật có thể sử dụng để xây dựng những tác phẩm nghệ thuật lớn.

Kho tàng TCT với nhiều những giá trị đặc sắc về nội dung và nghệ thuật là

báu vật vô giá mà chúng ta cần trân trọng và giữ gìn. M.Gorki cũng đã từng có nhận

xét sâu sắc về TCT với tất cả sự trân trọng rằng: “Tôi càng lớn lên thì càng thấy sự

khác nhau rõ rệt giữa TCT với cuộc sống tẻ nhạt, nghèo nàn, đầy tiếng thở than của

những người tham lam không cùng và đầy lòng ghen tị đến thành bản năng. Trong các

TCT, người ta bay trên không trung, ngồi lên tấm thảm biết bay, đi hia bảy dặm, phục

sinh những người đã chết bằng cách rắc nước thần lên họ, trong một đêm thôi cũng

xây dựng được những lâu đài, và nói chung, TCT đã mở ra “trước mắt tôi cánh cửa sổ

để trông vào một cuộc sống khác – trong đó có một lực lượng tự do không biết sợ nào

đó đang tồn tại và hoạt động, mơ tưởng tới một cuộc đổi đời tốt đẹp hơn”.

1.3.ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỆN NGỤ NGÔN

TNN là loại truyện dân gian mượn truyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con

người để nêu lên những bài học luân lí, triết lí, hay một kinh nghiệm sống nhằm

khuyên nhủ, răn dạy người ta. Và như vậy, TNN có hai phần: phần cụ thể là truyện kể;

phần trừu tượng là ý niệm rút ra từ truyện đó, có thể gọi là lời quy châm.

TNN phát triển đồng thời với TCT, khi tư duy đã đạt tới trình độ phân biệt

được ý niệm trừu tượng ẩn ở đằng sau sự tích cụ thể, khi nhân dân thấy cần đến một

thứ vũ khí thích hợp để có thể vừa tiến công vào giai cấp thống trị mà lại vừa bảo vệ

được người sử dụng vũ khí ấy.

TNN có thể được xem như vở kịch nhỏ mà nhân vật có thể là bất cứ vật gì

trong vũ trụ, sân khấu có thể là bất cứ ở đâu. Nhân vật trong TNN có thể là con người

thuộc các nghề nghiệp khác nhau (như thầy bói, chị bán nồi đất, anh thợ cày...) cũng

có thể là các bộ phận của cơ thể sống (tay, chân, mắt, miệng..). Nhân vật trong TNN

phần lớn là các loại động vật từ gia súc đến dã thú, từ chim chóc đến cá tôm, từ động

vật bậc thấp đến động vật bậc cao... Nhưng cũng có khi nhân vật là cây cỏ, hoa lá,

trăng sao... Nhân vật có thể rất gần gũi với người như đồ đạc, dụng cụ nhưng cũng có

khi rất xa con người như thần, phật, ma, quỷ... Dù là mượn cái gì làm nhân vật thì

nhân vật của TNN cũng chỉ là phương tiện chứ không phải là mục đích hay đối tượng

của sự phản ánh.

TNN đã được các triết gia, văn gia, các nhà văn hóa đem dùng từ lâu bởi chính

những giá trị của nó trong việc diễn đạt tư tưởng. Nhưng nguồn gốc của TNN vốn từ

nhân dân mà ra và nó xuất hiện từ thời chưa có chữ viết.

1.3.1.Đặc điểm nội dung

Kho tàng TNN dân gian chứa đựng tư tưởng triết học, phản ánh những kinh

nghiệm sống và đấu tranh của nhân dân, xét cho kĩ bản thân những kinh nghiệm này

cũng đã được đúc kết thành một thứ triết lí hành động. Khi nhận định về nội dung

TNN có lẽ cần nhấn mạnh vào đặc điểm của truyện thiên về mặt giáo dục hơn là phản

ánh hiện thực.

Trong kho tàng TNN, có những truyện thiên về việc phản ánh, nhận xét đặc

điểm tính cách của các loại người khác nhau trong xã hội phong kiến. Trong truyện

“Bồ câu và Sáo”, con Sáo tiêu biểu cho hạng người nịnh bợ, thay lòng đổi dạ, phản

phúc, can tâm làm tay sai miễn sao có được miếng ăn; Bồ câu tượng trưng cho những

người lương thiện, bản lĩnh, yêu tự do, dũng cảm đấu tranh để tự giải phóng. Ở truyện

“Trâu và Ngựa”, Trâu đại diện cho loài người thật thà, hấp tấp, không suy tính, dễ bị

lừa. Ngựa đại diện cho loài người gian xảo, mưu mô, sẵn sàng lừa gạt người khác để

đạt được những gì mà mình thích.

Có rất nhiều TNN thiên về nêu lên những kinh nghiệm sâu sắc, giàu ý nghĩa

mà nhân dân ta đã rút ra được từ trong cuộc sống đã được đúc kết thành những bài học

luân lí, triết lí. Truyện “Phù du và Đom đóm” nêu lên một vấn đề nhận thức luận rất

quan trọng. Con Phù du sống cuộc đời ngắn ngủi cho nên không thể tin được một chân

lí đơn giản là có ngày và đêm. Nó đã dùng “lí sự cùn” để tranh cãi với Đom đóm. Ý

nghĩa triết học của truyện này là: khi suy xét về một vấn đề nào đó thuộc thực tại

khách quan, nếu chỉ dựa vào những hiểu biết thực tiễn ít ỏi, hạn hẹp của bản thân,

không chịu tiếp thu những ý kiến của người khác thì sẽ dễ có những suy xét sai lầm,

không toàn diện. Truyện “Thầy bói xem voi” cũng có liên quan đến vấn đề nhận thức

luận, vấn đề nhận thức chỉnh thể và bộ phận của sự vật. Thầy bói trong truyện là

những người mù, không quan sát được bằng mắt, chỉ dùng tay sờ. Mỗi thầy chỉ sờ vào

một bộ phận trên cơ thể con voi, nhưng thầy nào cũng cho mình đã biết cả con voi nên

đã cãi nhau. Bài học triết lí được rút ra từ truyện là: xét một sự vật phải toàn diện, nếu

chỉ nhìn sự vật một cách phiến diện thì chưa thể gọi là hiểu biết sự vật ấy. Truyện

“Mèo lại hoàn mèo” có tính chất hào phúng. Xét cho kĩ, truyện không phải chỉ có ý

nghĩa châm biếm thói rởm đời của người chủ con mèo mà còn ngụ ý về tính chất

tương đối của mỗi sự vật trong mối quan hệ với những sự vật khác. Mọi vật ở trong

đời, không có vật nào là toàn vẹn cả, vật này có chỗ yếu mà cũng có chỗ mạnh. Điều

cần thiết là chăm lo giữ gìn giá trị của mình, chứ kiếm một cái tên cho kêu, khoác vào

mình một cái bề ngoài hào phóng gì đi nữa thì vẫn không thay đổi được thực chất của

mình. Tác giả dân gian đưa ra được một lối dẫn vòng vo. Mèo được nâng lên thành

trời, thành mây, thành gió rồi lại quay lại đúng là mèo, cuối cùng “mèo lại hoàn mèo”

chứ chẳng hơn chẳng kém gì được cả. Truyện có một ý nghĩa triết học rõ rệt. Những

TNN tiêu biểu nêu trên đề cập đến những quan niệm triết học, trước hết là vấn đề nhận

thức luận thế giới, xứng đáng đặt bên những truyện “kinh điển” của TNN thế giới bởi

ý vị triết học của nó.

Bên cạnh những truyện này, có những truyện khác tuy có ý nghĩa ít sâu sắc

hơn, đạo lí nêu ra không nhất định có tính chất cao siêu, nhưng bao giờ cũng sát với

thực tế. Đó là thứ đạo lí của thực tiễn, đạo lí chỉ đạo hành động. Truyện “Đẽo cày giữa

đường” khuyên người ta sống ở đời cần biết cân nhắc, suy xét những góp ý của người

khác, chứ nghe ai nói gì cũng làm theo thì sẽ hỏng việc. Truyện “Chân tay, mắt,

miệng” dạy ta một điều phổ biến: đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. Trong mọi cộng

đồng, mỗi cá thể có vai trò nhất định, không nên suy bì, tì nạnh. Truyện “Đeo lục lạc

cho mèo” khuyên nhủ người ta phải luôn cân nhắc đến điều kiện và khả năng thực hiện

khi dự định làm một công việc nào đó. Truyện còn phê phán những kẻ chỉ hùng hổ nơi

cửa miệng nhưng thực chất là những kẻ ham sống sợ chết, trút công việc khó khăn cho

những người dưới quyền. Những TNN nêu trên là những thí dụ tiêu biểu cho một bộ

phận lớn của kho tàng TNN. Những kinh nghiệm đúc kết trong TNN giúp người ta

tránh khỏi thất bại trong hành động bởi những kinh nghiệm quý báu đó có được từ

chính sự trải nghiệm của các tác giả dân gian qua nhiều thế hệ.

TNN là một loại TDG sản sinh trong quá trình phát triển tất yếu của trí tuệ

nhân loại. TNN xuất hiện từ lâu và có lẽ lúc đầu nó chỉ có ý nghĩa giáo dục là chủ yếu.

Đến khi xã hội có giai cấp, có kẻ thống trị và có kẻ bị trị thì ngụ ngôn bèn được sử

dụng như một vũ khí đấu tranh giai cấp. Ở các TNN có nội dung đấu tranh giai cấp,

nhân dân đã thể hiện cái nhìn thật sắc bén thể hiện khả năng nhận thức sâu sắc và

chính xác về thế giới, về xã hội, về con người có được qua thực tiễn sản xuất và đấu

tranh. Trong mảng TNN có nội dung đấu tranh giai cấp, có những truyện là những

phát hiện về chân tướng của giai cấp thống trị (truyện “Cọp, Cò, Cáo và Chuột”, “Hai

thứ mọt”), có những truyện là bài học về cảnh giác, mưu trí, hợp quần, dũng cảm rút ra

từ thực tiễn cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống bọn áp bức bóc lột (“Chèo

bẻo với Ac là”, “Kiến giết voi”, “Con bồ Câu và con Sáo”, “ Con Hổ, con Trâu và

người đi cày”…). Truyện “Cọp, Cò, Cáo và Chuột” vạch rõ: đối với giai cấp thống trị,

muốn có cuộc sống bình yên thì nhân dân phải lựa chọn con đường đấu tranh là hơn

cả, bởi không làm sao có thể chiều ý của chúng. Truyện “ Hai thứ mọt” vạch rõ chân

tướng của bọn bóc lột, chúng không khác gì những con mọt “tham” nguy hiểm và khó

trừ hơn cả những con mọt gỗ. Bọn chúng không những đục khoét trong nhân dân mà

còn rình mò đục khoét lẫn nhau. Truyện “Chèo bẻo và Ac là” là “bài học về tinh thần

dũng cảm của kẻ yếu chống kẻ mạnh trong xã hội có áp bức bóc lột. Truyện “Con Bồ

câu và con Sáo” nêu cao tinh thần bất khuất chống bọn thống trị. “Truyện con Hổ, con

Trâu và người đi cày” là bài học về sự mưu trí. Con người vì có trí khôn nên không

những làm chủ được trâu mà còn trị được hổ mặc dù trâu và hổ đều là những con vật

có sức khỏe và đầy dũng cảm.

Nhìn chung, TNN đã nói lên nhu cầu của nhân dân về nhận thức chân lí đời

sống. Những chân lí lớn được minh hoạ bằng ngụ ngôn là những kinh nghiệm sống và

đấu tranh của nhân dân. Bộ phận tiêu biểu nhất của TNN gắn với sự khủng hoảng của

chế độ chuyên chế cổ đại và trung đại, gắn với sự thức tỉnh của lí tính, sự phát triển

của tư duy lí và ý thức xã hội chính trị của quần chúng nhân dân. Ước mơ về công

bằng xã hội vẫn sống bền bỉ trong TNN nhưng nó không được thực hiện trong thế giới

cổ tích kì ảo mà hòa vào khát vọng tỉnh táo về chân lí đời sống.

1.3.2. Đặc điểm nghệ thuật

Có thể nói rằng đa số TNN bắt nguồn từ truyện động vật. Truyện động vật là

một trong những loại truyện tiền thân của TNN, đã xuất hiện vào thời kì phát sinh của

TT. Bởi xét cho kĩ thì TT về vật tổ chính là một loại truyện động vật đặc biệt. Người

nguyên thủy đã tưởng tượng ra những truyện về muôn vật khi chưa có sự phân biệt

rạch ròi giữa bản thân với thiên nhiên. Và cũng vì vậy mà người ta đã đem gán cho

vạn vật những tính cách của nhân loại. Tất nhiên không phải truyện động vật nào cũng

có thể trở thành TT cả. Các truyện động vật là một kho trí thức về “khoa học tự nhiên”

của người xưa. Tuy các con con vật mang tính cách nhân loại nhưng khi nào người ta

chưa có ý định qua “xã hội” của loài vật nói về xã hội loài người thì khi ấy những

truyện này chưa có tính chất ngụ ngôn. Vì chức năng cơ bản của TNN là mượn truyện

vật để nói truyện người, dùng cái này để nói cái kia, càng kín càng hay. Mọi biện pháp

nghệ thuật của TNN đều xuất phát từ chức năng cơ bản ấy.

Tác giả dân gian khi sáng tác TNN không bị ảnh hưởng bởi quan niệm vạn vật

hữu linh. Thế nhưng vạn vật trong TNN đều có linh hồn, một mặt vẫn giữ đặc tính của

chúng, một mặt được gắn thêm tính cách nhân loại. Vì thế để có thể tạo dựng được

những TNN hay, có giá trị, tác giả dân gian không những quan tâm, chú ý tới xã hội

loài người mà còn phải có những hiểu biết, những cái nhìn tinh tế về “xã hội” loài vật,

đặc biệt là các loài vật được chọn làm nhân vật trong truyện. Trong sự miêu tả loài vật,

tác giả dân gian phải dùng thủ pháp nhân cách hóa kết hợp với nhiều thủ pháp nghệ

thuật khác như tưởng tượng, hư cấu, tượng trưng. Óc tưởng tượng mà tác giả ngụ ngôn

sử dụng tuy có phạm vi hoạt động rộng lớn nhưng vẫn phải phục tùng một số điều kiện

nhất định: phải làm sao cho từng sự vật trong TNN có thể tiêu biểu cho một hạng

người nhất định nhưng vẫn giữ được đặc trưng vốn có của nó, làm sao cho tương quan

giữa vật này với vật kia tiêu biểu cho hạng người này, hạng người kia mà vẫn đảm

bảo được sự tự nhiên, hợp lí. Trong truyện “Bồ câu và con Sáo”, Bồ câu thì tự do nên

được chọn làm hình tượng tiêu biểu cho người dân có khát vọng tự do, có bản lĩnh,

không chịu khuất phục; Sáo phản bội mách cho chủ nhà biết kế hoạch bỏ trốn của Bồ

câu nên được chọn làm nhân vật tiêu biểu cho những người nịnh hót, thay lòng đổi dạ.

Trong TNN của ta, con giơi tiêu biểu cho những hạng người hai mặt, lúc thì thể hiện

mặt này lúc thì thể hiện mặt khác để thu lợi hoặc trốn trách nhiệm. Bởi xét bề ngoài thì

giơi là loài nửa thú, nửa cầm. Mặc dù theo quan điểm khoa học ngày nay giới không

thuộc loài chim nhưng không nên đòi hỏi việc miêu tả thực tế trong TNN quá tỉ mỉ,

khắc khe để tránh làm trở ngại cho sự bay bổng của óc tưởng tượng. Hơn nữa, tác giả

dân gian không phải là nhà sinh vật học cho nên TNN không cần, không phải phản ánh

một cách chính xác và đầy đủ đặc điểm vốn có của loài vật khi những đặc điểm đó cần

thiết và có lợi cho việc lêu lên những vấn đề của xã hội loài người.

Đặc điểm của ngôn ngữ dân gian là cụ thể và hình tượng. Trong ngôn ngữ

hình tượng, người ta hay dùng những sự vật cụ thể, có đường nét, màu sắc... để diễn

đạt những ý niệm trừu tượng. Nhân dân lao động rất hay sử dụng cách nói có so sánh,

ví von. Chúng ta dễ dàng tìm thấy trong ngôn ngữ của nhân dân rất nhiều thành ngữ có

tính chất ví von: nhanh như cắt, chậm như sên, dữ như cọp, cao như sếu, thấp như

vịt… Chính cách nói ví von bằng hình tượng ấy kết hợp truyện động vật đã phát triển

thành TNN. TNN “Cáo mượn oai hùm” là một thí dụ. Truyện đã nảy sinh từ sự kết

hợp của thành ngữ “Cáo mượn oai hùm” với những truyện động vật về con cáo giảo

hoạt, về con hùm dũng mãnh và ngu ngốc. TNN là một cách nói theo tỉ dụ của nhân

dân. TNN biểu hiện những ý niệm trừu tượng bằng tỉ dụ có nghĩa là tỉ dụ sử dụng

trong TNN phải dể hiểu, thông thường và phổ biến thì truyện sẽ đi sâu được vào quần

chúng. Ai cũng công nhận con cáo thì xảo quyệt, con hổ thì dũng mãnh, con thỏ thì

tinh ranh... Tuy nhiên có những quan niệm khác nhau tùy theo mỗi dân tộc. Con cóc

tía được dân tộc ta coi là can đảm phi thường nhưng không nhất định các dân tộc khác

cũng coi là vậy. Con gấu trong TNN của nhiều dân tộc Bắc Âu tiêu biểu cho sự thật

thà, lòng hào hiệp nhưng ở Việt Nam, nhân dân ta lại nói: “Hỗn như gấu”… Thế

nhưng nhìn chung, đa số TNN dựa vào ý nghĩa phổ biến toàn nhân loại. Đó là lý do

khiến TNN dễ thâm nhập từ kho tàng văn học dân gian nước này sang kho tàng văn

học dân gian nước khác.

Kho tàng TNN của nước ta và kho tàng TNN của Trung Quốc cũng có sự

thâm nhập. Những truyện “Châu Chấu đá xe”,” Trai, cò và ngư ông” của ta có dị bản

trong các sách tổ của Trung Quốc như “Chiến quốc sách”, “Hàn phi ngoại truyện”.

Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp trùng nhau nào giữa TNN nước ta và TNN

nước khác đều được giải thích bằng sự giao lưu văn hóa. Sự trùng nhau giữa TNN các

nước có khi là do sự “trùng kiến” mà thôi. Chẳng hạn như: phương Đông có truyện

“Trai, cò và người đánh cá” thì phương Tây có truyện “Trai, Cò và người đánh cá”,

phương Đông có truyện “Cáo dựa oai hùm” thì phương Tây cũng có truyện “Lừa đội

lốt Sư tử”, nước ta có truyện “Hai đứa bé và quả bứa” thì nước Pháp cũng có truyện

“Hai đứa bé và hạt dẻ”…

TNN được sản sinh từ sự kết hợp cách nói ví von bằng hình tượng của nhân

dân với các truyện động vật nhưng không có nghĩa là truyện động vật mới là cơ sở của

TNN cũng như không phải TNN nào cũng do thành ngữ hoặc tục ngữ mà ra. TCT có

khi mang tính chất ngụ ngôn và có khả năng chuyển thành TNN. Truyện “Chum vàng

bắt được” là một TCT thế sự. Bên cạnh tính chất của TNN là nặng về phản ánh cuộc

sống thì truyện này lại có tính chất ngụ ngôn ở chỗ bao hàm một lời khuyên được đúc

thành câu ca dao ở cuối truyện:

“Số giàu đem đến dửng dưng

Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.”

Chỉ cần ý nghĩa đạo lí của truyện không bị chìm vào giữa nhiều chi tiết phức tạp

mà được nêu bật lên hơn thì truyện ”Chum vàng bắt được” sẽ là một TCT và có khả

năng chuyển thành TNN. Truyện “Thầy bói xem voi” vừa có tính chất là TNN vừa có

tính chất làTC. Sau tiếng cười giòn giã vì những mâu thuẫn trong truyện, suy nghĩ cho

kĩ ta nhận thấy truyện có ý nghĩa triết học, có liên quan đến vấn đề nhận thức luận: xét

một sự vật phải xét toàn diện, chừng nào chưa nắm được toàn diện thì chưa thể gọi là

hiểu biết sự vật ấy được. Như vậy, truyện “Thầy bói xem voi” được xếp vào TC hay

TNN là tùy theo giác độ thưởng thức và lĩnh hội ý nghĩa của truyện. Nói chung, giữa các

loại TCT, truyện cười và TNN thường có sự thâm nhập, chuyển hóa.

Yếu tố gây cười có ở TC thì cũng có ở TNN. Tuy nhiên yếu tố gây cười trong

TNN không nhiều, không mạnh, không bắt buộc phải thường xuyên. Đối tượng chủ

yếu của TNN không phải là cái xấu đáng cười mà là những bài học, những nhận xét

cần thiết có ý nghĩa triết lí, nhân sinh.

Yếu tố tưởng tượng có ở TCT thì cũng có ở TNN. Hơn cả TCT, TNN là sản

phẩm của trí tưởng tượng. Yếu tố tưởng tưởng trong TCT thuộc phương pháp nghệ

thuật lãng mạn, can thiệp vào sự phát triển tình tiết để bổ sung vào chỗ mà thực tế cuộc

đời không thể tiến triển theo ước vọng của nhân dân. Không giống như TCT, yếu tố

tưởng tượng trong TNN không liên quan gì với phương pháp nghệ thuật ấy. Trong

TNN, yếu tố tưởng tượng nhằm giúp cho tác giả dân gian có thể diễn đạt một cách linh

hoạt, tươi mát những kinh nghiệm khô khan. Nếu như trong TCT, tình cảm nhân đạo

chủ nghĩa khiến người ta muốn tin vào những yếu tố tưởng tượng, tin vào sự viện trợ

của các thế lực siêu nhiên, kì ảo để chiến thắng cái ác, cái xấu thì trong TNN, người ta

không có nhu cầu đó. Truyện “Con Hổ, con Trâu và người đi cày” được bịa đặt ra để

đi đến kết luận là vì có trí khôn nên con người không những làm chủ trâu mà còn trị

được cả hổ. Cả tác giả cũng như người thưởng thức TNN có thể hoàn toàn không tin là

truyện có thật cũng như không cần tin là có thật. Nhưng dù là không mấy tin hay là

hoàn toàn không tin thì cũng không ảnh hưởng gì đến mục đích mà người kể chuyện

muốn đạt tới. Ở TNN, óc tưởng tượng của tác giả dân gian có thể bay bổng có thể đưa

tới những yếu tố kì diệu miễn sao có thể diễn đạt được cái mà mình muốn ngụ ở trong

sự tích. TNN chứa đựng trong một sự tích hoàn toàn tưởng tượng một quan niệm triết

lí hay đạo đức, một kinh nghiệm sống đã được tổng kết. Và xét đến cùng thì TNN là

sản phẩm của sự tưởng tượng nhưng sự tưởng tượng được tạo ra phải theo yêu cầu của

lí trí, phải chịu sự hướng dẫn chặt chẽ của lí trí.

Trong văn học dân gian của người Việt, ngoài hình thức TNN kể xuôi, còn có

hình thức TNN kể vần. Một số TNN đã được viết thành truyện thơ Nôm như truyện “

Trê cóc”, “Hoa điểu tranh công”, “Lục súc tranh công”... Đối với nhân dân, các TNN

có mục đích giáo dục nhẹ nhàng mà thấm thía nên truyện càng có nhiều thi vị thì càng

dễ đạt mục đích ấy. Hình thức ngụ ngôn còn có nhiều trong ca dao, tục ngữ, vè. Tục

ngữ ngụ ngôn như: “chó chê mèo lắm lâng”, “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “cáo mượn oai

hùm”...; ca dao ngụ ngôn như các bài: “Con mèo mà trèo cây cao”, “cá bống đi chợ

cầu Canh”, “con cò mà đi ăn đêm”...

Mỗi TNN thường là một vở kịch nhỏ. Nói đến nghệ thuật của TNN không thể

không nhắc đến tính chất kịch. Mâu thuẫn giữa những hoàn cảnh, sự việc, những tính

cách nhân vật trong TNN được nêu ra một cách sâu sắc nét thông qua những chuyển

biến bất ngờ đầy kịch tính. Tuy những yếu tố của hí kịch không phải luôn thể hiện một

cách toàn diện trong TNN nhưng cũng thể hiện ở mặt này mặt khác làm tăng thêm sự

hấp dẫn cho các truyện như: “Mèo lại hoàn mèo”, “Cọp, Cò, Cáo và Chuột”, “Hai đứa

bé và quả bứa”... Hãy thử xét kịch tính của truyện “Hai đứa bé và quả bứa”. Mâu thuẫn

được nêu lên từ sự cãi lí để giành quả bứa của hai đứa trẻ. Khi nhân vật thứ ba xuất

hiện với cách giải quyết có vẻ hợp lí nhưng thực chất lại phi lí đã tạo sự bất ngờ lớn

đầy kịch tính. Kịch tính đã làm tăng thêm ý nghĩa của bài học triết lí mà truyện muốn

nêu lên: phải biết nhường nhịn nhau không nên tranh giành hơn thiệt để kẻ đứng ngoài

lợi dụng mà thu lợi.

Trong TNN có nhiều tính chất thơ. Bản thân lối nói ví von đã là một lối nói có

tính chất nghệ thuật. TNN, một lối ví von được mở rộng, càng có nhiều tính chất nghệ

thuật. Ở TNN, các hình tượng hay hình ảnh, sự kết hợp với nhau trong cấu trúc hoàn

chỉnh để tạo sự liên tưởng tới ý nghĩa khái quát, trừu tượng trên cơ sở của ý nghĩa cụ

thể. TNN phản ánh con đường thực tế của sự đạt tới chân lí của nhân dân lao động:

chân lí được phát triển ở mặt trái của ngụy lí hoặc trong sự sai lầm; chân lí được nhận

ra trong thực tiễn đấu tranh và lao động. Những tư tưởng của nhân dân, những kinh

nghiệm sống thiết thực của nhân dân được đúc kết thành những bài học thông qua

TNN. Bài học nhận thức luận vốn dĩ rất khô khan, trừu tượng nhưng khi được trình

bày dưới hình thức ngụ ngôn trở nên thật giản dị và sống động. Đúng như ông Nguyễn

Văn Ngọc đã nói: “Nói ngay hay trái tai, cái trò đời xưa nay vẫn thế. Cứ đem một sự

thật chần chần ra mà dạy người ta phần như hơi ép uổng, không được dễ dàng…

Viên thuốc để chữa bệnh mà phải bọc vỏ ngoài cho đẹp như viên kẹo mới

khiến người dễ nuốt thì chân lí ở đời muốn cho dễ thấm thía với tâm linh người ta

cũng phải lựa một con đường nào cho dễ đi, cho chóng lọt vào đến nơi được. Bởi vậy

mà ngụ ngôn mới hữu dụng”.

1.4. ĐẶC ĐIỂM CỦA TRUYỆN CƯỜI

Không có lý do gì để khẳng định rằng những TC đầu tiên phải ra đời sau TT,

nhưng chắc chắn rằng mùa nở rộ của TC phải là một mạt kì của chế độ phong kiến.

Ở nước ta, vào cuối thời Lê và thời Nguyễn là thời văn cười được mùa lớn. Sự

phát triển mạnh mẽ của yếu tố hài hước, châm biếm đã tạo nên một trong những đặc

điểm lịch sử nổi bật cho văn học dân gian thời kì này. Cái cười trên sân khấu chèo ...

chưa đủ! Còn phải có cả một thể loại truyện gây cười để vạch rõ hơn nữa bản chất xấu

xa ngày càng lộ liễu của giai cấp phong kiến suy vong, để trở thành vũ khí sắc bén của

nhân dân trong cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ phong kiến đang lung lay tận gốc.

Chúng ta có thể tìm thấy ở kho tàng “Truyện cười” hình ảnh độc đáo về chế độ phong

kiến cuối mùa. Đó là một bức hí họa rộng lớn về hình thái xã hội phong kiến đang biến

thành “trò hề” qua những mẫu nhân vật tiêu biểu của nó: vua chúa, thần thánh, quan

lại, hào lí, phú ông, các loại thầy bà...

Với sự khủng hoảng và suy sụp của chế độ phong kiến, trong đời sống hàng

ngày, chủ yếu ở xã hội quan phương, trước hết là trong môi trường quý tộc quan liêu,

có những người, những vật một cách nực cười với những hình thức trung, hiếu, tiết,

nghĩa, của đạo đức Nho giáo (những tưởng là những khuôn vàng thước ngọc có giá trị

vĩnh hằng). Mặt khác cùng với sự phát triển mãnh liệt. Giáo điều Nho giáo bị rung

chuyển rạn vỡ, tư tưởng phóng túng lan tràn, khiến người ta chẳng những thấy được

cái đáng cười mà còn dám cười lên. Thế nhưng tính chất hài hước không phải chỉ có ở

mạt kì của chế độ phong kiến. Giai cấp phong kiến ngay cả trong thời thịnh của nó đã

có ngay bộ mặt giả tạo. Giữa đạo đức lễ giáo mà nó nêu ra với hành vi thực tế của nó

cũng đã có những mâu thuẫn tức cười và cũng đã được phản ánh trong TC. Những

hành vi của giai cấp bóc lột, ngay cả khi nó còn vai trò tích cực đối với lịch sử cũng

không thể hoàn toàn phù hợp cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn với tư tưởng

tiên tiến của xã hội đương thời. Vì thế giai cấp bóc lột lúc nào cũng có thể là đối tượng

của tiếng cười hài hước.

Mọi hiện tượng mâu thuẫn với khuynh hướng phát triển khách quan của lịch

sử - khuynh hướng này được phản ánh trong những tư tưởng tiên tiến của xã hội - đều

có thể mang tính chất hài hước. Cho nên tiếng cười hài hước còn có thể tìm thấy đối

tượng cả trong những hành vi nào đó của một số người trong nhân dân lao động khi

mà nhân dân một mặt đấu tranh chống giai cấp bóc lột, một mặt lại vẫn cứ chịu ảnh

hưởng xấu xa của nó. Tiếng cười này cũng có ý nghĩa đấu tranh mạnh mẽ, không phải

là đấu tranh chống giai cấp bóc lột mà là đấu tranh trong nội bộ nhân dân.

Kho tàng TC dân gian bao gồm hai loại chính là truyện khôi hài và truyện hào

phóng:

Những TC gắn với sự hài hước sơ đẳng, có mục đích giải trí, mua vui thuộc

loại truyện khôi hài. Tiếng cười hài hước trong truyện khôi hài là tiếng cười đơn giản.

Tiếng cười bậc ra không nhằm tố cáo một cái gì lạc hậu, xấu xa, phản động mà chủ

yếu là để mua vui chẳng khác gì những câu ca dao sau:

-Chồng còng mà lấy vợ còng

Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.

-Chồng què lấy vợ khiễng chân,

Nuôi được đứa ở đứt chân cũng què.

Phần lớn TC sáng tác ra không chỉ nhằm mục đích là mua vui. Bên cạnh mục

đích mua vui, nhiều truyện còn có mục đích khác sâu xa hơn, còn có ý nghĩa đấu tranh

xã hội. Những truyện này thuộc loại truyện trào phúng. Tiếng cười hài hước trong các

truyện trào phúng là tiếng cười hài hước có ý nghĩa xã hội. Qua những truyện trào

phúng, tác giả dân gian không những làm chúng ta cười mà còn kích động tình cảm

của chúng ta. Chúng ta có thể vui, có thể buồn, có thể phẫn nộ, căm ghét, khinh bỉ

hoặc đau xót. Những tình cảm ấy bao giờ cũng gắn với những ý tưởng chính trị và mĩ

học của nhân dân.

Truyện trào phúng lại có hai loại nhỏ. Truyện trào phúng có ý nghĩa giáo dục,

phê phán những thói xấu trong nội bộ nhân dân thuộc loại truyện trào phúng bạn.

Truyện trào phúng chế giễu, đả kích mạnh mẽ vào giai cấp phong kiến, trở thành vũ

khí sắc bén của nhân dân trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến đang suy vong

thuộc loại truyện trào phúng thù.

Kho tàng TC có khi được gọi là tiếu lâm, tiếu lâm có nghĩa là rừng cười. Như

vậy, lúc đầu danh từ truyện tiếu lâm có ý nghĩa rất rộng để gọi TC nói chung (gồm cả

truyện khôi hài và truyện trào phúng). Nhưng theo quan niệm hiện nay thì truyện tiếu

lâm là những truyện khôi hài và trào phúng mang yếu tố “tục”. Việc dùng yếu tố tục

để gây cười là một biện pháp có ở nhiều loại văn học dân gian như ở câu đối, ở ca

dao… Yếu tố tục trong TC dân gian chỉ có một số ít là được sử dụng dễ dãi, không có

hoặc có rất ít nội dung ý nghĩa triết lí, nhân sinh, còn phần lớn đều là phương tiện gây

cười vừa là vũ khí đấu tranh đả kích. Nếu như lễ giáo phong kiến muốn tô vẽ cho các

nhân vật phong kiến nét mặt đạo mạo thì TC đã phá tan không khí nghiêm trang đạo

mạo ấy, rồi lại còn pha thêm vào việc đáng cười yếu tố “tục”. Yếu tố “tục” trong TC

thường làm cho tính chất trào phúng được nâng đến độ chót của nó, làm cho tiếng cười

giòn giã hơn sự chế giễu cay độc hơn.

Nhìn chung, cả những truyện tục tĩu gắn liền với đời sống bản năng của con

người cũng như những truyện sử dụng yếu tố “tục” để phản phong cũng không tất

nhiên là những truyện hay nhất. Xét cho kĩ thì văng tục với kẻ thù không phải là biện

pháp tốt nhất để thắng nó. Ngày nay, tiếng cười hài hước vẫn cần vang lên để góp

phần tiêu diệt tận gốc những tàn dư của chế độ cũ. Không chỉ thế, tiếng cười hài hước

ngày nay còn sẵn sàng xóa bỏ những mặt bảo thủ, mâu thuẫn của cái mới hôm qua nếu

nó đã trở thành cái lỗi thời của hôm nay. Bởi sự mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới

không bao giờ hết được trong đời sống của chúng ta, cái tiền tiến hôm nay có thể thành

cái lỗi thời ngày mai. Tiếng cười hài hước ngày nay có ý nghĩa phê bình và tự phê bình

sâu sắc. Trong hoàn cảnh hiện nay khi mà chúng ta đã có sự phát triển của nền văn

hóa, trình độ giáo dục thẩm mĩ ngày càng cao, yếu tố “tục” sẽ dần dần không còn cần

thiết để trợ lực cho tiếng cười nữa.

1.4.1.Đặc điểm nội dung

Nội dung của TC rất phong phú. Có loại tiếng cười đả kích vào giai cấp thống

trị là gươm dao trong cuộc chiến đấu dữ dội chống kẻ thù. Có loại tiếng cười phê phán

những mặt tiêu cực trong đời sống nhân dân là bằng chứng sinh động về ý thức phê

bình và tự phê bình của nhân dân. Có loại tiếng cười chỉ có ý nghĩa mua vui, là hoa đối

với cuộc đời hàng ngày nhọc nhằn chống thiên nhiên khắc nghiệt.

Mang ý nghĩa chiến đấu cao nhất là những truyện đả kích vào giai cấp thống

trị. Trong thời kì suy vong, giai cấp thống trị không chịu rời bỏ mà trái lại vẫn cố bám

víu lấy địa vị cũ, vấn cố duy trì trật tự cũ. Vì thế mà nó đã trở nên một vai hề tiêu cực

trên sân khấu xã hội, trở thành đối tượng của tiếng cười hài hước trong TC. Tiếng cười

hài hước ở đây đóng góp một phần vào việc đánh đổ giai cấp thống trị để làm cho lịch

sử tiến lên.

Đáng chú ý trước hết là những hệ thống TC được lưu hành rộng rãi như truyện

“Trạng Lợn”, truyện “Trạng Quỳnh”, truyện “Ba Giai, Tú Xuất”… Những hệ thống

truyện này đã vạch rõ những cảnh ngược đời trong xã hội phong kiến, sự giả tạo của

những kẻ bóc lột (từ vua quan cho đến cường hào, lái buôn và những bọn tay sai của

chúng). Mặc dầu do những nho sĩ nghèo đặt ra nhưng hệ thống truyện này đã được dân

gian hóa, phục vụ đắc lực cho mục đích của nhân dân là đánh vào chế độ phong kiến.

Truyện “Trạng Lợn” đã đem vua chúa, quan lại, nho sĩ ra làm trò đùa. Tuy nhiên trong

hệ thống truyện này chưa có sự bất mãn bùng nổ như trong hệ thống truyện “Trạng

Quỳnh”. Trạng Quỳnh chủ yếu là một nhân vật văn học dân gian do nhân dân Việt

Nam qua nhiều thế hệ sáng tạo nên tương tự như nhân vật Xiêng Miêng của Lào, nhân

vật Thơ Mênh Chây của người Campuchia, nhân vật A Phan Thí của Trung Quốc…

Trạng Quỳnh đối lập và khai chiến hầu hết các thế lực phản động, bảo thủ, lạc hậu của

xã hội phong kiến nước ta trong thời kì suy vong của nó từ nho sĩ (“Ông Tú cát”,

“Quang trường mắc cỡm”), phú hào (“Ông nọ bà kia”), quan lại (“Nhặt bã trầu”, “Chọi

gà”) đến chúa Trịnh (“Tương, muối cũng ngon”, “Chúa ngủ ngày”, “Cây nhà lá

vườn”), vua Lê (“An trộm mèo”, “Tiên sư thằng bảo thái”), thần linh (“Cấy rẽ ruộng

chúa Liễu”, “Vay tiền chùa”, “Phật say”). Như vậy, truyện “Trạng Quỳnh” không chỉ

chế giễu, đả kích vào các loại “thầy” vào bọn lí hương, quan lại cấp dưới mà còn dám

đánh thẳng vào bọn phong kiến cấo cao, đánh vào tận cung vua, phủ chúa. Qua truyện

“Trạng Quỳnh”, vua Lê hiện ra là một kẻ bất tài, bất lực, thiếu trách nhiệm, chỉ biết ăn

chơi hưởng lạc, chúa Trịnh lại càng tệ hơn với sự dâm ô, hống hách, ngu xuẩn. Hình

tượng Trạng Quỳnh được xây dựng trong truyện vừa là hiện thực, vừa là sự lí tưởng

hóa khả năng và ý chí đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc của nhân dân đương thời.

Nhân vật Trạng Quỳnh được tác giả dân gian sáng tạo với tất cả sự nâng niu trân trọng

như thế mà cuối cùng lại phải để cho nhân vật chết vì bị chúa Trịnh đánh thuốc độc.

Cái chết của Trạng Quỳnh đã nói lên sự bất lực, bế tắc của tác giả dân gian trong giai

đoạn lịch sử ấy. Một mặt tác giả đối lập sâu sắc với chế độ phong kiến, nhưng mặt

khác, tác giả lại không có điều kiện để phủ nhận nó một cách triệt để và dứt khoát. Tuy

nhiên cái chết và cách chết của nhân vật Trạng Quỳnh cũng có ý nghĩa tích cực. Trạng

Quỳnh biết mình không tránh khỏi cái chết, Trạng đã bày mẹo đánh lừa chúa Trịnh

cũng ăn phải thuốc độc mà chết theo. Thế là đến chết rồi, Trạng Quỳnh vẫn chưa hết

tiến công vào vua chúa. Hai cái chết của hai nhân vật văn học thù địch nhau ấy phản

ánh rất rõ tính chất quyết liệt của mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Việt Nam thời Lê –

Trịnh. Truyện “Xiển Ngộ” xuất hiện trong thế kỉ thứ XIX và đầu thế kỉ XX, khi thực

dân Pháp lồng ách thống trị của nó lên trên cái ách của nhà nước phong kiến, đã kế

thừa được truyện “Trạng Quỳnh” về phương diện nhằm đúng, đánh thẳng vào kẻ thù

của nhân dân. Truyện “Xiển Ngộ” là bằng chứng về sự nhạy bén của nhân dân trong

việc kịp thời vạch ngay ra những mặt tiêu cực vừa mới xuất hiện trong cuộc sống.

Như vậy, những hệ thống TC đã xuất hiện những nhân vật đại diện cho khả

năng và ý chí đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc của nhân dân đương thời. Những hệ

thống này mặc dầu do những nho sĩ nghèo đặt ra nhưng đã được dân gian hóa và tiếng

cười hài hước ở đây rất có tác dụng đấu tranh chống phong kiến.

Bên cạnh các hệ thống TC với nhân vật trung tâm đại biểu cho lí tưởng thẩm

mĩ, lí tưởng gắn với sự phê phán giai cấp thống trị trong xã hội cũ, lại có vô vàng TC

khác cũng có ý nghĩa đấu tranh rất cao. Truyện “Tao thèm quá” mang ý vị của TNN

nhưng về căn bản lại là truyện trào phúng. Diêm Vương ở trong truyện tượng trưng

cho bọn vua chúa, bọn trùm phong kiến làm ra vẻ thương dân nhưng thực chất lại

chính là những bọn bóc lột nhân dân, những kẻ uống máu, ăn thịt nhân dân. Truyện đã

vạch trần sự giả đạo đức của bọn trùm phong kiến và nói lên một sự thực mà nhiều khi

nhân dân không nhận rõ. Sự hài hước trong truyện có nội dung đấu tranh xã hội sâu

sắc, đập tan mọi ảo tưởng về sự bảo vệ công lí, bảo vệ nhân dân chống mọi sự áp bức

của bọn vua chúa.

Vua chúa mặc dù là những thủ phạm đầu sỏ đáng căm ghét nhất nhưng không

trực tiếp ra tay đàn áp, tàn sát nhân dân như quan lại. Trong kho tàng TC dân gian,

chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều những truyện đả kích vào bọn quan lại khi mà những

việc tham ô, những hành vi hống hách nhưng hèn nhát của bọn quan lại mâu thuẫn với

những nguyên tắc đạo đức mà chúng thường nói. Tiếng cười hài hước trong các truyện

như: “Miệng người sang có gang có thép”, “Con ruồi và quan huyện”, “Con giun đất”,

“Bẩm quan lớn ngài minh lắm”, “Giàn lý đổ”, “Chiếc lông voi”, “Quan huyện thanh

liêm”, “Thần bia trả nghĩa”… tố cáo và phê phán những khía cạnh xấu xa của bọn

quan lại, vạch rõ những nét tiêu cực trong sinh hoạt, trong hành động của chúng. Nếu

truyện “Giàn lí đổ” chỉ làm cho mọi người biết rằng thầy đề và quan huyện rất “thần

thánh”, oai phong ở ngoài xã hội những ở nhà thì chẳng oai phong chút nào, thực chất

bọn chúng chỉ là những kẻ sợ vợ, hèn nhát thì đến truyện “Chiếc lông voi” (hoặc “Cái

tăm quan huyện”), các nhân vật tai to, mặt lớn ấy đã bị mạt sát, hạ uy thế một cách

không nể nang. Trong số những TC phong kiến, cần chú ý những truyện có chiều sâu

như các truyện “Quan huyện thanh liêm”, “Thần bia trả nghĩa”. Ở truyện “Quan huyện

thanh liêm”, tiếng cười hài hước được bật ra sau lời mắng vợ của quan huyện: “Sao bà

ngốc thế? Ai lại bảo là tuổi tí? Giá cứ bảo là tuổi “Sửu” để họ đúc lấy một con trâu có

phải hay biết mấy không nào?”. Người ta cười vì chợt nhận thấy mình suýt nữa thì bị

đánh lừa bởi sự giả đạo đức quá khôn ngoan của quan. Người ta cũng bật cười vì chợt

nhận thấy mình khám phá được bản chất tham lam mà quan cố che giấu và đã che giấu

được cho đến tận lúc về hưu. Tiếng cười ở đây không giòn giã nhưng giống như những

mũi tên, viên đạn bắn trúng đích và xuyên sâu vào tâm can của đối tượng. Truyện

“Quan huyện thanh liêm” đã vạch rõ bộ mặt giả tạo thanh liêm của quan, soi rọi đúng

tim đen của những quan lại khôn ngoan nhất, giả đạo đức nhất. Truyện cũng nhắc

người ta không nên tin vào sự thanh liêm của bọn quan lại bởi đằng sau vẻ thanh liêm

ấy có thể là cả một lòng tham được che giấu rất cẩn thận.

Các phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ khắp nơi, kéo dài hợp thành

những cơn bão táp trong các thế kỉ XVIII, XIX đã giúp tác giả dân gian nhận thức

được rằng lực lượng quân sự của nhà nước phong kiến không phải luôn đáng sợ.

Trong thời kì suy vong của chế động phong kiến không thiếu gì những quan võ bất tài,

hèn nhát. Truyện “Thần bia trả nghĩa” đả kích vào quan võ. Tác giả dân gian của

truyện đã mượn lời của thần bia để chửi khéo quan võ: “Tôi là thần bia ở trong vườn

nhà quan lớn. Trong bấy nhiêu năm ở nhờ nhà quan lớn như vậy mà ngài có lòng nhân

đức không hề làm cho tôi bị thương tích lần nào, được an toàn cho đến bây giờ. Cảm

cái ơn ấy, hôm nay tôi cứu ngài để trả nghĩa đó”. Ở truyện này, tiếng cười cũng hóm

hỉnh không kém gì truyện “Quan huyện thanh liêm.

Bên cạnh bọn quan lại thì bọn hào trưởng, địa chủ, phú ông cũng là đối tượng

quen thuộc của TC dân gian. Tác giả dân gian đặc biệt căm ghét đối với bọn người này

bởi chúng là những kẻ trực tiếp ra tay đàn áp, tàn sát, bóc lột nhân dân nên các TC

nhằm vào chúng có ý nghĩa đấu tranh mạnh mẽ. Những truyện như: “Sang cả mình

con”, “Anh cả Lắc”, “Tại ông không hỏi”, “Giả nợ tiền kiếp”… đã châm biếm những

thói tham lam, keo kiệt, ngu dốt và hống hách của giai cấp phong kiến ở nông thôn.

Tiếng cười hài hước bật ra sau lời giải thích như là một câu chửi thâm khéo léo của

anh nông dân trong truyện: “Làm kiếp trâu cũng làm có hạn thôi, làm bố chúng nó thời

lo lắng cho chúng nó tất cả một đời người, lúc chết đi có nghìn vạn cũng để lại cho

chúng nó cả thì mới trả xong nợ chúng nó được. Lại còn một nỗi khi chúng bóp hầu

nặng họng người ta quá đáng thì người ta lại gọi bố chúng nó ra người ta chửi”. Tiếng

cười ở đây vừa chứa đựng sự hả hê khi cả tác giả dân gian và thính giả dân gian cảm

thấy mát dạ mát lòng về lời nói sâu sắc và thông minh của anh nông dân vừa chứa

dựng sự chua xót, căm phẫn trước sự bóc lột đến cùng cực của bọn địa chủ với món nợ

mà người nông dân dù đã trả hết một đời nhưng cho đến chết vẫn chưa hết nợ.

Mặc dù chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ và bạo lực của chính quyền

phong kiến là chỗ dựa chính cho sự tồn tại của chế độ phong kiến nhưng không chỉ

thế. Để chế độ phong kiến tồn tại được, giai cấp phong kiến thống trị được cần phải

nhờ vào một đội ngũ những kẻ bảo vệ và tuyên truyền ý thức hệ chính thống làm mê

muội nhân dân, kềm hãm khả năng đấu tranh của họ với những suy nghĩ phục tùng,

cam chịu. Đông đảo tăng lữ và nho sĩ làm thành cả một đội ngũ rộng rãi phục vụ đắc

lực cho chế độ phong kiến, khi chế độ phong kiến bước vào thời kì suy vong các tầng

lớp này ngày càng bộc lộ những xấu xa. Đại đa số sư sãi chỉ còn là những kẻ buôn

thần bán phật, có hành trạng ám muội, nhơ nhuốc. Đại đa số nho sĩ trở thành một tầng

lớp ăn bám, một thế lực phản động. Ở nước ta vào thế kỉ XVIII, XIX có rất nhiều các

loại “thầy” xuất hiện (thầy bói, thầy cúng, thầy chùa, sư sãi, thầy địa lí, thầy lang, thầy

đồ…). Phần lớn các loại “thầy” này có xuất thân từ một bộ phận nho sĩ gặp cái “vận

ruồi bâu”, đi thi chẳng đỗ và một bộ phận lớn những sư sãi khẩu Phật tâm xà. Không ít

TC dân gian đã hướng tiếng cười châm biếm chế giễu vào đối tượng này bởi bọn họ

thường mang nhiều tính chất hài hước hơn là quan lại và địa chủ. Tiếng cười hài hước

có nhiều điều kiện nảy nở trên những mâu thuẫn giữa cái tốt đẹp giả tạo mà bọn người

này phô trương để lừa bịp quần chúng với thực chất xấu xa của chúng. Xét về tính chất

nghề nghiệp, có thể phân các loại “thầy” trên đây thành hai bộ phận khác nhau.

Bộ phận thứ nhất gồm các loại thầy làm nghề mê tín (thầy bói, thầy cúng hay

thầy phù thủy, thầy địa lí, thầy chùa – sư sãi…). Đó là những nghề bất chính có hại

cho nhân dân.

Trong giai đoạn lịch sử này (xã hội Việt Nam vào thế kỉ XVIII, XIX), nhân

dân đã dám công khai chế giễu, nhạo báng các thứ tôn giáo, mê tín dị đoan, các loại

“thầy” làm nghề mê tín mà ở nhiều thế kỉ trước, phần lớn nhân dân chỉ biết tôn thờ và

sùng bái. Những truyện như: “Đừng nói tao thèm”, “Thiên lôi đánh nhầm”, “Lá húng

lá húng”, “Mẹ đẻ ra sư”… chẳng những đã hạ uy thế của giai cấp thống trị trong xã hội

mà còn chế giễu cả thần linh. TC dân gian đã đặc biệt đánh rất mạnh vào những kẻ làm

nghề mê tín, vạch trần sự giả dối, lừa bịp của chúng. Thầy bói chỉ “nói dựa”, thầy phù

thủy thì “sợ ma”, thầy cúng thì dốt, thầy chùa, sư sãi thì mê gái và sành ăn thịt chó…

Bộ phận thứ hai gồm các loại thầy làm nghề dạy học (thầy đồ) và nghề thuốc

(thầy lang). Đối với thầy lang, có những truyện như “Chỉ một con ma”, “Phúc thống

phục nhân sâm”… phê phán sự ngu dốt, thiếu tay nghề và lương tâm của những tên

lang băm dẫn đến chết người hại của. Đối với thầy đồ cũng vậy, hàng loạt truyện về

thầy đồ đều tập trung vào hai phương diện, hai loại khuyết điểm cơ bản: thiếu kiến

thức và thiếu đạo đức. Những truyện như “Tam đại con gà”, “Cây bất biển đông”,

“Thầy đồ nói liều”, “Thầy đồ ăn vụn chè”… là những TC tiêu biểu.

Thực ra với truyền thống tôn sư trọng đạo, nhân dân ta không đả kích vào hai

nghề chân chính ấy mà chỉ vạch trần những xấu xa của bọn người không biết một chút

gì về nghề nghiệp mà họ làm, không xứng đáng được giữ cái địa vị mà họ bám lấy.

Tiếng cười về các loại thầy nói trên đã góp phần “tống tiễn” tất cả những cái xấu xa,

lỗi thời trong xã hội phong kiến ra khỏi đời sống nhân dân. Nhìn chung, những truyện

trào phúng đả kích vào giai cấp phong kiến có từng loại truyện nhằm vào từng loại đối

tượng. Tuy vậy, cũng có những TC tập trung được nhiều đối tượng phê phán khác

nhau trong một tình huống giàu kịch tính và giàu ý nghĩa xã hội. Truyện “Nam mô…

boong” là một trường hợp tiêu biểu. Tác giả dân gian đã khéo lột trần mặt nạ của

những con người đại biểu cho gia cấp phong kiến, đẩy chúng vào những vai hề, đặt

chúng vào những địa vị rất thích đáng với thực chất xấu xa của chúng (địa vị của

những kẻ tội phạm, của những kẻ chiến bại).

Trong TC dân gian, vua không ra vua, quan lại rặt phường tham nhũng, bất tài

ngu xuẩn, thầy lang bị bỡn cợt, những người làm thầy thiên hạ đều dốt nát và thiếu

nhân cách đến mức thảm hại. Mũi nhọn đả kích của TC dân gian đã chích đúng huyệt

của hệ tư tưởng phong kiến, đã sổ toẹt đúng cái chỗ vốn được coi là những giá trị cao

cả của nho giáo. Chỉ có thể có được cái cười lật ngược mọi sự đời như thế trong TC

khi mà hệ tư tưởng phong kiến đã tự phơi bày sự trống rỗng, sự vô nghĩa lí của nó

trước bàn dân thiên hạ.

Bên cạnh những TC đả kích vào giai cấp thống trị, những TC phê phán những

mặt tiêu cực trong đời sống nhân dân cũng có ý nghĩa đấu tranh xã hội. Tiếng cười hài

hước trong những truyện này chống lại những thói hư tật xấu diễn ra trong sinh hoạt

thường ngày của nhân dân vì nhiễm phải ảnh hưởng của giai cấp thống trị (như lười

nhác, tham ăn, khoe khang, khoác lác, hà tiện…). Những truyện như: “Kén rễ lười”,

“Tao mừng quá”, “Trả lời vắn tắt”, “Lợn cưới, áo mới”… có tác dụng châm biếm sâu

sắc vào những thói xấu trong sinh hoạt của nhân dân. Nhưng sâu sắc nhất là những

truyện nhằm vào những kẻ muốn học đòi bọn thống trị hoặc xu phụ chúng như: “Anh

kẻ Noi làm thơ huê tình”. “Mời bác xơi ngọc…”, “Thơm rồi lại thối”… Tuy không

gay gắt và quyết liệt như tiếng cười đả kích, vạch mặt, hạ uy thế bọn thống trị nhưng

những TC mang tính phê phán nội bộ này còn có tác dụng quan trọng và có sức trường

tồn hơn cả bộ phận TC đấu tranh giai cấp. Sự chế giễu những thói xấu “phản xã hội” ở

người bình dân luôn toát lên một nhiệt tình thống thiết bảo vệ những truyền thống đạo

đức tốt đẹp của nhân dân như cần kiệm, giản dị, khiêm tốn, trung thực… khỏi bị hoen

ố, hủy hoại trong hoàn cảnh xã hội đương thời.

TC nào cũng có tác dụng mua vui giải trí và ít nhiều đáp ứng nhu cầu tiêu

khiển của nhân dân. Điều đáng chú ý là nhân dân rất coi trọng nhu cầu này và do đó

tạo ra một bộ phận TC dân gian chủ yếu phục vụ cho mục đích mua vui giải trí

(thường được gọi là truyện khôi hài). Truyện khôi hài thường hay đề cập đến những

vấn đề nhận thức luận. Đó là trường hợp những truyện như: “Ba anh mê ngủ”, “Vô

tâm”, “Bất tỉnh nhân sự”, “Chồng mù vợ điếc”, … Những truyện này không có mục

đích tố cáo một cái gì xấu xa trong nhân cách con người mà chủ yếu mang lại một

niềm vui hồn nhiên. Mặc dù không ghét bỏ gì những người có khuyết tật (như câm

điếc, mù lòa…) nhưng để phục vụ cho mục đích giải trí nhiều khi tác giả dân gian đã

mượn họ làm đối tượng gây cười cho truyện khôi hài. Sở dĩ tiếng cười đối với những

người tàn tật mà lại có thể làm ta vui được vì chúng không có mục đích đả kích vào

những con người bất hạnh kia. Tiếng cười mà những truyện ấy gây ra thường gắn liền

với một sự thông cảm đối với những thiếu sót mà thiên nhiên buộc họ phải chịu đựng.

Tuy thế nhưng sự lạm dụng khai thác đề tài này sẽ ít nhiều gây cho những người

khuyết tật cảm giác bị xúc phạm. Các truyện khôi hài nói chung thường không sâu sắc

và ít có ý nghĩa xã hội nhưng rất hiển nhiên và thoải mái. Thường các nhân vật trong

truyện đều có khuyết nhược điểm, nhưng đó là những khuyết nhược điểm thông

thường không gây ra tác hại đáng kể cho người khác nên có thể thông cảm và châm

chước dễ dàng. Truyện khôi hài ngoài mục đích mua vui thuần túy còn có mục đích

rèn luyện lí trí bằng cách phơi bày những mâu thuẫn mà tư duy lô gích phải phát hiện

cho được nguyên nhân. Những truyện khôi hài trên nêu ra những hiện tượng kì quặc,

ngược đời, trái tự nhiên có thể xảy ra trong cuộc sống hoặc ít nhiều bịa đặt ra để thử

nghiệm tư duy lô gích, óc quan sát và phân tích của người thưởng thức. Tất nhiên

không phải truyện khôi hài nào cũng đặt ra yêu cầu ấy. Đó là trường hợp một số ít

truyện như kiểu truyện: “Tay ải tay ai”, “Tôi khiêng bà”… Những truyện thuộc loại

này có tính chất mua vui và xuất hiện trên cơ sở của những hiện tượng có tính chất hài

hước, nhưng chủ yếu là trên cơ sở sinh hoạt lành mạnh, lạc quan của nhân dân.

Nhìn chung, kho tàng TC của ta có nội dung rất phong phú, có ý nghĩa nhân

sinh rất sâu sắc. TC với nội dung đả kích những cái xấu xa độc ác của giai cấp thống

trị, phê phán những nét tiêu cực trong nội bộ nhân dân, vạch rõ những hoàn cảnh oái

oăm, những hành động trái tự nhiên không chỉ nhằm tạo nên tiếng cười xua tan mọi

căng thẳng, buồn bã trong cuộc sống mà còn góp phần tống tiễn những gì là lạc hậu,

xấu xa, tiêu cực để cuộc sống ngày một tiến lên, tốt đẹp hơn.

1.4.2.Đặc điểm nghệ thuật

Nói đến nghệ thuật của TC dân gian trước hết phải đề cập đến nghệ thuật gây

cười. TC dân gian đã mượn lời nói, cử chỉ, hoàn cảnh, tính cách trái tự nhiên, máy

móc, ngộ nghĩnh để tạo nên tiếng cười giòn giã. Những truyện như:”Đánh chết nửa

người”, “Mồ hôi sang cả mình con”, “Giấu đầu hở đuôi”, “Một với một là ba”… đã

lấy một lời nói ngộ nghĩnh để gây cười; những truyện “Kén rễ lười”, “Đẻ ra sư”, “Con

ruồi và quan huyện”, “Thầy đồ liếm đĩa”…lấy một cử chỉ, một tư thế, một hành động

ngộ nghĩnh, máy móc, trái tự nhiên để gây cười; những truyện “Cháy”, “Nam mô…

boong!” đã xây dựng nên những hoàn cảnh đáng cười; những truyện như: “Anh keo

kiệt”, “Hà tiện đến chết không muốn chôn”, “Anh sợ vợ”, “Ba quan thôi”… lấy một

tính cách để gây cười. Ở truyện “Đánh chết nửa người”, câu nói của tên ăn mày làm

cho ta buồn cười. Vì câu đó xét về bề ngoài thì ra vẻ có lí lắm: cho một nghìn quan thì

đánh chết, cho phân nửa tức là năm trăm quan thì đánh chết nửa người. Nhưng xét lại

thì thấy thật vô lí và tức cười vì tiền có thể chia đôi nhưng không thể làm việc chia đôi

ấy cho sự chết của một con người bởi con người là một chỉnh thể thống nhất. Còn ở

truyện “Kén rễ lười”, tư thế đi giật lùi của anh chàng trái với tự nhiên thật tức cười.

Anh ta đã cất công đi nổi từ nhà mình đến nhà ông già thế mà khi vào đến cổng lại đi

giật lùi để đỡ tốn công quay người trở lại khi đi ra! Tư thế của anh trái với tự nhiên,

lập luận của anh chứa đựng mâu thuẫn. Và tiếng cười hài hước vì thế mà vang lên để

phê phán thói lười biếng quá đáng của anh chàng trong truyện. Truyện “Cháy” đã đặt

ra một hoàn cảnh trong đó mỗi người đều suy nghĩ và hành động hợp lô gích nhưng

những suy nghĩ và hành động hợp lô gích đó của hai người lại nhằm vào hai đối tượng

khác nhau trong một tình huống giao tiếp. Chính điều ấy đã gây ra tiếng cười hài hước.

Truyện “Ba quan thôi” tức cười ở chỗ anh hà tiện bị tính xấu chi phối đến mỗi hành

động một cách máy móc trái tự nhiên, mất cả tính chủ động và sinh động của con

người, trở thành nô lệ cho đồng tiền.

Trong sáng tác TC, tác giả phải thường xuyên sử dụng hư cấu, tưởng tượng và

biện pháp phóng đại, cường điệu để tạo dựng nên những lời nói, cử chỉ, tính cách và

hoàn cảnh đáng cười. Do đó, nếu cố đi tìm trong cuộc đời những nhân vật đã hành

động, ăn nói và cư xử trong những hoàn cảnh của TC thì sẽ phí công mà thôi. Mặc dù

cái việc cụ thể ở trong TC là không có thực nhưng cái bản chất của vấn đề lại rất thực.

Sẽ không có những kẻ mặc cả số tiền vớt mình trong hoàn cảnh cấp cứu như tên keo

kiệt trong truyện “Ba quan thôi” nhưng chắc chắn có những kẻ quý của hơn người, làm

nô lệ cho đồng tiền. Sẽ không tìm thấy những ai đi đứng trái tự nhiên như anh chàng

lười trong truyện “Kén rễ lười” nhưng nhất định trong cuộc sống không thiếu những

kẻ lười biếng ngại vận động, sợ công việc. Những cái đáng cười là những cái đã có sẵn

trong xã hội nhưng bằng tài năng của mình, tác giả dân gian đã phát hiện và thể hiện

cái hài bằng hư cấu nghệ thuật. Nghệ thuật TC cũng tương tự như nghệ thuật của nhà

biếm họa. Trong muôn ngàn nét vẽ, nhà biếm họa tùy theo ý đồ của mình mà có thể tô

đậm thêm một số nét làm nổi bật chúng lên thì đó cũng chính là cách phóng đại và

cường điệu hóa mà tác giả dân gian sử dụng để nêu bật cái bản chất của sự việc, của

nhân vật.

Thể loại văn học dân gian nào cũng cần đến tưởng tượng và hư cấu nhưng sự

tưởng tượng và hư cấu ở mỗi thể loại là không giống nhau. TC là sản phẩm của lí trí

nên sự tưởng tượng, hư cấu trong TC phải gắn bó với tư duy duy lí. Sự bịa đặt trong

TC phải có lí để cái phi lí, trái tự nhiên đáng cười của đối tượng mới được người nghe

phát hiện và bật ra tiếng cười một cách dễ dàng, nhanh chóng. Ở truyện “Ba anh mê

ngủ”, nếu hiện tượng mê ngủ diễn ra ở mức bình thường thì chẳng có gì đáng nói,

đáng cười. Do đó, tác giả phải “bịa” ra một trường hợp đặc biệt, khác thường. Và thế

là một cảnh, một trường hợp đáng cười đã tạo dựng: cả ba anh mê ngủ cùng uống ruợu

say và cùng ngủ chung một giường. Từ đây, cốt truyện và nhân vật sẽ tiếp tục diễn

biến phát triển như thế nào còn tùy thuộc vào mục đích và tài nghệ của tác giả. Để

tiếng cười sẽ diễn ra liên tục tác giả đã chọn giải pháp tối ưu là để ba nhân vật ở trạng

thái vừa tỉnh vừa mê và tác động lẫn nhau cũng trong trạng thái ấy. Cứ như thế, câu

chuyện tiếp diễn với sự lầm lẫn, ứng xử không chính xác của ba nhân vật dưới hình

thức một truyện hư cấu “bịa đặt” nhưng rất chặt chẽ và có lí.

Để gây tiếng cười thật giòn giã, TC dân gian hay dùng yếu tố bất ngờ. Trong

TC, sau cái bất ngờ là tiếng cười vang dội khi người ta đã phát hiện thực chất của hiện

tượng. Sự phát hiện này đem lại cho chúng ta một niềm vui chiến thắng vì khám phá ra

được thực chất của một hiện tượng muốn đánh lừa ta. Ở truyện “Cháy”, tác giả dân

gian làm cho ta ba lần bất ngờ. Khi khách hỏi: “Bố cháu có nhà không?”, em bé trả lời

“Mất rồi”, câu trả lời của em bé thật bất ngờ. Khi ông khách giật mình hỏi “Mất bao

giờ?”, em bé trả lời “Mất tối hôm qua”, thì đó là sự bất ngờ thứ hai. Ông khách hoảng

hốt hỏi: “Tại sao mất?”, em bé trả lời “Cháy”, thì đó là sự bất ngờ thứ ba. Nếu sự bất

ngờ đối với ông khách là sự hoảng hốt, sự ngạc nhiên cao độ thì sự bất ngờ đối với

chúng ta là dịp tốt để ta phát hiện và phá ra mà cười. Sự bất ngờ càng lớn, tiếng cười

càng giòn giã.

Trong truyện “Cháy”, tác giả dân gian kích thích tiếng cười của ta nhiều lần,

tiếng cười lần sau giòn giã hơn lần trước và kết thúc khi nó đạt tới tuyệt đỉnh. Đây là

cách bố cục theo trình tự tiệm tiến. Ngoài cách bố cục này còn có cách bố cục ngược

lại. Đó là cách bố cục “gói kín, mở nhanh”. Với cách bố cục này, tác giả dân gian dành

cho người nghe cái cười đích đáng nhất ở chỗ kết thúc. Chẳng hạn truyện “Tao thèm

quá”. Trong gần như toàn bộ câu chuyện, chúng ta có nhiều thiện cảm với Diêm

Vương bởi ông vua cõi âm này đã luôn tỏ ra quan tâm đến số phận đáng thương của

con lợn kia. Ông hỏi cặn kẽ như thể muốn biết cho hết tội ác mà quyết định sự trừng

phạt nghiêm khắc. Chỉ đến khi lợn kể tỉ mỉ công việc nấu nướng của bọn người độc ác

(!): “bắc chảo lên… phi hành mỡ cho thơm, cho mắm muối vào xào...” thì Diêm

Vương vội ngăn lại. Chúng ta cứ ngỡ là ngài quá lương thiện nên không can đảm nghe

tiếp những điều quá thương tâm ấy. Nhưng không phải thế, thật bất ngờ là vì: “... tao

thèm quá!”. Truyện đã kết thúc cùng với câu nói quá bất ngờ của diêm vương. Đến

đây thì lợn bị chưng hửng còn chúng ta thì bất ngờ nhận ra bản chất của Diêm Vương

để phá lên cười. Nhìn chung, dầu bố cục theo cách nào thì TC dân gian cũng thường

đạt được kịch tính cao để gây ra tiếng cười giòn giã.

TC không nhằm phản ánh và lí giải những xung đột, những mâu thuẫn có tính

chất riêng tư và phổ biến trong gia đình, xã hội; cũng không nhằm phản ánh, lí giải

những sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại của bộ tộc, dân tộc, quốc gia mà chủ yếu

dùng tiếng cười để phê phán những thói hư tật xấu, những cái lỗi thời, lạc hậu để góp

phần thanh lọc xã hội, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế TC thường rất ngắn. Có

người cho rằng TC thường rất ngắn và không có đầu đuôi như TCT. Nói như thế

không hoàn toàn sai nhưng cũng chưa thật chính xác. TC không tự đặt ra cho mình

nhiệm vụ kể lại số phận, cuộc đời của nhân vật. Nó chỉ kể lại những khoảnh khắc đặc

biệt. Đó là những khoảnh khắc đáng cười (khoảnh khắc hài) trong cuộc đời của họ. Ở

truyện “Ba anh mê ngủ”, ta chỉ biết ba nhân vật Giáp, Ất, Bính trong một đêm đặc biệt

đáng cười ấy, còn trước đó và sau đó họ sống ra sau thì tác giả không nói và người

nghe cũng không có nhu cầu biết đến. TC bao giờ cũng có kết thúc, kết thúc trọn vẹn

chứ không “buông lửng” như có người nhận xét, tất nhiên, kết thúc theo kiểu của nó.

Truyện “Ba quan thôi” đã kết thúc trọn vẹn, dứt khoát với lời mặc cả của anh keo kiệt

khi anh cố ngoi lên lần nữa để kêu: “Ba quan vẫn đắt, thà chết còn hơn!”. Chắc chắn là

sau tiếng cười hả hê, không ai còn thắc mắc việc xảy ra tiếp theo với tên keo kiệt ấy

như: Có ai vớt anh ta lên không? Thế anh ta có chết thật không? Truyện “Ba quan

thôi” đã kết thúc khi tiếng cười đã phát triển đến độ cao nhất so với khả năng gây cười

của truyện. Thực ta thì do TC ngắn, có khi cực ngắn nên mở đầu và kết thúc của

truyện cũng ngắn chứ không phải không có. Hơn nữa, mở đầu và và kết thúc TC phải

phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của nó nên không thể giống như mở đầu và kết thúc

của TCT được.

TC thường ngắn và rất ngắn, nhưng dù ngắn đến mấy thì TC ít nhất cũng phải

có từ hai nhân vật trở lên. Ngoài loại nhân vật bị phê phán, đả kích (nhân vật phản

diện, đối tượng của tiếng cười phê phán), TC dân gian thường có hai loại nhân vật là

nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) chủ yếu của tiếng cười phê phán và nhân vật

trung gian - phương tiện của tiếng cười phê phán. Trong truyện “Tam đại, con gà” thầy

đồ là nhân vật phản diện, người chủ nhà là nhân vật chính diện, đứa con (học trò) là

nhân vật trung gian. Nhân vật tích cực trong TC dân gian nếu chỉ góp phần làm bật cái

xấu, cái sai mà không tích cực, chủ động tấn công vào các nhân vật phản diện thì chỉ

được coi là nhân vật trung gian - phương tiện của tiếng cười mà thôi. Ví dụ: đứa bé tối

dạ trong truyện “Lạy cụ đề ạ”, người đày tớ trong truyện “Đày tớ”, người lính hầu

trong truyện “Cái tăm quan huyện”...

Giữa hai nhân vật phản diện và nhân vật trung gian nhiều khi có sự lẫn lôn,

khó phân biệt. Ví dụ ở truyện “Đậu phụ”, khi chú tiểu gọi con chó bằng “đậu phụ” làm

người ta cười. Vì chú tiểu gọi con chó bằng “đậu phụ” thì có vẻ phù hợp, đúng với

dụng ngữ của sư cụ (sư cụ xơi thịt cầy, nói là ăn đậu phụ, thì cứ lẽ đó mà suy, có thể

gọi con chó là “đậu phụ” chứ sao!), nhưng ta lại thấy ngay chỗ không ổn, vì đậu phụ

thì làm gì có “đậu phụ làng” với “đậu phụ chùa” và làm gì có “con đậu phụ” để mà cắn

nhau! Như vậy mặc dù với cách gọi con chó bằng “đậu phụ” của chú tiểu có tác dụng

“lật tẩy” sư cụ nhưng đồng thời cũng làm người nghe cười vì sự máy móc đến ngớ

ngẩn của chủ tiểu.

Thời gian ngắn, sự việc ít, diễn biến nhanh, kết cấu chặt, mở đầu ngắn, kết

thúc đột ngột là những đặc điểm nổi bật của TC dân gian.

TC dân gian là một thể loại của nghệ thuật ngôn từ dân gian, tất cả mọi

phương tiện của nó (cốt truyện, nhân vật, sự việc...) đều được tạo nên bằng ngôn ngữ.

Để TC có thể phổ biến được trong đông đảo nhân dân, ngôn ngữ TC nhìn chung là

trong sáng dễ hiểu. Nếu ở truyện nào có hiện tượng dùng từ mập mờ, thì đó là sự mập

mờ, lấp lửng có dụng ý để gây cười. Thí dụ: những truyện như: “Ăn đít bò”, “Bẩm chó

cả”... tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp nói thiếu nói tắt có dụng ý. Ở truyện “Bẩm

chó cả”, tác giả dân gian cố tình để cho ông đồ nho nói thiếu chữ “thịt” khi ông giới

thiệu cho các quan biết rõ từng món ăn: “Bẩm, đây là chó, kia cũng là chó, toàn chó

cả!”... Rõ ràng, tác giả cố tình ám chỉ “các quan” trong bữa tiệc “toàn là chó”. Ngoài

biện pháp nói tắt, nói thiếu có dụng ý, tác giả dân gian của TC còn rất thường sử dụng

biện pháp tước bỏ ngữ cảnh để gây cười. Ví dụ các truyện:”Ông lang đòi ăn”, “Thấy

nó ỉa mà thèm”.. Ở truyện “Thấy nó ỉa mà thèm”, tiếng cười bật lên sau lời kể một

cách hồn nhiên, vô tư của anh nghiện bị táo bón: “Hôm nay tao thấy cái thằng nó ỉa mà

tao thèm”. Cả tác giả và người nghe đã cố tình tách câu nói ra khỏi ngữ cảnh của nó

nên lại hiểu anh nghiện “thèm” cái phần bài tiết ra của người kia! Ngoài ra, tác giả dân

gian cũng rất hay dùng từ đồng âm, đa nghĩa để gây cười. Ví dụ truyện “Sợ sét bà”,

nhiều truyện trong hệ thống truyện “Trạng Quỳnh” như truyện “Bảo thái”, “Ông nọ, bà

kia”... Ở truyện “Sợ sét bà”, khi thầy đồ nói: “Tôi không sợ sét trời bằng sét của bà!”

thì sét của bà được hiểu là “sét bát cơm” mà mỗi bữa ăn bà chủ nhà chỉ xới cho thầy

đồ ba lần!

Thi pháp của TC, nhìn chung, rất phong phú và đa dạng. Bởi hàng ngũ tác giả

dân gian tham gia sáng tác và lưu truyền TC rất đông đảo từ quần chúng nhân dân lao

động đến tầng lớp tri thức bình dân và nhiều tầng lớp khác. Nhiều TC đã vận dụng

khéo léo cả những biện pháp gây cười của văn nghệ hài hước dân gian và những hình

thức, thủ pháp nghệ thuật của văn chương bác học.

TC dân gian gắn liền với ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa xã hội sắc bén là thể loại

có sức lưu truyền rất mạnh. Tuy không có chức năng răn dạy trực tiếp như TCT,

TNN... nhưng TC có tác dụng giáo dục độc đáo: nó mài sắc tư duy suy lí, làm giàu óc

phê phán, giúp trau dồi khả năng ngôn ngữ… Nếu như M.Gorki đòi hỏi:”phải vạch rõ

một cách tài tình và dí dởm của trẻ thấy những tật xấu của quá khứ” thì TC đã làm

được điều đó. TC dân gian thiên về vạch rõ cái xấu xa, cái bất lí còn như cái hợp lí, cái

tốt đẹp là nhân vật không được nhắc đến nhưng lúc nào cũng có mặt trong truyện: lí

tưởng mĩ học của thời đại. TC dân gian từ xưa truyền lại vẫn có giá trị hiện đại. Bởi

cái tiền tiến hôm nay có thể thành cái lỗi thời của ngày mai. Sự mâu thuẫn giữa cái cũ

và cái mới không bao giờ hết được trong đời sống của chúng ta. Một hiện tượng nảy

sinh trong xã hội chủ nghĩa đến một lúc nào đó có thể chứa đựng mặt bảo thủ và mâu

thuẫn nội tại này thường là cơ sở tiếng cười hài hước. Như thế những kinh nghiệm

cũng như thành tựu của TC dân gian vẫn rất có ích đối với chúng ta trong việc vạch ra

những cái mâu thuẫn, bảo thủ, lỗi thời để hướng đến một cuộc sống tiến bộ hơn, tốt

đẹp hơn.

TIỂU KẾT

TTT, TCT, TNN, TC đều là những tác phẩm văn học truyền khẩu. Chính vì

vậy mà nghệ thuật của các thể loại TDG ít nhiều bị hạn chế trong điều kiện của tác

phẩm truyền khẩu. Bên cạnh những thành tựu về nghệ thuật, các thể loại TDG cũng

chứa đựng những phần mới là nguyên liệu nghệ thuật. Tuy vậy chúng ta vẫn có thể tìm

thấy trong kho tàng TDG của ta rất nhiều những tư liệu quý báu để xây dựng những

tác phẩm nghệ thuật lớn. Qua nội dung của các thể loại TDG, chúng ta tìm thấy những

hiểu biết cực kì phong phú, xác thực về cuộc sống nhân dân qua các thời đại. Đó là

những hiểu biết về đặc điểm những hiện tượng của đời sống thực tại về lao động và

sinh hoạt gia đình, sinh hoạt xã hội, về phong tục, tập quán, về đời sống tình cảm và

thế giới tinh thần, về đạo đức, về thế giới quan và cả về sản vật, cảnh trí thiên nhiên

của đất nước. Các thể loại TDG còn giúp chúng ta tìm thấy được những mảng hiện

thực mà giai cấp thống trị thường cố tình như không hề biết đết hoặc bóp méo đi.

Nội dung tư tưởng - thẩm mĩ của TDG không ngừng được bồi đắp trong lịch

sử Việt Nam đã trở thành những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đó là tình yêu quê

hương đất nước, lòng yêu chuộng lẽ phải, đạo công bằng, là thái độ bất khuất trước

cường quyền, bạo lực, trước bọn áp bức và xâm lược. Vì vậy, bất kì thể loại nào của

TDG cũng có ý vị răn dạy, có tác dụng giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách cho

người thưởng thức.

TDG là những tác phẩm truyền miệng. Hình thức lưu truyền của TDG đã cho

phép những tác phẩm văn học dân gian còn tồn tại đến ngày nay khẳng định giá trị

trường tồn của chúng. TDG có cách nói rất phù hợp với các em nhỏ tuổi ngay cả khi

truyện đề cập đến những vấn đề lớn. Đó là một trong những lí do giúp ta hiểu tại sao

trẻ em lại rất mê truyện. Từ sức hấp dẫn, từ giá trị giáo dục to lớn của TDG mà nhiều

TDG được đưa vào dạy cho HS tiểu học trong các tiết KC khi KC là một môn học

chính quy của nhà trường tiểu học. Vì vậy, vấn đề là xuất phát từ việc nắm vững

những đặc điểm của các thể loại TDG để nghiên cứu về NTKCDG cho HS tiểu học

được đặt ra cho những ai quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả dạy TDG trong nhà

trường tiểu học.

CHƯƠNG 2 : NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN DÂN GIAN CHO

HỌC SINH BẬC TIỂU HỌC

PMKC có vị trí quan trọng, được xếp liền sau phân môn Tập đọc, Học thuộc

lòng của môn Tiếng Việt. PMKC được đưa vào giảng dạy cho HS tiểu học từ lớp 1

đến lớp 5 và đã có chỗ đứng xứng đáng trong Chương trình các lớp ở tiều học. Theo

quy định của Chương trình tiểu học, ở năm lớp đầu cấp của tiểu học, mỗi tuần có một

tiết KC. Về nguyên tắc, tiết KC diễn ra trong một thời gian hạn định (30 đến 40 phút)

cũng có các bước lên lớp, kiểm tra bài cũ, GV kể chuyện và HS luyện tập kể chuyện.

Về nội dung, Chương trình quy định việc chọn các loại truyện có giá trị giáo dục, giáo

dưỡng, có giá trị thẩm mĩ cao phù hợp với các chủ đề ngữ văn của từng lớp. Về kĩ

năng, PMKC tiếp nối các kĩ năng trong các phân môn Tập đọc, Tập làm văn, Học

thuộc lòng như kĩ năng phân tích và cảm thụ văn học, kĩ năng ghi nhớ máy móc, kĩ

năng nói, kĩ năng diễn cảm… Tuy nhiên, việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng này

ở PMKC có khác với các phân môn khác. Ở PMKC, việc hình thành và rèn luyện các

kĩ năng này vừa có tính tự phát, vừa có tính tự giác, vừa do yêu cầu nói năng của HS,

vừa do sự gợi ý dẫn dắt của GV.

Ở bậc Tiểu học, TDG được dạy trong các giờ KC từ lớp 1 đến lớp 5. Trong hệ

thống các loại truyện kể thuộc PMKC, TDG chiếm một địa vị danh dự bởi số lượng

vượt trội của TDG so với các loại truyện khác như: Truyện danh nhân, Truyện khoa

học, Truyện “người thực, việc thực”, Truyện cảnh giác, Truyện sáng tác. Chính vai trò

giáo dục to lớn, sức hấp dẫn, lôi cuốn của TDG đã không cho phép các Nhà biên soạn

chương trình được phép xem nhẹ, mà trái lại cần phải đặc biệt xem trọng.

Các em nhỏ rất thích được nghe ông bà, cha mẹ kể chuyện. Ở trường, GV kể

chuyện hay rất được các em quý mến. TDG cũng chỉ thể hiện trọn vẹn vai trò giáo dục

trong những tiết KC lí thú, hấp dẫn. Thế nhưng, KCDG cho hay, cho hấp dẫn là việc

khó khăn, là nghệ thuật… Vì thế, trên cơ sở nắm bắt những đặc điểm của TDG, kết

hợp với việc tìm hiểu chương trình và những tồn tại trong việc KCDG ở tiểu học để

nắm vững những yêu cầu chung của NTKC cho HS tiểu học và NTKCDG theo thể

loại ở Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các tiết KCDG là rất cần thiết.

2.1.CHƯƠNG TRÌNH VÀ NHỮNG TỒN TẠI TRONG VIỆC KỂ

CHUYỆN DÂN GIAN Ở TIỂU HỌC

2.1.1.Hệ thống truyện dân gian ở Tiểu học

2.1.1.1.Truyện dân gian ở lớp Một (Chương trình 2000)

Trong chương trình môn Tiếng Việt ở lớp Một, từ tuần 1 đến tuần 22, KC

được dạy ghép vào phân môn Học vần. KC được tách thành phân môn độc lập, song

song tồn tại với các phân môn khác như Tập đọc, Tập viết, Chính tả bắt đầu từ tuần 23.

Hầu hết các truyện đưa vào dạy ở lớp 1 là những truyện được tuyển chọn từ kho tàng

TDG của nhiều nước.

Khi PMKC được dạy ghép với phân môn Học vần, KC chỉ xuất hiện với tư

cách là một phần trong tổng số năm phần của bài ôn tập âm/vần (Phần 1: nhận diện và

hệ thống lại các âm/ vần đã học; Phần 2: ôn một số tiếng/ từ ứng dụng; Phần 3: viết

một số từ ứng dụng; Phần 4: Đọc câu/ đoạn ứng dụng; Phần 5: Luyện nghe – nói: kể

chuyện). Vì xuất hiện trong các bài ôn tập âm/ vần nên các TDG được dạy trong phần

KC thuộc bài ôn tập với mục đích chính là thông qua sự yêu thích thưởng thức TDG

của HS giúp các em luyện nghe nói những từ mang âm/ vần mà các em đã được học

trong những bài Học vần của tuần qua (mỗi tuần có một bài ôn tập). Cũng vì thế mà

những TDG được chọn không chỉ là những truyện có nội dung tốt, mang ý nghĩa giáo

dục cao còn phải là những truyện phục vụ tốt cho các bài ôn tập. Có nghĩa là những

TDG được dạy trong phần KC thường có nhiều những từ mang âm/ vần mà HS cần ôn

tập, hoặc có sự lặp lại nhiều lần những từ mang âm/ vần mà HS thường phát âm sai. Vì

vậy mà có nhiều truyện được trích lược từ các TDG và được đặt tên mới, tên mới được

đặt là những từ mang âm/ vần cần ôn luyện, theo như dụng ý của người biên soạn sách

giáo khoa, nhằm phục vụ có hiệu quả cho việc luyện nghe nói các âm/ vần trong bài ôn

tập. Chẳng hạn ở bài 27, truyện tre ngà được lược trích từ truyện “Thánh Gióng”, “tre

ngà” cũng là từ mang âm/ vần mà HS cần kết hợp trong nội dung bài ôn tập. Trong lời

kể của câu chuyện, từ “tre” lặp lại nhiều lần. Ví dụ: theo sách giáo viên, nội dung của

tranh 5 là: “Gậy sắt gãy. Tiện tay, chú liền nhổ luôn cụm tre cạnh đó thay gậy, tiếp tục

chiến đấu với kẻ thu”; nội dung của tranh 6: “Đất nước trở lại yên bình. Chú dừng tay,

buông cụm tre xuống. Tre gặp đất, trở lại tươi tốt lạ thường. Vì tre đã nhuộm khói lửa

chiến trận nên vàng óng...”. Rõ ràng, chúng ta nhận thấy được sự lựa chọn truyện hoàn

toàn có dụng ý của các Nhà biên soạn sách giáo khoa. Âm “tr" vốn là âm mà HS

thường phát âm sai. Muốn uốn nắn để khắc phục tình trạng phát âm sai của các em

nhất định không thể đi vào tỉ mỉ, vào cách cấu âm. Tốt hơn hết là tạo điều kiện để các

em nghe và lặp đi lặp lại bằng việc nghe kể chuyện và việc tập kể chuyện. Thông qua

sự yêu thích thưởng thức TDG của HS để các em nghe, nói tốt những câu mang những

từ có âm/ vần cần ôn luyện là một việc làm nhẹ nhàng mà hiệu quả vì phù hợp với đặc

điểm quá trình tiếp thu của trẻ.

Bắt đầu từ tuần 23 trở đi, KC không còn được dạy ghép với phân môn khác

mà trở thành một phân môn độc lập, được dạy trọn vẹn trong thời gian một tiết ở mỗi

tuần. Trong tổng số 12 truyện được đưa vào dạy trong PMKC ở lớp 1 có 8 truyện là

TDG được chọn từ kho tàng TDG trong và ngoài nước. Mặc dù KC được dạy tách

riêng nhưng các bài học KC cùng với các bài học Tập đọc, Tập viết, Chính tả vẫn

được sắp xếp trong một quyển sách duy nhất, đó là sách Tiếng Việt. Đây là sự đổi mới

của Chương trình tiểu học 2000. Mỗi tuần gồm bốn loại bài học: Tập đọc, Tập viết,

Chính tả, Kể chuyện. Các bài học trong tuần đều xoay quanh chủ điểm của tuần và gắn

với bài đọc thể hiện quan điểm tích hợp của sách. Các TDG được chọn vì thế cũng

theo chủ điểm của tuần. Chẳng hạn, chủ điểm “Gia đình” thì TDG được chọn để dạy

trong tiết KC là truyện “Dê con nghe lời mẹ”, chủ điểm “Thiên nhiên - Đất nước” thì

TDG được chọn là truyện “Con Rồng, cháu Tiên”

Các TDG được chọn để dạy ở lớp 1 rất phù hợp với đặc điểm tâm lí của HS

tiểu học. Các em HS lớp 1 rất ham hiểu biết, khát khao tìm hiểu các hiện tượng thiên

nhiên, các hiện tượng về đời sống con người. Các em thường có những ngộ nhận nhận

thú vị về tính tương đồng của thế giới loài vật với thế giới loài người. Và cũng vì thế

mà các em cho rằng các con vật cũng sinh hoạt: ăn ngủ, nói năng, đi đứng y như con

người. Một câu chuyện kể hấp dẫn, có giá trị giáo dục cao sẽ dễ tạo nên trong tâm hồn

các em một ấn tượng sâu sắc và tạo cho các em những tiền đề thuận lợi trong việc hình

thành nhân cách, hình thành những tình cảm đạo đức tốt đẹp như tình yêu gia đình,

tình yêu tổ quốc. Xuất phát từ đặc điểm tâm lí của các em HS lớp 1 và từ vai trò giáo

dục, khả năng hấp dẫn các em nhỏ bằng những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của

TDG, các Nhà biên soạn chương trình đã đưa nhiều TDG vào dạy ở lớp 1, hầu hết là

các TNN, truyện về loài vật, về chim muông, hoa quả... Mặc dù phần lớn các TDG

được chọn là TNN nhưng những TNN được chọn vào dạy ở lớp 1 không có tính chất

triết lí hoặc rút ra khái niệm trừu tượng vượt quá tầm nhận thức của HS lớp 1. Hơn

nữa, các văn bản TDG đưa vào dạy cho HS ở lớp 1 được tuyển chọn và biên soạn lại

với độ dài của các văn bản giới thiệu trong Sách giáo viên khoảng từ 120 đến 130 chữ.

Đây là một thuận lợi rất lớn cho HS tiểu học trong việc nắm được nội dung, ý nghĩa

của truyện, trong việc tập kể lại truyện.

Nhìn chung, việc lựa chọn những TDG phù hợp với sự yêu thích, tầm nhận

thức của HS lớp 1, có giá trị giáo dục cao đưa vào dạy ghép với phân môn Học vần,

hay đưa vào bài học của PMKC để song song tồn tại với nội dung của các bài học

thuộc phân môn Tập đọc, Tập viết, Chính tả trong cùng quyển sách Tiếng Việt, cùng

thể hiện các chủ điểm của các tuần là một sự sáng suốt tuyệt vời của các Nhà biên soạn

sách giáo khoa ở lớp 1. Tính tích hợp được thể hiện rất rõ trong Chương trình Tiếng

Việt ở lớp 1 mang lại những hiệu quả giáo dục và dạy học cao. Các TDG được dạy

trong PMKC thuộc các chủ điểm như: Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên, Đất nước hỗ

trợ đắc lực cho HS trong việc thiết lập những mối quan hệ tốt đẹp, góp phần nuôi

dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong

đó quan trọng nhất là với thiên nhiên, giúp HS lĩnh hội được tốt hơn nội dung của bài

Tập đọc cùng chủ điểm cũng có nghĩa là tiếp tục thực hiện vai trò giáo dục và dạy học

của phân môn Tập đọc về việc phát triển khả năng giao tiếp kết hợp với bồi dưỡng

tâm hồn, tình cảm, giáo dục đạo đức, cung cấp cho trẻ những hiểu biết cần thiết về thế

giới các em đang sống. Dạy KC khi mà HS đã được học Tập đọc, Tập viết, Chính tả

thuộc cùng chủ điểm cũng sẽ tạo điều kiện tốt để HS tập kể lại câu chuyện vì khi đó

các em đã tích luỹ được vốn từ ngữ, vốn hiểu biết cần thiết để có thể linh hoạt trong lời

kể.

2.1.1.2 Truyện dân gian ở lớp Hai (Chương trình 2000)

Trong Chương trình Tiếng Việt lớp 2, mỗi tuần có 6 loại bài học: Tập đọc,

Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn, Kể chuyện được biên soạn và bố trí

trong cùng một quyển sách (sách Tiếng Việt 2). Như sự biên soạn của Chương trình

Tiếng Việt lớp 1, ở Chương trình Tiếng Việt lớp 2, các bài học trong tuần đều xoay

quanh chủ điểm của tuần, gắn với bài đọc thể hiện quan điểm tích hợp. Đây cũng là

một ưu điểm nổi bật của Chương trình Tiếng Việt 2000 - lớp 2 là chú trọng tính tích

hợp trong giáo dục và dạy học. Tuy nhiên, nếu như ở lớp 1, trong cùng một tuần học,

nội dung của các văn bản đọc trong phân môn Tập đọc chỉ thuộc cùng một chủ điểm

nhưng không đồng nhất với nội dung văn bản dùng trong PMKC (cùng chủ điểm

“Thiên nhiên - Đất nước”, ở phân môn Tập đọc, văn bản đọc được dạy là “Hồ Gươm”

trong khi đó ở PMKC, văn bản dùng để KC là “Con Rồng, cháu Tiên” thì ở lớp 2, nội

dung của văn bản đọc trong phân môn Tập đọc cũng là nội dung của văn bản được

dùng trong PMKC (ở chủ điểm “Sông biển”, văn bản đọc là “Sơn Tinh, Thủy Tinh” thì

văn bản dành cho PMKC cũng là “Sơn Tinh, Thủy Tinh”).

Trong hệ thống các truyện được dùng trong PMKC ở lớp 2, phần lớn là các

truyện sáng tác (phạm vi truyện sáng tác ở đây không bao hàm việc kể lại những sáng

tác dân gian của các nhà văn có tên tuổi) mà HS đã được học trong phân môn Tập đọc,

TDG đã không còn ở vị trí danh dự bởi số lượng vượt trội. Các TDG được chọn để dạy

HS lớp 2 trong các giờ KC đều là những truyện đặc sắc, có sức lôi cuốn HS, có khả

năng khơi gợi trong các em những xúc cảm thẩm mĩ. Tuy nhiên so với Chương trình

của PMKC lớp 2 cũ, Chương trình 2000 đã bỏ đi rất nhiều những TDG đặc sắc, có sức

hấp dẫn lớn, có giá trị giáo dục cao trong hệ thống các truyện mà thay bằng những

truyện sáng tác. Ở các tiết KC của lớp 2 theo Chương trình 2000 không đặt ra vấn đề

GV kể lại toàn bộ câu chuyện trước khi HS tập kể.

Những đổi mới này trong Chương trình của PMKC ở lớp 2 đặt ra cho chúng ta

nhiều vấn đề phải suy nghĩ. Liệu việc sử dụng lại những văn bản của phân môn Tập

đọc làm văn bản mà HS dựa vào để học trong PMKC có tạo cho HS cảm giác nhàm

chán, không hứng thú học các tiết KC, đặc biệt là ở những tiết kể những câu chuyện

sáng tác của các nhà văn hiện đại? Nếu như Chương trình KC của lớp 2 cũ có mục

đích chính là từ sự yêu thích những câu chuyện dân gian với nội dung tốt, giá trị giáo

dục cao; từ niềm say mê được thưởng thức TDG qua cách KC truyền cảm của người

GV để bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách HS; lôi cuốn các em vào các hoạt động tập kể

chuyện; rèn cho các em nhiều kĩ năng cần thiết; phát triển vốn ngôn ngữ của HS một

cách nhẹ nhàng mà hiệu quả thì Chương trình 2000 lại đặt trực tiếp vấn đề rèn kĩ năng

qua việc đặt ra cho HS các nhiệm vụ thông qua các yêu cầu thể hiện trong Sách giáo

khoa. Việc bắt đầu tiết KC bằng việc thực hiện các yêu cầu theo sự hướng dẫn trong

Sách giáo khoa có tạo cho HS cảm giác nặng nề? Tiếc KC có vì thế mà không còn

được HS chờ đón và tiếp thụ bằng một tâm trạng hào hứng và vui thích?

Kho tàng TDG Việt Nam rất phong phú những truyện có nội dung hay, có sức

hấp dẫn, có giá trị giáo dục cao, có cách nói những vấn đề lớn rất phù hợp với các em

nhỏ. Phương pháp lưu truyền bằng hình thức kể của TDG tạo thuận lợi cho HS tập kể

theo cách diễn đạt của mình. Các TDG còn tồn tại đến ngày nay đều là những truyện

dễ ghi vào kí ức của nhân dân để lưu truyền được qua không gian và thời gian. Đặc

điểm này của TDG giúp cho HS thuận lợi trong việc ghi nhớ nội dung chính của

truyện để tập kể chuyện. Nghe GV kể TDG bằng lối KC hấp dẫn, truyền cảm trong các

tiết KC là một nhu cầu thiết yếu của HS tiểu học. Do đó, dù vì mục đích gì đi nữa mà

không đưa TDG vào dạy trong PMKC với số lượng vượt trội sẽ ít nhiều tạo không khí

nặng nề cho các giờ KC, làm giảm sức hấp dẫn của PMKC đối với HS tiểu học (đặc

biệt là đối với HS ở các lớp đầu cấp của bậc Tiểu học).

2.1.1.3- Truyện dân gian ở lớp Ba

Sách giáo khoa dành cho PMKC ở lớp 3 đang được sử dụng là sách Truyện

đọc 3 được biên soạn và xuất bản lần đầu vào năm học 1983-1984. Trong hệ thống các

truyện được đưa vào dạy ở Chương trình của PMKC dành cho HS lớp 3, TDG chiếm

số lượng lớn. Có 23 TDG các nước trong tổng số 35 truyện.

Về chương trình, bắt đầu từ lớp 3 không quy định việc chọn những truyện có

tình tiết đơn giản nữa. Tuy nhiên nhìn vào các TDG được chọn của sách hiện nay.

Chúng ta thấy mức độ phức tạp của truyện là vừa phải phù hợp với trình độ phát triển

mọi mặt của HS lớp 3.

Các TDG dạy trong PMKC ở lớp 3 phong phú về thể loại gồm: truyện thần

thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện cười. Các truyện ngụ ngôn được chọn

chưa đề cập đến những vấn đề nhận thức luận, những quan niệm về thế giới mà chủ

yếu chỉ đề cập đến những mối quan hệ trong gia đình, trong nhà trường giúp HS thiết

lập được những quan hệ tốt đẹp với người thân trong gia đình, với bạn bè thông qua

những truyện về các con vật mang tính cách nhân loại như truyện “Hai chú gấu tham

ăn”, “Sư tử và Kiến càng”.

Có 3 truyện cười được dạy ở lớp 3. Đó là các truyện: “Đàn vịt trời”, “Xiêng

Miệng”, “Con mèo quý của nhà vua”. Truyện cười được chọn đều thuộc loại truyện

trào phúng, chế giễu đả kích mạnh mẽ vào giai cấp phong kiến. Với HS lớp 3, chúng ta

không yêu cầu HS phải hiểu được ý nghĩa đấu tranh giai cấp mạnh mẽ của truyện mà

chỉ thông qua truyện giúp HS biết đề cao mưu trí của những người bình dân thông

minh, phê phán những thói xấu, sự ngu dốt của bọn người nhà giàu, quyền chức; bước

đầu xác lập thái độ yêu, ghét; đứng về phía nhân dân, phân biệt ranh giới ta và địch với

giai cấp thống trị trong xã hội cũ. Yêu cầu đặt ra như vậy rõ ràng là không quá cao so

với trình độ của HS lớp 3.

Các truyện cổ tích và truyện thần thoại được chọn để đưa vào Chương trình

của PMKC ở lớp 3 là những truyện đặc sắc, có giá trị giáo dục cao, thỏa mãn nhu cầu

tìm tòi để hiểu biết của lứa tuổi HS lớp 3.

Như vậy, với hệ thống TDG được tuyển chọn rất phù hợp với HS thì thành

công của tiết KC ở lớp 3 chỉ còn phụ thuộc vào việc thiết kế, tổ chức các hoạt động

dạy – học của GV.

2.1.1.4 - Truyện dân gian ở lớp Bốn

So với sách Truyện đọc lớp 3, sách Truyện đọc lớp 4 được biên soạn lần đầu

năm 1984 có nhiều trang hơn. Sở dĩ như vậy là vì Chương trình KC lớp 4 không yêu

cầu chọn các truyện có tình tiết đơn giản dễ nhớ mà có thể chọn những truyện có tình

tiết phức tạp và độ dài gấp nhiều lần so với truyện ở các lớp dưới. Sách gồm 34 truyện,

trong đó có 21 TDG. Như vậy, các TDG được đưa vào PMKC dạy ở lớp 4 với số

lượng vượt trội so với các loại truyện khác. Nhiều TDG được chọn là truyện dài có

tình tiết phức tạp (Truyện “A-Li Ba-ba và 40 tên cướp” được phân làm ba tiết để dạy) .

Ở những truyện này nếu không khéo sắp xếp khó có thể dạy trong một tiết. Chúng ta

không ngại chọn những truyện dài có tình tiết phức tạp cho các tiết KC ở lớp 4 là vì

HS lớp 4 đã tự lập, có khả năng tự lập, khả năng tổ chức hoạt động tự quản; về mặt

thực tiễn, các em giàu vốn sống thực tế và khả năng hoạt động thực tế; với PMKC, các

em có thể kể lại được truyện bằng ngôn ngữ của mình, đóng được các hoạt cảnh dựa

theo nội dung truyện.

Các TDG được chọn phong phú về thể loại được tuyển chọn từ những truyện

đặc sắc trong kho tàng TDG của nhiều nước. Ở lớp 4 đã xuất hiện truyện ngụ ngôn

mang những ý niệm trừu tượng, đề cập đến những quan niệm triết học, trước hết là vấn

đề nhận thức thế giới, chẳng hạn truyện “Thầy bói xem voi”. Ở truyện này, ý nghĩa

triết học của truyện có vượt cao so với tầm nhận thức của HS lớp 4. Tuy nhiên, nếu

GV tổ chức tốt việc hướng dẫn HS rút ra ý nghĩa bài học từ truyện thì tác dụng giáo

dục của truyện vẫn sẽ đến được với HS một cách nhẹ nhàng và trọn vẹn.

Nhìn chung, các TDG trong sách Truyện đọc 4 là những truyện đặc sắc, có giá

trị giáo dục cao phù hợp với trình độ phát triển mọi mặt của HS lớp 4.

2.1.1.5 -Truyện dân gian ở lớp Năm

Sách Truyện đọc 5 là sự kết thúc của Chương trình PMKC ở các lớp bậc Tiểu

học. TDG vẫn được đưa vào dạy trong Chương trình KC lớp 5 với số lượng đáng kể

(19TDG/34 truyện).

Trong hệ thống các TDG dạy cho HS lớp 5, truyện cổ tích chiếm ưu thế về số

lượng. Các TCT được tuyển chọn là những truyện đặc sắc trong kho tàng TDG của

nhiều nước như: Việt Nam, Anh, Mađagatxca, Tiệp Khắc, An Độ, Nga… Các TCT

của các nước khác được chọn để dạy đều phù hợp với thế giới quan, nhân sinh quan

của nhân dân ta, góp phần bồi dưỡng cho HS tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc, giáo

dục tình cảm thẩm mĩ, ý nghĩ cao thượng đẹp đẽ.

Các Nhà biên soạn chương trình lớp 5 đã đặc biệt chú trọng đến vai trò giáo

dục, đến khả năng phát triển trí tưởng tượng, phát triển trí tuệ của TNN và TC. Có

nhiều truyện ngụ ngôn và truyện cười được đưa vào dạy cho HS lớp 5 trong các giờ

KC. Bên cạnh những truyện ngụ ngôn nêu ra đạo lí không có tính chất cao siêu, sát với

thực tiễn, trong Chương trình PMKC lớp 5 có truyện ngụ ngôn mang ý nghĩa sâu sắc

hơn đề cập đến vấn đề nhận thức luận, có tính chất trào phúng như truyện “Mèo lại

hoàn mèo”. Truyện có một ý nghĩa triết học rõ rệt, có ngụ ý về tính chất tương đối của

mỗi sự vật trong mối quan hệ với sự vật khác. Ở những truyện này, HS có khó khăn

trong việc rút ra ý niệm trừu tượng từ truyện. Vì vậy mà vai trò hướng dẫn của người

GV ở đây là vô cùng quan trọng.

Nhìn chung, với sự phát triển đột biến về mọi mặt của HS lớp 5, với sự thể

hiện tốt vai trò hướng dẫn của GV thì việc rút ra ý nghĩa, bài học từ các TDG được

chọn trong Chương trình của PMKC ở lớp 5 là không qua khó khăn, nặng nề đối với

các em.

Tóm lại, các Nhà biên soạn chương trình tiểu học đã lựa chọn các TDG đưa

vào PMKC đáp ứng được yêu cầu giáo dục và giáo dưỡng cho từng lứa tuổi HS tiểu

học. Các TDG được chọn giản đơn, tính cách nhân vật rõ ràng, sự việc diễn biến liên

tục theo trình tự thời gian, không làm đứt mạch sự theo dõi của HS. Mỗi truyện là một

bức tranh hoàn chỉnh do trí tưởng tượng tạo ra, trong đó, nhân vật là những con người,

chim muông, cây cỏ… đều là những đối tượng quen thuộc cũng suy nghĩ, nói năng,

hành động như con người, nhưng có pha chút li kì, thể hiện lòng khinh ghét cái ác độc,

xấu xa, thấp hèn và tinh thần vươn tới cái đẹp, cái tốt lành, cái cao thượng trong cuộc

sống. Các TDG được chọn trong Chương trình tiểu học cũng đáp ứng được sở thích

của HS về những truyện có những tình tiết láy lại hai, ba lần… TDG được lựa chọn

thích hợp, thế nhưng tại sao trong thực tế hiệu quả của các tiết KCDG ở Trường tiểu

học vẫn chưa cao? Tìm hiểu những tồn tại của việc KCDG ở Tiểu học hiện nay sẽ giúp

chúng ta có được câu trả lời.

2.1.2.Những tồn tại của việc kể chuyện dân gian ở Tiểu học hiện nay

Xuất phát từ nhu cầu thưởng thức TDG của HS tiểu học cũng như từ những

tác động của TDG đến tâm hồn, lối sống của các em, nhà trường và xã hội đã tạo điều

kiện rất thuận lợi để các em tiếp cận với TDG. Các TDG được xuất bản với số lượng

đồ sộ, bày bán ở các hiệu sách đáp ứng mọi nhu cầu thưởng thức của HS tiểu học.

PMKC với số lượng lớn các TDG đặc sắc được đưa vào giảng dạy chính quy trong.

Nhà trường tiểu học. Đến với TDG trong nhà trường, HS tiểu học được rèn nhiều kĩ

năng như: kĩ năng kể chuyện, kĩ năng cảm thụ văn học, kĩ năng ghi nhớ máy móc…

Tất nhiên những kĩ năng này không nhất thiết chỉ được hình thành khi các em học

TDG trong tiết KC ở nhà trường. Không học PMKC, HS vẫn có thể có được những kĩ

năng này bằng con đường vô ý thức trong quá trình các em thưởng thức TDG ngoài

nhà trường như: tự đọc truyện; nghe ông bà, cha mẹ kể. Thế nhưng chỉ có thể qua

những tiết KC trong nhà trường thì những kĩ năng ấy mới có điều kiện đạt đến mức

thành thạo mang lại những hiệu quả thiết thực. Trong môi trường sư phạm, người GV

có khả năng kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn, với mục đích sư phạm rõ ràng đóng vai trò

to lớn trong việc bồi dưỡng niềm say mê thưởng thức TDG của HS, hướng các em đến

với nhiều những bài học đạo đức từ truyện, giúp các em rèn nhiều kĩ năng cần thiết

một cách hiệu quả qua những tiết KC. Nói cách khác, những bài học đạo đức, những

triết lí sống cao đẹp của TDG có được HS tiếp nhận một cách trọn vẹn hay không,

những giá trị về nội dung và nghệ thuật của TDG có được HS chiêm ngưỡng và trân

trọng hay không phần lớn phụ thuộc vào những hoạt động dạy – học mà GV tổ chức

qua các tiết KC. Như vậy, vai trò của GV trong các tiết KC là rất lớn, đặc biệt là khi

nền giáo dục của nước ta đặt nặng vấn đề “dạy người” hơn là “dạy chữ”. Điều đó có

nghĩa là không chấp nhận được việc một số GV thay tiết KC ở trên lớp bằng tiết bồi

dưỡng cho những môn học khác dù vì bất cứ lí do gì. PMKC trong nhà trường không

đơn thuần là phân môn nhằm mục đích giải trí hoặc chuyên đề lấp chỗ trống có hoặc

không có cũng được. Chỉ cần hoà vào tâm trạng hào hứng, vui thích chờ đón tiết KC

của HS tiểu học thì GV sẽ có thể nhận thấy việc dạy những môn học khác trong giờ

KC là một việc làm gây tổn thương lớn đến tâm hồn, tình cảm của các em. Cắt xén

thời gian học tập các TDG của HS trong những tiết KC là việc làm trái với lương tâm

của người thầy. Không dạy KC ở các tiết KC tức là GV từ chối vai trò to lớn mà nhà

trường và xã hội trân trọng giao cho họ là: thông qua những TDG giúp HS nhận thức

thế giới, chính xác hoá những biểu tượng đã có về thực tế xã hội xung quanh, xác lập

một thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng của đời sống, rèn những kĩ năng cần thiết

bổ trợ tốt cho việc học các phân môn khác của Tiếng Việt như: Tập làm văn, Tập

đọc…và hậu quả là HS phải chịu một thiệt thòi to lớn. Nói như thế không có nghĩa là

chỉ cần thực hiện đầy đủ Chương trình KC là đã có thể đạt được những hiệu quả giáo

dục và dạy học trong từng tiết KC.

Hiện tượng GV dạy TDG trong các tiết KC chưa đúng phương pháp đặc

trưng cũng như chưa có sự đầu tư xứng đáng còn khá phổ biến. Kết quả là những TDG

với nhiều những giá trị về nội dung và nghệ thuật được các Nhà biên soạn chương

trình chọn lọc vì tác dụng giáo dục cũng như sức hấp dẫn của truyện trở thành nhạt

nhẽo, ít sức thuyết phục gây một ấn tượng không đẹp trong tâm hồn các em. Bởi còn

gì chán hơn khi bắt đầu tiết KC, GV lại nhập đề bằng một hình ảnh tẻ nhạt, thiếu hình

ảnh, một thái độ hờ hững. Làm sao mà GV có thể lôi cuốn HS vào không khí của cổ

tích, không khí của sự khích lệ, không khí của lòng vị tha rất đỗi thanh tao… khi mà

trong suốt tiết KC, GV không rời khỏi trang sách giáo khoa, kể cả phần tình tiết lẫn

phần chú giải. GV khi lên lớp mà chưa thuộc truyện, chưa hiểu truyện mà yêu cầu HS

thuộc truyện, hiểu truyện là một yêu cầu nặng nề đối với HS. Với yêu cầu nặng nề ấy,

GV đã vô tình biến tiết KC đầy lí thú, hấp dẫn thành một tiết học nặng nề, kém hiệu

quả. Thế thì mục đích là thông qua niềm say mê thưởng thức TDG của HS để giúp các

em rèn luyện được một số kĩ năng, đến được với những bài học đạo đức bổ ích của

TDG một cách tự nhiên, nhẹ nhàng đã không đạt được. Trong khi đó, nếu GV chịu đầu

tư nhiều hơn cho tiết KC, nắm chắc phương pháp đặc trưng của TDG nói chung và

từng thể loại TDG nói riêng thì có thể hấp dẫn và lôi cuốn HS vào câu chuyện. Các em

sẽ hồi hợp, sẽ sung sướng, sẽ buồn lo với số phận các nhân vật trong truyện. Như vậy,

cùng với GV các em là người đồng cảm thụ. Sự truyền cảm ở đây giống như một phản

ứng dây chuyền lúc đầu dẫn xuất ở tâm hồn người GV rồi truyền đến trái tim thơ ngây

của các em. Và như thế, việc ghi nhớ tình tiết cốt truyện tự phát được hình thành, ý

nghĩa giáo dục của truyện cũng đồng thời được HS dễ dàng rút ra. Có nắm được những

đặc trưng của TDG cùng những giá trị của nó mới thấy được truyện cổ dân gian có

cách nói riêng những vấn đề lớn mà rất hợp với trẻ. Như vậy, để đạt được hiệu quả cao

trong những giờ KCDG, GV ngoài việc nắm vững các phương pháp đặc trưng trong

KCDG mà còn phải có sự say mê, yêu thích để có thể truyền đến HS niềm say mê, yêu

thích ấy; để cả GV và HS có thể giao hoà tình cảm một cách hồn nhiên thông qua nội

dung những truyện được kể.

Có người cho rằng truyện chỉ có thể lôi cuốn, hấp dẫn với lứa tuổi nhỏ mà ít

có tác dụng đến người lớn, đến bản thân GV. Thật ra, những TDG đặc sắc thì không

riêng gì trẻ em mà cả người lớn cũng say mê. Nếu đi sâu vào khám phá thế giới của

TDG, GV có thể tìm thấy nhiều những hiểu biết về cuộc sống xã hội, tìm thấy nhiều

những mĩ cảm nghệ thuật. Chỉ cần loại bỏ suy nghĩ TDG chỉ dành cho lứa tuổi nhỏ để

tìm đến TDG, chiêm ngưỡng những giá trị to lớn của TDG, GV hoàn toàn có thể “mê”

TDG và truyền đến các em cái “mê” ấy.

Chắc chắn là khi sử dụng lời kể trong các băng kể chuyện để thay cho lời kể

của mình thì GV không thể truyền đến HS niềm say mê đối với TDG. Lời kể được thu

vào băng dù hay đến mấy vẫn không thể thay thế giọng kể đã được rèn luyện của GV

vọng trực tiếp đến tai HS, không thể cuốn hút HS bằng hình ảnh sống động của người

GV với những nét mặt, cử chỉ,… được thể hiện kèm theo lời kể. Cách mà GV mượn

lời kể trong các băng kể chuyện có thể gây cho HS một sự nghi ngờ về khả năng kể

chuyện của họ, làm mất đi phần nào những hình ảnh đẹp đẽ mà HS đã vẽ nên trong

đầu với tất cả sự khâm phục về người thầy, người cô. HS còn có thể kề trước lớp lẽ

nào GV lại né tránh để chấp nhận sự kém cỏi của mình trước HS. Dùng lời kể trong

các băng kể chuyện thay cho lời kể của mình làm giảm hiệu quả giáo dục và dạy học

trong các tiết KC tức là GV đang tự dễ dãi với chính mình, mà mọi sự dễ dãi đều

không thể chấp nhận được trong suy nghĩ, việc làm của GV – những nhà “kĩ sư tâm

hồn”.

Bàn về vấn đề KC ở Nhà trường tiểu học, có người cho rằng kể chuyện là phụ

thuộc vào năng khiếu. GV nào có năng khiếu thì sẽ có thể kể chuyện hấp dẫn, tạo được

mục đích và hiệu quả tối ưu cho tiết KC. GV nào không có năng khiếu dù cố gắng đến

mấy vẫn không thể có được sự thành công trong các giờ KC. Với cách nói như thế thì

chúng ta sẽ giải thích thế nào trước lời lẽ nhiệt thành của A. S. Macarenkô: “Lẽ nào

chúng ta lại có thể dựa vào một sự phân phối tài năng có tính chất ngẫu nhiên? Chúng

ta có bao nhiêu nhà giáo dục có tài năng đặc biệt như vậy? Và tại sao lại để một em bé

phải gánh lấy hậu quả khi gặp phải một người thầy bất tài?… Không, cái cần nói đến

là sự lành nghề, tức là sự hiểu biết thực tế về quá trình giáo dục. Qua kinh nghiệm, tôi

tin chắc rằng sự tinh thông nghiệp vụ dựa trên kĩ năng và tay nghề sẽ giải quyết vấn

đề”. Thật ra thì trình độ tinh thông nghề nghiệp, kĩ năng kể chuyện hấp dẫn, khả năng

tổ chức các tiết KC sinh động mang lại hiệu quả cao có thể đến với bất cứ ai, chỉ cần

người đó có quyết tâm, có ý thức tự bồi dưỡng tiềm lực. Và việc không ngừng tự bồi

dưỡng tiềm lực là trách nhiệm vẻ vang của người thầy đối với các em HS của mình.

Nhìn chung, vẫn còn nhiều tồn tại xoay quanh việc dạy kể chuyện nói chung,

việc dạy TDG ở Trường tiểu học nói riêng. Thế nhưng những tồn tại này hoàn toàn có

khả năng loại bỏ khi mà GV với tình yêu nghề, lòng yêu trẻ không ngừng tự bồi dưỡng

để nâng cao tiềm lực sư phạm, nắm vững phương pháp dạy kể chuyện. Thực tế mà

nhìn nhận thì GV dạy KC cũng gặp không ít khó khăn trong việc tự bồi dưỡng khi mà

lí luận và thực tiễn về PMKC ở nước ta còn quá mới mẻ. Sách chuyên đề, chuyên luận

bàn về KC rất ít. Nhu cầu về những CĐNTKCDG trở thành một nhu cầu cấp bách.

KCDG cho hay, cho hấp dẫn là việc khó, là nghệ thuật… Vì thế, trên cơ sở

nắm bắt những đặc điểm của TDG, kết hợp với việc tìm hiểu Chương trình và những

tồn tại trong việc KCDG ở tiểu học để tìm hiểu về những yêu cầu chung của NTKC

cho HS tiểu học và NTKCDG theo thể loại ở Tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả của

các tiết KCDG là rất cần thiết.

2.2.NHỮNG YÊU CẦU CHUNG CỦA NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN CHO

HỌC SINH TIỂU HỌC

Để đạt được những hiệu quả cao trong việc KCDG ở Tiểu học, trước khi đi

vào tìm hiểu NTKCDG theo thể loại ở Tiểu học, GV cần nắm được những yêu cầu

chung của NTKC cho HS tiểu học thể hiện cụ thể ở nghệ thuật chuẩn bị, nghệ thuật

trình bày, nghệ thuật tổ chức cho HS tập kể chuyện.

2.2.1.Nghệ thuật chuẩn bị

Trước khi lên lớp ở tiết KC, GV phải có sự chuẩn bị trước bởi không thể có

tiết KC thành công khi không có sự chuẩn bị chu đáo. Thường thì cứ một tiết lên lớp,

người GV phải chuẩn bị tối thiểu là hai tiết ở nhà. Hiệu quả của tiết KC sẽ tỉ lệ thuận

với thời gian đầu tư của GV cho tiết KC. Một sự chuẩn bị mà người GV cần coi trọng

và cần thực hiện trước nhất là đọc truyện, tìm hiểu thâm nhập truyện. Chỉ có thể trên

cơ sở nắm chắc nội dung của truyện. GV mới có thể thoát li được sách giáo khoa trong

khi kể, cuốn hút được sự chú ý của HS. Và chỉ có thể qua quá trình tìm hiểu thâm nhập

truyện, GV mới có điều kiện khám phá thêm nhiều những giá trị của truyện để tự bồi

dưỡng cho mình niềm say mê đối với TDG và truyền đến cho HS niềm say mê ấy.

Việc đọc truyện của GV có thể được tiến hành theo hai bước: đọc thầm và đọc thành

tiếng. GV thường bắt đầu việc đọc truyện bằng phương pháp đọc thầm rồi sau đó

chuyển sang đọc thành tiếng. Khi đọc thành tiếng, GV cần chú ý khả năng và nghệ

thuật phát âm của mình để có những điều chỉnh kịp thời. Quá trình đọc truyện cần

được kết hợp với quá trình tìm hiểu thâm nhập truyện. Khi đọc truyện, GV có thể dừng

lại ở những chỗ cần thiết để tìm hiểu rõ từng tình tiết, từ ngữ của truyện, ghi ra giấy

những tình tiết chính, tình tiết phụ. Qua đó, GV cần nắm vững và phân biệt được mạch

tình tiết chính; mạch tình tiết phụ. Chẳng hạn ở truyện “Thạch Sanh” mạch chính phát

triển theo trình tự những hành động của Thạch Sanh từ khi anh đi đốn củi trải qua

nhiều gian truân đến lúc lấy được công chúa, ba ng tiếng đàn hòa bình khiến quân

mười tám nước phải quy hàng, sau cùng lên ngôi vua. Bên cạnh mạch chính đó cũng

có mạch phụ gồm những tình tiết Lý Thông đi buôn và âm mưu với mẹ để lợi dụng

Thạch Sanh, công chúa không chịu lấy Lý Thông mà luôn tưởng nhớ Thạch Sanh đến

nỗi phát bệnh… Việc ghi chép naỳ phục vụ rất tốt cho việc ghi nhớ tình tiết chính của

truyện cũng như cốt truyện. Trên cơ sở nắm chắc tình tiết chính, cốt truyện, GV sẽ thể

hiện tốt vai trò là người đồng sáng tạo với các tác giả dân gian khi kể chuyện…

Cũng trong quá trình đọc truyện và tìm hiểu thâm nhập truyện, người GV có

thể lập nên sơ đồ phát triển tình tiết và cốt truyện. Mối liên quan giữa các tình tiết

trong TCT rất chặt chẽ. Tình tiết trước gợi tình tiết sau, tình tiết sau là hệ quả trực tiếp

của tình tiết trước. Ví dụ ở truyện ‘Tấm Cám”, có tình tiết Tấm đánh rơi chiếc hài thêu

mới có tình tiết voi nhà vua không chịu bước rồi mới lại có tình tiết nhà vua truyền

lệnh ai ướm vừa chiếc giày thì được làm hoàng hậu. Nắm được sơ đồ phát triển tình

tiết, mối liên quan giữa các tình tiết, người kể lại sẽ dễ dàng nắm chắc được nội dung

truyện.

Ngoài ra khi đọc truyện và tìm hiểu thâm nhập truyện. GV phải có ý thức tìm

hiểu những chú giải về từ ngữ, nắm được địa danh trong truyện cũng như ý nghĩa và

bài học rút ra từ truyện. Đọc truyện, tìm hiểu truyện là bước chuẩn bị quan trọng cho

người GV trước tiết KC, ngay cả đối với những truyện quen thuộc hay những truyện

còn xa lạ. Bởi chắc chắn rằng cứ mỗi lần nghiêm túc đọc truyện, tìm hiểu thâm nhập

truyện kết hợp với việc tìm hiểu những đặc trưng của TDG về nội dung, nghệ thuật,

tiếp xúc với nhiều dị bản của TDG sẽ là mỗi lần người GV ngỡ ngàng vỡ ra nhiều

những giá trị của truyện như người cày vỡ lần đầu trên mảnh ruộng của mình. Chàng

nhận ra được nhiều những giá trị của truyện, người GV sẽ càng say mê hơn với TDG

và sẽ càng hứng thú trong tiết KC. Khi đó, tiết KC sẽ không còn là niềm mong đợi

của riêng HS mà còn có cả sự mong đợi của GV để cả thầy và trò được cùng nhau

khám phá thế giới của TDG để cùng ngỡ ngàng nhận ra mình đã học thêm được nhiều

đến thế từ những câu chuyện dân gian. Tiết KC cũng vì thế mà đạt được hiệu quả cao.

Truyện kể là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Mỗi tác phẩm nghệ thuật có

cái chất, cái diện mạo riêng: mua vui đơn thuần hay có ý nghĩa giáo dục đạo lí. Bởi

vậy, người kể phải nắm vững những nét riêng biệt ấy, thực sự cảm nhận được cái hay

của truyện, tức là phải chú ý đến việc đọc truyện, tìm hiểu thâm nhập truyện để nắm

vững tình tiết truyện, sơ đồ phát triển tình tiết truyện, chủ đề cốt truyện, ý nghĩa, bài

học rút ra từ truyện. Mọi sự ngập ngừng do nhớ sai, bỏ sót các tình tiết quan trọng hay

do lẫn lộn trình tự các tình tiết, mọi sự trùng ý, lặp lời… đều làm mất hứng thú nghe

kể chuyện của HS, làm đứt mạch cảm thông giữa người kể và người nghe với tác giả

dân gian của truyện.

PMKC như tên gọi, nó sẽ có đặc trưng là kể, chứ không phải là đọc, là giảng,

là làm bài tập. Do đó không thể thay tiết KC bằng tiết Đọc truyện. Vì thế mà sự chuẩn

bị của GV không thể chỉ dừng lại ớ bước này, GV cần thực hiện các bước chuẩn bị

quan trọng là tập KC, thiết kế việc tổ chức cho HS tập kể chuyện thông qua việc soạn

giáo án và chuẩn bị mọi đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết KC. Nắm được nghệ thuật

trình bày và nghệ thuật tổ chức cho HS tập kể chuyện, GV đã có được tiền đề thuận lợi

cho việc tập kể chuyện và việc thiết kế các hoạt động cho HS tập kể chuyện ở từng tiết

KCDG cụ thể.

2.2.2.Nghệ thuật trình bày

Khi nghe GV kể chuyện mà HS thờ ơ thì chưa chắc là lỗi của các em mà có

thể là do cách KC thiếu hấp dẫn. Vì thế, GV cần dành nhiều thời gian cho việc tập KC,

bởi trước tiết KC mà GV nào qua luyện tập đã có được cách KC truyền cảm, hấp dẫn

thì GV ấy có quyền nghĩ đến sự thành công của tiết KC.

Kể chuyện trong lớp không nên kể to, chỉ cần kể rõ, giữ cho giọng kể êm nhẹ

vừa đủ nghe. Khi bắt đầu câu chuyện, người kể nên khéo tạo ra không khí chờ đợi, sự

chú ý ban đầu, tuyệt đối tránh lập trật tự bằng những lời nhận xét, những cử chỉ thiếu

tế nhị. Trong quá trình kể chuyện, nên tránh dừng lại để nhắc nhở em này, phê bình em

kia thiếu tập trung chú ý, gây ra sự vướng mắc trong mối giao cảm giữa người kể và

người nghe

Dự các tiết KC, chúng ta dễ dàng nhận thấy người kể TDG thành công nào

cũng có kết hợp lời kể với ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ khi kể. Chính tính nguyên hợp của

TDG đã quy định sự kết hợp ấy. Nếu chỉ quan sát tác phẩm TDG trên văn bản (đã

được sưu tầm, ghi chép, in ấn) thì sẽ rất khó hình dung và nhận thức được tính chất

nguyên hợp của nó, vì văn bản chỉ ghi được thành phần ngôn từ bằng văn tự. Phải

quan sát đời sống thực của tác phẩm TDG ở trong nhân dân thông qua việc sử dụng,

lưu truyền, biểu diễn của nhân dân thì mới dễ dàng nhận rõ tính nguyên hợp của nó.

Khái niệm nguyên hợp ở đây bao gồm cả lời văn (ngôn ngữ văn tự) lẫn âm nhạc, ca

múa và giọng điệu của người kể TDG. Chỉ khi nào người kể TDG biết kết hợp với ngữ

điệu, cử chỉ, nét mặt thì tác phẩm dân gian được kể mới thực sự sống đầy đủ, tự nhiên

và mạnh mẽ trong môi trường phù hợp với chức năng của nó. Vì thế, tập kể chuyện ở

đây chủ yếu là tập thể hiện giọng điệu, cử chỉ, nét mặt phù hợp với truyện sẽ kể.

Khi kể cần chú ý tạo nên những biến đổi phù hợp trong giọng kể. Làm nên

những biến đổi đó chính là nhờ vào sự thay đổi của nhịp độ nói, cường độ của giọng,

chỗ ngắt giọng, trọng âm… Chính ý thức điều chỉnh và cảm xúc chân thành của người

kể trong khi kể sẽ tạo nên những biến đổi phù hợp cho giọng kể. Trước khi đi vào kể

từng câu chuyện dân gian cụ thể, người kể cần trang bị cho bản thân những hiểu biết

về các quy tắc thể hiện sắc thái cảm xúc qua nhịp độ nói, cường độ nói, sự ngắt

giọng… Nhịp độ nói thể hiện cảm xúc qua những cung bậc sau: chậm rãi, nhanh dần,

khẩn trương ngân nga… Tuỳ nội dung của từng TDG cụ thể mà người kể lựa chọn

hoặc kết hợp các cung bậc thích hợp trong khi kể. Cường độ giọng có thể được điều

chỉnh, giọng có thể to lên, có thể nhỏ đi tạo ra các bậc thang chuyển độ vang để HS dễ

nghe, dễ cảm thụ được câu chuyện. Khi kể chuyện, người kể cũng cần biết ngắt giọng

để thể hiện suy nghĩ, tình cảm của mình. Muốn cho ngắt giọng không phải là chỗ nghĩ

trống rỗng trong lời nói mà là chỗ ngắt thể hiện được tình cảm, GV phải ngắt giọng

sao cho hoàn toàn tự nhiên. Chỗ ngắt giọng đột ngột trong câu chuyện có khi tạo nên

cảm giác hồi hợp, chờ đợi cũng có khi là một khoảng lặng để người kể kềm nén của

cảm xúc của mình trước một sự việc đáng tiếc sắp được kể… Những hiểu biết về các

cung bậc của nhịp độ nói, sự ngắt giọng.. để thể hiện các sắc thái cảm xúc có thể được

bổ sung thêm khi xem kịch cũng như khi nghe các buổi phát thanh KC trên đài phát

thanh. Qua các chương trình này, GV sẽ có thể học được rất nhiều cách thể hiện phù

hợp với các sắc thái cảm xúc khác nhau. Bởi nghệ sĩ kịch nói cũng như nghệ sĩ trên đài

thường thể hiện rất tốt giọng điệu theo những cung bậc của tình cảm, có thể lột tả được

cảm xúc, tâm lí nhân vật. Nói như thế không có nghĩa là người KC phải bắt chước y

chang giọng kể của người diễn viên kịch nói cũng như người nghệ sĩ trên đài. GV

không phải là người biểu diễn nghệ thuật, tiết KC không phải là tiết xem nghệ thuật

nên việc tập kể chuyện chỉ dừng ở mức: kể có nghệ thuật diễn cảm nhưng là bằng

giọng điệu của chính người kể.

Trên cơ sở nắm được những quy tắc thể hiện những sắc thái cảm xúc khác

nhau của ngữ điệu, người kể cần biết lựa chọn và thể hiện giọng kể phù hợp với từng

TDG khác nhau. Thường chuyện vui, người ta kể bằng giọng vui (nhịp độ kể nhanh,

có lúc khẩn trương, cường độ của giọng tạo ra các bậc thang chuyển độ vang liên

tục…), còn chuyện buồn thì kể bằng giọng buồn (nhịp độ chậm rãi, cường độ của

giọng ớ mức trung bình ít biến chuyển…). Nhiều chuyện có lúc vui, lúc buồn thì tùy

theo đó mà thay đổi giọng kể cho phù hợp.

Đối với các loại nhân vật khác nhau, người kể có thể điều chỉnh ngữ điệu để

biểu hiện sắc thái ngôn ngữ phù hợp với từng nhân vật, lột tả được cả nội tâm nhân

vật. Ở truyện “Dê con vâng lời mẹ”, Dê con nhờ phân biệt được giọng của Dê mẹ và

giọng của Sói nên đã tránh không bị mắc mưu của Sói. Khi kể chuyện này, GV cũng

cần điều chỉnh giọng kể sao cho HS có sự phân biệt giữa giọng Dê mẹ hiền hòa, trong

trẻo với giọng của Sói ồm ồm, dữ dội. Không chỉ thế, cần thể hiện được giọng Dê con

thơ ngây, lảnh lót để phân biệt với giọng Dê mẹ. Qua việc sử dụng ngữ điệu khác nhau

trong thể hiện giọng của Dê mẹ, Dê con, Sói, người kể thể hiện được phần nào nội tâm

của nhân vật. Dê mẹ và Dê con hiền hành, lương thiện; Sói độc ác, mưu mô.

Khi kể, để thành công trong việc sử dụng ngữ điệu phù hợp với từng câu

chuyện, GV không phải chỉ dựa vào sự điều chỉnh có ý thức trên cơ sở những hiểu biết

lý thuyết về cách điều chỉnh nhịp độ, cường độ, trọng âm… mà còn phải dựa trên tình

cảm thật có được khi GV kể mà như đang sống trong thế giới của truyện. Những biến

đổi trong giọng điệu của người GV có thể đến tự nhiên cùng những biến đổi trong cảm

xúc của họ với những vui buồn trong tâm trạng của nhân vật, trong nội dung của

truyện. Kết hợp những hiểu biết và những tình cảm thật khi kể, GV sẽ không cảm thấy

gượng gạo theo kiểu cố gò ép trong việc thể hiện ngữ điệu. Muốn thế, người GV khi

kể cần phải nhìn thấy được tất cả những gì mà mình đang kể, sống trong thế giới của

truyện. Gửi cảm xúc vào trong truyện thể hiện được qua giọng kể, GV có thể truyền

cảm xúc ấy đến HS. Khi đó, HS sẽ không thụ động khi thưởng thức truyện mà thể hiện

được vai trò là người đồng cảm thụ, đồng sáng tạo với tác giả dân gian.

Như vậy, việc sử dụng ngữ điệu phù hợp khi KC có tác dụng rất to lớn trong

việc lôi cuốn sự chú ý của HS vào truyện, góp phần quan trọng trong sự thành công

của tiết KC. Tuy nhiên, tác dụng to lớn ấy chỉ có thể phát huy hết hiệu quả trong tiết

KC khi GV biết kết hợp ngữ điệu với nét mặt, cử chỉ khi kể. Vì khi GV kể, HS không

chỉ dùng tai để lắng nghe câu chuyện mà còn dùng mắt để theo dõi GV trong những

biểu lộ từ nét mặt, đến cử chỉ của tay, của đầu, của mắt. Không biểu lộ gì ở nét mặt, ở

cử chỉ trong khi kể chuyện là điều tối kị. Bởi rất có thể, tương ứng với người kể không

có biểu lộ trong nét mặt, cử chỉ thì sẽ có người nghe không sử dụng kết hợp thị giác và

thính giác trong khi thưởng thức. Khi đó, trong nhiều trường hợp, thị giác của người

nghe sẽ tìm đối tượng thị giác khác như quyển sách, cây bút hay cành cây ngoài cửa

sổ… Và như thế thì sự chú ý của HS vào câu chuyện mà GV đang kể với ngữ điệu phù

hợp sẽ giảm đi rất nhiều. Ngay cả ở trường hợp mà HS vẫn không lựa chọn đối tượng

thị giác khác ngoài GV thì HS cũng khó thể hiện tốt vai trò người đồng cảm thụ, đồng

sáng tạo với GV, với tác giả dân gian. Những công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng

87% của một thông điệp được đọc bằng mắt, 9% bằng tai, 4% bằng các giác quan

khác. Như vậy, thu hút được thị giác của HS, GV qua những biểu lộ trong nét mặt, cử

chỉ sẽ có thể nói được nhiều với các em về cuộc sống nội tâm của nhân vật, gợi lên

được trong các em nhiều những rung động thẩm mĩ.

Việc kết hợp giữa ngữ điệu với nét mặt cử chỉ đặc biệt cần thiết khi kể TDG.

Trước hết là vì TDG có tính nguyên hợp, sau nữa là vì TDG thường rất ít miêu tả nội

tâm của nhân vật. Ở TDG sẽ không có những những lời kể như: Tấm cảm thất rất hạnh

phúc, sung sướng khi được nhà vua cho đem kiệu rước về cung, Thạch Sanh thật đáng

thương khi bị Lý Thông cướp công phải quay về sống bên gốc đa… Tuy TDG ít khi

miêu tả nội tâm nhân vật, tác giả dân gian cũng ít khi thể hiện tình cảm yêu ghét dành

cho nhân vật một cách rõ ràng qua lời kể, nhưng HS vẫn nhận ra được từ cách kể như

tả, như vẽ, như phác họa của GV. Qua những sự tri giác những biểu tượng hình ảnh

thông qua những biểu cảm trên nét mặt, những biểu lộ trong cử chỉ của GV khi kể sẽ

có tác dụng lớn đến tư tưởng, tình cảm của HS.

Như vậy, khi tập KC, GV không chỉ chú trọng đến việc thể hiện ngữ điệu phù

hợp mà còn cần chú ý đến những biểu cảm trên nét mặt, những biểu lộ trong cử chỉ.

Nếu là ngữ điệu vui, nét mặt người KC cũng vui, nếu là ngữ điệu buồn, nét mặt người

KC cũng biểu lộ vẻ buồn. Cử chỉ khi KC cần đơn giản, trung thực, biểu cảm và mang

nội dung rõ rệt.

Cần chú trọng rèn luyện việc thể hiện nét mặt, cử chỉ phù hợp khi kể, bởi

không hẳn GV nào cảm được câu chuyện đang kể cũng thể hiện được nét mặt, cử chỉ

phù hợp với nội dung của truyện, tâm trạng của nhân vật trong truyện. Quan sát trong

cuộc sống, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy một số người có gương mặt ít biểu cảm. Lúc

họ vui, khi họ buồn thì gương mặt của họ cũng ít biến đổi. Đối với những người này,

việc cần cù rèn luyện để có được nét mặt biểu cảm, cử chỉ biểu cảm khi kể là vô cùng

cần thiết. Không chỉ thế, việc rèn luyện này vẫn rất cần thiết đối với cả những người

có thể biểu hiện được tình cảm qua nét mặt, cử chỉ. Là một phương tiện gây ấn tượng

thị giác, cử chỉ, nét mặt sẽ mất đi sức biểu hiện nếu bị lập lại thường xuyên. Chỉ sử

dụng một nét mặt, một cử chỉ lặp đi lặp lại để biểu hiện tình cảm đau buồn; một nét

mặt, một cử chỉ biểu hiện sự ngạc nhiên sẽ dễ tạo cảm giác nhàm chán.

Để có được nét mặt biểu lộ được mọi cung bậc của tình cảm, những cử chỉ đa

dạng hỗ trợ cho việc thể hiện cảm xúc, GV không phải chỉ trong lúc tập kể chuyện hay

khi kể chuyện mà ngay cả trong giao tiếp với mọi người xung quanh về bất kì vấn đề

gì cũng cần có ý thức kết hợp lời nói với thể hiện nét mặt, cử chỉ, giọng điệu để người

nghe có thể hiểu ngay, hiểu hết tình ý của mình. Khi theo dõi phim, truyện kịch nói…,

GV cần chú ý đến những biến đổi trong nét mặt của diễn viên khi biểu lộ những cung

bậc khác nhau của tình cảm. GV có thể quan sát và học tập ở các diễn viên cách biểu

hiện tình cảm qua nét mặt, cử chỉ nhưng phải trên tinh thần nắm quy tắc thể hiện chứ

không phải bắt chước một cách gượng gạo sao cho giống nét mặt, cử chỉ của họ.

GV nên đứng trước gương để vừa kể chuyện vừa tập thể hiện nét mặt, cử chỉ.

Đây là cơ hội để tự điều chỉnh. Đến khi nào cảm thấy hài lòng với sự thể hiện của

mình trước gương thì khi đó GV cũng sẽ tìm được cho mình sự tự tin khi thể hiện câu

chuyện trước HS. Tuy nhiên, GV không phải là diễn viên nên mọi sự cường điệu,

phóng đại, quá tạm dụng trong việc thể hiện nét mặt, cử chỉ khi kể là không cần thiết.

Việc cố gắng thể hiện cho được nét mặt gian xảo của Lý Thông khi kể đến đoạn hắn

dọa Thạch Sanh rằng: “Xà Tinh là con vật vua nuôi, ai giết nó sẽ bị đền tội” hay việc

cố gắng thể hiện các động tác đá chân, múa tay để mô tả lại trận đánh nhau giữa Thạch

Sanh và Xà Tinh sẽ có thể biến tiết KC thành tiết hài kịch (!). Không thể hiện nét mặt,

cử chỉ để tô vẽ cho tất cả các nhân vật trong truyện cũng như không bắt chước hoàn

toàn các tâm trạng nhân vật trong truyện là biện pháp sư phạm hiệu quả. Cử chỉ đa

dạng, nét mặt biểu cảm không phải nhằm để tô vẽ cho hình tượng mà là để nhấn mạnh

một số tình tiết, và dù thế nào đi nữa cử chỉ không được lấn át lời kể, không làm phân

tán sự chú ý của HS. Người GV dù kể bất kì truyện nào cũng nên biết mình chỉ là

người kể chứ không phải là người trực tiếp ở trong truyện đó.

Nhìn chung, việc tập sử dụng lời nói với ngữ điệu thích hơp, tập sử dụng các

yếu tố phi ngôn ngữ phụ trợ cho lời nói (cử động của bàn tay, của vai, đầu, sự thay đổi

nét mặt) không chỉ tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị trước tiết KC mà nên được GV

tiến hành ở mọi hoạt động giao tiếp trong cuộc sống. Để đến khi cần thể hiện trong lời

kể sắc thái ngữ điệu cùng những biểu lộ nét mặt, cử chỉ tương ứng, phù hợp với nội

dung của từng TDG cụ thể, người GV sẽ không cảm thấy quá khó khăn. Và chắc chắn

là mọi sự gò ép gượng gạo trong việc cố gắng biểu lộ nét mặt, cử chỉ, giọng điệu vì

không xuất phát từ tình cảm thật đều không hiệu quả. Do đó, GV phải xuất phát từ sự

yêu thích để có thể như đang sống trong thế giới của truyện khi kể. Có như vậy thì khả

năng biểu cảm qua giọng điệu, nét mặt, cử chỉ sẽ hoà quyện với tình cảm chân thật tạo

nên được cho GV cách kể chuyện có duyên, hấp dẫn, có sức truyền cảm. Tuy nhiên,

không nên lợi dụng ngữ điệu để tô vẽ lòe loẹt các từ ngữ, cũng không nên quá lạm

dụng việc thể hiện cử chỉ, nét mặt. Nếu chỗ nào cũng muốn nhấn mạnh, muốn mô tả

chi tiết thì kết quả là chẳng có gì được nhấn mạnh cả. Trong quá trình kể, GV cần bao

quát lớp xem các em HS đã hoàn toàn tập trung theo dõi câu chuyện hay không. Nếu

thấy có những hiện tượng thiếu tập trung cần điều chỉnh uốn nắn giọng điệu kịp thời.

Hơn nữa, việc hướng cái nhìn đến tất cả HS trong lớp tạo cho GV cơ hội nhận chìm

cái nhìn HS trong cái nhìn của mình. khi đó, HS sẽ ghi nhận tối đa những thông điệp

mà GV truyền đến.

Tuy các truyện đưa vào dạy trong PMKC đã được chọn thích hợp nhưng cũng

không vì thế mà GV phải sử dụng y nguyên các văn bản mẫu trong sách. Người kể cần

sửa sang ít nhiều tuỳ đối tượng và yêu cầu sư phạm nhất định. Nếu truyện quá dài,

nhiều tình tiết rắc rối, nhiều đoạn miêu tả, kể lể rườm rà thì cần rút gọn lại. Nếu truyện

quá sơ lược thì cần căn cứ vào chủ đề, cốt truyện sẵn có, vào bối cảnh lịch sử, tính

cách nhân vật chính mà thêm vào một số chi tiết mới làm cho chủ đề được thể hiện

sáng rõ hơn, hình tượng nhân vật đậm nét hơn, lời kể giàu hình ảnh và hấp dẫn hơn.

GV hoàn toàn có thể sáng tạo trong lời kể miễn là lời kể đó không được xa rời

chất dân gian, đi lệch với nội dung của truyện. Sở dĩ người kể có thể sáng tạo trong lời

kể khi kể TDG là vì tính không ổn định là tính chất chung của các tác phẩm văn học

dân gian. Tác phẩm văn học dân gian không phải hễ xuất hiện lúc đầu như thế nào thì

về sau vẫn giữ nguyên vẹn nội dung ấy mãi. Vì truyền miệng mà nó biến hóa dần và

cũng trong quá trình lưu truyền mà nó được hoàn chỉnh dần. Đây cũng là một giải

thích cho câu hỏi vì sao mà TDG có nhiều dị bản. Các tác giả hiện đại đã dựa vào

những bản kể của cùng một truyện ở vùng này, vùng khác để thực hiện việc phóng tác,

kể lại truyện. Trên cơ sở tôn trọng truyền thống nguyên hợp của nghệ thuật dân gian,

đảm bảo chất “dân gian”, bám vào chi tiết và cốt truyện, GV có thể kể lại TDG mà

không phải bị gò bó, buộc phải theo sát từng từ ngữ, câu văn trong các văn bản TDG

được biên soạn trong Sách giáo khoa. Phương pháp lưu truyền bằng hình thức kể đã

cho phép người kể có thể theo cách diễn đạt ngôn ngữ của mình khi kể, tạo nên cách

KC thanh thoát lôi cuốn HS say mê bước vào thế giới của TDG. Thuận lợi là thế

nhưng nếu người GV không nắm vững được đặc trưng nội dung và nghệ thuật của

TDG sẽ có thể cho ra đời những bản kể không mang tính chất “dân gian”. Chẳng hạn

TNN “ Dê con nghe lời mẹ” có lời hát mà Dê mẹ thường dùng để gọi cửa:

“Các con ngoan ngoãn,

Mau mở cửa ra,

Mẹ đã về nhà,

Cho các con bú.”

Có GV khi kể TNN này đã thay lời hát bằng lời của bài hát “Cả nhà thương

nhau” để hát cho dễ (!). Khi GV cất lên lời hát “Ba thương con vì con giống mẹ…” thì

còn đâu không khí của TNN? Người GV đã làm một việc không thể chấp nhận được

đó là: hiện đại hoá, tân trang truyện cổ.

Mặc dù khi kể chuyện cổ dân gian không cần phải tô đậm ngôn ngữ lời văn

trong truyện nhưng có một số từ ngữ của truyện cổ dân gian đã được cố định hóa cũng

trở thành mô típ tiêu biểu không thể bỏ qua. Chẳng hạn khi kể TDG mà bỏ qua lời mào

đầu “Ngày xửa ngày xưa, ở một vùng…” thì sẽ không còn sắc thái dân gian nữa.

TDG có cách nói cô đọng của nó, nội tâm nhân vật thường không được mô tả

mà chủ yếu là qua hành động thể hiện nội tâm. Sẽ rất thô thiển khi gán cho người xưa

những nét thuộc đờisống nội tâm, những nét tâm lí và những hành động xa lạ chất

“dân gian”. Giáo sư Đỗ Bình Trị trong. “Hướng dẫn phân tích một số tác phẩm văn

học dân gian” đã chỉ ra nhiều trường hợp có sự thêm thắt vào truyện những chi tiết vô

ích. Ví dụ: Chi tiết “Tấm băn khoăn về vấn đề tại sao mình khổ?” Trong truyện dân

gian “Tấm Cám” hay chi tiết “người em có phần khờ dại”, “Chị vợ chẳng những tham

lam như chồng mà còn độc ác” trong truyện “Cây khế”.

Nhìn chung, người kể lại dù dưới bất hình thức nào cũng phải tôn trọng những

tình tiết chính và cốt truyện. GV có thể thêm bớt chi tiết nhưng chỉ ở những tình tiết

phụ, miễn sao không có hại cho việc hiểu và cảm thụ nội dung, nghệ thuật của truyện.

Chẳng hạn ở truyện “Thạch Sanh” không thể kể mất đi những chi tiết thuộc mạch tình

tiết chính. Việc rút gọn hay bổ sung truyện kể cần được tiến hành hết sức thận trọng để

tránh làm mất bản sắc độc đáo về nội dung tư tưởng và hỉnh thức nghệ thuật của

truyện đã được sàng lọc qua thời gian. Trong quá trình tìm hiểu và thâm nhập truyện ở

bước chuẩn bị chú trọng đến việc “bám vào chi tiết” thì khi KC sẽ có thể đảm bảo

được đầy đủ những tình tiết chính và không làm biến đổi cốt truyện.

Thể hiện được tài nghệ KC của mình trước HS, lôi cuốn được sự chú ý của cả

lớp ngay từ đầu tiết học tức là GV đã có được sự thành công bước đầu. Thành công

của tiết KC còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của GV trong việc thiết kế hướng

dẫn hoạt động tập kể chuyện của HS.

2.2.3.Nghệ thuật tổ chức cho học sinh tập kể chuyện

Quá trình dạy học chỉ hiệu quả nếu cả thầy giáo và HS đều làm việc tích cực

và có mục đích, GV hoạt động tích cực trong tiết KC thì chưa đủ mà phải tạo điều kiện

để HS hoạt động có hiệu quả. Đặc biệt là đối với các tiết KCDG. Khi mà TDG có tác

dụng rất lớn trong việc khơi gợi những rung động thẩm mĩ, có khả năng giáo dục

những vấn đề rất lớn qua cách nói rất phù hợp với HS; khi mà mục đích chính của các

tiết KCDG là rèn cho HS một số kĩ năng cần thiết, là giáo dục cho HS những tình cảm,

cảm xúc, ý nghĩ cao thượng đẹp đẽ, giúp HS thấy được cái hay, cái dở của cuộc sống

để thêm tin yêu, thêm hăng hái phấn đấu, tu dưỡng để làm đẹp thêm cho cuộc đời thì

việc tổ chức cho HS phát biểu cảm nghĩ đối với nhân vật trong truyện, tìm ý nghĩa

giáo dục của truyện, tập kể lại truyện là vô cùng cần thiết. Cũng như mọi môn khác,

trước khi lên lớp tiết KC, GV cũng rất cần soạn giáo án để tự tin hơn trong vai trò

người hướng dẫn các hoạt động của HS… Nói như thế có nghĩa là, giáo án PMKC gần

với thiết kế của một tiết lên lớp nhiều hơn là nội dung bài giảng. Vì thế khi soạn giáo

án cho tiết KC, GV cần suy nghĩ cách tổ chức các hoạt động cho HS sao cho giờ KC

sinh động, qua đó, HS hứng thú hoạt động. Giáo án cần ghi đầy đủ tỉ mỉ các câu gợi

mở, các tình huống cần lưu ý. Soạn giáo án là bước chuẩn bị cần thiết trước giờ lên

lớp. Qua giáo án, GV có thể hình dung ra các hoạt động của tiết KC theo một trình tự

hợp lí, lường trước được các tình huống sẽ có thể xảy ra. Sau khi KC lần thứ hai kết

hợp với việc ghi bảng tên nhân vật, những tình tiết quan trọng nhằm giúp HS nắm

được tình tiết cốt truyện, GV tổ chức cho HS tập kể lại. Trước khi bước vào phần HS

kể, GV cần gợi mở cho HS nắm được cốt truyện thông qua đàm thoại tại chỗ một số

câu hỏi. Kể lại truyện tức là HS đang thể hiện vai trò đồng thời với tác giả của truyện,

người đồng cảm thụ, đồng sáng tạo truyện. Vì thế, để giúp HS phát triển năng khiếu

sáng táo nghệ thuật GV cần khuyến khích HS kể lại truyện bằng ngôn ngữ của mình.

Việc KC lôi cuốn của GV đầu tiết sẽ hỗ trợ cho HS khi kể lại truyện. Bởi nếu có cách

KC hấp dẫn, GV có khả năng lôi cuốn các HS vào nội dung truyện khi đó việc ghi nhớ

tình tiết cốt truyện cũng tự phát được hình thành giúp HS dễ dàng kể lại truyện. Hơn

nữa HS tiểu học rất thích bắt chước những người mà các em yêu mến khâm phục. Ở

trường học, đối với HS, GV thuộc mẫu người đẹp đẽ nhất, là tấm gương mà HS soi

vào để tự điều chỉnh mình sao cho giống thầy, giống cô. Vì thế, nếu GV kể chuyện có

kết hợp lời kể với ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ phù hợp, KC bằng ngôn ngữ của mình thì

HS cũng sẽ cố gắng để được như thế. Và khi mà trong cả quá trình dạy học KC, thầy

không ngừng bồi dưỡng năng lực kể của mình để thu hút trò, trò xuất phát từ sự khâm

phục mà cố gắng rèn luyện để được như thầy thì kết quả đạt được sẽ vô cùng to lớn.

Việc tập kể cần tiến hành ở nhiều HS. Nhưng do thời gian có giới hạn GV

nên tổ chức để HS kể cho nhau nghe theo từng nhóm nhỏ. Khi các nhóm nhỏ hoạt

động, GV đến từng nhóm theo dõi, hướng dẫn HS nhận xét cách thể hiên của nhau,

chú ý luyện cách diễn đạt cho các em (như phát âm tốt, lời gọn gàng, dùng từ chính

xác). Hết thời gian dành cho HS kể chuyện theo nhóm, GV mời vài HS bất kì trong

mỗi nhóm lên kể lại từng đoạn của truyện. Sau đó, GV có thể mời một đến hai HS có

khả năng kể chuyện tốt để kể lại toàn bộ câu chuyện. Bởi những HS có khả năng kể

chuyện hấp dẫn sẽ tạo được một không khí sôi nổi cho tiết KC, kích thích được tinh

thần luyện tập kể chuyện của các HS khác với mong muốn được như bạn. Tuy nhiên

không nên cứ gọi một vài HS có năng khiếu kể chuyện ở tất cả các tiết KC. Quá trình

dạy học KC hiệu quả phải là quá trình đào tạo thêm nhiều những HS có khả năng kể

chuyện tốt. Vì thế không có nghĩa là đầu năm học có vài em kể chuyện tốt thì giữa

năm học cũng chỉ có vài em đó kể tốt và đến cuối năm học vẫn thế. GV thông qua các

tiết KC cần phát hiện những tiến bộ của HS để động viên kịp thời và cần phát hiện

những tiềm năng kể chuyện của các em mà nếu không được bồi dưỡng sẽ bị thui chột

thật đáng tiếc. Khi HS kể chuyện, GV cần theo dõi để phát hiện những ưu điểm của

các em (như sử dụng giọng điệu phù hợp, nét mặt biểu cảm, kể bằng ngôn ngữ của

mình…) biểu dương trước lớp những ưu điểm ấy, đồng thời cần uốn nắn những mặt

chưa đạt của các em (dùng từ chưa chính xác, chưa kể theo ngôn ngữ của mình…)

Những mặt đạt và chưa đạt của HS cần được nêu ra cụ thể để HS rút kinh nghiệm.

Tuy nhiên, GV không nên quá gay gắt với HS vì những mặt chưa đạt của các em để

tránh tạo không khí căng thẳng trong giờ KC. Mọi sự căng thẳng trong các tiết KCDG

đều không phát huy được tác dụng của việc giáo dục và dạy học thông qua TDG. Giá

trị to lớn TDG trong viêc xuất phát từ sự hứng thú, yêu thích của HS để tạo ra những

hiệu quả cao trong giáo dục và dạy học cần được GV trân trọng và tận dụng có hiệu

quả.

Nhận xét phần KC của HS không phải là việc chỉ dành riêng cho GV, GV cần

tạo điều kiện để HS được nhận xét lẫn nhau. Có nhiều HS thường ít tập trung vào

phần KC của bạn, bởi không phải bạn nào cũng có thể kể chuyện hấp dẫn, thu hút.

Khi được đóng vai trò là người nhận xét, HS sẽ không tự cho phép mình lơ là, mà

phải theo dõi phần trình bày của bạn. Qua những nhận xét dành cho bạn, HS tự rút ra

và khắc sâu được nhiều bài học bổ ích cho bản thân.

Việc tổ chức cho HS tập kể lại truyện không nên chỉ dưới một hình thức mà

cần thay đổi thường cuyên để tránh gây cho HS cảm giác nhàm chán, không có lợi

cho việc học tập. TDG thường cấu tạo theo đường thẳng. Cốt truyện xây dựng theo

trình tự thông thường, việc gì xảy ra trước kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau. Trình tự

không gian cũng được tuân thủ như trình tự thời gian. Đặc điểm này của TDG tạo

điều kiện để GV có thể dễ dàng phân truyện thành những đoạn nhỏ để tổ chức cho HS

thi đua kể chuyện tiếp sức giữa các tổ. HS bất kì kể từ đầu câu chuyện cho đến khi

GV báo ngưng. Khi HS này ngưng kể thì em được quyền chỉ định HS khác trong tổ

kể tiếp. HS được bạn chỉ định sẽ tiếp tục câu chuyện cho đến khi GV yêu cầu ngưng.

HS vừa ngưng kể lại có quyền chỉ định một bạn khác trong tổ kể tiếp. Cứ như vậy cho

đến khi hoàn thành xong việc kể toàn bộ câu chuyện. Tổ nào đã hoàn thành xong

phần kể thì sẽ lắng nghe phần KC tiếp sức của tổ khác. Sau khi các tổ đã hoàn thành

phần thi của mình, GV cùng HS nhận xét cho điểm các tổ, biểu dương những tổ đạt

điểm cao. Sau hoạt động thi KC tiếp sức, GV cũng yêu cầu vài HS kể lại toàn bộ câu

chuyện. Dù tổ chức dưới bất kì hình thức nào, GV cũng cần tạo điều kiện cho tất cả

HS đều có cơ hội kể chuyện (có thể là kể trong nhóm nhỏ hoặc kể trước lớp). Khi tập

kể chuyện, HS có điều kiện sử dụng vốn ngôn ngữ của mình để kể lại truyện, do đó

cùng với tư duy, ngôn ngữ cũng phát triển. GV hướng dẫn HS cách ghi nhớ, cách kể

lại, cách diễn đạt ngôn ngữ, cách phối hợp điệu bộ, nét mặt ở tại lớp chứ không nên

đợi các em về nhà mới tập kể lại.

Sau phần tập kể chuyện của HS, GV cần giúp HS trình bày tình cảm, thái độ

của các em đối với các nhân vật trong truyện, đối với toàn bộ câu truyện, những bài

học mà các em thu nhận được từ truyện thông qua những câu hỏi gợi ý của GV. Hiệu

quả của các hoạt động trong tiết KC thường mang tính dây chuyền. Thành công của

những hoạt động đầu tiết sẽ quyết định phần nào thành công của những hoạt động

cuối tiết. Vì thế, nếu GV kể chuyện hấp dẫn, thu hút được HS, tổ chức tốt hoạt động

tập kể chuyện của các em thì việc trình bày tình cảm đối với các nhân vật trong

truyện, đối với toàn bộ câu chuyện sẽ là nhu cầu của các em; việc rút ra bài học từ

truyện, rút ra ý nghĩa của truyện sẽ không quá khó khăn nặng nề đối với các em.

Chẳng hạn khi dạy truyện Thạch Sanh ở tiết 1, sau khi đã hướng dẫn HS tập KC GV

có thể đặt hệ thống câu hỏi sau:

1) Thạch Sanh là người như thế nào? Lý Thông là người như thế nào?

2) Những em nào yêu thích Lý Thông? Những em nào yêu thích Thạch Sanh?

3) Vậy muốn được nhiều người yêu thích mình, em phải sống như thế nào?

4) Chàng Thạch Sanh tốt bụng, hiền lành đang bị nhốt dưới hang động tăm tối.

Chàng đang cảm thấy cô đơn và thất vọng. Nếu được nói một điều gì đó với

chàng Thạch Sanh tội nghiệp lúc này, em sẽ nói điều gì?

Rất nhẹ nhàng mà hiệu quả, thông qua hàng loạt câu hỏi, GV giúp HS rút ra

các bài học, ý nghĩa của truyện.

Việc tổ chức cho HS tập KC không nên chỉ tiến hành trong phạm vi của những

tiết KC mà còn cần được mở rộng thông qua các hoạt động ngoại khóa như: thi kể

chuyện, dàn dựng hoạt cảnh. Các hoạt động này cũng là một hình thức tổ chức cho HS

tập kể chuyện nhưng ở một không khí mới sôi động hơn, hào hứng hơn. Vì vậy mà

nhiệm vụ của việc tổ chức cho HS tập kể chuyện ở các tiết KC như: phát triển ngôn

ngữ và tư duy cho HS, tạo điều kiện tốt cho sự phát triển năng khiếu, tạo điều kiện

ươm mầm cho những nhân tài mai sau… sẽ được tiếp nối thực hiện thông qua các hoạt

động ngoại khoá phục vụ choPMKC. Kết quả đạt được từ các hoạt động này thường

rất lớn. Năng lực cảm thụ văn học, cảm thụ nghệ thuật của HS được bồi dưỡng, năng

khiếu kể chuyện của các em được phát triển, niềm say mê và ý thức trân trọng đối với

những giá trị của TDG cũng lớn dần lên qua các hoạt động ngoại khóa về KC. Người

GV có tâm huyết thường không từ chối, thờ ơ với những hoạt động này. Bởi chính ở

môi trường này, GV có điều kiện phát hiện thêm những nét cá tính của HS khi những

nét tính ấy được dịp bộc lộ rõ nhất, trọn vẹn nhất. GV cần thu hút, lôi cuốn tất cả HS

tham gia vào các cuộc thi KC, sưu tầm TDG, dàn dựng hoạt cảnh… Vì thế, việc tổ

chức các kì thi này tại lớp mỗi tháng một lần vào cuối một tuần học nào đó trong tháng

là rất cần thiết. Với các kì thi được tổ chức tại lớp, tất cả HS đều có dịp thi thố tài

năng. Những kì thi này nếu được tiến hành thường xuyên, đều đặn sẽ thúc đẩy được

phong trào học tập của lớp và trao cho GV cơ hội phát hiện những sự tiến bộ của HS,

những năng lực tiềm ẩn của các em, chọn ra những HS có năng khiếu để tham gia các

cuộc thi lớn do trường, quận, thành phố tổ chức.

Việc hướng đến thực hiện những yêu cầu chung của NTKC (cụ thể là nghệ

thuật chuẩn bị, nghệ thuật trình bày, nghệ thuật tổ chức cho HS tập kể chuyện) để nâng

cao hiệu quả của việc dạy học kể chuyện cần được thường xuyên kiểm tra kết quả đạt

được. Sau rất nhiều những hoạt động ngoại khóa phục vụ cho việc dạy học KC, những

hoạt động tổ chức cho HS trong các tiết KC, GV cần thu nhận những ý kiến phản hồi

từ phía HS qua các phiếu thăm dò. Phiếu thăm dò có thể được phát ra cho HS vào cuối

các tiết sinh hoạt chủ nhiệm. Để không chiếm mất quá nhiều thời gian của tiết sinh

hoạt chủ nhiệm, nội dung của phiếu chỉ nên gồm một đến hai vấn đề nhỏ phục vụ cho

mục đích thăm dò dành cho HS, GV có thể lựa chọn giữa các yêu cầu sau:

* Kể tên một số truyện mà em đã được học trong hai tháng (yêu cầu kể đúng

tên truyện theo thứ tự thời gian, không yêu cầu phân loại).

* Kể tên một vài nhân vật trong truyện kể mà em nhớ được.

* Kể lại vài tình tiết về nhân vật mà em yêu thích trong truyện mà em vừa

được học tuần trước.

Nếu HS thực hiện được trọn vẹn yêu cầu của phiếu thăm dò thì GV có quyền

an tâm về nghệ thuật chuẩn bị, nghệ thuật trình bày, nghệ thuật tổ chức cho HS tập kể

chuyện của họ trong các tiết KC gần đây. Bởi có hứng thú qua các tiết KC, có ấn

tượng với các TDG được học thì HS mới có khả năng tái hiện mọi điều về các truyện

ấy từ tên truyện, tên nhân vật đến các tình tiết trong truyện, ngay cả đối với những

truyện mà HS đã học cách thời điểm các em thực hiện phiếu đến những hai tháng.

Mức độ HS thực hiện trọn vẹn yêu cầu của phiếu phản ánh phần nào mức độ thành

công của các tiết KC gần đây.

Tóm lại, để có được những tiết kể TDG mang hiệu quả cao đòi hỏi rất nhiều

những đầu tư của GV. Thành công của NTKC cho HS là ở sự chuẩn bị chu đáo của

GV trước tiết dạy; sự thấu hiểu sâu sắc cái chất độc đáo của từng truyện; sự giao cảm

chân thành giữa người kể và người nghe; sự tái hiện đầy nhiệt tình, tự nhiên, hấp dẫn

một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ bằng những thủ pháp sư phạm hoàn thiện; khả năng

thiết kế hoạt động học tập của HS.

Nắm vững những yêu cầu chung của NTKC cho HS tiểu học và những đặc

điểm của TDG về nội dung và nghệ thuật là cơ sở cần thiết giúp GV tìm hiểu

NTKCDG theo thể loại ở tiểu học để đến với những tiết KCDG thành công.

2.3.NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN DÂN GIAN THEO THỂ LOẠI Ở TIỂU

HỌC:

2.3.1.Nghệ thuật kể chuyện thần thoại

2.3.1.1- Vai trò giáo dục của truyện thần thoại

TTT có nội dung rất phong phú, xoay quanh 4 chủ đề lớn.

Chủ đề lớn nhất là chủ đề nói về việc sinh ra trời đất, cây cỏ, núi sông, muông

thú… Các TTT thuộc chủ đề này bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, thoả mãn nhu cầu

khám phá thế giới của trẻ theo thứ khoa học sơ khai của TT nhưng lại rất phù hợp với

trình độ nhận thức của trẻ. Lạc vào thế giới TT ở khời kì tạo thiên lập địa, trẻ lớn hơn

lên không phải bởi những lí thuyết của các khoa học về vũ trụ, về sinh vật mà lớn lên

bằng của xúc cảm yêu thương dành cho thiên nhiên đất nước.

Chủ đề lớn thứ hai là nói về sự sáng tạo ra con người, sự hình thành các cộng

đồng người. TT thuộc chủ đề này giải thích nguồn gốc con người, nguồn gốc các dân

tộc Việt Nam. Thưởng thức những TT này, trẻ được về với cội nguồn dân tộc. Qua đó,

trẻ được giáo dục niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết vơí các dân

tộc khác trên đất nước .

Chủ đề lớn thứ ba là nói về những thành tựu cuả con người trong quá trình cải

tạo thiên nhiên và thích ứng với thiên nhiên, sáng tạo ra nền văn hoá vật chất và văn

hoá tinh thần. Những truyện này có ý nghĩa to lớn, dạy trẻ biết yêu lao động, biết trân

trọng những thành tựu cha ông để lại. Từ đo, trẻ nhận thấy trách nhiệm của bản thân

trong việc giữ gìn phát huy những thành tựu đó.

Chủ đề lớn thứ tư là nói về những anh hùng dũng sĩ dũng cảm đánh giặc bảo

vệ cộng đồng. Những truyện này phản ánh xung đột giữa các cộng đồng người thời xa

xưa và mở đầu cho truyền thống ca ngợi, ghi ơn những anh hùng dân tộc trong cuộc

đấu tranh bảo vệ độc lập cho dân tộc Việt Nam. Tiếp cận với lịch sử dân tộc ở buổi

đầu dựng nước và giữ nước, trẻ thấy được những khó khăn của ông cha ta trong việc

xây dựng và bảo vệ đất nước, trẻ thêm yêu tố quốc. Càng kính trọng khâm phục những

anh hùng dũng sĩ dũng cảm đánh giặc bảo vệ cộng đồng với tầm vóc vĩ đại càng thôi

thúc trẻ khát vọng noi theo để cống hiến sức mình vì tổ quốc Việt Nam tươi đẹp.

2.3.1.2- Nghệ thuật kể chuyện thần thoại

TT là những tác phẩm văn học xuất hiện sớm nhất. Khi mà nhờ có tiếng nói

và lao động mà con người đã thoát hẳn đời sống loài vật dần có ý thức vươn lên làm

chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên thì cũng khi ấy bầy người nguyên

thủy thường vây quanh đám lửa trại nướng thịt thú rừng, nướng quả hạt, kể cho nhau

nghe những câu chuyện về săn bắt, hái lượm, về những vị thần, về thiên nhiên, về vũ

trụ… TT đã được nảy sinh và lưu truyền chính từ những đêm KC quanh lửa trại của

người nguyên thủy. Xuất phát từ những đặc sắc về nguồn gốc nảy sinh và phương thức

lưu truyền của TT, trong điều kiện cho phép, ở những tiết KCTT, GV càng đưa trẻ đến

gần được với không khí những buổi KC của người nguyên thủy thì càng thành công.

Vì thế, KCTT ở những đêm trại khi mà mọi người ngồi thành vòng tròn quanh đám

lửa trong những chuyến tham quan, du lịch dài ngày do nhà trường tổ chức cho HS

tham gia là rất lí tưởng. Nhưng trong điều kiện giới hạn của những tiết KC, người GV

vẫn có thể tạo được không khí thích hợp để KCTT, mang lại hiệu quả cho từng giờ

học. Nếu không thể dắt trẻ đến công viên thì GV vẫn có thể tổ chức tiết KC TT ở gốc

cây to trong trường. Khi đó thầy và trò vẫn có điều kiện quây quần để kể chuyện cho

nhau nghe trong sự giao hoà với trời, đất, cây, lá…

Tuy việc tổ chức rất đơn giản nhưng hiệu quả mang lại là rất lớn. Bởi mặt dù

việc thưởng thức và tiếp cận với TTT của trẻ có nhiều thuận lợi do người nguyên thủy

xưa kia và các HS tiểu học ngày nay gặp nhau ở nhu cầu khám phá tự nhiên, tìm hiểu

lịch sử; khát vọng giải thích nguồn gốc loài người, nguồn gốc vũ trụ… với trình độ

hình thức còn hạn hẹp. TTT cũng vì thế mà luôn là những câu chuyện có sức hấp dẫn

to lớn đối với trẻ. Bên cạnh thuận lợi này, chúng ta vẫn nhận thấy hoàn cảnh sinh sống

của người nguyên thủy trước kia rất khác so với hoàn cảnh sinh sống của HS tiểu học

ngày nay. Người nguyên thủy có điều kiện tiếp cận với thiên nhiên, sống trong thiên

nhiên, buộc phải quan sát thiên nhiên để cải thiện kết quả lao động sản xuất. Trong

điều kiện ấy cùng với trình độ nhận thức còn nghèo nàn, óc tưởng tượng của người

nguyên thủy được dịp phát triển để phục vụ cho nhu cầu giải thích nguồn gốc của thiên

nhiên, nguồn gốc của loài người. GV dạy TTT cần chú ý đến những đặc điểm này mà

luôn có ý thức tạo điều kiện đưa HS đến gần với thiên nhiên trong các tiết KC. Nên để

các em ngồi thành hàng ngang, tốt nhất là theo hình nửa vòng tròn trong tư thế thoải

mái, GV đứng ở vị trí trung tâm đảm bảo cho em nào cũng nhìn thấy, phải có sự gần

gũi trong không gian mới tạo được sự gần gũi về tình cảm. Quan sát các em nhỏ thích

sà vào lòng người thân để nghe kể chuyện sẽ thấy rõ. Nghe KCTT ở trong khung cảnh

thiên nhiên (hoặc gần với thiên nhiên), trẻ có điều kiện đến gần với môi trường sáng

tác TTT của tác giả dân gian. Khi đó với trí tưởng tượng được chắp cánh, các em sẽ

thể hiện tốt vai trò người đồng cảm thụ, đồng sáng tạo với tác giả dân gian. Tiết KCTT

vì thế mà sinh động, hiệu quả.

C. Mác, nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học, từng nói: “TT nào cũng nhào

nặn, chi phối và chinh phục các lực lượng tự nhiên ở trong trí tưởng tượng và bằng trí

tưởng tượng”. Vì thế, nếu thưởng thức TTT mà không tưởng tượng hoặc sử dụng trí

tưởng tượng quá nghèo nàn thì giá trị của TTT sẽ không đến được với người thưởng

thức trọn vẹn. KCTT cho HS là giúp các em xây dựng trí tưởng tượng bởi vì trí tưởng

tượng là một phẩm chất rất quý của con người. Trong trường hợp không đưa trẻ đến

được với môi trường thiên nhiên, tổ chức các tiết học TTT trên lớp, GV cần đặc biệt

chú ý đến việc sử dụng hệ thống tranh ảnh để chấp cánh cho trí tưởng tượng của các

em bay bổng cùng với những nhân vật, những sự việc được tô điểm từ trí tưởng tượng

chất phát phong phú của tác giả dân gian. Việc sử dụng tranh minh hoạ không chỉ cần

thiết cho HS lớp 1, 2, 3 mà vẫn rất cần thiết cho HS ở lớp 4, 5 khi nghe kể chuyện dân

gian đặc biệt là khi nghe KCTT.

Để mang lại những hiệu quả cao trong việc sử dụng tranh minh họa chấp cánh

cho trí tưởng tượng của các em, GV cần phải có những thủ thuật sư phạm cần thiết. Đồ

dùng dạy học dùng để minh họa câu chuyện cần phải được đưa ra đúng lúc (đúng các

thời điểm mà tâm trạng người nghe đang chờ đợi, mong mỏi), đúng chỗ (đúng các

đoạn kể đang nói đến sự vật ấy). Tranh minh họa có thể đưa ra cùng với lời giới thiệu

bài của GV để kích thích hứng thú, kích thích trí tưởng tượng của HS trước khi vào

câu chuyện. Chẳng hạn, ở truyện “Thánh Gióng” GV kết hợp tranh với lời giới thiệu:

Tiết KC hôm nay, cô mời các em thưởng thức câu chuyện về một nhân vật anh hùng kì

diệu đã góp công lớn cho công cuộc chống xâm lăng bảo vệ tổ quốc của dân tộc ta

(GV giơ tranh vẽ nhân vật Thánh Gióng đang phi ngựa, vung roi sắt quật vào lũ giặc.

Trên tranh có ghi tên truyện: Thánh gióng) T

Trong việc sử dụng đồ dùng dạy học ngoài yêu cầu về thời điểm đúng lúc,

đúng chỗ còn có yêu cầu đảm bảo cho tất cả HS (từ những HS ngồi đầu bàn đến những

HS ngồi bàn cuối gốc) cũng đều thụ cảm và tri giác được. Đối với bức họa lớn trực

tiếp ghim trên bảng để cả lớp xem. Khi cần sử dụng nhiều tranh minh họa cho diễn

biến câu chuyện, để cho phần KC kết hợp với tranh được trôi chảy, liền mạch, GV có

thể dán tranh lên các trang của cuốn lịch tờ. Tranh minh họa phải dán sau cho che

khuất nội dung của tờ lịch. Khi kể đến đoạn nào, GV lật tranh minh hoạ phù hợp với

nội dung đoạn ấy. Những cách đưa tranh minh họa như thế thường rất phù hợp và

mang lại hiệu quả cao, hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng trí tưởng tượng của HS.

2.3.2- Nghệ thuật kể chuyện cổ tích

2.3.2.1- Vai trò giáo dục của truyện cổ tích

TCT là một trong những tấm gương trung thành nhất của xã hội nước ta thời xa

xưa. TCT nói lên nội dung phong phú của đời sống dân tộc, của đời sống nhân dân

chính vì nó đã nảy sinh từ cuộc sống đó. Chủ đề của TCT vô cùng phong phú và ý

nghĩa giáo dục của TCT là rất to lớn.

Biển cũng phải lúc nào cũng sóng yên gió lặng. Có khi biển thanh bình, êm ả

nhưng cũng có lúc biển cồn cào dậy sóng. Cuộc đời cũng thế, không phải lúc nào cũng

bằng phẳng. Có những lúc ta được nếm những vị ngọt của hạnh phúc nhưng cũng có

khi lại là vị đắng cay của bất hạnh. Hạnh phúc thì ta tận hưởng, bất hạnh thì ta phải cố

vượt qua. Và phải chăng động lực to lớn để giúp ta vững vàng vượt lên trên bất hạnh

chính là lòng tin vào điều thiện, tin người “ở hiền sẽ gặp hành”, “kẻ gieo gió ắt gặt

bão”. Đó là một niềm tin chất phác nhưng tốt đẹp biết bao vì nó nuôi dưỡng trong tâm

hồn chúng ta những cảm xúc trong sáng, những ý nghĩ tốt lành đối với con người, cuộc

đời. Chính vì thế sẽ rất cần thiết khi chúng ta bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ niềm tin tốt

đẹp ấy thông qua TCT. Điều đó có nghĩa ta đã chuẩn bị hành trang quý báu để các em

đối mặt với những điều không vui, những bất hạnh của hiện tại và cả ở tương lai.

TCT đã mở ra khung trời tươi sáng cho những con người không may mắn

nhưng tốt bụng đạt được ước nguyện của mình. Khung trời tươi sáng ấy là nơi nhân

vật chính sống với tất cả sự thỏa mãn khi những bất hạnh, khó khăn của họ đều được

đẩy lùi để họ sống cuộc đời tươi đẹp như chính vẻ đẹp tâm hồn của họ. Đến được với

khung trời tươi sáng ấy, nhân vật chính phải trải qua nhiều những thử thách. Những

thử thách ấy đặt ra cho nhân vật chính như một sự kiểm nghiệm, đo đạc về nhân cách,

đạo đức của họ trước khi cho họ gia nhập vào thế giới của ấm no, hạnh phúc, nơi mà

mọi ước nguyện của họ đều thành hiện thực.

TCT kể về những nhân vật bất hạnh qua đó gợi lên trong lòng người thưởng

thức một tình cảm thương xót sâu xa đối với những nhân vật có cuộc đời bất hạnh do

những bất công trong gia đình và xã hội gây nên. Vì thế có thể thông qua những câu

chuyện cổ tích để giáo dục cho trẻ những rung động thẩm mĩ, biết xót xa, đau đớn

trước nỗi đau của đồng loại.

TCT còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn về quan niệm thẩm mĩ. Bởi TCT gợi ra

được những suy nghĩ có ích về cách nhìn người, cách đánh giá con người. Những

người có hình dáng bên ngoài không đẹp, không sang nhưng không có nghĩa là họ xấu

về tâm hồn, nghèo về nhân cách. Cùng với những câu TCT, quan niệm thẩm mĩ của

các tác giả dân gian dần ăn sâu vào nếp nhìn, nếp nghĩ của các em. Khi đó trẻ sẽ nhìn

nhận đánh giá mọi vật, mọi việc tinh tế với thế giới quan nhân đạo.

TCT không phải là tác phẩm sử học mà trước hết là tác phẩm văn học, TCT có

nhiều phần tô thêm, vẽ thêm cho nhân vật lịch sử, cho sự kiện lịch sử. Chính những

nét tô thêm, vẽ thêm đó đã tạo nên sức hấp dẫn to lớn của TCT đối với trẻ. Các TCT

này sẽ góp phần không nhỏ trong việc bồi dưỡng tình yêu đất nước, niềm tự hào dân

tộc, lòng biết ơn đối với những nhân vật lịch sử đã hi sinh xương máu bảo vệ và xây

dựng tổ quốc.

Nhiều TCT phản ánh phong cảnh thiên nhiên ở nước ta. Những nét đơn giản

và súc tích và truyện thường phác họa về phong cảnh đất nước đã chứng tỏ lòng yêu

mến của tác giả dân gian đối với đất nước. Vì thế, khi thưởng thức TCT, trẻ cùng rung

động trước tính chất kì vĩ, vẻ đẹp của phòng cảnh thiên nhiên và các sự tích được tô

điểm bởi trí tưởng tượng phong phú của các tác giả dân gian bằng tình yêu đất nước

nồng nàn.

TCT phản ánh cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên, giữa giai cấp địa

chủ và nhân dân lao động, giữa dân tộc ta và bọn xâm lược hay đó là cuộc đấu tranh

không khoan nhượng giữa cái thiện và cái ác. Chiến đấu đến cùng để bảo vệ công lí xã

hội, vươn đến cuộc sống tốt đẹp là triết lí sống của nhiều nhân vật trong TCT. Những

nhân vật đại diện cho điều thiện bao giờ cũng chiến thắng dù cho họ phải trải qua

nhiều khó khăn, thử thách. Chiến thắng của họ là sự kết hợp của tài năng, lòng dũng

cảm, ý chí chiến đấu quật cường và sức mạnh của lẽ phải. Thắng lợi vẻ vang của cái

thiện đã nung đúc trong trẻ niềm tin chiến thắng, lòng dũng cảm sẵn sàng đấu tranh

với mọi cái xấu xa ở quanh mình cũng như cái xấu ở trong chính bản thân dù đó là

cuộc đấu tranh với nhiều gian nan, thử thách.

2.3.2.2- Nghệ thuật kể chuyện cổ tích

TCT có dạng kết cấu mà ta có thể gọi là “kết cấu đường đồng quy”. Theo kết

cấu này, hai nhân vật đối lập hoàn toàn về phẩm chất, cùng gặp một hoàn cảnh như

nhau nhưng do cách xử sự khác hẳn nhau nên đã đi đến những kết cục trái ngược nhau.

Sự tương đồng trong tình huống đưa đến thế tương phản trong phẩm chất và cách xử

sự đã giúp cho việc khắc họa tâm lí được sâu sắc. Vì người ta có hoàn cảnh để đối

chiếu các nhân vật với nhau. Nghệ thuật của TCT ở đây phục vụ đắc lực cho một đặc

điểm trong nội dung của truyện là phân biệt ranh giới giữa thiện và ác, giữa ta và địch.

Ở truyện “Cây khế”, hai anh em trong truyện đã gặp những hoàn cảnh tương tự: cùng

bắt gặp chim đến ăn khế, cùng theo lời dặn mang túi để đựng vàng, cùng cưỡi trên

lưng chim ra hải đảo lấy vàng. Ở đây, sự tương đồng trong hoàn cảnh có tác dụng nêu

bật tâm lí của nhân vật này bằng cách đối chiếu với tâm lí của nhân vật kia. Đặt vào

hoàn cảnh như nhau, người anh đã hành động trái ngược hẳn với người em: một đằng

thì giả dối, tham lam, không theo lời dặn của chim và may túi mười hai gang; một

đằng thì thực thà, trung hậu, làm theo lời chim dặn, may túi ba gang. Kết cục số phận

của mỗi người do chính cách xử sự, nói cho đúng hơn là do phẩm chất của họ quyết

định: người em giàu sang, hạnh phúc; người anh thì Chim thần “chiều” theo tham

vọng của hắn để hắn phải tự chuốc lấy cái chết nhục nhã. GV dạy TCT cần nắm được

những đặc điểm này trong kết cấu của một số TCT để có cách ghi bảng hợp lí, giúp

HS nắm được tâm lí của từng nhân vật, phân biệt được rõ ràng ranh giới giữa thiện và

ác, dễ dàng nắm được nội dung của câu chuyện, hỗ trợ tốt cho việc tập kể chuyện của

HS, giúp các em dễ dàng rút ra ý nghĩa của câu chuyện. Đối với truyện “Cây khế”, nội

dung phần ghi bảng có dụng ý của GV trong việc làm nổi bật “kết cấu đường đồng

quy” của truyện nhằm mục đích hỗ trợ tích cực cho HS trong việc cảm thụ nội dung và

nghệ thuật của truyện, trong việc tập kể lại câu chuyện có thể như sau:

Người anh

Người em

*Phẩm chất - Tham lam, giả dối - Trung hậu, thật thà

*Hoàn cảnh - Gặp chim Phượng hoàng - Gặp chim Phượng hoàng

- Được chim hứa đưa đi lấy -Được chim hứa đưa đi lấy đưa đến

vàng với lời dặn (mang theo túi vàng với lời dặn (mang theo

ba gang) túi ba gang)

*Cách xử sự - Không theo lời chim dặn - Làm theo lời chim dặn (may

(may túi mười hai gang) túi ba gang)

*Kết cục - Cùng với túi vàng rơi tõm - Được chim đưa về an toàn

xuống biển

Việc ghi bảng không nên tiến hành ở lần kể đầu để tránh làm cho câu chuyện

kể của GV bị đứt mạch, rời rạc; để tác dụng truyền cảm trong lời kể của GV lắng sâu

vào tâm trí của HS. Trước khi HS tập kể chuyện, GV mới ghi bảng. Rõ ràng việc trình

bày bảng cho truyện “Cây khế” như trên sẽ giúp HS tái hiện được câu chuyện trong trí

nhớ, hỗ trợ tốt cho việc kể lại truyện của HS cũng như việc rút ra ý nghĩa của truyện.

Đối với HS tiểu học, chúng ta không đòi hỏi cũng không cố gắng dạy các em

năm được lí thuyết về “kết cấu đường đồng quy” của TCT mà chỉ hướng dẫn các em

bước đầu tiếp cận với đặc điểm này trong nghệ thuật của TCT thông qua những phát

hiện về phẩm chất khác nhau, những cách xử sự không giống nhau dẫn đến những kết

cục trái ngược nhau để đưa các em đến với ước mơ công lí của người xưa, đến với bài

học đạo đức từ truyện.

Cũng như các thể loại khác của TDG, TCT là văn xuôi truyền miệng. Thế

nhưng TCT lại là những truyện tương đối phức tạp và dài tình tiết lắm khi chồng chất,

tâm lí nhân vật thường nhiều loại. Dù rất có nhu cầu khắc họa tâm lí nhân vật nhưng

do yêu cầu của một tác phẩm truyền khẩu, tính chất của loại văn tự sự, TCT không

miêu tả kĩ lưỡng các nhân vật (từ ngoại hình cho đến nội tâm). TCT phải giải quyết

mâu thuẫn giữa yêu cầu chung đối với tác phẩm văn học truyền miệng và tính chất

phức tạp của TCT. Việc giải quyết mâu thuẫn đó cũng đồng nghĩa với việc TCT phải

sử dụng lối miêu tả có tính chất khởi phát. Vì thế để lĩnh hội tốt TCT, cả người kể và

người nghe phải cố gắng xóa bỏ những khó khăn do lối miêu tả ấy mang lại. Khi kể

chuyện cổ tích, người kể cần phải nhìn thấy được cả một thế giới cổ tích của truyện

với các nhân vật đang băn khoăn trăn trở, đang vui buồn… cần phải thể hiện giọng

điệu, cử chỉ, nét mặt, chỗ ngừng nghỉ phù hợp với các sự việc trong truyện, tâm lí của

nhân vật để hỗ trợ cho trí tưởng tượng, sự cảm thụ của thính giả. Truyện “Cây khế”

không miêu tả bằng lời rằng người em hiền lành, thật thà, đáng thương nhưng qua

hành động, việc làm, hoàn cảnh của người em trong truyện người nghe có thể nhận ra

điều đó. Nhưng để hỗ trợ cho sự cảm thụ, cho trí tưởng tượng của người nghe, người

kể có thể kể lại lời than thở của người em: “Chim ơi! Nhà ta nghèo lắm, cả gia tài có

mỗi cây khế, chim đừng ăn khế của ta!” bằng giọng đượm buồn, tha thiết. Khi kể đến

đoạn “hai” vợ chồng người anh liền lấy vải may hẳn một túi mười hai gang” để khắc

họa bản tính tham lam của người anh, GV có thể nhấn giọng ở cụm từ “mười hai

gang”. Ở truyện “Thạch Sanh” khi để đến đoạn “Thạch Sanh giở cơm nắm ra ăn thì xà

tinh hiện ra hình thù kì dị, nhe nanh giơ vuốt định vồ lấy chàng”, GV nên ngắt giọng

sau thì để tạo cho HS tâm lý hồi hợp chờ đợi. Trong khoảnh khắc rất ngắn ấy có thể rất

nhiều hình ảnh do trí tưởng tượng của HS thêu dệt nêu về sự sắp diễn ra trôi qua trong

đầu các em. Như vậy, sự thể hiện của người GV khi kể TCT sẽ quyết định lớn đến thái

độ thưởng thức truyện của HS.

2.3.3- Nghệ thuật kể chuyện ngụ ngôn

2.3.3.1- Vai trò giáo dục của truyện ngụ ngôn

Sáng tác TNN, các tác giả dân gian để cho óc tưởng tượng tha hồ bay bổng.

Yếu tố tưởng tượng trong TNN còn nhiều hơn cả trong TCT. Những yếu tố tưởng

tượng này nhằm giúp các tác giả dân gian có thể diễn đạt một cách linh hoạt, tươi mát

những khái niệm khô khan. Chính nhờ phương pháp nghệ thuật lãng mạn của nhân dân

mà TNN có sức hấp dẫn to lớn đặc biệt là đối với trẻ em dù đây là loại truyện nhằm

mục đích chính là khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống.

Những bài học trong TNN vì thế mà đến với trẻ nhẹ nhàng, tự nhiên. Vào thế giới của

TNN, trẻ tha hồ, mặc sức tưởng tượng theo nội dung của truyện về những loài vật, đồ

vật hoặc về chính con người được xây dựng nên bằng trí tưởng tượng phong phú của

nhân dân, để từ đó bày tỏ thái độ yêu ghét đối với việc làm, hành động của vật này, vật

kia, người này, người khác… Khi đó mục đích giáo dục to lớn thông qua TNN đã đạt

thành. Trẻ không những được trang bị những bài học về cách ứng xử trong cuộc sống

mà được phát triển trí tưởng tượng từ những nhu cầu thưởng thức TNN của các em.

Bởi TNN là sản phẩm của tưởng tượng nên để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức truyện

với nhiều yếu tố tưởng tượng, yếu tố kì diệu như TNN, óc tưởng tượng của trẻ bị kích

thích tối đa. Tưởng tượng càng phong phú trẻ càng hứng thú say mê với truyện. TNN

có vai quan trọng trong việc phát triển óc tưởng tượng cho trẻ và đây cũng chính là

một trong những mục tiêu hàng đầu của nền giáo dục ở bất kì quốc gia nào.

Đặc điểm của ngôn ngữ nhân dânlà cụ thể và hình tượng, TNN là một cách nói

theo tỉ dụ của nhân dân. Qua TNN, trẻ học được nhiều cách nói so sánh, ví von của

nhân dân lao động. Được tiếp xúc với nhiều tục ngữ, thành ngữ cũng như giải thích

được nội dung của một số câu tục ngữ, thành ngữ. Theo đó, trẻ thêm yêu thích đối với

các thể loại khác thuộc văn học dân gian, thêm trân trọng tiếng nói của dân tộc.

TNN là sản phẩm của trí tuệ nhân dân. Qua TNN trẻ tiếp thu được những tư

tưởng triết học của nhân dân được thể hiện dưới nhiều hình thức phong phú thông qua

các bài học mà TNN gửi đến người thưởng thức. TNN được lưu truyền qua nhiều thế

hệ, những bài học, những kinh nghiệm thể hiện triết lí dân gian vì thế mà được bổ sung

ngày càng phong phú. Và đến nay chúng ta được thừa hưởng một kho tàng TNN giá

trị. Bất kể khi thể hiện mình ở vai trò gì hay công việc gì, trẻ cũng có thể tìm thấy

nhiều những lời khuyên bổ ích để tránh những lầm lỗi, những va vấp và để thành công.

Vì lẽ ấy TNN không chỉ có sức hấp dẫn đặc biệt đối với trẻ em mà còn lôi cuốn cả

người lớn.

2.3.3.2- Nghệ thuật kể chuyện ngụ ngôn

TNN rất gần với TC thường có yếu tố gây cười. Đối tượng chủ yếu của TNN

không phải là cái xấu đáng cười mà là những bài học, những nhận xét cần thiết có ý

nghĩa triết lí nhân sinh. Vì vậy, qua các tiết KCNN, trẻ phải nhận ra những bài học,

những nhận xét cần thiết từ truyện. TNN hình thành khi tư duy loài người đạt tới trình

độ phát triển tương đối cao, TNN lại sử dụng hình thức nói bóng, nói xa nên bài học, ý

nghĩa của TNN vì thế mà không phải dễ dàng được HS nhận ra. Vai trò của người GV

trong việc hướng dẫn HS tìm hiểu truyện là rất quan trọng. Đặc biệt là đối với những

truyện có ý nghĩa triết học, có liên quan đến vấn đề nhận thức luận như truyện “Thầy

bói xem voi”. Ở truyện này, sau tiếng cười, GV cần chú ý hướng dẫn HS nhận ra bài

học, ý nghĩa của truyện. Dạy TNN cho HS mà không chú ý hướng dẫn các em tìm hiểu

truyện thì có thể vô tình đưa các em đến với những suy nghĩ lệch lạc. Chẳng hạn như

nghe truyện “Thầy bói xem voi” mà nghĩ rằng truyện được sáng tác nhằm giễu cợt

những người bị khuyết tật bẩm sinh thì thật tai hại. TDG nói chung đều có cách nói

nhiều điều rất lớn nhưng phù hợp với HS giúp các em tiếp nhận cái điều to lớn ấy rất

nhẹ nhàng và tự nhiên. Khi hướng dẫn HS tìm hiểu TNN cũng vậy, ngay cả đối với

những truyện có ý nghĩa triết học, đề cập đến những vấn đề nhận thức luận, GV cũng

không nên dùng những lí lẽ cao siêu để buộc các em phải hiểu cho được. GV cần từ

phần cụ thể được trình bày rất rõ ràng trong truyện giúp các em liên hệ trong thực tế

rồi tự rút ra phần trừu tượng tức là ý niệm rút ra từ truyện.

Sau đây là một trích đoạn giáo án trong giờ KC mô tả sự hướng dẫn của GV

nhằm mục đích giúp HS nhận ra ý nghĩa bài học từ TNN “Thầy bói xem voi”.

Hoạt động dự kiến của GV

Hoạt động dự kiến của HS

* Sau tiếng cười của HS từ nội dung

truyện qua phần kể của GV.

GV hỏi:

- Vì sao các em cười - Vì các thầy bói trong truyện thật đáng

cười, các thầy chỉ sờ vào một bộ phận của

con voi mà cứ khăng khăng cho rằng mình

đã biết cả con voi.

* HS đưa ra ví dụ. Chẳng hạn: - Các em hãy tìm vài ví dụ về những

- Khi chỉ xem vài vòng đầu tiên của một tình huống trong thực tế mà ta có thể

quyển sách mà ta đã vội vàng cho rằng mắc sai lầm như các thầy bói trong

quyển sách không hay thì ta đã mắc sai lầm truyện. Cô sẽ đưa ra ví dụ trước khi

tương tự như sai lầm của thầy bói trong gặp một hình có bốn góc vuông, ta

truyện. khăng khăng cho đó là hình vuông tức

- Khi mới gặp một bạn mà cứ khăng khăng là ta đã mắc sai lầm tương tự như sai

cho rằng bạn không tốt tức là ta đã sai lầm lầm của thầy bói trong truyện

tương tự như sai lầm của các thầy bói trong

truyện.

- Chúng ta nên xem xét sự vật đầy đủ, - Vậy để không mắc sai lầm như các

không nên chỉ dựa vào sự hiểu biết một mặt thầy bói trong truyện, để tránh được

nào đó của sự vật mà khăng khăng cho rằng những sai lầm trong các tình huống

mình đã biết về sự vật ấy. vừa nên, chúng ta phải nêu như thế

nào và không nên như thế nào. - Truyện phê phán các ông thầy bói về cách

- Em hãy nêu ý nghĩa của truyện xem xét sự vật chỉ có một mặt không đầy

”Thầy bói xem voi” đủ.

Với cách hướng dẫn nêu trên, GV có thể giúp HS tự mình rút ra được và khắc

sâu được ý nghĩa, bài học từ truyện. Qua đó các em tránh được nhiều những sai lầm

trong cuộc sống.

Nếu TC dùng tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để phát hiện và phê phán cái

xấu đáng cười thì TNN lại không dùng tiếng cười làm phương tiện chính để phát hiện

và phê phán cái xấu mà dùng loài vật làm phương tiện chủ yếu để phát hiện và khẳng

định những bài học, những nhận xét cần thiết cho con người dưới hình thức kín đáo.

Khi dạy TNN, để giúp HS nhận ra những bài học, những nhận xét cần thiết cho bản

thân được trú ngụ trong những truyện về loài vật, GV phải giúp HS nhận thấy được

tương quan giữa vật này với vật kia song song với tương quan giữa hạng người này

với hạng người kia mà chúng tiêu biểu. Chẳng hạn ở truyện “Chim Khách và Quạ”,

GV cần giúp HS nhận thấy: chim Khách và Quạ” đều có tiếng kêu như tiếng kêu của

chim Khách báo hiệu điều lành còn tiếng kêu của Quạ báo hiệu điều xấu. Quạ không

thấy được điều đó do không chịu suy xét mà không tự lượng được sức mình bắt chước

máy móc mà phải chịu hậu quả tai hại. Cả chim khách và quạ giống nhau ở chỗ cả hai

đều có tiếng kêu nhưng ý nghĩa báo hiệu từ tiếng kêu của hai con vật lại khác nhau tiêu

biểu cho hai loại người có biểu hiện bề ngoài giống nhau nhưng thực chất ở bên trong

lại trái ngược hẳn. Quạ không tự lượng sức mình bắt chước máy móc cách làm của

chim Khách nên đã chịu hậu quả tai hại tiêu biểu cho loài người chỉ có bề ngoài mà

không có thực chất, cuối cùng không thể mượn được cái bề ngoài mà tạo ra hoặc che

đậy đi cái thực chất được. Nắm được mối liên hệ giữa sự vật mang một đăc trưng nào

đó với một hạng người mang một nét tính cách, một đặc điểm nào đó thì HS sẽ nhận ra

được những vấn đề được nêu lên trong câu chuyện về loài vật chính là những vấn đề

của con người. Ý nghĩa của truyện và bài học rút ra từ truyện cũng được HS tiếp nhận

dễ dàng.

Tóm lại, trên cơ sở đã nắm được những biện pháp dạy học có hiệu quả cho

các thể loại TDG nói chung, GV cần xuất phát từ đặc trưng của từng thể loại TDG để

suy nghĩ những cách dạy học có hiệu quả hoặc cần được chú trọng cho từng thể loại.

Sau cho các tiết KCDG mãi là những tiết học nhiều bổ ích, để lại ấn tượng tốt đẹp lâu

bền trong các em, mãi được các em chờ đón và tiếp thu bằng một tâm trạng hào hứng,

vui thích.

2.3.4- Nghệ thuật kể chuyện cười

2.3.4.1- Vai trò giáo dục của truyện cười

Từ việc bày tỏ thái độ phê phán trước những thói xấu dễ tìm thấy trong cuộc

sống hàng ngày và những cái đã lỗi thời trong xã hội thông qua TC, tác giả dân gian

thể hiện rất rõ lí tưởng thẩm mĩ của mình. Những lí tưởng thẩm mĩ mà nhân dân gửi

gắm thông qua TC dễ dàng được trẻ nhận ra sau tiếng cười của sự phê phán, mỉa mai.

TC dân gian chỉ nói đến cái bất hợp lí, cái xấu xa, còn như cái hợp lí, cái tốt đẹp thì

chính là lương tri của tác giả dân gian, chính là nhân vật không nhắc đến trong truyện

nhưng lúc nào cũng có mặt: đó chính là lí tưởng thẩm mĩ của thời đại mà tác giả dân

gian gửi đến cho thính giả của mình. Thưởng thức TC mà bậc ra tiếng cười tức trẻ đã

bước đầu hiểu được cái bất hợp lí, những cái xấu xa và cũng thật tự nhiên trẻ biết

không nên sống, hành động như thế cũng có nghĩa là tâm hồn trẻ đã đến rất gần với lí

tưởng thẩm mĩ của nhân dân.

Mặc dù thời đại ta đang sống cách rất xa với thời đại của các tác giả dân gian

nhưng việc giáo dục lí tưởng thẩm mĩ thông qua truyện không thể xem nhẹ. Bởi lí

tưởng mĩ học của chúng ta và lí tưởng mĩ học của nhân dân ngày trước vẫn gặp nhau ở

chỗ thấy rõ mặt trái hài hước ở bọn người bóc lột, gắn liền việc miêu tả chúng như

những vai hề tiêu cực trên sân khấu xã hội với cuộc đấu tranh thủ tiêu mọi áp bức, bất

công, tàn ác, xấu xa. Giáo dục lí tưởng thẩm mĩ thông qua tiếng cười là nhiệm vụ khó

khăn và có lẽ chỉ có TC mới thực hiện được.

Đặt những nhân vật có thói xấu hay đại diện cho những cái lỗi thời ở những

hoàn cảnh gây cười để biến chúng thành những vai hề tiêu cực, tác giả dân gian không

ngoài mục đích tạo nên tiếng cười sảng khoái ở người thưởng thức. Đằng sau tiếng

cười là sự phê phán, mỉa mai trước cái bất hợp lí, những cái xấu xa tiêu biểu cho sự

chiến thắng của người được cười đối với kẻ bị cười. Tiếng cười hài hước cô lập đối

tượng và bày tỏ khát vọng thủ tiêu mọi áp bức, bất công xấu xa. Những cái bất hợp lí,

những thói xấu, những cái lỗi thời được đề cập trong TC không xa rời với cuộc sống.

Vì thế trẻ dễ dàng tìm thấy chúng ở xung quanh và trong chính bản thân. Đã cười

trước chúng cũng có nghĩa là trẻ không thể chấp nhận sự tồn tại của chúng ở xung

quanh và càng không thể để chúng hiện diện trong chính bản thân. Và như thế, khát

vọng đấu tranh xóa bỏ chúng đến với các em rất tự nhiên.

2.3.4.2- Nghệ thuật kể chuyện cười

TC là một thể loại truyện cực ngắn. Trong TC hầu như không có các chữ thừa,

càng không có chi tiết thừa. Để gây ra tiếng cười giòn giã, TC dân gian phải tập trung

vào những yếu tố gây cười vào những nét phóng đại, vào những yếu tố bất ngờ đầy

kịch tính. Vì vậy, TC dân gian rất kị việc miêu tả dài dòng, kể lể lôi thôi. Chỉ những

chi tiết thật là cần thiết mới được đưa vào truyện. Người kể chuyện cười mà nói quá

nhiều, thêm vào những chi tiết thừa (không phục vụ cho mục đích gây cười) thì chỉ

làm loãng nội dung của truyện. Ngược lại, khi kể chuyện mà người kể bỏ mất một chi

tiết quan trọng cho sự phát triển tình tiết thì có thể làm cho người nghe không thấy

được mâu thuẫn trong hiện tượng và khi đó e rằng cái cười sẽ trở nên gượng gạo. Như

vậy, hiệu quả nhất là khi kể chuyện cười, người kể sử dụng lời kể rõ ràng, mạch lạc,

không dài dòng cũng không quá ngắn gọn, khó hiểu, giọng kể vừa phải, không quá

nhanh, không quá chậm, không quá cao hay quá thấp. Giọng kể quá nhanh sẽ làm cho

người nghe không kịp hiểu, tiếng cười khó nở rộ, quá chậm cũng làm cho tiếng cười

chùng lại hoặc lơi lỏng ra.

Mấu chốt của nghệ thuật gây cười là ở chỗ phải làm sao cho cái đáng cười tự

nó bộc lộ ra một cách cụ thể, sinh động, nực cười để cho người nghe tự mình phát hiện

ra nó mà bật cười. Chỉ khi nào HS tự mình phát hiện ra cái đáng cười thì khi đó tác

dụng giáo dục độc đáo của TC (mài sắc tư duy suy lí, làm giàu óc phê phán, giúp trau

dồi khả năng sử dụng ngôn ngữ) mới đến được với các em trọn vẹn. Vì thế, người kể

TC không nên xen vào giải thích trong khi kể.

Tục ngữ có câu “vô duyên chưa nói đã cười”, kể TC cũng vậy, người kể không

nên cười trước người nghe để tránh tạo nên tiếng cười “dậy non” làm người nghe

không cười được nữa hoặc sẽ cười một cách gượng gạo, nhạt nhẽo. Người kể chuyện

cười phải thật tự nhiên như không hề biết trước về tình huống gây cười sắp xảy ra,

phải đầy nhiệt tình và đầy rung cảm nhưng biết giấu kín nhiệt tình và rung cảm ở bên

trong, không cho nó bộc lộ thành tiếng cười quá sớm. Ngược lại nếu khi mâu thuẫn đã

được bộc lộ, HS đã phát hiện ra và cười mà GV vẫn tỉnh bơ, lạnh lùng thì sẽ dễ làm

cho các em mất hứng thú và tiếng cười cũng vì thế mà ít giòn giã. Khi ấy tác dụng giải

trí của truyện bị giảm đi.

Ở phần lớn TC, đằng sau mục đích giải trí còn có nhiều mục đích khác quan

trọng hơn như là: tống khứ đi những gì ngu dốt, xấu xa, lạc hậu, phản động để xây

dựng cuộc sống tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn. TC đưa vào giảng dạy trong Nhà trường tiểu

học cũng không ngoài những mục đích quan trọng đó. Vì thế dạy TC ở các tiết KC,

GV không phải chỉ qua TC tạo ra cho HS tiếng cười giòn giã là đủ bởi bài học về TC

không chắc đã đến với HS khi các em bật ra tiếng cười mà còn phải giúp HS hiểu được

họ cười cái gì và vì sao lại cười, ý nghĩa lẫn mục đích phê phán của truyện, bài học rút

ra cho bản thân. Khi nghe TC mà HS cười tức là các em đã biết mình cười cái gì, và vì

sao mình lại cười. Nhưng trên thực tế không phải ai cũng giải thích được rõ ràng

nguyên do cái cười của mình rút ra được ý nghĩa và bài học đằng sau tiếng cười. Như

thế thì việc thưởng thức TC ở đây mới chỉ nhằm mục đích mua vui. Như đã nói ở trên,

tiết KC ơ trường học không chỉ nhằm mục đích giải trí nên việc hướng dẫn HS suy

nghĩ để trả lời những câu hỏi “Cười cái gì?”, “Vì sao cười?”, rút ra ý nghĩa, bài học từ

truyện là không thể bỏ qua. Chỉ cần GV gợi ý để HS tự mình phân tích và tự mình tái

hiện lại quá trình sinh thành của cái cười trong óc các em thì nhất định các em sẽ “cắt

nghĩa được cái cười của mình”. GV cần dẫn dắt HS phân tích, nhìn lại từ phân đoạn

mở đầu khi mâu thuẫn còn ở thế tiềm tàng đang chờ dịp bộc lộ, đến phân đoạn nút khi

sự việc đã đến điểm nút, mâu thuẫn sắp được bộc lộ và cuối cùng là phân đoạn kết

thúc khi cái đáng cười đã được bộc lộ. Phân tích từ phân đoạn mở đầu đến phân đoạn

nút, HS có cơ hội điểm lại diễn tiến của sự việc từ tính thế mở đầu đến điểm nút, từ

nhận rõ được mâu thuẫn ở thế tiềm năng đến nhận rõ được mâu thuẫn cụ thể ở tình thế

gây cấn. Phân tích đoạn kết thúc, HS tự mình nhận ra cái đáng cười được bộc lộ qua

hành vi, lời nói của nhân vật trực tiếp gây ra cái cười, chỉ rõ chỗ ngược đời trong hành

vi, lời nói tạo ra tiếng cười. Thực hiện đến đây tức là HS đã trả lời được câu hỏi: “Vì

sao cười?”, “Cười cái gì?”. Chẳng hạn khi kể xong toàn bộ câu chuyện “đến hết vẫn hà

tiện”, GV hướng dẫn HS phân tích, tái hiện lại câu chuyện qua ba phân đoạn.

* Phân đoạn mở đầu: Anh nhà giàu tính hà tiện cùng bạn lên tỉnh chơi,

mang theo một quan tiền giắt lưng nhưng chẳng dám tiêu tiền.

Khi phân tích phân đoạn này, GV cần hướng dẫn HS nhận thấy những mâu

thuẫn ở thế tiềm tàng: giàu có nhưng keo kiệt, có tiền nhưng chẳng dám tiêu dù là chi

tiêu chính đáng.

* Phân đoạn nút: Anh hà tiện trên đường về, với một quan tiền còn

nguyên, khát quá, uống nước sông, bị ngã, người ở kêu cứu và ra giá “một quan”.

Ở phân đoạn này, GV hướng dẫn HS nhận rõ mâu thuẫn cụ thể ở tính thế gây

cấn: không muốn trả tiền nước ít ỏi khi uống ở quán nhưng bị đặt vào tình thế trả một

quan tiền vì uống nước sông.

* Phân đoạn kết thúc: Anh hà tiện sắp chết đuối, cố ngoi lên không chấp

nhận cái giá “một quan tiền”, người ở hạ giá xuống “năm tiền”, anh hà tiện cố ngoi lên

một lần nữa kêu: “năm tiền còn đắt…!”

GV hướng dẫn HS nhận ra cái đáng cười của anh hà tiện: quý đồng tiền hơn

tính mạng thể hiện qua các hành vi, lời nói thật đáng cười: anh ta cố ngoi lên để kêu

cứu thì chẳng có gì đáng cười nhưng không phải thế, anh ta cố ngoi lên lần sau cùng

trước khi chìm nghỉm là để hạ giá vì sợ phải trả “năm tiền” cho một người lỡ như

người đó cứu được anh ta (!)

Qua phân tích và tái hiện các phân đoạn trên, HS dễ dàng trả lời câu hỏi “Vì

sao cười?”, “Cười cái gì?”. Trên cơ sở yêu cầu làm cho HS có ý thức về cái cười của

mình, lí giải được nguyên nhân cái cười, GV cần hướng dẫn HS suy nghĩ tiếp về cái

đáng cười, về những điều tiềm ẩn phía sau hành vi gây ra tiếng cười cùng thói xấu mà

hành vi đó để lộ ra. Từ đó, HS dễ dàng rút ra ý nghĩa và bài học cho bản thân từ

truyện. Có như vậy, HS mới tiếp nhận được trọn vẹn những tác dụng giáo dục độc đáo

của TC thông qua tiết KC.

Tóm lại, trên cơ sở đã nắm được những yêu cầu chung của NTKC cho HS tiểu

học, GV cần xuất phát từ đặc điểm của từng thể loại TDG để suy nghĩ những cách dạy

học có hiệu quả nên được chú trọng cho từng thể loại. Sao cho từng tiết KCDG mãi là

những tiết học nhiều bổ ích để lại ấn tượng lâu bền trong các em, mãi được các em chờ

đón bằng một tâm trạng hào hứng, vui thích.

TIỂU KẾT

HS tiểu học hiện nay có điều kiện rất thuận lợi để thưởng thức TDG. Các em

dễ dàng tìm mua sách TDG phong phú, trình bày đẹp mắt tại các hiệu sách. Số lượng

đồ sộ các sách TDG được phát hành hàng năm thể hiện phần nào nhu cầu thưởng thức

TDG rất lớn của các em nhỏ.

Xuất phát từ vai trò giáo dục của TDG đối với HS tiểu học, từ nhu cầu thưởng

thức TDG của các em, các Nhà biên soạn chương trình tiểu học đưa TDG vào hệ thống

các truyện dạy cho HS trong các tiết KC với số lượng vượt trội.

Nhìn chung, hệ thống các TDG được đưa vào dạy trong Chương trình của

PMKC ở bậc Tiểu học đều là những truyện đặc sắc, có giá trị giáo dục cao, phù hợp

với trình độ phát triển mọi mặt của HS, có tác dụng đem lại những mĩ cảm nghệ thuật,

làm phong phú tâm hồn của cả GV và HS. Vì vậy cho nên các tiết KCDG ở Tiểu học

có đạt được mục đích và hiệu quả tối ưu của nó hay không chỉ còn phụ thuộc lớn vào

năng lực kể chuyện, vai trò tổ chức, thiết kế các hoạt động dạy học của GV.

Đối với HS tiểu học, các tiết KCDG là những tiết học lí thú, hấp dẫn, ngay cả

đó là những tiết dạy các TDG mà HS đã từng được đọc hay nghe kể qua. Bởi GV với

cách KC hấp dẫn thể hiện tốt vai trò người đồng cảm thụ, đồng sáng tạo với tác giả

dân gian khi kể có khả năng cuốn hút HS vào nội dung câu chuyện, tạo cho HS cảm

giác mới mẻ ngay cả đối với những câu chuyện mà các em đã từng được thưởng thức.

Với khả năng kể chuyện hấp dẫn, khả năng thiết kế, tổ chức tốt các hoạt động

dạy học, GV có thể tạo nên ở HS tâm trạng hào hứng, vui thích khi học các tiết

KCDG. Khi đó với mục tiêu cần đạt cho từng tiết KC đã được xác định rõ ràng, GV có

thể đưa HS đến với những bài học từ truyện, rèn cho HS nhiều kĩ năng cần thiết một

cách nhẹ nhàng, hiệu quả.

Nhận thức được đầy đủ vai trò giáo dục to lớn của TDG, rèn luyện năng lực kể

chuyện, nghiên cứu những đặc điểm của các thể loại TDG về phương pháp và kĩ

thuật lên lớp, tham khảo những CĐNTKCDG sẽ đưa người GV tiểu học đến với

những tiết KCDG thành công.

KẾT LUẬN

Là một loại nghệ thuật có trình độ thẩm mĩ cao, TDG là cả một kho tàng

những cốt truyện, hình tượng có ý nghĩa điển hình, khái quát hoá những hiện tượng

của đời sống, những tính cách của con người.

TDG chứa đựng những hiện tượng của đời sống thực tại, những phong tục tập

quán ở xã thôn; phản ánh đời sống tình cảm, thế giới quan, tâm lí của nhân dân… và

còn chứa đựng cả một nguồn bất tận những niềm vui, những hân hoan thắng lợi của

chính nghĩa, của tình yêu thương con người, tình yêu quê hương, đất nước, lòng yêu

chuộng lẽ phải, đạo công bằng…

Tác phẩm TDG thuộc bất kì thể loại nào cũng có ý vị răn dạy, cũng thể hiện

tốt vai trò giáo dục. TDG lại có khả năng giáo dục những vấn đề lớn qua cách nói rất

phù hợp với các em nhỏ. Vì thế thưởng thức TDG là nhu cầu thiết yếu của HS lứa tuổi

nhỏ. Bằng những đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật, TDG lôi cuốn các em hứng thú

bước vào không khí của sự khích lệ, không khí của lòng vị tha rất đỗi thanh tao, vào

thế giới thuộc về những người lương thiện, thuộc về chính nghĩa. Quá trình say mê

thưởng thức TDG của trẻ cũng là quá trình TDG thực hiện vai trò giáo dục: đưa các

em đến với những bài học đạo đức, những tình cảm thẩm mĩ; giúp các em thấy được

cái hay, cái dở của cuộc sống để thêm tin yêu, hăng hái phấn đấu làm đẹp thêm cho

cuộc đời. Nhiều nhà văn hoá trên thế giới thường nói về những ấn tượng không quên

khi được nghe kể chuyện dân gian. Puskin đã từng thổ lổ: “Buổi tối, tôi nghe kể

chuyện cổ tích và lấy việc đó bù đắp những thiếu sót trong sự giáo dục đáng nguyền

rủa của mình. Mỗi truyện cổ tích ấy mới đẹp đẽ làm sao, mỗi truyện là một bài ca”. Đó

lànhững lí do giúp ta hiểu tại sao các nhà xuất bản phát hành hàng năm một lượng

TDG lớn để đáp ứng nhu cầu của người đọc và Nhà trường tiểu học đưa nhiều TDG

vào dạy trong các tiết KC.

Ở các tiết KC, nội dung của truyện và nghệ thuật người KC có tác dụng truyền

cảm tức thời. Nếu truyện có nội dung và nghệ thuật hấp dẫn, người KCDG nắm được

những yêu cầu chung của NTKCDG cho HS bậc Tiểu học thì tiết KC thành công.

Nhìn chung, các TDG được chọn để đưa vào Chương trình KC ở Tiểu học đều là

những truyện có nội dung tốt, có sức hấp dẫn, lôi cuốn, phù hợp với trình độ phát triển

mọi mặt của các em ở bậc Tiểu học. GV đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc bồi

dưỡng niềm yêu thích, niềm say mê của HS đối với TDG cũng như trong việc đưa

những giá trị giáo dục của TDG đến với HS trọn vẹn. GV chỉ thể hiện tốt vai trò quan

trọng ấy khi mà họ xem trọng đúng mức đến giá trị của TDG trong giáo dục và dạy

học; nghiên cứu những đặc trưng của TDG để suy nghĩ, sáng tạo về phương pháp và

kĩ thuật lên lớp cho từng tiết dạy TDG; không ngừng rèn luyện năng lực kể chuyện, có

ý thức tham khảo các tài liệu bàn về phương pháp luận dạy KC.

Tuy nhiên, phương pháp và kĩ thuật dạy học vốn là một lĩnh vực sinh động,

phong phú và luôn biến đổi, người GV không phải là cái máy tự động cài sẵn chương

trình. Vì thế, song song với việc nêu và phân tích những yêu cầu chung của NTKC cho

HS tiểu học, bàn về NTKCDG theo thể loại ở Tiểu học, Luận văn còn bàn đến những

đặc trưng của TDG về nội dung, nghệ thuật và những gợi ý trong việc xuất phát từ

những đặc trưng của TDG để suy nghĩ những cách thức dạy học mang lại hiệu quả cao

trong từng tiết KCDG với từng thể loại TDG cụ thể nhằm giúp GV có thể dễ dàng hơn

trong việc sáng tạo ra những cách thức lên lớp mang lại hiệu quả.

Những tồn tại trong việc KCDG ở Tiểu học có thể được khắc phục, các tiết

KC nói chung, các tiết KCDG nói riêng hoàn toàn có thể đạt được hiệu quả tối ưu. Bởi

GV nào cũng có thể đến với NTKCDG cho HS tiểu học khi họ có quyết tâm, có sự bồi

dưỡng và tự bồi dưỡng tiềm lực. Đó là trách nhiệm vẻ vang của người thầy đối với HS

của mình.

Nhìn chung, còn rất nhiều những vấn đề lí thú xoay quanh việc dạy KCDG

cho HS tiểu học chờ đợi những người quan tâm khám phá, nghiên cứu…

THƯ MỤC THAM KHẢO

 SÁCH GIÁO KHOA

1. Tiếng Việt 1 - NXB Giáo dục, 2002

2. Tiếng Việt 2 - NXB Giáo dục, 2003

3. Truyện đọc 3 - NXB Giáo dục, 2000

4. Truyện đọc 4 - NXB Giáo dục, 2000

5. Truyện đọc 5 - NXB Giáo dục, 2000

 SÁCH GIÁO VIÊN

Sách giáo viên Tiếng Việt 1 - NXB Giáo dục, 2002 6.

Sách giáo viên Tiếng Việt 2 - NXB Giáo dục, 2003 7.

Sách giáo viên Tiếng Việt 3 - NXB Giáo dục, 2002 8.

Sách giáo viên Tiếng Việt 4 - NXB Giáo dục, 2002 9.

10. Sách giáo viên Tiếng Việt 5 - NXB Giáo dục, 2002

 CHUYÊN LUẬN VÀ NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

11. Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học - Chu Huy - NXB Giáo dục,2002

12. Văn học dân gian: Những công trình nghiên cứu - Bùi Mạnh Nhị

(Chủ biên), Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp - NXB Giáo

dục,2003

13. Văn học dân gian (Tập 2) - Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên - NXB

Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, 1991

14. Văn học dân gian Việt Nam (Tập 1) - Đỗ Bình Trị - NXB Giáo dục,

1991

PHỤ LỤC

1- Chương trình truyện dân gian ở Trung học cơ sở:

Theo chương trình mới, các nhà biên soạn sách đã tuyển chọn và đưa vào môn

Ngữ văn của lớp 6 một số truyện tiêu biểu:

1. Con Rồng, cháu Tiên

2. Bánh chưng, bánh giầy (tự học có hướng dẫn)

3. Thánh Gióng

Sơn Tinh, Thủy Tinh 4.

Sự tích Hồ Gươm 5.

Sọ Dừa 6.

7. Thạch Sanh

8. Em bé thông minh

9. Cây bút thần

10. Ông lão đánh cá và con cá vàng

11. Ếch ngồi đáy giếng

12. Thầy bói xem voi

13. Đeo nhạc cho mèo (tự học có hướng dẫn)

14. Chân, tay, tai, mắt, miệng

15. Treo biển

16. Lợn cưới, áo mới

17. Con hổ có nghĩa

18. Mẹ hiền dạy con

19. Thầy thuốc giỏi nhất ở tấm lòng

Các truyện tiêu biểu nêu trên được đưa vào giảng dạy không chỉ phục vụ cho

mục đích giúp học sinh tiếp cận với nội dung, ý nghĩa của các thể loại TDG mà còn

nhằm phục vụ cho việc dạy Từ ngữ, Ngữ pháp, Tập làm văn thông qua các văn bản về

TDG. Ta thấy rõ điều này từ kết quả cần đạt của từng bài.

Bài 1: Văn bản: Con rồng cháu tiên

Bánh chưng, bánh giầy

Kết quả cần đạt:

Bước đầu nắm được định nghĩa truyền thuyết. Hiểu nội dung, ý nghĩa và

những chi tiết tưởng tượng kì ảo của truyện “Con Rồng, cháu Tiên” và “Bánh chưng,

bánh giầy” trong bài học. Kể được hai truyện này.

Nắm được định nghĩa về từ và ôn lại các kiểu cấu tạo từ của Tiếng Việt đã học

ở bậc Tiểu học.

Nắm được mục đích giao tiếp và các dạng thức của văn bản.

Bài 2: Văn bản: Thánh Gióng

Kết quả cần đạt:

Nắm được nội dung ý nghĩa và một số nét nghệ thuật tiêu biểu của truyện

“Thánh Gióng”. Kể lại được truyện này.

Hiểu được thế nào là từ mượn (đặc biệt là từ Hán Việt) và bước đầu biết cách

sử dụng từ mượn.

Nắm được những hiểu biết chung về văn tự sự.

Bài 3: Văn bản: Sơn Tinh, Thủy Tinh

Kết quả cần đạt:

Hiểu được nội dung, ý nghĩa, một số yếu tố nghệ thuật tiêu biểu của truyện

“Sơn Tinh, Thủy Tinh”. Kể lại được truyện.

Hiểu thế nào là nghĩa của từ và nắm được một số cách giải thích nghĩa của từ.

Nắm được vai trò và ý nghĩa của các yếu tố sự việc và nhân vật trong văn tự

sự, chỉ ra và vận dụng các yếu tố trên khi đọc hay kể một câu chuyện.

Bài 4: Văn bản: Sự tích Hồ Gươm

Kết quả cần đạt:

Hiểu được nội dung, ý nghĩa của truyện “Sự tích Hồ Gươm”, vẻ đẹp của một

số hình ảnh chính trong truyện và kể được truyện này.

Nắm được thế nào là chủ đề của bài văn tự sự, bố cục và yêu cầu của các phần

trong bài văn tự sự.

Bài 5: Văn bản: Sọ dừa

Kết quả cần đạt:

Bước đầu nắm được định nghĩa truyện cổ tích. Hiểu được nội dung, ý nghĩa

của truyện “Sọ dừa”, kể lại được truyện này.

Nhận biết được hiện tượng nhiều nghĩa của từ và nguyên nhân của hiện tượng

đó.

Nắm được đặc điểm của lời văn sự sự, biết viết các câu văn tự sự cơ bản.

Bài 6: Văn bản: Thạch Sanh

Kết quả cần đạt:

Hiểu được nội dung, ý nghĩa của truyện “Thạch Sanh” và một số đặc điểm tiêu

biểu của nhân vật người dũng sĩ trong truyện. Kể được truyện.

Có ý thức tránh mắc lỗi và biết chữa các lỗi: Lặp từ, lẫn lộn các từ gần âm.

Bài 7: Văn bản: Em bé thông minh

Kết quả cần đạt:

Hiểu được nội dung, ý nghĩa của truyện “Em bé thông minh” và một số đặc

điểm tiêu biểu của nhân vật thông minh trong truyện. Kể lại được truyện này.

Có ý thức tránh mắc lỗi và biết chữa lỗi về nghĩa của từ.

Hiểu được ngôi kể và vai trò của ngôi kể trong văn tự sự

Biết cách diễn đạt miệng một câu chuyện đời thường.

Bài 8: Văn bản: Cây bút thần

Kết quả cần đạt:

Hiểu nội dung, ý nghĩa của truyện cổ tích“Cây bút thần” và một số chi tiết

nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc trong truyện.

Củng cố và nâng cao một bước kiến thức về danh từ đã học ở bậc Tiểu học

Nắm được ngôi kể và vai trò của ngôi kể trong văn tự sự.

Bài 9: Văn bản: Ông lão đánh cá và con cá vàng

Kết quả cần đạt:

Hiểu được nội dung, ý nghĩa của truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng”.

Nắm được biện pháp nghệ thuật chủ đạo và một số chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, đặc

sắc trong truyện, kể lại được truyện này.

Nắm được các cánh kể chuyện theo một thứ tự nào đó.

Bài 10: Văn bản: Ếch ngồi đáy giếng

Thầy bói xem voi

Đeo nhạc cho mèo (tự học có hướng dẫn)

Kết quả cần đạt:

Bước đầu nắm được định nghĩa truyện ngụ ngôn. Hiểu được nội dung, ý nghĩa

và một số nét nghệ thuật đặc sắc của các những tình huống, hoàn cảnh thực tế thích

hợp.

Củng cố và nâng cao một bước kiến thức về danh từ đã học ở bậc Tiểu học.

Biết cách sử dụng kể miệng về một sự việc của bản thân.

Bài 11: Văn bản: Chân, tay, tai, mắt, miệng

Kết quả cần đạt:

Hiểu được nội dung, ý nghĩa của truyện “Chân, tay, tai, mắt, miệng”; biết ứng

dụng nội dung truyện vào thực tế đời sống.

Hiểu cụm danh từ là gì và nắm được cấu tạo của cụm danh từ

Nắm được yêu cầu của các bước trong việc xây dựng bài văn kể chuyện đời

thường.

Bài 12: Văn bản: Treo biển

Lợn cưới, áo mới

Kết quả cần đạt:

Bước đầu nắm được định nghĩa truyện cười. Hiểu được ý nghĩa của những

truyện trong bài học. Hiểu được nghệ thuật gây cười và kể được những truyện này.

Nắm được ý nghĩa và công dụng của số từ và lượng từ.

Nắm được đặc điểm và cách thức kể chuyện tưởng tượng.

Bài 13: Văn bản: Con hổ có nghĩa

Kết quả cần đạt:

Nhớ nội dung và hiểu được ý nghĩa của truyện “Con hổ có nghĩa”, qua đó hiểu

phần nào cách viết truyện cười trung đại.

Củng cố và nâng cao một bước kiến thức về động từ đã học ở bậc Tiểu học.

Hiểu cụm động từ là gì và nắm được cấu tạo của cụm động từ.

Bài 14: Văn bản: Mẹ hiền dạy con

Kết quả cần đạt:

Nhớ nội dung và hiểu được ý nghĩa của năm sự việc đã diễn ra giữa hai mẹ

con thầy Mạnh Tử. Hiểu cách viết gần với cách viết kí của truyện trung đại.

Củng cố và nâng cao một bước kiến thức và tính từ đã học ở bậc Tiểu học,

nắm được khái niệm cụm tính từ

Qua bài kiểm tra tổng hợp, chứng tỏ được những kiến thức, kĩ năng đã được

cung cấp, rèn luyện theo yêu cầu của môn Ngữ văn trong học kì I.

Bài 16: Văn bản: Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng

Kết quả cần đạt:

Nắm được nội dung và ý nghĩa của truyện “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm

lòng” ;thấy được tính hấp dẫn của truyện là ở chỗ đã đặt nhân vật vào tình huống gay

cấn để làm rõ bản chất, tính cách của nhân vật.

Biết sửa một số lỗi chính tả do đặc điểm phát âm của địa phương.

Biết kể miệng (tập nói) một cách rõ ràng, tự nhiên, diễn cảm, phù hợp với nội

dung câu chuyện và đủ to để cả lớp nghe.

Đưa các văn bản về TDG vào Chương trình của bậc Phổ thông cơ sở không

chỉ phục vụ cho việc dạy nội dung, ý nghĩa của TDG mà còn phục vụ cho việc giảng

dạy Từ ngữ, Ngữ pháp, Tập làm văn là một sáng suốt tuyệt vời của các Nhà biên soạn

sách giao khoa. Điều này vừa đảm bảo tính chất đồng tâm, tích hợp trong xây dựng

chương trình vừa tạo được hiệu quả trong dạy học các phân môn Từ ngữ, Ngữ pháp,

Tập làm văn, vừa đạt được hiệu quả trong giáo dục về đạo đức, lối sống cho học sinh

đồng thời lôi cuốn học sinh vào hoạt động học tập bởi sức hấp dẫn to lớn của TDG.

Như vậy, giá trị của TDG trong giáo dục và dạy học đã được các nhà biên soạn

Chương trình ở bậc Phổ thông cơ sở rất đề cao và xem trọng.

2- Chương trình truyện dân gian ở Phổ thông trung học:

Ở Phổ thông trung học, theo chương trình cũ, TDG đã được các nhà biên soạn

sách giáo khoa xem trọng, đưa vào giảng dạy trong môn Văn phần Văn học dân gian

của lớp 10. Ở phần này, học sinh được học những nội dung sau:

Bài 1: Đại cương về văn học dân gian

I- Văn học dân gian là những sáng tác văn học của quần chúng nhân dân.

II- Văn học dân gian là những sáng tác vô danh và truyền miệng.

III- Những đặc điểm về ngôn ngữ và phương pháp nghệ thuật của văn học

dân gian

IV- Những thể loại chính của văn học dân gian

Bài 2: Thần thoại và sử thi dân gian

THẦN THOẠI

I- Những đặc điểm thể loại của thần thoại

II- Những chủ đề chính của thần thoại các dân tộc Việt Nam

Giảng văn: Truyện “Quả bầu mẹ”

SỬ THI DÂN GIAN

I- Khái quát về sử thi dân gian

I- Sử thi anh hùng các dân tộc Tây Nguyên

Giảng văn: Chặt cây thần (trích “Bài ca chàng Đam san)

Bài 3: Truyện cổ tích.

I- Định nghĩa

II- Truyện cổ tích về loài vật

III- Truyện cổ tích thần kì

IV- Truyện cổ tích thế tục

Giảng văn: Truyện “Lấy vợ cóc”

Truyện “Làm theo lời vợ”

Bài 4: Ca dao - Dân ca

I- Định nghĩa

II- Ca dao - Dân ca và đời sống tư tưởng tình cảm của người bình dân

III- Nghệ thuật ca dao

Giảng văn: Những câu hát than thân

Những câu hát tình nghĩa

Đọc thêm: -Đẻ đất, đẻ nước

-Một số bài dân ca của các dân tộc ít người.

TDG được giảng dạy trong Nhà trường phổ thông trung học cụ thể là ở môn

Văn của lớp 10 đã giúp học sinh có cái nhìn khoa học vừa tổng quát vừa cụ thể về

TDG cũng như các thể loại của TDG. Phần này đã cung cấp cho học sinh những cơ sở

lí luận, những hiểu biết trong đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của TDG nói chung và

của từng thể loại TDG nói riêng. Điều đó có nghĩa là với yêu cầu về trình độ của bậc

Phổ thông trung học, HS không chỉ học TDG nhằm mục đích giải trí cũng không chỉ

nhằm rút ra những bài học, những kinh nghiệm cho bản thân mà còn tìm hiểu TDG với

tư cách của những người bước đầu nghiên cứu về TDG.

Nói như thế không phải là ta phủ nhận tác dụng giải trí và giáo dục đạo đức

của TDG đối với học sinh ở bậc Phổ thông trung học. Mà trái lại, ở bậc học này, HS

cần đạt đến một trình độ cao trong thưởng thức TDG. Bởi HS ở trình độ này có khả

năng bước đầu tiếp cận với việc nghiên cứu khoa học, kế thừa những thành tựu của các

nhà nghiên cứu TDG. Càng đi sâu nghiên cứu TDG các em càng thấy được nhiều cái

hay, cái đẹp để lại càng thêm say mê thưởng thức TDG và trân trọng những giá trị đạo

đức chứa đựng trong truyện mà ít nhiều đã ăn sâu vào tâm hồn, lối sống của bản thân.

3- Sách truyện dân gian của nhà xuất bản giáo dục

SÁCH TRUYỆN DÂN GIAN CỦA NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC 2003

SỐ

GIÁ

TÊN SÁCH

TÊN TÁC GIẢ

TT

BÌA

SÁCH MẪU GIÁO

SÁCH DÙNG CHO CÔ

Tuyển tập trò chơi, bài hát , thơ truyện Mẫu giáo 3

6.500 TRẦN THỊ TRỌNG

1

PHẠM THỊ SỬU

- 4T

Tuyển tập trò chơi, bài hát , thơ truyện Mẫu giáo 4

7.700 TRẦN THỊ TRỌNG

2

PHẠM THỊ SỬU

- 5T

Tuyển tập trò chơi, bài hát , thơ truyện Mẫu giáo 5

9.300 TRẦN THỊ TRỌNG

3

PHẠM THỊ SỬU

- 6T

Những truyện hay dành cho trẻ mẫu giáo

6.000 LÃ THỊ BẮC LÝ

4

Tuyển chọn truyện kể cho trẻ

6.000 ĐẶNG THU QUỲNH

5

PHẠM THỊ SỬU

Tuyển chọn truyện , thơ, câu đố mẫu giáo

5.000 ĐẶNG THU QUỲNH

6

SÁCH THIẾU NHI

Cây táo thần

2.400 THẨM VŨ CAN

7

Chồn con và chó săn

2.800 NGUYỄN NGUYỆT TÚ

8

Đôi bạn bê đi học

2.800 PHẠM HỔ

9

NGUYỄN V. CHƯƠNG

Ngựa con và gà con

2.700 PHẠM HỔ

10

Nhà rùa ở đâu?

2.500 LÊ BẠCH TUYẾT

11

Mười hai ông mặt trời

2.500 NG.T. VÂN LÂM

12

Bay trên đôi chân

2.400 HƯƠNG MAI

13

Gấu xù tinh ranh

2.800 NG.NGUYỆT TÚ

14

Học trò của cô giáo chim khách

2.800 NG.TIẾN CHIÊM

15

Thỏ gỗ một tai

2.800 CHU HUY

16

Danh tướng Phạm Ngũ Lão

3.000 HOÀNG LINH

17

Sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ

2.500 HOÀNG DÂN

18

Chuyện ông Trần Quốc Tuấn

3.000 CHU HUY

19

100 truyện cổ tích VN - Tập 1: Sự tích hồ Gươm

20.000 TÔ HOÀI

20

100 truyện cổ tích VN - Tập 2: Nợ như chúa chổm

18.400 TÔ HOÀI

21

100 truyện cổ tích VN - Tập 3: Bé thần đồng

21.000 TÔ HOÀI

22

100 truyện cổ tích VN - Tập 4: Cây tre trăm đốt

20.000 TÔ HOÀI

23

100 truyện cổ tích VN - Tập 5: Lọ nước thần

20.000 TÔ HOÀI

24

100 truyện cổ tích VN - Tập 6: Thạch Sanh

18.500 TÔ HOÀI

25

LÝ THU HÀ

100 truyện cổ tích VN - Tập 7: Chú Cuội

19.600 TÔ HOÀI

26

TẠ HUY LONG

100 truyện cổ tích VN - Tập 8: Truyện Nỏ Thần

18.500 TÔ HOÀI

27

TẠ HUY LONG

100 truyện cổ tích VN - Tập 9: Quan âm thị Kính

17.500 TÔ HOÀI

28

LÝ THU HÀ

100 truyện cổ tích VN - Tập 10: Thỏ và Hổ

17.400 TÔ HOÀI

29

PHẠM NGỌC TUẤN

Nhím con kết bạn

2.600 TRẦN T.NGỌC TRÂM

30

Vòng chuông bạc

2.800 NG.TIẾN CHIÊM

31

Vịt con và gà con

2.400 KIM CHI

32

Bác rùa tốt bụng

2.600 NG. ĐÌNH QUANG

33

Chuyện của đất và cây

2.000 VŨ KIM OANH

34

Em bé thông minh và tài trí

2.700 NG. THỊ VÂN LÂM

35

Đánh thức Ông mặt trời

3.200 BÙI HÀ MY

36

HUY TUẤN

Gấu con biết nhận lỗi

3.000 NG.TIẾN CHIÊM

37

Kể chuyện Bà Nguyên phi Ỷ Lan

2.700 CHU HUY

38

Kể chuyện Hai Bà Trưng

3.000 HOÀNG DÂN

39

NGÂN HÀ

Tại sao bác Gấu không ngủ?

3.000 THU QUỲNH

40

NG. QUANG VINH

Hội thi tài

3.000 LÊ BÍCH NGỌC

41

Bồ nâu và chim chích

1.800 VŨ TÚ NAM

42

THÁI HÙNG

Ve và Kiến

2.700 LÊ QUANG LONG

43

HUY TUẤN

Gấu mặc áo choàng trắng

2.700 NG. MINH HỒNG

44

Ba chàng dũng sĩ

2.400 KIM TUYẾN

45

Bảy sắc cầu vòng

2.400 HOÀNG THANH THỦY

46

Thỏ mẹ tìm con

2.700 BÙI HÀ MY

47

Hươu sao đua tài

2.400 NGUYỄN T.VÂN LÂM

48

Sự tích con dê

2.700 NGUYỄN V.CHƯƠNG

49

Sói vàng và bác sĩ gõ kiến

2.700 NGUYỄN TUYẾT

50

Thỏ xám và gà trống

2.700 NGUYỄN HỒNG LÊ

51

Sẻ con tìm bạn

3.500 ĐẶNG THU QUỲNH

52

Chiếc gương thần

2.400 THANH THÚY

53

THÁI HÙNG

Con trai thần mặt trời

2.400 NGUYỄN THU THỦY

54

Sự tích hoa Phượng

2.400 PHẠM HỔ

55

Mèo con có áo mới

2.800 THÚY QUỲNH

56

LÊ BÌNH

Con cáo và bình sữa

1.700 VŨ MINH HỒNG

57

Ngôi nhà tránh rét

3.500 LÊ THỊ ÁNH TUYẾT

58

Khi hươu vàng gặp nạn

2.600 HÀ PHƯƠNG

59

Vì sao lông nhím nhọn

2.800 THANH THÚY

60

Thỏ nâu làm vườn

2.200 BÍCH HỒNG

61

Chiếc mào gà trống

3.200 TRẦN T.NGỌC TRÂM

62

Bài học đầu tiên của gấu con

2.200 LÊ BẠCH TUYẾT

63

Giấc mơ kì lạ

2.000 NG. HỒNG THU

64

Cá bống kể chuyện

2.800 NGUYỄN THU THỦY

65

Ong bắt dế

2.500 VŨ TÚ NAM

66

Kiến và châu chấu

2.000 PHẠM THU HÀ

67

Châu chấu và Cú mèo

2.000 PHẠM THU HÀ

68

Tình bạn của hổ và trâu

4.200 NG. TIẾN CHIÊM

69

Hổ dữ mắc mưu nhái bén

3.500 NG. TIẾN CHIÊM

70

Tấm thảm bay

2.700 HOÀNG THANH THỦY

71

Chuột nhắt và bọ hung

2.500 NG. NGUYỆT TÚ

72

Gà choai và miu con

4.500 HOÀNG MINH CHÂU

73

Chiếc sừng hươu

3.200 NGUYỄN THU THỦY

74

Gà út đi kiếm mồi

2.000 NGÔ QUÂN MIỆN

75

Chuột láu nhanh trí

2.500 VŨ TÚ NAM

76

Trâu xám dũng cảm

2.500 TÔ HOÀI

77

Hổ con nghịch ngợm

2.500 TÔ HOÀI

78

Mèo con thông minh

2.500 TÔ HOÀI

79

Cha Rồng

2.500 VŨ TÚ NAM

80

Kể chuyện Rắn

2.500 VŨ TÚ NAM

81

Ngựa hồng

2.500 VŨ TÚ NAM

82

Dê con biết nhận lỗi

2.500 TÔ HOÀI

83

Khỉ bạc má

2.500 VŨ TÚ NAM

84

Gà út không vâng lời

2.500 TÔ HOÀI

85

Chó đốm tốt bụng

2.500 TÔ HOÀI

86

Lợn ủn ỉn cười

2.500 VŨ TÚ NAM

87

Bộ truyện tranh các ông Trạng VN - Trạng Huyền

1.800 TÔ HOÀI

88

Quang

Bộ truyện tranh các ông Trạng VN -Trạng Nguyễn

1.500 TÔ HOÀI

89

Hiền

Bộ truyện tranh các ông Trạng VN - Trạng Lợn

1.500 TÔ HOÀI

90

Bộ truyện tranh các ông trạng VN - Trạng ăn Lê

1.800 TÔ HOÀI

91

Như Hổ

Bộ truyện tranh các ông Trạng VN - Trạng Giáp

1.800 TÔ HOÀI

92

Hải

Bộ Truyện Tranh Các Ông Trạng VN - Trạng

1.500 TÔ HOÀI

93

Trình

Bộ truyện tranh các ông Trạng VN - Trạng Bùng

1.500 TÔ HOÀI

94

Bộ truyện tranh các ông Trạng VN - Trạng Lương

1.500 TÔ HOÀI

95

Thế Vinh

Bộ truyện tranh các ông Trạng VN - Trạng Quỳnh

1.500 TÔ HOÀI

96

Bộ truyện tranh các ông Trạng VN - Trạng Mạc

1.500 TÔ HOÀI

97

Đĩnh Chi

Bác gấu đen và hai chú thỏ

5.200 THU HƯƠNG

98

HỒ THỊ MINH

Tích Chu

5.200 THU HƯƠNG

99

HỒ THỊ MINH

5.200 THU HƯƠNG

100 Sự tích bánh chưng bánh giày

HỒ THỊ MINH

5.200 LÊ T. ÁNH TUYẾT (CB)

101 Chú dê đen

3.000 ĐẶNG THU QUỲNH

102 Chú sâu đo nhanh trí

5.400 NG. KHẮC THUẦN

103 Kể chuyện danh nhân nước nhà: Trần Hưng Đạo -

T1

SÁCH THAM KHẢO PHỔ THÔNG

11.600 NG.NGỌC KHÁNH

104 Bình giảng thơ ca, truyện dân gian (Tiểu học)

6.200 LÊ T. PHONG TUYẾT

105 Truyện cổ tích Pháp (bổ trợ môn kể chuyện Tiểu

(DỊCH)

học)

13.700 PHẠM THU YẾN

106 Truyện cổ thế giới về loài vật (bổ trợ môn kể

chuyện Tiểu học)

7.800 NG.MỘNG HƯNG

107 Truyện cổ thế giới về loài vật - Tập 1

SÁCH DÙNG CHO GIÁO VIÊN

8.500 CHU HUY

108 Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học

17.800 TRƯƠNG CHÍNH

109 Bình giảng ngụ ngôn VN

THAM KHẢO NÂNG CAO KIẾN THỨC

11.600 HOÀNG TIẾN TỰU

110 Bình giảng truyện dân gian

28.000 NGUYỄN VĂN DÂN

111 Thần thoại Hi Lạp

94.000 VIỆN VĂN HỌC

112 Tuyển tập văn học dân gian-T2/Q2: Truyện cổ

tích

9.200 NGUYỄN KIM LÂN

113 Truyện kể về thần đồng thế giới – T1

(BIÊN SOẠN)

6.600 NGUYỄN LÂN

114 100 mẩu chuyện cổ Đông Tây

Tìm hiểu danh mục sách cũng như sơ lược tìm hiểu nội dung, cách trình bày của

những sách thiếu nhi, sách tham khảo phổ thông tiểu học 2003 của Nhà xuất bản Giáo

dục (NXB Giáo dục) sẽ cho ta sự choáng ngợp bởi hình thức, cách trình bày đẹp mắt,

hấp dẫn, lôi cuốn của hệ thống các truyện tranh. Truyện tranh chiếm số lượng lớn nhất

trong các sách thiếu nhi của NXB đáp ứng nhu cầu thưởng thức rất lớn của thiếu nhi

đối với loại truyện này. Truyện tranh có lời dẫn truyện được viết ngắn gọn, bao gồm

một số truyện có nội dung là các TDG quen thuộc và một số truyện khác được viết

theo đặc điểm thi pháp của TDG. Tất cả các truyện tranh đều có chung đặc điểm là

cách trình bày đẹp mắt với nhiều tranh ảnh sinh động, màu sắc tươi đẹp chắp cánh cho

trí tưởng tượng của các em, lời dẫn truyện ngắn gọn giúp các em nắm được nội dung

chính để từ đó biết dùng ngôn ngữ của mình kể lại truyện.

NXB nổi bật bởi một hệ thống sách tham khảo rất tốt phục vụ cho việc học

TDG ở Nhà trường tiểu học. Những sách loại này góp phần đắc lực vào việc rèn luyện

kĩ năng kể chuyện cho các em, giúp các em học tiết KC có hiệu quả hơn. Thuộc loại

sách tham khảo của NXB Giáo dục có thể kể đến các sách phục vụ đắc lực cho việc

học môn KC của HS tiểu học có thể kể đến các sách như:

“Tập kể chuyện theo tranh 1, 2, 3, 4, 5” có tranh ảnh minh hoạ cho những tình

tiết cơ bản phù hợp với nội dung của truyện, lời dẫn truyện ngắn gọn giúp các em dễ

dàng nắm được nội dung của truyện, phần câu hỏi gợi ý có tác dụng định hướng nội

dung giúp các em rèn luyện óc suy luận, khắc sâu ý nghĩa của truyện.

“Bình giảng thơ ca – Truyện dân gian" của Vũ Ngọc Khánh. Sách này tốt cho

cả GV lẫn HS. Sách giúp người đọc hiểu thêm tinh thần, ý tứ và tình cảm trong các tác

phẩm văn học dân gian. Với sự trình bày sát với tính chất của văn học dân gian, sách

góp phần to lớn trong phát triển trí quan sát, óc tưởng tượng của trẻ.

Ngoài ra, HS có thể tham khảo thêm các sách như: “Truyện cổ tích Pháp”,

“Truyện cổ tích thế giới về loài vật” để bổ sung làm phong phú cho vốn TDG của bản

thân.

Với số lượng sách phong phú dành cho việc thưởng thức và học tập TDG,

NXB Giáo dục đã góp phần quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi để HS có

thể lựa chọn và tìm đọc những sách phù hợp với sở thích, đáp ứng nhu cầu giải trí

cũng như hỗ trợ cho việc học tốt TDG ở Nhà trường tiểu học.

4- Sách truyện dân gian của Nhà xuất bản Trẻ DANH MỤC SÁCH ĐANG PHÁT HÀNH CỦA NXB TRẺ 2003

SỐ GIÁ TÊN TÁC GIẢ

TÊN SÁCH

TT BÌA

BHSV - An DươngVương (TB) 4.200 Nguyễn Hoàng 1

BHSV - Dương Đình Nghệ 4.800 Nguyễn Hoàng 2

BHSV - Hồ Quý Ly 4.800 Nguyễn Văn Mùa 3

BHSV - Hai Bà Trưng (TB) 4.200 Nguyễn Hoàng 4

BHSV - Khúc Thừa Dụ (TB) 4.800 Nguyễn Hoàng 5

BHSV - Lạc Long Quân, Âu Cơ (TB) 4.200 Nguyễn Hoàng 6

BHSV - Lê Hoàn (TB) 4.800 Nguyễn Hoàng 7

BHSV - Lý Ông Trọng (TB) 4.200 Nguyễn Hoàng 8

BHSV - Lý Công Uẩn (TB) 4.800 Nguyễn Văn Mùa 9

BHSV - Lý Cao Tông (TB) 4.800 Nguyễn Văn Mùa 10

BHSV - Lý Nam Đế (TB) 4.800 Nguyễn Hoàng 11

BHSV - Lý Thánh Tông 4.800 Nguyễn Văn Mùa 12

BHSV - Lý Thường Kiệt 4.800 Nguyễn Văn Mùa 13

BHSV - Mạc Đĩnh Chi 4.800 Nguyễn Chương Tố 14

BHSV - Mai An Tiêm (TB) 4.200 Nguyễn Hoàng 15

BHSV - Mai Thúc Loan (TB) 4.800 Nguyễn Hoàng 16

BHSV - Ngô Quyền 4.800 Nguyễn Văn Mùa 17

BHSV - Nguyễn Trãi 4.800 Nguyễn Văn Mùa 18

BHSV - Phù Đổng Thiên Vương (TB) 4.200 Nguyễn Hoàng 19

BHSV - Phùng Hưng (TB) 4.800 Nguyễn Văn Mùa 20

BHSV - Sơn Tinh (TB) 4.800 Nguyễn Hoàng 21

BHSV - Trần Anh Tông 4.800 Nguyễn Văn Mùa 22

BHSV - Trần Thái Tông 4.800 Nguyễn Văn Mùa 23

BHSV - Trần Thánh Tông 4.800 Nguyễn Văn Mùa 24

BHSV - Trần Thủ Độ (TB) 4.800 Nguyễn Văn Mùa 25

BHSV - Triệu Quang Phục (TB) 4.800 Nguyễn Văn Mùa 26

BHSV - Triệu Thị Trinh 4.800 Nguyễn Văn Mùa 27

BTKC - Anh chàng mèo mướp 4.800 Nhật Tân-Quang Lân 28

BTKC - Bác gấu đen và hai chú thỏ (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 29

BTKC - Bạch Tuyết và Hồng Hoa 4.800 Tiểu Vi Thanh 30

BTKC - Ba cô gái (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 31

BTKC - Ba cô tiên (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 32

BTKC - Ba người bạn (TB) 4.000 Nhật Tân-Quang Lân 33

BTKC - Cáo, thỏ, gà trống (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 34

BTKC - Cô bé quàng khăn đỏ (4000) (TB) 4.000 Đức Long 35

BTKC - Cây khế (TB) 4.000 Nhật Tân-Quang Lân 36

BTKC - Cây táo thần (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 37

BTKC - Cây tre trăm đốt (4000) (TB) 4.000 Nhật Tân-Quang Lân 38

BTKC - Có một bầy hươu 4.800 Nhật Tân-Quang Lân 39

BTKC - Cóc kiện trời (TB) 4.000 Tiểu Vi Thanh 40

BTKC - Chàng rùa (TB) 4.000 Quốc Việt 41

BTKC - Chim gõ kiến và cây sồi 4.800 Quốc Việt - Phước Long 42

BTKC - Chú dê đen (TB) 4.000 Quốc Việt 43

BTKC - Chú mèo đi hia (TB) 4.200 Thu Khuê 44

BTKC - Chú thỏ nhút nhát (TB) 4.000 Nhật Tân-Quang Lân 45

BTKC - Chú thỏ tham lam (TB) 4.500 Nguyễn Việt Cường 46

BTKC - Chú thỏ tinh khôn 4.000 Quốc Việt - Duy Hiên 47

BTKC - Chú vịt xám 4.000 Nguyễn Hoàng 48

BTKC - Chuyện ông Gióng (TB) 4.000 Nhật Tân-Quang Lân 49

BTKC - Củ cải trắng (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 50

BTKC - Con chó đá 4.800 Dương Minh Hồng 51

BTKC - Con vỏi con voi (TB) 4.200 Nguyễn Hoàng 52

BTKC - Dê con nhanh trí (TB) 4.200 Nguyễn Hoàng 53

BTKC - Giọng hót chim sơn ca 4.800 Ng. Hoàng - Quốc Việt 54

BTKC - Hai anh em 4.000 Nguyễn Văn Mùa 55

BTKC - Mèo lại hoàn mèo 4.000 Nhật Tân - Quang Lân 56

BTKC - Những người bạn dễ thương 4.800 Thanh Hương 57

BTKC - Nhổ củ cải (TB) 4.000 Nhật Tân - Quang Lân 58

BTKC - Quả bầu tiên (TB) 4.000 Quốc Việt 59

BTKC - Quả táo của ai 4.000 Nhật Tân - Quang Lân 60

BTKC - Sơn tinh - Thủy tinh (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 61

BTKC - Sự tích bánh giầy bánh chưng (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 62

BTKC - Sự tích hồ Gươm (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 63

BTKC - Sự tích hoa hồng 4.800 Quốc Việt - Phước Long 64

BTKC - Sự tích hoa màu gà 4.000 Nguyễn Hoàng 65

BTKC - Tấm Cám (TB) 4.000 Nhật Tân - Quang Lân 66

BTKC - Thỏ và chồn hoa 4.500 Nguyễn Tứ 67

BTKC - Trái tim của khỉ 4.800 Tú Quỳnh 68

BTKC - Tích Chu (TB) 4.000 Nguyễn Hoàng 69

BTKC (12 - 36 tháng): Cây táo 6.000 Thiên Tường 70

BTKC (12 - 36 tháng): Con cáo 6.000 Đức Hạnh 71

CHTH - Ông lão bán dầu 4.800 Quốc Việt 72

CHTH - Anh thợ giày bình tranh 4.200 Nguyễn Chương Tố 73

CHTH - Cái đỉnh 4.800 Nguyễn Văn Mùa 74

CHTH - Can vua 4.800 Nguyễn Mùa Thiên Khôi 75

CHTH - Cha con tể tướng 4.800 Nguyễn Văn Mùa 76

CHTH - Chuyện A Lưu 4.800 Nguyễn Mùa Thiên Khôi 77

CHTH - Chuyện họ Trương bắt rắn 4.800 Nguyễn Văn Mùa 78

CHTH - Chuyện thầy trò Dương Chu 4.800 Nguyễn Văn Mùa Nguyễn 79

Tùng Khương

CHTH - Chuyện Tử Chương 4.800 Nguyễn Văn Mùa 80

CHTH - Chuyện vua Huệ Vương 4.200 Nguyễn Văn Mùa 81

CHTH - Mẹ Mạnh Tử dạy con 4.200 Quốc Việt-Tiểu Vi Thanh 82

CHTH - Mua giày 4.800 Nguyễn Văn Mùa 83

CHTH - Nồi đẻ ra nồi 4.800 Nguyễn Văn Mùa 84

CHTH - Rửa tai 4.800 Nguyễn Chương Tố 85

CHTH - Tìm dê 4.800 Nguyễn Văn Mùa 86

CHTH - Thua trận vì phần thịt dê 4.800 Nguyễn Văn Mùa 87

CHTH - Trâu đá đẻ vàng 4.800 Nguyễn Văn Mùa Nguyễn 88

Tùng Khương

CHTH - Trang Chu vay thóc 4.800 Nguyễn Chương Tố 89

CHTH - Tri kỉ 4.800 Nguyễn Mùa Thiên Khôi 90

CHTH - Vua Ai Công với Khổng Tử 4.800 Tiểu Vi Thanh 91

CHTH - Yến tử với vua Tề 4.800 Nguyễn Văn Mùa 92

CKBT - Ông Trạng nồi 4.000 Nhật Tân - Quang Lân 93

CKBT - Ông Trạng thả diều 4.000 Huy Khôi 94

CKBT - Chiếc rìu kim cương 4.000 Nhật Tân - Quang Lân 95

CKBT - Dùng mưu lại mắc mẹo 4.000 Nhật Tân - Quang Lân 96

CKBT - Gã cá sấu tham ăn 4.000 Nhật Tân - Quang Lân 97

CKBT - Mèo con không vâng lời 4.000 Huy Khôi 98

CKBT - Thần gỗ 4.000 Trí Đức 99

4.000 Nhật Tân - Quang Lân 100 CKBT - Thần sắt

4.000 Nhật Tân - Quang Lân 101 CKBT - Trí khôn của ta đây

4.800 Quốc Việt 102 NNBT - Đặt tên cho trâu

4.800 Quốc Việt 103 NNBT - Đom đóm tìm bạn

4.800 Quốc Việt 104 NNBT - Bà chủ với bê con

4.200 Quốc Việt - Tú Quỳnh 105 NNBT - Cá lóc nuôi con

4.800 Tú Quỳnh 106 NNBT - Chồn và rùa

4.800 Quốc Việt 107 NNBT - Cú mèo và sơn cà

4.800 Quốc Việt 108 NNBT - Con gấu và người chủ

4.800 Duy Hiên 109 NNBT - Con thỏ và người thợ săn

4.800 Ngọc Trinh 110 NNBT - Lời mời của cáo

4.800 Dương Minh Hồng 111 NNBT - Những người bạn của thỏ

4.800 Nguyễn Hoàng 112 NNBT - Ếch và ba ba

4.800 Quốc Việt - Văn Quang 113 NNBT - Sư tử và cáo

4.800 Quốc Việt 114 NNBT - Trê và cóc

4.800 Quốc Việt 115 NNBT - Vua tìm ngựa quý

4.800 Yến Khôi 116 NNBT - Lòng tin của thỏ

4.200 Duy Hiên 117 QVGK - Ông quan thanh bạch

4.800 Nguyễn Văn Mùa 118 QVGK - Đào giếng được người

4.800 Nguyễn Mùa Thiên Khôi 119 QVGK - Đức Khổng Tử

4.200 Nguyễn Mùa 120 QVGK - Bó đũa

4.200 Đức Hạnh 121 QVGK - Cái lưỡi

4.800 Quốc Việt - Văn Chương 122 QVGK - Chuyện ông Tử Lộ

4.200 Ng.Văn Mùa - Đức Hạnh 123 QVGK - Chuyện ông Sử Ngư

4.200 Ng.Văn Mùa - Phước Long 124 QVGK - Chuyện đôi giày

4.800 Nguyễn Văn Mùa 125 QVGK - Chuyện của Đề Oanh

4.800 Nguyễn Văn Mùa 126 QVGK - Chuyện Thôi Lượng

4.200 Mộng Lâm 127 QVGK - Hổ và chuột nhắt

4.800 Nguyễn Mùa 128 QVGK - Lê lai cứu chúa

4.800 Đức Hạnh 129 QVGK - Lòng thảo

4.200 Văn Chương 130 QVGK - Một quả cam

4.200 Ng.Văn Mùa - Đức Hạnh 131 QVGK - Tăng lữ làm thịt lợn

4.800 Chương Tố 132 THBT - Ông Chu Văn An

4.800 Nguyễn Văn Mùa 133 THBT - Cảnh công muốn sống mãi

4.800 Nguyễn Chương Tố 134 THBT - Mạnh Tử với vua Tề

Các truyện đang phát hành của Nhà xuất bản Trẻ (NXB Trẻ) có số lượng đồ

sộ, phần lớn là truyện tranh dân gian. Điều này giúp trẻ thuận lợi trong việc lựa truyện

phù hợp với nhu cầu thưởng thức của bản thân. Nét đặc biệt trong hệ thống truyện

tranh của NXB Trẻ là các truyện được chia theo chuyên mục rõ ràng. Ví dụ như: Bé

học lễ giáo, Mẹ kể bé nghe, Bé tập kể chuyện, Cổ học tinh hoa, chuyện kể bằng tranh,

ngụ ngôn bằng tranh, Quốc văn giao khoa toàn thư,Truyện hay bằng tranh… tên

chuyên mục được ghi trên trang bìa cùng với tên truyện. Truyện được phân theo nhiều

chuyên mục đã cho thấy sự phong phú của các truyện về nội dung, thể loại, đối tượng

phục vụ… Tất cả các truyện tranh của NXB Trẻ đều được trình bày trên giấy đẹp, hình

ảnh minh họa sinh động sát với nội dung.

5- Sách truyện dân gian của Nhà xuất bản Kim Đồng

DANH MỤC SÁCH TRUYỆN DÂN GIAN XUẤT BẢN THƯỜNG KÌ CỦA NXB KIM ĐỒNG2003

TÊN SÁCH

GIÁ BÌA

SỐ TT

Anh học trò và ba con quỷ 5.000 1

Âu Cơ và Lạc Long Quân 12.000 2

Ai dũng cảm nhất 1.500 3

Ai mạnh nhất 1.500 4

Ai màu xám nhất 1.500 5

Ai mua hành tôi 5.000 6

Ai nhanh nhất 1.500 7

Ai trèo giỏi nhất 1.500 8

Ba chú dê qua cầu 3.500 9

Ba chú gà con 3.000 10

Bạn bè 1.500 11

Bà Triệu 5.000 12

Bánh chưng, bánh giầy 5.000 13

Bí mật lâu đài cổ 4.000 14

Bộ áo quần nhà vua 6.500 15

Bức thư kì lạ 6.500 16

Cây khế 5.000 17

Cây tre trăm đốt 5.000 18

Cá rô ranh mãnh 2.500 19

Cái tết của mèo con 10.000 20

Chiếc áo tàng hình 5.000 21

Chiếc mũ rơm 6.500 22

Chiến công của bạch tuộc 5.500 23

Chú bé đánh trống 2.000 24

Chú dê con lông trắng 2.500 25

Chú lính chì dũng cảm 4.000 26

Chú lùn và nàng công chúa 2.500 27

Chú mèo khéo tay 1.500 28

Chú thỏ trên mặt trăng 3.000 29

Chuyện của chó con 3.200 30

Chuyện của mèo con 3.200 31

Chuyện của thỏ con 3.200 32

Cô bé choàng khăn đỏ 6.500 33

Cô trăng may áo 5.500 34

Con chim khách nhiệm mầu 5.000 35

Con chó con mèo và anh nghèo khổ 5.000 36

Con cóc là cậu ông trời 5.000 37

Con gì kêu meo meo 1.500 38

Cưỡi ngỗng mà về 4.000 39

Cứu vật trả ơn 5.000 40

Cuộc sống trong vườn thú 2.000 41

Gấu xám hay làm nũng 2.000 42

Gấu xám tập làm người lớn 2.000 43

Gấu xám thông minh 2.000 44

Gấu xám và mèo con 2.000 45

Gà con đi tìm nhà 2.500 46

Gà vịt kết bạn 2.500 47

Kể chuyện bé nghe 4.000 48

Lê Đại Hành 5.000 49

Mèo con câu cá 5.500 50

Một ngày phiêu lưu 1.500 51

Mụ Lường 5.000 52

Năm hủ vàng 5.000 53

Đàn thiên nga 4.500 54

Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn 5.000 55

Nàng tiên gạo 5.000 56

Ngôi đền giữa biển 5.000 57

Người đẹp ngủ trong rừng 6.500 58

Người đẹp và con quái vật 6.500 59

Nhổ củ cải 4.500 60

Những bạn lông xù 1.500 61

Những con thú nhỏ 2.000 62

Những người bạn nhỏ 1.500 63

Những người bạn rừng xanh 1.500 64

Nợ như chúa chổm 5.000 65

Quà cưới của chuột 5.500 66

Sinh nhật của cún con 5.500 67

Sự tích cây nêu ngày tết 5.000 68

Sọ dừa 5.000 69

Sự tích con cò lửa 4.000 70

Sự tích con dã tràng 5.000 71

Sự tích hồ Gươm 5.000 72

Sự tích lồng đèn đỏ 5.500 73

Sự tích núi Ngũ Hành 5.000 74

Sự tích tết Hàn Thực 5.500 75

Sự tích tết Đoan Ngọ 5.500 76

Sự tích trầu cau 5.000 77

Tấm Cám 5.000 78

Thạch Sanh 5.000 79

Thỏ và chồn 4.000 80

Tìm mẹ 5.000 81

Từ quả trứng tròn 5.000 82

Từ Thức gặp tiên 5.000 83

Trê cóc 9.000 84

Vì sao môi thỏ chẻ đôi 2.500 85

Viên đá thần 3.500 86

Viên ngọc ước 5.000 87

Voi con biết nghe lời 1.500 88

Voi con ngổ ngược 3.000 89

Vua heo 5.000 90

Xứ sở mùa đông 5.500 91

Lý Công Uẩn 20.000 92

Ngô Quyền 20.000 93

Nhà xuất bản Kim Đồng (NXB Kim Đồng) xứng đáng là NXB của thiếu nhi

bởi số lượng sách NXB phát hành phục vụ cho thiếu nhi rất lớn với đủ thể loại sách

bao gồm sách xuất bản thường kì và sách xuất bản định kì đáp ứng mọi nhu cầu

thưởng thức của thiếu nhi. Hệ thống truyện tranh của NXB được trình bày đẹp mắt,

bao gồm nhiều thể loại của TDG, chắc chắn sẽ góp phần quan trọng trong việc bồi

dưỡng niềm yêu thích của các em đối với TDG. Mặc dù trình bày đẹp mắt với nhiều

tranh ảnh, hình vẽ, có sức hấp dẫn lớn với các em thiếu nhi nhưng giá thành của truyện

không cao, dao động từ 1.500 đồng đến 12.000/truyện. Đây là điều kiện thuận lợi giúp

trẻ đến gần hơn với các TDG cũng như đến gần hơn với các bài học thông qua truyện.

Nhiều sách hay, trình bày đẹp, giá cả phù hợp đã cho thấy sự nổ lực của NXB

trong việc tạo môi trường bổ ích phục vụ cho nhu cầu giải trí học tập TDG của thiếu

nhi.