
TẠP CHÍ Y häc viÖt nam tẬP 477 - th¸ng 4 - sè 1 - 2019
35
bệnh nhân BTMT giai đoạn cuối TNT chu kỳ.
*Liên quan với albumin máu:
Chúng tôi nhận
thấy, nhóm bệnh nhân giảm albumin có nồng độ
hs-CRP trung bình cao hơn nhóm bệnh nhân
albumin máu không giảm có ý nghĩa thống kê
với p< 0,001 (6,50 ± 2,31mg/l so với 2,34 ±
2,04 mg/l). Đặc biệt tỷ lệ bệnh nhân có tăng
nồng độ CRP máu ở nhóm giảm albumin cao hơn
nhóm bệnh nhân albumin máu bình thường có ý
nghĩa, OR=13,39, p< 0,001. Kết quả này của
chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của
nhiều tác giả trong và ngoài nước. Nhiều nghiên
cứu đã khẳng định hậu quả của tình trạng viêm
mạn tính trong bệnh thận liên quan đến tình
trạng suy dinh dưỡng. Viêm và suy dinh dưỡng
thường hay đi cùng nhau, thúc đẩy nhau gây
tình trạng nặng hơn. Albumin cũng như các dấu
ấn dinh dưỡng khác như prealbumin và
transferrin là các protein pha cấp âm tính. Sự
tổng hợp các protein này giảm trong viêm, gây
ra giảm nồng độ albumin huyết thanh, một thay
đổi xảy ra độc lập với tình trạng dinh dưỡng. Ở
bệnh nhân TNT chu kỳ, giảm albumin máu liên
quan đến tổng hợp protein của gan không bù
đắp kịp còn có yếu tố khác tham gia vào như
tình trạng viêm. Và khi nồng độ albumin máu
giảm nhiều sẽ làm rối loạn tình trạng huyết
động, rối loạn tổng hợp và chuyển hóa lipid, rối
loạn chức năng nội mô làm tổn thương nội mạc
mạch máu, gia tăng tổng hợp các yếu tố viêm
trong đó có hs-CRP. Chúng tôi cũng thấy mối
tương quan nghịch có ý nghĩa giữa nồng độ
albumin và CRP máu, r= - 0,462 và p< 0,01.
V. KẾT LUẬN
+ Nồng độ hs-CRP huyết tương trung bình nhóm
bệnh nhân là 2,93 ± 2,53 mg/L. Có tới 36,9% bệnh
nhân tăng nồng độ hs-CRP huyết tương.
+ Nồng độ trung bình và tỷ lệ tăng hs-CRP
huyết tương ở nhóm bệnh nhân viêm thận bể
thận mạn tính; nhiễm virus viêm gan, giảm
albumin máu cao hơn có ý nghĩa so với nhóm
bệnh nhân không có đặc điểm trên, p< 0,01.
Nồng độ hs-CRP huyết tương tương quan nghịch
với nồng độ albumin máu, hệ số tương quan r=-
0,462, p< 0,01.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Thị Phương Liên (2011), "Nghiên cứu sự
biến đổi nồng độ Procalcitonin và protein phản ứng
c ở bệnh nhân suy thận mạn tính", Luận văn thạc
sĩ y học, Học viện Quân y, Hà nội.
2. Nguyễn Văn Tuấn (2015), "Nghiên cứu nồng độ
TGF beta1 và hs-CRP huyết thanh ở bệnh nhân bị
bệnh thận mạn", Luận án Tiến sỹ Y học, Trường
ĐH Y dược Huế.
3. Abraham G., Sundaram V., Sundaram V., et
al. (2009), "C-Reactive protein, a valuable
predictive marker in chronic kidney disease", Saudi
J Kidney Dis Transpl, 20(5), 811-5.
4. Babaei M., Dashti N., Lamei N., et al. (2014),
“Evaluation of plasma concentrations of
homocysteine, IL-6, TNF-alpha, hs-CRP, and total
antioxidant capacity in patients with end-stage
renal failure.” Acta Med Iran. 52(12):893-8.
5. Black S., Kushner I., Samols D. (2004), "C-
reactive Protein", J Biol Chem, 279(47), p. 48487-90.
6. Kooshki A., Samadipour E., Akbarzadeh R., et
al. (2015), “The association between serum C-
reactive protein and macronutrients and
antioxidants intake in hemodialysis patients.” J Med
Life. 8(Spec Iss 2):43-46.
7. Ortega O., Rodriguez I., Gallar P., et al.
(2002), "Significance of high C-reactive protein
levels in pre-dialysis patients", Nephrol Dial
Transplant, 17(6), 1105-9.
8. Ridker P.M. (2009), "C-reactive protein: eighty
years from discovery to emergence as a major risk
marker for cardiovascular disease", Clin Chem,
55(2), 209-15.
ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN GIỮA TUỔI VÀ THỜI GIAN MẮC BỆNH ĐẾN
BIẾN CHỨNG THẦN KINH NGOẠI VI DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP II
Nguyễn Văn Hướng1, Cao Thị Vân2
TÓM TẮT10
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên
quan giữa tuổi và thời gian mắc bệnh của bệnh nhân
đái tháo đường tuýp 2 (ĐTĐ2) có biến chứng thần
1Trường Đại học Y Hà nội
2Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nghệ An
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Văn Hướng
Email: vanhuong73@hotmail.com
Ngày nhận bài: 12.2.2019
Ngày phản biện khoa học: 22.3.2019
Ngày duyệt bài: 28.3.2019
kinh ngoại biên. Đối tượng và phương pháp:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm đánh giá mối liên
quan giữa tuổi và thời gian mắc bệnh đến biến chứng
thần kinh ngoại biên trên 179 bệnh nhân đái tháo
đường tuýp 2 tại Bệnh viện Đại học Y Hà nội. Kết
quả: Ở nhóm tuổi từ 80 trở lên tỷ lệ tổn thương sợi
nhỏ chiếm 73,9% cao hơn nhóm tuổi 70-79 (50%) và
nhóm tuổi 60-69 chiếm 58,9%. Tuy nhiên, không có ý
nghĩa thống kê với p>0,05. Không có ý nghĩa thống kê
theo nhóm tuổi ở nhóm tổn thương sợi lớn với p >
0,05. Ở nhóm mắc ĐTĐ trên 10 năm có tỷ lệ tổn
thương sợi nhỏ cao gấp 2,2 lần so với nhóm mắc ĐTĐ
dưới 5 năm. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với