
DANH NHÂN TRIẾT HỌC
Ludwig Josef Johann Wittgenstein (1889 - 1951) - "Cha
tinh thần" của triết học phân tích
L.Wittgenstein - nhà triết học người Áo, sau đổi sang quốc tịch Anh, là một trong
những triết gia đã để lại dấu ấn riêng trong thế kỷ XX, người đặt nền móng cho
“bước ngoặt ngôn ngữ” trong lịch sử triết học phương Tây hiện đại và giữ vai trò
đặc biệt trong triết học phân tích và triết học ngôn ngữ. Mỗi chuyển biến trong tư
tưởng của ông đều điển hình cho bước chuyển của chính các trào lưu triết học này.
Điều đó làm cho Wittgenstein trở thành tấm gương độc nhất vô nhị trong việc tự
vượt bỏ và phát triển tư tưởng của mình; và cũng lý giải – một phần – cho sức thu
hút của ông đối với các nhà triết học trong trào lưu phân tích nói riêng, các nhà
nghiên cứu hậu sinh nói chung.
L.Wittgenstein sinh ngày 26 tháng 4 năm 1889, tại Vienna, trong một gia đình
thượng lưu người Áo – cha là người đứng đầu ngành công nghiệp luyện thép của
đế quốc Áo - Hung, mẹ là một nghệ sĩ dương cầm có tiếng. Năm 1906,
Wittgenstein bắt đầu học ngành kỹ sư cơ khí ở Berlin; năm 1908, đến Manchester
tiếp tục theo học kỹ sư chuyên ngành hàng không. Tại đây, “ông bắt đầu chú ý đến
những nguyên tắc triết học của toán học mà ngành học của ông phải dựa vào. Một
người bạn cho ông mượn cuốn Những nguyên lý của toán học của B.Russell viết
năm 1903 và tác phẩm này đã đưa ông vào sự nghiệp nghiên cứu triết học”(1). Từ
những mô tả trong cuốn sách về những tư tưởng triết học và lôgíc học của Gottlob

Frege, Wittgenstein đã tìm đến Frege ở Jena (Đức). Theo lời khuyên của Frege,
ông quay lại Anh, đến Đại học Cambridge để theo học Russell. Rất nhanh chóng,
Russell – lúc đó đã là nhà triết học nổi tiếng – nhận ra và hết sức đề cao khả năng
của Wittgenstein trong lĩnh vực triết học: “Tôi chắc chắn sẽ khuyến khích anh ta.
Có lẽ anh ta sẽ làm nên những điều vĩ đại… Tôi rất mến anh ta và cảm thấy anh ta
sẽ giải quyết được những vấn đề mà tôi đã quá già để giải quyết”(2).
Trên thực tế, Wittgenstein không theo học triết học một cách có hệ thống. Thậm
chí, ông còn cố gắng để không chịu tác động của những nhà triết học đi trước (tác
phẩm lớn nhất của ông ở thời kỳ đầu - Chuyên luận lôgíc – triết học (Tractatus
Logico-Philosophicus) đã thể hiện rất rõ điều ấy). Nhưng người ta vẫn có thể nói
đến những tác gia - trong triết học và các lĩnh vực nhân văn khác - mà
Wittgenstein đã tiếp nhận ảnh hưởng: Frege, Russell, Schopenhauer, Kierkegaard,
Augustine, Dostoevsky, Tolstoi, Goethe, v.v..
Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Wittgenstein gia nhập quân đội
Áo – Hung. Năm 1918, ông bị quân Ý bắt làm tù binh. Trước đó, ông đã hoàn
thành Tractatus và đưa đến nhà xuất bản nhưng bị từ chối. Trong thời gian bị
giam, ông gửi tác phẩm cho Russell. Russell nhận thấy đây là một tác phẩm triết
học đặc biệt quan trọng và dưới sự giúp đỡ của ông, Tractatus đã được xuất bản
vào năm 1921, sau đó bản dịch tiếng Anh cũng được xuất bản vào năm 1922, với
lời giới thiệu của Russell.
Tractatus nhanh chóng trở nên nổi tiếng và cùng với nó là tên tuổi của tác giả.
Được coi là tác phẩm đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng của triết học
phân tích, Tractatus đã nêu ra và giải quyết hàng loạt vấn đề triết học quan trọng –
vấn đề quan hệ giữa thế gian và tư tưởng, vấn đề ngôn ngữ, vấn đề bản chất của
chính triết học, v.v.. Tác phẩm này của Wittgenstein được nhóm Vienna (với các
nhà triết học M.Schlick, G.Bergmann, R.Carnap, K.Godel, F.Waismann…) coi

như “kinh thánh” và bản thân ông thì được xem như một trong những triết gia lỗi
lạc đương thời.
Sau Tractatus, Wittgenstein từ bỏ triết học, vì tự cho rằng đã giải quyết triệt để tất
cả các “vấn nạn triết học” trong tác phẩm của mình. Trong khoảng thời gian từ
1919 (khi được trả tự do) đến 1929, ông không quay lại Cambridge mà về nước
Áo, làm nhiều nghề khác nhau: giáo viên tiểu học, người làm vườn. Sau đó, ông
tham gia thiết kế nhà cho người chị gái và trong thời gian ấy đã có những tác động
khiến ông thay đổi: ông gặp gỡ với những nhà triết học thuộc nhóm Vienna. Khi
tham gia tranh luận với họ, hứng thú triết học dần quay trở lại với Wittgenstein,
đồng thời với việc ông cảm thấy nhiều quan điểm của mình trước đây chưa đầy đủ
và việc giải quyết các “vấn nạn triết học” là chưa triệt để.
Năm 1929, Wittgenstein trở lại Cambridge với ý định thực hiện tiếp tục công việc
mà Tractatus chưa hoàn thành. Nhưng, rất nhanh sau đó, ông nhận thấy không
phải những giải pháp của Tractatus chưa triệt để, mà bản thân nó là sai lầm. “Khi
bắt đầu suy nghĩ lại về những vấn đề của Tractatus, Wittgenstein nhận ra mình
buộc phải đánh đổ càng nhiều càng tốt những giả định triết học của nó. Chỉ trong
vòng vài tháng [sau khi trở lại Cambridge], cái cấu trúc công phu của Tractatus đã
sụp đổ như toà nhà bằng giấy. Nhưng sự sụp đổ đó không làm cho Wittgenstein
rơi vào bi quan; ngược lại, dường như nó lại mở tung cửa cho những tư tưởng
hoàn toàn mới. Có lẽ, không có giai đoạn nào trong đời Wittgenstein mà những ý
tưởng đến với ông nhanh chóng và dồi dào đến thế. Khi từ bỏ những giả định
trong Tractatus, ông thể nghiệm hàng loạt những đường lối triết học khác
nhau”(3). Sau những thể nghiệm đó, Wittgenstein đi đến những quan niệm được
coi là đánh dấu bước ngoặt cho triết học của ông nói riêng, trào lưu triết học phân
tích nói chung. Những quan điểm ấy được thể hiện tập trung nhất trong Những
nghiên cứu triết học mà do nhiều nguyên nhân khác nhau, đã chỉ được xuất bản
sau khi ông qua đời.

Trên thực tế, Tractatus dường như là tác phẩm duy nhất được xuất bản khi
Wittgenstein còn sống. Nhưng không phải qua những tác phẩm mà tiếng tăm của
Wittgenstein được định hình: trở lại Cambridge, từ 1930 đến 1936, ông hướng dẫn
các buổi seminar của sinh viên; 1939, ông được cử giữ chức giáo sư đại học. Ông
hoạt động ở cương vị đó đến 1947, với một vài gián đoạn do Chiến tranh thế giới
thứ II (1941 – 1945). Sau 1947, ông từ chức giáo sư và sống ở nhiều nơi – Ai len,
Mỹ. Năm 1951, ông quay lại Cambridge và qua đời ở đó (ngày 29-4-1951). Trong
suốt thời gian này, Wittgenstein đã nổi tiếng với tư cách nhà triết học hàng đầu của
trào lưu phân tích. Các bài giảng và những cuộc tiếp xúc với các triết gia trong
giới đại học đã đưa ảnh hưởng của Wittgenstein lan rộng mà không có các tác
phẩm trực tiếp của ông. Chỉ đến năm 1953, Những nghiên cứu triết học mới được
xuất bản; sau đó hàng loạt các tác phẩm khác trong di sản tư tưởng đồ sộ của
Wittgenstein đã được công bố rộng rãi, góp phần khẳng định tầm quan trọng của
ông trong lịch sử triết học phương Tây hiện đại.
Các tác phẩm chính của Wittgenstein: ngoài Tractatus (1921) và Những nghiên
cứu triết học (1953), cho đến nay, đã có những tác phẩm quan trọng sau đây được
xuất bản:
Những nhận xét về nền tảng của toán học (1956); Sách xanh, Sách nâu (1958);
Nhật ký 1914 – 1916 (1961); Những nhận xét triết học (1964); Bài giảng và đàm
luận về mỹ học, tâm lý học và niềm tin tôn giáo (1966); Những nhận xét về nền
tảng của toán học (1967); Về tính xác tín (1969); Ngữ pháp triết học (1969);
Prototractatus (tiền Tractatus) (1971); Những nhận xét về màu sắc (1977); Những
nhận xét về triết học của tâm lý học (1980).
Những tư tưởng cơ bản của Wittgenstein
Quá trình phát triển tư tưởng của Wittgenstein thường được chia thành 2 thời kỳ,

thời sơ kỳ với Chuyên luận lôgíc – triết học (Tractatus) và thời hậu kỳ mà tiêu
biểu là Những nghiên cứu triết học.
1. Wittgenstein sơ kỳ và Tractatus
Tractatus là một tác phẩm triết học rất ngắn và có hình thức khác thường. Nó bao
gồm các lời phát biểu (các mệnh đề) được đánh số thứ tự theo một trật tự nghiêm
ngặt. Hình thức này đã làm cho tác phẩm, nhìn một cách tổng thể, có một cấu trúc
rất chặt chẽ. Nếu có thể ví như cái cây, thì Tractatus bao gồm 7 nhánh lớn – những
mệnh đề chính, được đánh số từ 1 đến 7; trên mỗi nhánh là những nhánh con –
những mệnh đề bổ sung cho các mệnh đề chính, được đánh số theo thứ tự 1.2, 1.3,
2.21, 2.211, v.v.. Chỉ riêng mệnh đề thứ 7 không có mệnh đề bổ sung. 7 mệnh đề
cơ bản của Tractatus như sau(4):
1. Thế giới là toàn bộ những gì là hoàn cảnh.
2. Cái là hoàn cảnh - sự kiện – là sự tồn tại của những trạng huống sự việc.
3. Một bức tranh lôgíc về những sự kiện là một tư tưởng.
4. Một tư tưởng là một mệnh đề với ý nghĩa.
5. Một mệnh đề là một hàm bảo thực của các mệnh đề sơ đẳng (Một mệnh đề sơ
đẳng là hàm bảo thực của chính nó).
6. Hình thức chung của một hàm bảo thực là [p, ợ, N(ợ)]. Đó là hình thức chung
của một mệnh đề.
7. Cái mà ta không nói lên được thì nên đưa nó vào im lặng.
Luận thuyết trung tâm trong tác phẩm là “luận thuyết mô phỏng về ý nghĩa”, thông
qua đó Wittgenstein trình bày quan điểm về mối quan hệ giữa thế giới (thực tại),
tư tưởng và ngôn ngữ. Diễn giải cụ thể về nội dung của luận thuyết này trong tác
phẩm, chúng tôi xin trích ra đây những phân tích của Anat Biletzki và Anat Matar
viết trong mục từ “Wittgenstein” của Bách khoa triết học Stanford online:

