
Đề cương Luật học so sánh (tham khảo)
Câu 1: Luật công và luật tư được phân biệt thế nào ở họ pháp luật La Mã-Đức?
Nguồn gốc của sự phân biệt? Tại sao họ pháp luật Anh-Mỹ lại không có sự phân
biệt như vậy? Khuynh hướng hiện nay của họ pháp luật này?
Trả lời:
Các nước thuộc họ pháp luật La Mã-Đức đều chia pháp luật thành hai ngành luật
cơ bản: luật công và luật tư.
- Luật công: giải quyết mối quan hệ giữa công dân và nhà nước và giữa các nhà
nước với nhau.
- Luật tư: giải quyết mối quan hệ giữa công dân và công dân.
Nguồn gốc của sự phân biệt:
- Xuất phát từ quan điểm của trường phái pháp luật Tự nhiên, mối quan hệ giữa
người bị cai trị và người bị cai trị phát sinh ra các vấn đề đặc biệt hơn so với quan
hệ giữa các tư nhân, quyền lực công cộng và quyền lợi tư nhân không giống nhau.
- Để bảo vệ quyền lợi cá nhân và hạn chế quyền lực nhà nước, cần đặt ra 2 ngành
luật công và tư, ở luật tư nhà nước sẽ giữ vai trò trọng tài, còn luạt công thì nhà
nước bắt buộc phải tuân thủ pháp luật.
Họ pháp luật Anh-Mỹ không phân biệt luật công và tư vì:
- Các quyền lợi công và tư được xác lập qua quyền lợi về tài sản, nhưng ở Anh
không có sự phân biệt sở hữu tài sản của cơ quan công và tư nhân như châu Âu lục
địa.
- Có một hệ thống toà án riêng xem xét các hoạt động lập pháp, hành pháp và các
tranh chấp tư, nên không có sự phân biệt quyền lực công cộng và tư nhân như châu
Âu.
- Dễ dàng cho việc tổng hợp các bản án.

Xu hướng hiện nay của Common Law:
- Xích lại gần Civil Law nhưng không hoà đồng.
- Pháp điển hoá pháp luật, ban hành nhiều đạo luật thành văn.
- Cải cách hệ thống toà án.
Câu 2: Phân tích nguồn gốc ra đời, đặc điểm của chế định trust:
* Nguồn gốc:
- Chế định trust (uỷ thác) là đóng góp lớn nhất của equity đối với hệ thống pháp
luật Anh. Trust là một nghĩa vụ dựa trên một người là trustee (người được uỷ thác)
được người chủ sở hữu pháp lý của tài sản giao cho quyền quản lý sử dụng tài sản
vì lợi ích của một người khác (beneficiary) hoặc vì một mục đích xác định.
- Chế định uỷ thác ra đời vào giai đoạn giữa thế kỷ 12 và 13, người sở hữu đất phải
thực hiện nhiều nghĩa vụ như nộp địa tô hay nộp thuế cho nhà nước, hoặc ở vào
hoàn cảnh không thể thực hiện nghĩa vụ đó như đi viễn chinh... Trong trường hợp
đó, anh ta sẽ viết giấy sang tên mảnh đất cho một người khác( người được uỷ thác)
để họ thay mặt mình quản lý mảnh đất với điều kiện: Phần đẩt sẽ trả lại cho chủ sở
hữu ngat khi anh ta trở về và bên được uỷ thác phải chu cấp cho bên uỷ thác hoặc
bên thụ hưởng một phần hoa lợi từ đất. Trên thực tế, bên được uỷ thác sẽ không trả
lại mảnh đất vì khi đã sang tên thì chủ sở hữu củ sẽ mất quyền sở hữu đối với
mảnh đất đó, việc trả lại hay không là tuỳ vào lương tâm của họ. Những người chủ
kém may mắn đó thường đệ đơn lên nhà vua, nhà vua lại chuyển sang cho đại pháp
quan giải quyết. Đại pháp quan cho rằng việc người được uỷ thác phủ nhận quyền
đòi lại đất của người uỷ thác là trái với lương tâm và lẽ công bằng (equity), và ra
quyết định cưỡng chế thi hành buộc bên được uỷ thác thực hiện cam kết của mình
trong hợp đồng uỷ thác. Sau này, người ta tập hợp phán quyết của pháp quan và
xây dựng các quy phạm pháp luật làm nền tảng cho chế định trust.
* Đặc điểm:
- Chia tách quyền sở hữu và quyền hưởng dụng tài sản.
- Các thành tố của trust:
+ An equitable obligation (nghĩa vụ uỷ thác).

+ A trustee (ngưòi được uỷ thác)
+ Trust property (tài sản uỷ thác)
+ Beneficiary (người hưởng dụng).
Câu 3: Những đặc điểm của hệ thống tư pháp các nước theo truyền thống Civil
Law:
Trả lời: Các đặc điểm của hệ thống tư pháp các nước theo truyền thông civil law:
- Có một hệ thống toà án đơn nhất, độc lập, tổ chức chặt chẽ từ trung ương lên địa
phương.
- Sự hiện diện của Toà án Hiến pháp thực hiện chức năng kiểm hiến.
- Số lượng toà chuyên trách nhiều. vd: toà hành chính, toà hình sự, toà dân sự, hôn
nhân, toà kinh tế...
- Phân cấp xét xử chặt chẽ.
- Thường có 3 hệ thống toà án: toà hiến pháp, toà hành chính, toà tư pháp.
Câu 4: Những hạn chế của pháp điển hoá ở các nước thuộc họ pháp luật La Mã-
Đức.
Trả lời: Hạn chế:
- Giới hạn vai trò của các trường đại học trong lý giải luật thực định.
- Bỏ qua các qui tắc ứng xử xã hội mang tính siêu quốc gia (?) (chỉ quan tâm đến
pháp luật nước mình mà không coi trọng nghiên cứu pháp luật nước ngoài).
- Làm xuất hiện trường phái thực chứng pháp lý, quá đề cao vai trò của luật thành
văn mà coi nhẹ tập quán và tiền lệ pháp.
Câu 5: Các qui tắc thứ cấp ở các nước thuộc họ pháp luật La Mã-Đức:
Công pháp:

- Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.
- Bảo vệ quyền công dân và quyền con người.
- Cơ quan tư pháp độc lập.
Tư pháp:
- Tự do thoả thuận ý chí giữa các chủ thể.
- Bình đẳng giữa các chủ thể.
- Thiện chí trung thực.
- Tôn trọng đạo đức, truyền thống cộng đồng.
- Không xâm phạm lợi ích chủ thể khác.Câu 1: Luật so sánh là gì? Phân tích các
đối tượng của luật so sánh.
Trả lời:
- Luật so sánh là một môn khoa học pháp lý tổng quát sử dụng phương pháp so
sánh làm trọng yếu để các vấn đề pháp luật thuộc các hệt thống pháp luật khác
nhau, nghiên cứu hệ thống pháp luật các nước một cách riêng biệt, và nghiên cứu
việc sử dụng cũng như hiệu quả của phương pháp so sánh pháp luật.
- Các đối tượng của luật so sánh:
+ Pháp luật nước ngoài: Do mỗi nước, mỗi khu vực có nền tảng kinh tế-xã hội-lịch
sử rất khác nhau dẫn đến mỗi hệ thống pháp luật ở các nước đều có sự khác biệt
lơn. Pháp luật nước ngoài là đối tượng nghiên cứu quan trọng của luật so sánh,
nhằm rút ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật các nước.
+ Phương pháp so sánh: Phương pháp chủ yếu được dùng để nghiên cứu luật so
sánh, có nhiều mức độ so sánh để rút ra các giải pháp cho luật thực định.
Câu 6:So sánh vĩ mô và so sánh vi mô là gì? Chúng có gì khác nhau và có mối liên
hệ với nhau như thế nào?

Trả lời:
- So sánh vĩ mô: so sánh các hệ thống pháp luật về tinh thần, phong cách, tư duy
pháp lý, thủ tục...Cụ thể là thủ tục pháp lý, kỹ thuật lập pháp, giải thích pháp luật,
quan điểm về tư pháp, cách thức giải quyết xung đột...
- So sánh vi mô: So sánh các vấn đề pháp lý cụ thể và các giải pháp giải quyết
chúng, ví dụ như chế định hợp đồng, nghĩa vụ...
Như vậy so sánh vĩ mô là so sánh cái chung của các hệ thống pháp luật, so sánh vi
mô là đi vào cái riêng cụ thể. Trên thực tế, hai phương pháp này luôn được áp dụng
cùng lúc, so sánh vĩ mô sẽ tạo tiền đề để so sánh vi mô được hiệu quả.
Câu 7: Nêu và phân tích các yêu cầu của phương pháp so sánh chức năng. Phương
pháp luận chủ yếu của phương pháp này là gì và tại sao?
Trả lời: Các yêu cầu của phương pháp so sánh chức năng :
- xuất phát từ bản thân hệ thống pháp luật nước ngoài; phải phát hiện ra và tập
trung vào các chức năng; phân tích các giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội
phát sinh;
- phải chú ý tới tất cả các loại nguồn của pháp luật theo quan niệm của hệ thống
pháp luật đang nghiên cứu,
- phải am hiểu ngành khoa học có liên quan.
Phương pháp luận của phương pháp này là (vấn đề chức năng) các chế định pháp
luật nẩy sinh từ nhu cầu điều chỉnh xã hội, nên cách giải quyết chúng sẽ có những
điểm khác nhau tuỳ theo từng hệ thống pháp luật. So sánh về chức năng sẽ có hiệu
quả vì các chế định tuy có tên gọi và cách diễn đạt khác nhau vẫn có một mẫu số
chung là chức năng làm mốc để so sánh. Khi so sánh cần chú ý đến nguồn của hệ
thống pháp luật. Phương pháp này đòi hỏi hiểu biết sâu rộng về các hệ thống pháp
luật và các khoa học liên quan.
Câu 4: Nêu và phân tích chức năng và mục đích của luật so sánh? Luật so sánh có
ý nghĩa như thế nào với Việt Nam hiện nay?
Trả lời:

