BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Nguyễn Thị Thanh Phƣơng

DIÔN X¦íNG ¢M NH¹C CHÌO GIAI §O¹N 1951 §ÕN 2013 -

TRUYÒN THèNG Vµ BIÕN §æI

Chuyên ngành: Văn hóa dân gian

M s : 62 22 01 30

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Hà Nội - 2015

Công trình đƣợc hoàn thành tại:

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. PHẠM LÊ HÒA

Phản biện 1: GS. TS Nguyễn Xuân Kính

Viện Nghiên cứu Văn hóa

Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Bích Hà

Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội

Phản biện 3: PGS. TS Nguyễn Thị Hiền

Viện Văn hóa Nghệ thuật Qu c gia Việt Nam

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện,

họp tại Viện Văn hoá Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam

Số 32 Hào Nam, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội

Vào hồi ...... giờ ...... ngày ...... tháng ..... năm .............

Có thể tìm đọc luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Viện Văn hoá Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Là một thành tố trong di sản văn hoá dân gian Việt Nam,

trong quá trình hình thành và phát triển, chèo cổ truyền đã tích tụ,

sản sinh và lưu truyền cho hậu thế nhiều tích diễn, nhiều mảnh trò,

và nhiều vở chèo, đặc biệt là kho tàng âm nhạc với gần 200 làn

điệu có giá trị về nghệ thuật.

Với bề dày trên nửa thế kỷ hoạt động của nghệ thuật chèo

đương đại, những vở chèo mới liên tục ra đời trong sự câu thúc

chung của sự nghiệp phát triển văn hoá nghệ thuật, và hơn hết là

nhu cầu phục vụ đời sống tinh thần của công chúng, phục vụ cách

mạng. Trong quá trình ấy, bên cạnh những thành công trong nhiều

vở chèo, thì có những lúc, những thời điểm diễn xướng âm nhạc đã

thoát ly khỏi gốc rễ văn hóa chèo bởi sự cách tân quá đà, đẩy chèo

sang một hình thức sân khấu khác. Bên cạnh đó, lại có những vở

diễn sử dụng nhiều làn điệu chèo cổ truyền, mà vẫn đem lại sự cảm

nhận không phải là vở chèo đích thực. Có thể nói, trong sự tích

hợp văn hóa nửa cuối thế kỷ XX đến nay, những thay đổi từ bối

cảnh xã hội, môi trường diễn xướng, chính sách văn hóa, chủ thể

sáng tác, sự tác động từ các hình thái kinh tế, nghệ thuật của thời

kỳ đổi mới, hội nhập, toàn cầu hóa, hình thức tổ chức, và năng lực

của đơn vị nghệ thuật (năng lực quản lý của lãnh đạo, năng lực về

chuyên môn, nghiệp vụ của diễn viên, nhạc công...) cùng nhu cầu

khán giả là những tác động cơ bản tạo nên sự biến đổi của nghệ

thuật chèo, trong đó có diễn xướng âm nhạc.

2

Mặc dù âm nhạc chèo đương đại đã được giới nghiên cứu

chèo bàn đến, nhưng đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên

cứu khoa học chuyên biệt nào về vấn đề diễn xướng âm nhạc chèo,

để thấy rõ sự biến đổi của nó từ loại hình sân khấu dân gian sang

sân khấu chuyên nghiệp. Sự biến đổi ấy diễn ra như thế nào, những

yếu tố văn hóa dân gian làm nên đặc trưng cơ bản của âm nhạc

chèo còn giữ được hay đang giảm dần trong chèo đương đại?. Đây

là vấn đề khoa học dường như bị lãng quên, chưa được giới nghiên

cứu chèo quan tâm, lý giải, và nó trở thành lý do để nghiên cứu

sinh tiếp tục nghiên cứu trong đề tài Diễn xướng âm nhạc chèo

giai đoạn 1951 đến 2013 - truyền thống và biến đổi, tạo nên tính

mới của luận án.

2. Mục đích nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu tổng quát: Nghiên cứu diễn

xướng âm nhạc chèo giai đoạn 1951 – 2013 để xem nó có đáp

ứng nhu cầu thẩm mỹ của khán giả đương đại không, yếu tố dân

gian trong diễn xướng âm nhạc chèo được giữ nguyên hoặc tăng

lên hay giảm đi, trong những vở chèo mới thành công thì việc

diễn xướng âm nhạc diễn ra như thế nào? Nếu không giữ được

những đặc trưng cơ bản, thì âm nhạc sẽ góp phần chuyển hóa

chèo sang một hình thức sân khấu chuyên nghiệp khác.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở văn hóa dân gian

của nghệ thuật chèo nói chung, diễn xướng âm nhạc chèo nói riêng.

Phân tích hiện tượng biến đổi của diễn xướng âm nhạc xuất

phát từ thực tiễn phát triển của nghệ thuật chèo, phản ánh quy luật kế

3

thừa và phát triển của văn hóa nghệ thuật. Khảo sát, nghiên cứu mối

quan hệ giữa âm nhạc và kịch bản chèo đương đại, để thấy sự gắn kết

giữa các thành tố nghệ thuật đồng cấu tạo - một đặc điểm thể hiện

tính chỉnh thể nguyên hợp của văn hóa dân gian vẫn còn nguyên giá

trị khi xem xét, đánh giá hiện tượng biến đổi của nghệ thuật chèo.

3. Đ i tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về diễn xướng làn điệu,

nhạc không lời trong chèo giai đoạn 1951 đến 2013 - truyền thống

và biến đổi. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu bao gồm nội dung diễn

xướng và cách thức diễn xướng. Do đó, nó vừa có tính đặc thù của

chuyên ngành nghệ thuật chèo, vừa có xu hướng rộng mở trong

toàn ngành sân khấu và âm nhạc.

- Phạm vi nghiên cứu: Các khảo sát chủ yếu dựa trên thực tế

liên hoan, hội diễn sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc, chỉ

nghiên cứu các vở diễn trên sân khấu chèo chuyên nghiệp, không đề

cập đến sân khấu chèo không chuyên.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp tiếp cận hệ thống hay quan điểm hệ thống

4.2. Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian

4.3. Các phương pháp thu thập và xử lý thông tin thứ cấp

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tà

5.1. Giả thuyết khoa học

Diễn xướng âm nhạc đã biến đổi trong quá trình kế thừa và

biến đổi chung của nghệ thuật chèo. Nếu không giữ được yếu tố

4

dân gian - đặc trưng của chèo cổ truyền, âm nhạc sẽ góp phần làm

giảm chất chèo trong những vở diễn, thậm chí đẩy nghệ thuật chèo

sang một hình thức sân khấu mới.

5.2. Ý nghĩa về mặt khoa học

- Góp phần hệ thống những vấn đề lý luận về âm nhạc chèo.

- Đây là hướng nghiên cứu mới, và sẽ được xác định trong

đề tài nghiên cứu Diễn xướng âm nhạc chèo giai đoạn 1951 đến

2013 - truyền thống và biến đổi.

5.3. Ý nghĩa về mặt thực tiễn

- Làm tài liệu phục vụ công tác học tập, nghiên cứu cho học

sinh, sinh viên, học viên và diễn viên, nhạc công các đơn vị nghệ

thuật, các trường nghệ thuật có đào tạo bộ môn chèo chèo.

- Luận án đề xuất hướng phát triển âm nhạc chèo trong bối

cảnh hiện nay.

6. Kết cấu luận án

Ngoài phần Mở đầu (6 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu

tham khảo (11 trang) và Phụ lục (22 trang), nội dung luận án gồm

ba chương.

Chƣơng 1: Tính diễn xướng dân gian của nghệ thuật chèo,

cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu âm nhạc chèo (41 trang)

Chƣơng 2: Biến đổi trong diễn xướng âm nhạc chèo đương

đại (44 trang)

Chƣơng 3: Những vấn đề đặt ra và một vài khuyến nghị qua

trường hợp nghiên cứu đề tài luận án (32trang).

5

Chƣơng 1 TÍNH DIỄN XƢỚNG DÂN GIAN CỦA NGHỆ THUẬT

CHÈO, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ÂM NHẠC CHÈO

1.1. Nghệ thuật chèo trong văn hóa dân gian

Có nhiều cách hiểu về văn hóa dân gian (Folklore). Theo

GS. Đinh Gia Khánh: “ba thành tố chủ yếu của văn hóa dân gian là

nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian và ngữ

văn dân gian. Tất nhiên, lại còn một số thành tố thứ yếu, phụ trợ”

[51, tr.854].

Nghệ thuật chèo chính là một thành tố góp phần tạo nên diện

mạo chung của “Văn hoá dân gian” theo nghĩa rộng. Theo nghĩa

hẹp, thì bản thân nghệ thuật chèo cổ truyền đã mang trong mình đủ

đầy những thành tố của “Văn hóa dân gian”.

1.1.1. Văn chương trong kịch bản chèo cổ truyền

Thuộc thể loại sân khấu tự sự, kể chuyện, chèo cổ truyền đã

khai thác cốt truyện của văn học dân gian. Trong quá trình phát

triển, còn du nhập cả tích truyện nước ngoài. Từ chỗ chỉ mang

tính tự sự đơn thuần, chèo cổ đã thu nhận thêm yếu tố trữ tình,

hiện thực, có giá trị phản ánh cuộc sống và mang tính khuyến

giáo đạo đức. Chèo dung nạp hầu hết các thể thơ ca dân gian: các

thể thơ lục bát (cùng các biến thể) thơ thất ngôn, thất ngôn bát cú,

song thất lục bát, thơ bốn chữ thường gặp trong các thể loại ca

hát dân gian như hát quan họ, hát nói, hát ví, ca trù, hát xẩm, hát

đúm…

6

1.1.2. Yếu tố của tạo hình dân gian trong chèo cổ truyền

“Tạo hình dân gian” trong nghệ thuật chèo cổ truyền không

chỉ dừng lại ở vai trò trang trí, màu sắc phục trang, hoá trang, hay

sử dụng đạo cụ, mà cao hơn thế, nghệ thuật tạo hình dân gian đã

ảnh hưởng đến nghệ thuật biểu diễn, mang tính triết học.

1.1.3. Ảnh hưởng của nghệ thuật diễn xướng dân gian vào

chèo

Trong các công trình nghiên cứu về nghệ thuật chèo, hầu hết

các tác giả thống nhất quan điểm: chèo bắt nguồn từ trò nhại (thế

kỷ thứ X) và được sinh ra từ những lễ hội làng xã. Tuy nhiên, chỉ

những trò diễn chứa đựng một nội dung, ý nghĩa nào đó đối với

con người, có tính thẩm mỹ mới được tích hợp vào chèo.

Về nghệ thuật ca hát: làn điệu chèo cổ truyền mang âm

hưởng của dân ca cổ truyền Bắc Bộ, đó là các loại hát nói đậm đặc

chất tự sự: hát cửa đình, hát giặm ( Hà Nam), hát đúm, hát ví, các

kiểu ngâm thơ sa mạc, bồng mạc. Hiện tượng hỗn dung giữa ca

múa dân gian vào tích diễn trong chèo để lại dấu vết trong nhiều

điệu hát, lời ca bắt nguồn từ xoan, ghẹo, hát quan họ, chầu văn,

hát Huế. Điệu thức chèo là điệu thức ngũ cung, thường gặp trong

các thể loại ca hát dân gian người Việt. Đó là các cung: huỳnh,

nao, pha, Bắc, Nam.

Múa chèo được cho là bắt nguồn từ múa dân gian Việt Nam.

Từ những động tác có nguồn gốc dân vũ, múa chèo cũng tiếp nhận

thêm những yếu tố ngoại sinh, sáng tạo và cách điệu hoá, mỹ lệ

hoá nên những hệ thống động tác với đặc điểm nổi trội là uyển

7

chuyển, ước lệ và cách điệu, luôn có mối quan hệ gắn bó và chi

phối lẫn nhau, góp phần làm nên giá trị thẩm mỹ chèo. Múa chèo

được phân thành những loại sau: Múa hành động; Múa tính cách;

Múa minh hoạ; Múa dư hứng; Múa trang trí…

1.2. Cơ sở lý thuyết sử dụng trong đề tài luận án

1.2.1. Khái niệm truyền thống và biến đổi

Một: Về khái niệm“truyền thống”

- “Truyền thống là thói quen hình thành đã lâu trong lối sống

và nếp nghĩ, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.”[142,

tr.1053].

Một cách định nghĩa rõ hơn về truyền thống:

Quá trình chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác

những yếu tố xã hội và văn hóa, những tư tưởng, chuẩn

mực xã hội, phong tục, tập quán, lễ nghi... và được duy

trì trong các tầng lớp xã hội và giai cấp trong một thời gian dài…[44, tr.630].

Với nội hàm của cả hai cách định nghĩa trên, danh xưng chèo

cổ, chèo cổ truyền, hay chèo truyền thống, chèo sân đình (theo

cách gọi chưa thống nhất hiện nay) trong chừng mực nào đó, có

điểm chung là: đều dùng để chỉ nghệ thuật chèo vốn có từ xưa và

được truyền lại.

Sử dụng thuật ngữ “truyền thống” ở tên đề tài luận án này,

chúng tôi muốn nói về âm nhạc chèo đã có từ xa xưa, được tiếp nối

đến hiện nay. Trong “truyền thống” mặc nhiên đã có sự biến đổi do

nhu cầu khách quan của nghệ thuật chèo trên con đường phát triển.

8

Nhưng tựu trung, nó vẫn là sản phẩm của văn hóa dân gian, khác với

chèo hiện đại cũng có sự kế thừa từ truyền thống, song đã chuyển đổi

từ loại hình sân khấu dân gian sang sân khấu chuyên nghiệp.

Hai: Khái niệm và lý thuyết biến đổi văn hóa trong nghiên

cứu diễn xướng âm nhạc chèo

Biến đổi: là thay đổi thành khác trước [142, tr. 64]. Theo

PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm: “Thuyết Truyền bá văn hóa

(đại diện là G.Elliot Smith 1911, W.River 1914,...) cho rằng vấn

đề mấu chốt của biến đổi văn hóa là sự vay mượn hoặc sự truyền

bá của các đặc trưng văn hóa từ xã hội này sang xã hội khác”,

Thuyết Vùng văn hóa (đại diện là C.L. Wissler 1923, A.L.Kroeber

1925,...) đưa ra các khái niệm cơ bản về vùng văn hóa, loại hình

văn hóa, trung tâm văn hóa, tổ hợp văn hóa, sự biến đổi văn hóa

diễn ra rất đa chiều và nhiều cấp độ tùy thuộc vào việc cộng đồng

đó là trung tâm hay ngoại vi hay vùng chuyển tiếp, môi trường và

sự chuyên môn hóa của cộng đồng đó là gì? Thuyết Tiếp biến văn

hóa (đại diện là Redfiel 1934, Broom 1954,...) chỉ ra sự biến đổi

văn hóa trong bối cảnh những xã hội phương Tây và ngoài phương

Tây đã trải qua mối quan hệ lâu dài, đặc biệt là sự ảnh hưởng của

những xã hội có ưu thế đối với người dân bản địa [18, tr.10].

Trong nghiên cứu diễn xướng âm nhạc chèo, thuyết biến đổi

văn hóa và thuyết vùng văn hóa giúp giải thích những vấn đề cốt

lõi của tiến trình vận động và biến đổi của nghệ thuật chèo nói

chung, diễn xướng âm nhạc chèo nói riêng Có thể nói, giao lưu,

tiếp biến văn hóa đã ảnh hưởng trực tiếp đến phương cách sáng

tác, hoạt động biểu diễn (do tiếp thu và ảnh hưởng từ các nghệ

9

thuật khác du nhập vào Việt Nam). Quy luật trung tâm và ngoại vi

là động lực thúc đẩy việc phải làm mới chèo (để phản ánh đa diện

các khía cạnh của cuộc sống và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ sản

phẩm văn hóa của công chúng đương đại).

Trở lại với thuật ngữ Biến đổi sử dụng trong nghiên cứu diễn

xướng âm nhạc chèo, có thể hiểu đó là những thay đổi hết sức lớn,

mà không chỉ là sự kế thừa và đưa vào những nhân tố mới.

1.2.2. Diễn xướng âm nhạc chèo

“Diễn xướng là một phương thức, một cách trình bày sáng

tác dân gian. Diễn xướng là có diễn (phô động tác, hành động),

có xướng (sử dụng lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu). Đây là đặc tính

của nhiều sáng tác Folklore nếu không chú ý, không thể tiếp thu

các sáng tác ấy một cách đầy đủ ở hai mặt trí tuệ và thẩm mỹ...”

[53, tr.365].

Khái niệm Diễn xướng âm nhạc chèo chúng tôi sử dụng

trong đề tài luận án được hiểu là: nội dung và cách thức diễn

xướng làn điệu, nhạc không lời (hát và diễn tấu dàn nhạc) qua sự thể hiện của diễn viên, nhạc công trong vở diễn sân khấu chèo. Khái niệm này như một thuật ngữ mới, trong chừng mực nhất

định, nó gần với khái niệm âm nhạc sân khấu chèo, đặc biệt là

chèo cổ truyền, bởi tính chất “hát - múa - diễn” nhằm khu biệt với

âm nhạc chèo đã tách khỏi môi trường vở diễn sân khấu, trở thành

những tác phẩm trình diễn độc lập.

1.2.3. Làn điệu và sự chuyển hóa mô hình làn điệu chèo

1.2.4. Những phương tiện biểu hiện trong làn điệu chèo

10

1.2.5. Một số khái niệm mới trong diễn xướng âm nhạc

chèo đương đại

1.3. Diễn xƣớng âm nhạc chèo cổ truyền

1.3.1. Hát, Múa, Diễn - đặc trưng của diễn xướng âm nhạc

chèo cổ truyền

Diễn xướng âm nhạc chèo là một tổng thể phức hợp gồm

nhiều khía cạnh như hát, nhạc đệm, múa, diễn xuất (kèm theo đạo

cụ, trang phục). Chẳng hạn khi diễn xướng làn điệu Bình thảo

(Thị Mầu lên chùa), nhân vật Thị Mầu vừa hát vừa múa như cơn

lốc xoay quanh nhân vật Thị Kính, vừa diễn hành vi trêu ghẹo

tiểu Kính…

1.3.2. Vai trò, cách thức diễn tấu của dàn nhạc (nhạc cụ)

trong diễn xướng âm nhạc chèo cổ truyền

Dàn nhạc chèo không chỉ đệm cho các làn điệu hát mà còn

có chức năng biểu hiện đa dạng nhằm đáp ứng các tình huống sân

khấu. Đây chính là điểm khác biệt giữa dàn nhạc thuần tuý chỉ

đệm cho hát và dàn nhạc sân khấu chèo. Ngẫu hứng, ứng tấu dựa

trên mô hình làn điệu là một thủ pháp trong phong cách diễn tấu

của dàn nhạc chèo cổ truyền.

1.4. Tổng quan nghiên cứu âm nhạc chèo

1.4.1. Những công trình viết về nghệ thuật chèo đề cập đến

âm nhạc

Từ những hoạt động thực tiễn như tiếp cận trò diễn, vở diễn,

tiếp cận nghệ nhân chèo, các tác giả tìm hiểu, mô tả, trích dẫn các

hệ thống làn điệu, các lối hát, lối nói, lời ca.... để thấy vai trò, chức

11

năng, cách thức và hiệu quả sử dụng nó trong nghệ thuật chèo. Nổi

bật trong hướng nghiên cứu này có các tác giả: Hà Văn Cầu, Vũ

Huy Chấn, Vũ Khắc Khoan, Trần Việt Ngữ, Trần Bảng,Trần Đình

Ngôn,Tào Mạt, Tất Thắng.

1.4.2. Những công trình nghiên cứu chuyên sâu về âm

nhạc chèo

Nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc chèo có các tác giả: Tô

Vũ, Hoàng Kiều, Bùi Đức Hạnh, Đôn Truyền, Nguyễn Thị Nhung,

Trần Vinh, Nguyễn Thị Thanh Phương. Ngoài ra, những bài viết

về âm nhạc trong các hội nghị, hội thảo của các nhạc sĩ Nguyễn

Văn Tý, Nguyễn Đình Tấn, Ngọc Chung, Hoàng Kiều, Bùi Đức

Hạnh, Bùi Đình Thảo, Văn Thịnh, Trần Vinh... tuy có khác nhau,

song tựu chung đều là những suy nghĩ, trăn trở trước thực trạng

bảo lưu và phát triển âm nhạc chèo.

Tiểu kết

Nghiên cứu cơ sở văn hóa dân gian với các khái niệm, lý

thuyết áp dụng trong nghiên cứu diễn xướng âm nhạc chèo cổ

truyền là việc làm quan thiết, giúp nghiên cứu sinh tiếp cận vấn đề

nghiên cứu mạch lạc, khoa học. Bên cạnh đó, nghiên cứu diễn

xướng âm nhạc trong chèo cổ truyền sẽ là cơ sở để đối sánh với

diễn xướng âm nhạc chèo đương đại, từ đó nhận diện sự biến đổi

của diễn xướng âm nhạc chèo trong quá trình phát triển.

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu âm nhạc chèo, có thể

khẳng định về cơ bản, những vấn đề lý luận của nghệ thuật chèo cổ

truyền, trong đó bao gồm cả âm nhạc đã được xác lập. Tuy vậy,

12

nghiên cứu diễn xướng âm nhạc chèo, cho đến thời điểm hiện tại

vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào tiếp cận,

minh định vấn đề này. Nghiên cứu sinh hy vọng đề tài Diễn xướng

âm nhạc chèo giai đoạn 1951 đến 2013 - truyền thống và biến đổi

sẽ lý giải những vấn đề khoa học chưa được đề cập, và đó chính là

tính mới của luận án, là tâm huyết của nghiên cứu sinh, góp phần

định hướng phát triển diễn xướng âm nhạc chèo trong bối cảnh văn

hóa hiện nay.

Chƣơng 2

BIẾN ĐỔI TRONG DIỄN XƢỚNG ÂM NHẠC

CHÈO ĐƢƠNG ĐẠI

2.1. Những cách thức diễn xướng âm nhạc chèo đương đại

Diễn xướng âm nhạc chèo giai đoạn 1951-1953, tựu trung được

thể hiện chủ yếu trong 5 cách thức sáng tạo sau:

Thứ nhất: Viết lời mới lồng vào điệu cũ (còn gọi là bình cũ

rượu mới).

Thứ hai: iao hưởng hóa nhạc chèo.

Thứ ba: Sáng tác âm nhạc chèo theo hướng ca kịch.

Thứ tư: Cách tân đồng bộ trên cơ sở ca hát truyền thống.

Thứ năm: Dung hoà.

Tuy nhiên, những cách thức sáng tạo âm nhạc kể trên không

phải là đại diện duy nhất của chèo mỗi thời kỳ, mà vẫn có sự đan

xen (ít hay nhiều) giữa chúng với nhau.

2.2. Sự kế thừa chèo cổ truyền trong làn điệu chèo đương đại

2.2.1. Làn điệu trong chèo cổ truyền

13

Qua nghiên cứu, làn điệu chèo cổ truyền có những đặc trưng

cơ bản sau:

Một là: Sáng tác theo phương thức tập thể, truyền miệng,

chủ yếu có nguồn gốc từ ca dao, dân ca châu thổ Bắc Bộ. Trong

quá trình phát triển, đã tiếp nhận các thể thơ chữ Nôm, chữ Hán.

Làn điệu chèo cổ truyền thuộc loại hình thơ phổ nhạc.

Hai là: Làn điệu chèo cổ truyền được được sáng tạo theo

phương thức bẻ làn, nắn điệu (xử lý, ứng dụng và chuyển hóa mô

hình nhạc chèo).

Ba là: Hệ thống mô hình làn điệu chèo cổ truyền có mối

quan hệ tương tác với hệ thống nhân vật, đáp ứng tính sân khấu.

B n là: Nói chèo là lối nói có giai điệu, dễ bắt vần sang hát

(gồm các thể loại nói sử, ngâm, vỉa...).

Năm là: Làn điệu chèo cổ truyền có tiết tấu đặc trưng, có

cấu trúc theo lối phân trổ. Ngoài ra, còn bắt gặp dạng kết cấu liên

khúc như Tú Bà đánh Kiều (chèo Kiều) hay Hề trong vở Từ Thức.

Các dạng cấu trúc thường gặp trong âm nhạc chèo cổ truyền là:

Cấu trúc của liên khúc thƣờng là : Vỉa + hát + vỉa + hát + vỉa + hát.

Cấu trúc của một làn điệu thƣờng ở hai kiểu nhƣ sau:

a) (Vỉa) Trổ mở đầu + trổ thân bài + trổ nhắc lại + trổ kết.

b) Trổ thân bài + trổ nhắc lại 1 + trổ nhắc lại 2 + nhắc lại 3...

2.2.2. Làn điệu chèo đương đại: Kế thừa phương thức sáng

tác của chèo cổ truyền: sáng tạo tập thể và kế thừa phương thức bẻ

làn, nắn điệu (ứng dụng, xử lý, chuyển hóa mô hình làn điệu chèo)

của chèo cổ truyền.

14

2.3. Sự biến đổi trong làn điệu chèo đƣơng đại

2.3.1. Phương thức sáng tác chuyên nghiệp thay thế

phương thức sáng tác dân gian mang tính tập thể, khuyết danh,

truyền miệng

2.3.2. Những thay đổi trong làn điệu chèo đương đại

Thứ nhất: Về cấu trúc làn điệu chèo đương đại

Thứ hai: Về cách phổ thơ

Thứ ba: Sử dụng thang âm, điệu thức và bổ sung loại nhịp

mới vào âm nhạc chèo đương đại

Thứ tư: Thủ pháp phối bè trong chèo đương đại

2.4. Biến đổi về hát trong diễn xướng âm nhạc chèo

đương đại

Thứ nhất: Hát theo làn điệu chèo cổ truyền (lồng điệu nhưng

rút gọn cấu trúc).

Thứ hai: Hát theo cách bẻ làn, nắn điệu (chuyển hóa mô

hình làn điệu).

Thứ ba: Hát các làn điệu sáng tác mới.

Thứ tư: Sự biến đổi của hát đồng ca trong chèo hiện đại.

2.5. Biến đổi của nhạc không lời trong diễn xƣớng chèo

đƣơng đại

Trong chèo cổ truyền, khái niệm “nhạc không lời” chưa

được xác lập (vì thực chất vẫn chỉ mang ý nghĩa là giai điệu hoá

âm hình tiết tấu của lưu không, xuyên tâm). Nhạc không lời

15

trong chèo đương đại góp phần mô tả tâm trạng nhân vật, phác

hoạ cảnh trí, tình huống, và có lúc là linh hồn của vai diễn, giúp

người xem cộng cảm với những nỗi niềm sâu kín, những sắc

thái vui, buồn… “Nhạc không lời” phải thoát ly được vai trò

làm “nền” để đạt hiệu quả sân khấu.

Tiểu kết

Trong tiến trình phát triển của văn hóa, xã hội Việt Nam

nửa cuối thế kỷ XX đến nay, nghệ thuật chèo nói chung, diễn

xướng âm nhạc chèo nói riêng đã có nhiều biến đổi, thậm chí

xuất hiện những hình thức mới làm thay đổi diện mạo của nghệ

thuật này. Bên cạnh việc kế thừa truyền thống, diễn xướng âm

nhạc chèo đã có nhiều biến đổi, đã xuất hiện những yếu tố mới

trong âm nhạc.

Người xưa đã sáng tạo chèo theo một chu trình mở, có nghĩa

là đã xem công việc đồng sáng tạo, tính ngẫu hứng, ứng diễn và tính

tập thể, truyền miệng như là những thủ pháp nghệ thuật trong diễn

xướng âm nhạc chèo. Chèo ngày nay được sáng tạo theo chu trình

khép kín mang tính chuyên nghiệp. Từ kịch bản, âm nhạc, mỹ thuật,

múa và đạo diễn đều do từng cá nhân chịu trách nhiệm. Mặc dù

phương thức dân gian đã được phát huy tối đa trong diễn xướng âm

nhạc, song phải thừa nhận rằng phương thức sáng tác chuyên

nghiệp, cá thể hóa, văn bản hóa đã làm yếu tố dân gian giảm dần,

tính ngẫu hứng, ứng diễn mờ nhạt và dường như khó phát huy trong

diễn xướng âm nhạc chèo đương đại.

16

Chƣơng3

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT VÀI KHUYẾN NGHỊ

QUA TRƢỜNG HỢP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

3.1. Những vấn đề đặt ra

Qua diễn xướng âm nhạc chèo giai đoạn 1951 đến 2013,

nhiều yếu tố mới đã nẩy sinh trong quá trình phát triển. Có yếu tố

thuận theo những đặc trưng qui phạm của nghệ thuật chèo truyền

thống, được giới chèo chấp nhận và khích lệ. Nhưng cũng có nhiều

yếu tố du nhập thủ pháp của những dòng âm nhạc khác trở nên xa

lạ với thẩm mỹ chèo, không được công chúng yêu chèo chấp nhận

(âm nhạc trong hướng làm chèo cải biên và giao hưởng hóa nhạc

chèo). Vấn đề quan thiết đặt ra cho những người làm nghệ thuật

chèo hiện nay chính là: làm sao giữ gìn được bản sắc văn hóa

chèo, và đáp ứng nhu cầu thưởng thức của công chúng yêu chèo.

Để thực hiện tốt điều đó, về diễn xướng âm nhạc chèo, theo chúng

tôi, cần quan tâm những vấn đề sau:

Một là: Tạo dựng mối quan hệ gắn kết giữa các thành tố nghệ

thuật đồng cấu tạo trong diễn xướng âm nhạc chèo đương đại

Mối quan hệ hữu cơ giữa kịch bản, âm nhạc và các thành tố

đồng cấu tạo thể hiện đặc tính cơ bản của văn hóa dân gian (tính

tổng thể nguyên hợp) giữ vai trò quan trọng trong sáng tạo vở diễn

chèo (qua phân tích diễn xướng âm nhạc trong lớp trò “chôn sống

hề già). Đặc tính này được minh định qua những cách thức sáng

tạo âm nhạc chèo đương đại. Ví như trong cách thức làm ca kịch

mới, những ca khúc mới không có ý thức kế thừa truyền thống về

17

âm nhạc, được phối âm, phối khí một mặt đã tạo nên sự tương

thích giữa các thành tố nghệ thuật trong vở diễn, nhưng mặt khác,

đã góp phần biến đổi chèo sang hình thức sân khấu khác.

Hai là: Minh định hiện tượng kịch cắm ca dưới góc nhìn

diễn xướng âm nhạc chèo cổ truyền

Hiện tượng “kịch cắm ca” không phải bây giờ mới được

bàn luận, mà đã được giới chèo đề cập từ thập kỷ 50 - 60 (thế kỷ

XX). Tuy nhiên, giải thích hiện tượng này từ góc nhìn diễn

xướng âm nhạc chèo, với những đặc tính nguyên hợp của văn hóa

dân gian, trong đó mối quan hệ hữu cơ giữa các thành tố đồng

cấu tạo và đặc biệt là mối quan hệ giữa kịch bản và âm nhạc chèo

thì hầu như chưa có tác giả nào nghiên cứu. Theo chúng tôi, khái

niệm “kịch cắm ca” được hiểu là: sự đối nghịch về bản chất của

âm nhạc chèo cổ truyền với cách viết, cách tư duy, dàn dựng vở

diễn theo kiểu kịch nói. Tuy nhiên, chúng tôi phân biệt những vở

chèo có tiếp thu một vài yếu tố kịch xuất phát từ đề tài mới, nội

dung mới (đòi hỏi phải có hình thức biểu hiện tương thích) khác

với “kịch cắm ca”. Việc tiếp thu một số yếu tố của kịch nói cũng

là chuyện bình thường trong sự giao thoa giữa nghệ thuật này với

nghệ thuật khác để chèo gần gũi hơn với cuộc sống văn hóa

đương đại.

Qua phân tích diễn xướng âm nhạc chèo cổ truyền, đối sánh

với “kịch cắm ca”, (lớp trò Súy Vân giả dại), chúng tôi nhận thấy:

Thứ nhất: Âm nhạc trong chèo cổ truyền là hình thức diễn

xướng âm nhạc (thể hiện sự kết hợp các thành tố hát - múa - diễn).

18

Đặc trưng hát - múa - diễn tạo nên sự gắn bó hữu cơ, hòa vào

nhau để làm nên chỉnh thể chèo, mà “kịch cắm ca” không phát huy

được tính ba trong một đó của nghệ thuật biểu diễn chèo truyền

thống, bởi đề tài phản ánh, phương thức sáng tác, cách dàn dựng

và nghệ thuật biểu diễn của diễn viên đã theo ngôn ngữ của nghệ

thuật kịch nói.

Thứ hai: Diễn xướng âm nhạc chèo nằm trong môi trường

vở diễn chèo cổ truyền.

Một trong những thủ pháp của chèo cổ truyền là kể chuyện

bằng diễn xướng âm nhạc thông qua nghệ thuật biểu diễn của diễn

viên, nhạc công.

Nói chèo là lối nói có thanh điệu, hoàn toàn khác với ngôn

ngữ đối thoại của kịch nói. Thể loại hát nói (ngâm, vỉa, nói sử...)

chính là hình thức bắc cầu từ nói sang hát. Vì vậy, những vở diễn

sử dụng ngôn ngữ đối thoại của kịch nói, không qua giai đoạn

chuẩn bị (bắc cầu) mà vào thẳng làn điệu chèo cổ truyền, sao tránh

khỏi sự hụt hẫng, đột ngột, tạo cho người thưởng thức cảm giác

kịch cắm ca.Trong khi đó, với những vở chèo mà kịch bản được

soạn theo lối nói thơ, văn biền ngẫu của chèo, thì các làn, điệu đều

có sự chuẩn bị thanh điệu từ nói bắt sang hát, đem lại cảm giác hòa

quyện, ngọt ngào, hoàn toàn không có cảm giác “kịch cắm ca”.Vì

vậy, khi chuyển thể kịch bản kịch nói sang chèo, nhất thiết phải

được viết dưới dạng kịch bản văn học chèo.

Nghiên cứu hiện tượng “kịch cắm ca” từ góc nhìn diễn

xướng âm nhạc chèo cổ truyền, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến

những đặc trưng cơ bản đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa

19

chèo, đến mối quan hệ hữu cơ giữa kịch bản, âm nhạc và các thành

tố đồng cấu tạo giữ vai trò quan trọng trong sáng tạo vở diễn nói

chung, diễn xướng âm nhạc chèo đương đại nói riêng.

3.2. Một vài khuyến nghị

3.2.1. Về việc sáng tạo làn điệu, nhạc không lời cho diễn

xướng âm nhạc chèo đương đại

Diễn xướng âm nhạc là một trong những phương tiện “kể

chuyện” của chèo. Vì vậy, mỗi vở chèo mới ra đời đều cần có sự

sáng tạo về âm nhạc nhằm đáp ứng nhu cầu vở diễn. Qua thực tế

diễn xướng âm nhạc chèo đương đại, sự thật là: không phải lắp ghép

toàn làn điệu chèo cổ truyền vào vở diễn là có ngay một vở chèo

đích thực, nhất là đề tài hiện đại. Tính biểu hiện của âm nhạc sân

khấu đòi hỏi âm nhạc phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể,

tương thích, gắn bó hữu cơ với các loại hình nghệ thuật cùng tham

dự để tạo nên một chỉnh thể chèo (như đã phân tích trong mục 3.1).

Theo chúng tôi, diễn xướng âm nhạc trong vở chèo Lý Nhân

Tông kế nghiệp có thể coi như một kinh nghiệm, một mẫu hình

trong sáng tác nhạc chèo, đặc biệt với chèo đề tài lịch sử, đề tài

hiện đại trong giai đoạn hiện nay, bởi nó hội tụ sự sáng tạo trong

cách “chèo hóa” âm nhạc dân gian, sự chuyển hóa mô hình nhạc

chèo cũng như sự sáng tạo mới trong sáng tác làn điệu, nhạc không

lời (như đã phân tích tron lớp trò chôn sống hề già).

3.2.2. Về công tác đào tạo diễn viên, nhạc công chèo

Diễn xướng âm nhạc phải thông qua nghệ thuật biểu diễn của

diễn viên, nhạc công. Nhạc công chèo giỏi phải là người hiểu được

20

tiếng nói của từng nhạc khí trong dàn nhạc, đồng thời nắm vững nghệ

thuật hòa tấu theo phương thức cổ truyền - phương thức đánh tòng.

Vì thế, họ cần được trang bị kiến thức về phương thức này. Ngoài ra,

cần cho học sinh tiếp cận với nhiều mô hình vai diễn, các bản hòa tấu

nhạc chèo của các nghệ sĩ, nhạc công chèo đã thành danh (thông qua

hệ thống băng, đĩa hình được tuyển chọn để đưa vào chưong trình

giảng dạy cho học sinh, sinh viên chèo tham khảo).

3.2.3. Đào tạo các nhạc sĩ chèo hiện nay là công việc cấp

bách

Cùng với sự thiếu vắng đội ngũ tác giả, đạo diễn, họa sĩ

chèo, thì nhạc sĩ viết cho chèo giờ đây chỉ còn lại mấy người đang

trực tiếp cầm bút. Sáng tác âm nhạc chèo không đơn giản, nó đòi

hỏi người nhạc sĩ đầu tiên phải có đủ kiến thức chèo và được trang

bị kiến thức âm nhạc chuyên nghiệp một cách bài bản để có thể

sáng tác, phối âm, phối khí. Chèo rất cần những người có tri thức

về âm nhạc, vốn văn hóa sâu rộng để nâng cao thẩm mỹ của chèo,

góp phần làm cho nghệ thuật chèo ngày càng sâu sắc, giàu tính

nhân văn, đáp ứng nhu cầu thưởng thức chèo của công chúng.

Mặc dù giới chèo hiện đang hiếm nhạc sĩ, nhưng ngoài những

người học sáng tác tại Trường đại học Sân khấu - Điện ảnh ra chủ

tâm làm nghề, thì những người được đào tạo chuyên ngành sáng tác

trong các trường âm nhạc chuyên nghiệp khác hiện nay, rất ít người

đặt bút sáng tác âm nhạc chèo. Trong thực tế, không phải cứ nhạc sĩ

có kiến thức âm nhạc là viết được cho chèo. Ngược lại, cũng có một

số nhạc sĩ xuất thân từ nhạc công, diễn viên chèo khá hiểu chèo,

nhưng kiến thức về âm nhạc còn hạn chế, nên cũng chưa có được

21

tác phẩm âm nhạc đáp ứng yêu cầu của chèo. Theo chúng tôi, lựa

chọn những nhạc công dày kinh nghiệm, có khả năng sáng tác để

tiếp tục bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về sáng tác âm nhạc, trở

thành nhạc sĩ chuyên viết cho sân khấu chèo là một cách làm cấp

bách và khả thi trong bối cảnh hiện nay.

Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói là công tác phê bình lý

luận phải được đẩy mạnh hơn nữa. Phê bình lý luận chính là tấm

gương phản ánh thực trạng sân khấu chèo một cách trung thực nhất

để qua đó, ta nhận ra hướng bảo tồn và phát triển nghệ thuật chèo,

trong đó có diễn xướng âm nhạc chèo đương đại.

Tiểu kết

Chèo là một thành tố của văn hóa, nên không thể tách khỏi

đời sống văn hóa. Nếu như chèo cổ truyền chỉ dừng lại ở việc

diễn kể những câu chuyện trong dân gian, gắn với khung cảnh

sinh hoạt văn hóa làng xã với mục đích phê phán, giáo huấn thì

chèo đương đại đã cập nhật hiện thực cuộc sống. Sự biến đổi của

văn hóa, xã hội làm đối tượng phản ánh của chèo cũng phong

phú, đa diện hơn, buộc chèo phải tự điều chỉnh để tìm ngôn ngữ

biểu hiện, kéo theo sự biến đổi của nghệ thuật chèo trên nhiều

phương diện, trong đó có diễn xướng âm nhạc. Bên cạnh nhiều

diễn xướng âm nhạc góp phần tô đậm bản sắc văn hóa chèo trong

rất nhiều vở diễn (như đã phân tích diễn xướng âm nhạc trong lớp

trò chôn sống hề già), thì vẫn có những vở diễn bị gọi là “kịch

cắm ca”. Vì vậy, cần minh định hiện tượng“kịch cắm ca”, trước

hết, từ góc độ diễn xướng âm nhạc chèo cổ truyền, hay nói một

cách khác là từ đặc tính văn hóa dân gian (tính tổng thể nguyên

22

hợp) của chèo, để thấy mối quan hệ gắn kết giữa kịch bản và âm

nhạc, giữa ca từ và nhạc điệu (cùng các thành tố đồng cấu tạo)

thể hiện đặc tính cơ bản của văn hóa dân gian giữ vai trò quan

trọng trong sáng tạo vở diễn chèo (cả chèo cổ truyền và chèo

đương đại đã minh chứng điều này).

Diễn xướng âm nhạc sẽ chỉ thực sự có ý nghĩa, thực sự tỏa

sáng khi nó được phát huy trong môi trường vở diễn “thuần chèo”.

Diễn xướng âm nhạc hoàn toàn phụ thuộc vào sự sáng tạo của tác

giả kịch bản, nhạc sĩ, nhạc công, diễn viên. Vì vậy, chăm lo đến

công tác đào tạo từ gốc để có đội ngũ những người hiểu nghề, giỏi

nghề là việc làm quan thiết, cấp bách. Điều ấy không chỉ giúp tạo nên

những vở diễn đậm chất chèo, mà còn có ý nghĩa trong việc bảo tồn

và phát triển môn nghệ thuật độc đáo của cha ông để lại, là niềm

mong ước của giới chuyên môn cũng như công chúng yêu trọng nghệ

thuật chèo.

KẾT LUẬN

Là một thành tố của văn hóa Việt Nam, chèo như một vườn

hoa rực rỡ, ngạt ngào đầy sức quyến rũ. Nó rực rỡ là bởi sự tổng

hoà các thành tố nghệ thuật như văn học, âm nhạc, mỹ thuật, trò

diễn dân gian (đã được chèo hóa) trong diễn xướng âm nhạc, và nó

quyến rũ bởi sự đa dạng, phong phú của hệ thống làn điệu, của

diễn tấu nhạc không lời. Có thể nói, từ cuối thế kỷ XIX trở về

trước, chèo vẫn “xuôi chèo mát mái” trong không gian văn hóa

châu thổ Bắc Bộ, song, từ nửa cuối thế kỷ XX (1951-2013) đến

nay, những thay đổi từ bối cảnh chính trị, xã hội, chính sách văn

hóa, chủ thể sáng tác, sự tác động từ các hình thái kinh tế, nghệ

23

thuật của thời kỳ đổi mới, hội nhập, toàn cầu hóa, hình thức tổ

chức, và năng lực của đơn vị nghệ thuật (năng lực quản lý của lãnh

đạo, năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ của diễn viên, nhạc

công...) cùng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của khán giả đã tác động

mạnh mẽ trên cả hai phương diện phản ánh và tiếp nhận nghệ thuật

chèo, tạo nên sự biến đổi của nghệ thuật chèo, trong đó có diễn

xướng âm nhạc.

Nghiên cứu diễn xướng âm nhạc chèo giai đoạn 1951 đến

2013, chúng tôi khẳng định: Bên cạnh sự kế thừa truyền thống, thì

việc cách tân, hướng tới nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của

công chúng đươg đại đã tạo nên sự biến đổi của diễn xướng âm

nhạc chèo. Sự biến đổi ấy là tất yếu khách quan của diễn xướng

âm nhạc chèo trong tiến trình phát triển, phản ánh quy luật kế thừa

và phát triển của văn hóa nghệ thuật. Tuy nhiên, có những lúc,

những thời điểm, do sự cách tân quá đà mà diễn xướng âm nhạc

gần như mất hẳn yếu tố dân gian, vô tình đẩy chèo sang hình thức

sân khấu mới.

Hiện nay, có thể nói diễn xướng âm nhạc chèo hầu như đã

trở về trong hướng kế thừa, sáng tạo và phát triển tinh hoa âm nhạc

dân gian. Dù vậy, vẫn có hiện tượng diễn xướng âm nhạc „thuần

chèo”, mà vở diễn không được công chúng yêu chèo coi đó là một

vở chèo đích thực, bởi chưa chú trọng đến đặc tính dân gian (phải

kết hợp nhuần nhuyễn ba yếu tố hát, múa, diễn) trong diễn xướng

âm nhạc chèo đương đại. Thế nên, minh định hiện tượng “phi

chèo” từ góc nhìn diễn xướng âm nhạc chèo cổ truyền không chỉ

góp phần lý giải hiện tượng “kịch cộng hát chèo”, mà còn có ý

24

nghĩa trong việc định hướng bảo tồn, phát triển chèo nói chung,

diễn xướng âm nhạc chèo nói riêng.

Diễn xướng âm nhạc chèo rất cần đội ngũ diễn viên, nhạc

công, nhạc sĩ có tri thức về âm nhạc, giỏi nghề và có vốn văn hóa

sâu rộng để thể hiện, nâng cao thẩm mỹ của chèo, góp phần làm

cho nghệ thuật chèo ngày càng sâu sắc, giàu tính nhân văn, giàu

bản sắc văn hóa Việt và hòa được vào dòng chảy văn hóa đương

đại, đáp ứng như cầu thưởng thức chèo của công chúng. Vì vậy, đã

đến lúc công tác đào tạo phải được chú trọng và triển khai một

cách khoa học, có tính bền vững.

Chúng tôi hy vọng vào những diễn xướng âm nhạc giàu bản

sắc văn hóa chèo, góp phần làm nên những vở chèo đương đại

thấm đậm chất chèo, phù hợp và đáp ứng thẩm mỹ thời đại, hấp

dẫn công chúng thưởng thức, để chèo được “xuôi chèo mát mái”

trong dòng chảy văn hoá Việt.

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Nguyễn Thị Thanh Phương (2013), “Để chèo luôn tỏa

sáng trong dòng chảy văn hóa Việt”, Hệ giá trị văn hóa Việt Nam

trong đổi mới hội nhập, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn hóa

- thông tin, tr.581-590.

2. Nguyễn Thị Thanh Phương (2014), “Những thành tố của

văn hóa dân gian trong nghệ thuật chèo”, Tạp chí Văn hóa nghệ

thuật, số 365, tr.66-69.

3. Nguyễn Thị Thanh Phương (2015), “Kịch cắm ca từ góc

nhìn diễn xướng âm nhạc chèo”, Lý luận phê bình văn học, nghệ

thuật, số 29, tr.72-75.