Đọc hiểu bài thơ "Đồng chí" ca
Chính Hu
""Súng bên súng" là chung chiến đấu, "đầu sát bên đu" thì chung rt
nhiu: không ch là gn nhau v không gian mà còn chung nhau ý nghĩ, lí
tưởng" (Trần Đình S - Đọc văn học văn, Sđd). Đến khi đắp chung chăn
trong đêm giá rét thì h đã thc s là anh em một nhà. Nhà thơ Tố Hu
cũng từng viết: "Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng" để th hin tình
kháng chiến gn bó, bn chặt. Đểi v s gn gũi, sẻ chia, v cái thân
tình m áp không gì hơn là hình ảnh đắp chăn chung. Như thế, tình
đồng chí đã bt ngun t cơ sở mt tình tri k sâu sc, t nhng cái
chung gia "anh" và "tôi".
Câu thơ thứ by ch gm hai tiếng: "Đồng chí". Nếu không k nhan đề
thì đây là lần duy nht hai tiếng "đồng chí" xut hin trong bài thơ, làm
thành riêng một câu thơ. Câu này có ý nghĩa quan trọng trong b cc
của toàn bài. Nó đánh du mt mc mi trong mch cm xúc và bao
hàm nhng ý nghĩa sâu xa. Sáu câu thơ đầu là tình đồng đội tri kỉ, đến
đây được nâng lên thành tình đồng chí thiêng liêng. Đồng chí nghĩa là
không ch có s gn bó thân tình mà còn là cùng chung chí hướng cao
c. Những người đồng chí - chiến sĩ hoà mình trong mi giao cm ln
lao ca c dân tc. Gọi nhau là đng chí thì nghĩa là đồng thi với tư
cách h là những con người c th, là nhng cá th, h còn có tư cách
quân nhân, tư cách của "mt cây" trong s giao kết ca "rng cây",
nghĩa là tng người không ch là riêng mình. Hai tiếng đồng chí va gin
d, thân mt li va cao quý, ln lao là vì thế.
phn tiếp theo ca bài thơ, với nhng chi tiết, hình nh c th tác gi
đã th hin tình cm sâu sc ca nhng người đồng chí. Trước hết, h
cùng chung mt ni nh quê hương:
Ruộng nương anh gửi bn thân cày
Gian nhà không, mc k gió lung lay
Giếng nước gốc đa nh người ra lính.
Trong ni nh quê hương ấy có ni nh ruộng nương, nhớ ngôi nhà,
nh giếng nước, gốc đa. Nhưng ruộng nương cũng như nh tay ai cày
xi, ngôi nhà nh người trong lúc gió lung lay, và giếng nước, gốc đa
cũng đang thầm nh người ra đi. Nỗi nh đây là nỗi nh hai chiu.
Nói "giếng nước, gốc đa nh người ra lính" cũng là th l ni nh cn
cào v giếng nước, gốc đa. Tình quê hương luôn thường trc, đậm sâu
trong nhng người đồng chí, cũng là s đồng cm ca nhng người
đồng đội. Người lính hin ra cng ci, dứt khoát lên đường theo tiếng
gi non sông song tình quê hương trong mỗi ngưi không khi nào phai
nht. Và bên cnh hình bóng quê hương, điểm ta vng chắc cho người
lính, là đồng đội:
Anh vi tôi biết từng cơn ớn lnh
Sốt run người vừng trán ướt m hôi
Áo anh rách vai
Qun tôi có vài mnh
Miệng cười but giá
Chân kng giày
Thương nhau tay nắm ly bàn tay.
K sao xiết nhng gian kh mà người lính phi tri qua trong chiến đấu.
Nói v cái gian kh của người lính trong kháng chiến chng Pháp, ta
nh đến cái rét xé tht da trong bài Lên Cấm Sơn của Thôi Hu:
Cuộc đời gió bụi pha xương máu
Đợt rét bao ln xé tht da
Khuôn mặt đã lên màu tt bnh
Đâu còn tươi nữa nhng ngày hoa!
Lòng tôi xao xuyến tình thương xót
Mun viết bài thơ thấm l nhòa
Nh đến cái ác nghit ca bnh stt trong Tây Tiến ca Quang Dũng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá d oai hùm.
Ta cũng có thể thy cái but giá ca núi rng Vit Bc, cái n lnh toát
m hôi ca bnh st rét trong những câu thơ ca Chính Hữu. Nhưng
nếu như Thôi Hữu viết v cái rét xé thịt da để khc ho nhng con
người chp nhận hi sinh, "Đem thân xơ xác giữ sơn hà", Quang Dũng
nói đến sốt rét để tô đậm v đẹp bi tráng ca những ngưi chiến sĩ thì
Chính Hu nói v cái rét, cái ác nghit ca st rét là để nói v tình đồng
đội, đồng chí trong gian kh, là s thu hiu, cm thông gia nhng
người lính. Trong bt c s gian kh nào cũng thấy h sát cánh bên
nhau, san s cho nhau: "Anh vi tôi biết...", "áo anh... - Qun tôi...",
"tay nm ly bàn tay". Cái "Miệngi buốt giá" kia là cái cười trong
gian kh để vượt lên gian khổ, cười trong buốt giá đểng m lên, cũng
là cái cười đầy cm thông gia nhng người đồng đội. Giá but mà
không lnh lo cũng là vì thế.
Bài thơ kết bng hình tượng nhng người đồng chí trong thời điểm
thc ti, khi h đang làm nhiệm v chiến đấu:
Đêm nay rừng hoangơng mui
Đứng cnh bên nhau ch gic ti
Đầu súng trăng treo.
Có th xem đây là một trong nhng hình ảnh thơ đẹp nht v người
lính trong thơ ca kháng chiến. Ba câu thơ phác ra một bc tranh va
mang cht chân thc ca bút pháp hin thc, va thấm đẫm cái bay
bng ca bút pháp lãng mn. Trên sc xám lnh ca nn cảnh đêm rừng
hoang sương muối, hin lên hình ảnh người lính - khu súng - vng
trăng. Dưới cái nhìn của người trong cuộc, người trc tiếp đang cầm
súng, trong mt s kết hp bt ngờ, đầu súng và vầng trăng như không
còn khong cách xa v không gian, để thành: "Đầu súng trăng treo.". Sự
quan sát là hin thc, còn s liên tưởng trong miêu t là lãng mn. Hình
ảnh súng tượng trưng cho hành đng chiến đấu, tinh thn quyết chiến
đất nước. Trăng tượng trưng cho cái đp yên bình, thơ mộng. Hình
ảnh "đầu súng trăng treo" mang ý nghĩa khái quát về tư thế ch động,
t tin trong chiến đấu, tâm hn phong phú của người lính. Nói rng ra,
hai hình ảnh tương phản sóng đôi với nhau to nên biểu tượng v tinh
thn, ý chí sắt đá mà bay bổng, tr tình ca dân tc Vit Nam.
Những người lính là đồng đội, đồng chí, c dân tộc là đồng chí. Người
ngh sĩ cũng tr thành đồng chí, nên Hng Nguyên và Chính Hu đồng
cm với nhau trước nhng người áo vi: