Tp chí Khoa hc Đại hc Th Du Mt ISSN (in): 1859-4433; (online): 2615-9635
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 97
ĐỐI THOI NGH THUẬT TRONG VĂN XUÔI LÊ ANH HOÀI
Ngô Trần Anh Khoa(1)
(1) Trường Đại hc Sài Gòn
Ngày nhn bài 15/5/2025; Chp nhn đăng 02/7/2025
Liên hệ email: trananhkhoa01237153259@gmail.com
Tóm tt
K t khi xut hiện trên văn đàn, nguyên lí đối thoại do Mikhail Bakhtin đề xuất đã
tr thành mt thuyết đầy tiềm năng trong nghiên cứu, phê bình văn học. Đây cũng
cơ sở quan trọng để Julia Kristeva vn dng, đề ng thut ng liên văn bản. Chính
thế, khái nim này tr thành một đặc trưng quan trọng khi nghiên cứu văn chương dưới
góc nhìn liên văn bản. Văn học Việt Nam đương đại đã vận dng linh hot, sáng to
nguyên lí đối thoi trong quá trình sáng tác, m ra môi trường tương tác dân ch, t do
gia tác gi người đọc. Vi phong cách sáng tạo độc đáo, đậm chất “chơinghệ thut,
Lê Anh Hoài là mt trong nhng cây bút ghi du ấn đậm nét trong văn chương hậu hin
đại Vit Nam. Khảo sát văn xuôi của ông, th thy tinh thần đối thoi ngh thut
sâu sc. S ơng tác, giao kết gia các loi hình ngh thuật như văn chương, âm nhc,
hi ha chính phương thức giúp Anh Hoài nhìn nhn, suy nghim v hành trình
sáng to ngh thuật đương đại mà mình đang chinh phc.
T khóa: âm nhc, đối thoi ngh thut, Lê Anh Hoài, hi ha, văn chương
Abstract
ART DIALOGUE IN PROSE LE ANH HOAI
Since its appearance on the literature, the principle of dialogue proposed by
Mikhail Bakhtin has become a potential theory in literary research and criticism. This is
also an important basis for Julia Kristeva to manipulate and propose intertextuality.
Therefore, this concept becomes an important feature when studying literary literature
from an intertextuality perspective. Contemporary Vietnamese literature has flexibly
applied and created the principle of dialogue in the process of writing, opening a
democratic and freedom interaction environment between the author and the reader. With
a unique creative style, bold “playing” art, Le Anh Hoai is one of the pens marked with
bold impression in post - modern literature of Vietnam. His prose survey, can clearly see
the spirit of deep art dialogue. The interaction, conclusion between art forms such as
literature, music, painting is the method of Le Anh Hoai acknowledges and experienced
the journey of creative art that they are conquering.
1. Mở đầu
Với tinh thần dân chủ, văn học Việt Nam sau 1986 đặc biệt chú trọng đến nguyên
lí đối thoại, bởi lẽ đó là nền tảng để nhà văn nhận thức lại các giá trị hoàn kết của thời kỳ
trước, mở ra không gian rộng lớn để người đọc thể tham gia đồng sáng tạo cùng người
viết. Lúc này, đối thoại không còn phương tiện giao tiếp thuần túy trở thành mục
Tp chí Khoa học Đại hc Th Du Mt S 4(77)-2025
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 98
đích tự thân như cách nói của Bakhtin. Nhằm thỏa mãn nhu cầu đối thoại về nghệ thuật,
các nhà văn, nhà thơ đã tạo nên sự tương tác giữa các loại hình nghệ thuật như văn chương,
hội họa, âm nhạc… để bộc lộ cái nhìn, suy nghiệm về nhiều phương diện trong đời sống,
sáng tác của người nghệ sĩ. Một trong những biểu hiện nhất của tinh thần đối thoại
nghệ thuật là nhà văn trực tiếp thể hiện quan niệm về văn chương, nghệ thuật. Thông qua
những chia svề quá trình làm nghề của các nhân vật (nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, nghệ
thị giác), tác giả đã nhìn nhận lại quan niệm về người nghệ sĩ chân chính trong đời sống
đương đại. Hình thức đối thoại chủ yếu là: người kể chuyện/ nhà văn đối thoại với người
đọc trên bề mặt văn bản; nhà văn/ người kể chuyện đối thoại với c giả, tác phẩm kinh
điển hay mt hình thức đặc biệt “mặt nạ tác giả”. Đó không chỉ ý thức phản tư của
nhà văn còn cách thức đưa văn học, nghệ thuật đến gần hơn với đại chúng, thậm
chí giải thiêng văn học, giải thiêng quan niệm nghệ thuật truyền thống.
Đến với thế giới văn chương của nhà văn Lê Anh Hoài, có thể thy rõ tinh thần đối
thoại nghệ thuật mạnh mẽ và sắc sảo. Trước tiên, cần có cái nhìn sơ nét về chân dung của
nhà văn trong bức tranh văn học nghệ thuật đương đại. Qua tìm hiểu, được biết ông sinh
năm 1966 tại Hà Nội, hiện đang là Phó ban phụ trách ấn phẩm Tiền Phong Chủ Nhật, báo
Tiền Phong. Lê Anh Hoài là một nghệ sĩ đa tài, khẳng định tài năng và vị trí trong một số
lĩnh vực nghệ thuật: văn học, báo chí, hội họa, âm nhạc, nghệ thuật trình diễn… Vốn yêu
thích tìm tòi, sáng tạo cái mới, i ln những tác phẩm của ông luôn mang đến một màu
sắc, hình ảnh, dấu ấn riêng biệt, độc đáo. Trong lĩnh vực báo chí, tác giả đã có những sản
phẩm ấn tượng, trong đó phải kể đến bài Tàu ngược phố Lu, kể về chuyến đi từ Nội
lên Lào Cai hoặc sự xuống cấp thảm hại của Văn Miếu - Quốc Tử Giám lúc bấy giờ. Trong
địa hạt nghệ thuật, ông không chỉ đảm nhận vai trò là một nhà văn, họa sĩ mà còn là một
nghệ sĩ thị giác danh tiếng. Với con đường hội họa, Lê Anh Hoài ghi dấu ấn qua nhiều tác
phẩm, đơn cửĐài, được thực hiện để gửi tặng Chương trình đấu giá tranh trực tuyến vì
trem trong đại dịch COVID-19. ớc sang thế giới nghệ thuật thị giác, nghệ cũng
được đánh giá cao qua các tác phẩm mang tính bứt phá như: Tôi là cột điện (performance
art); Tiến lên (installation art); Đng Cu (performance art, installation art, body painting);
Thời đại công nghệ (performance art, body painting); Wc.doc (installation art, performance
art)Quay lại sự nghiệp văn chương, dù số ợng tác phẩm không quá đồ sộ nhưng vẫn
đủ để nvăn định hình tên tuổi cá nhân mangu sắc “đậm chất chơi” trên văn đàn Việt
Nam hiện đại. Sáng tác trên nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết nhưng lẽ
Anh Hoài “bùng nổnhất với các sáng tác văn xuôi. Ở mảng truyện ngắn, tác giả đã xuất
bản ba tập truyện nổi tiếng như: Tẩy sạch vết yêu (2010), Trinh nma-nơ-canh (2014)
gần nhất là Nỗi sợ và những khuôn hình (2022). Ở mảng tiểu thuyết, nhà văn đã để lại ấn
ợng mạnh với độc giả qua tác phẩm Chuyện tình mùa tạp kỹ (2007, sau được i bản năm
2010 với nhan đề @tình), còn ờn thượng uyển (2021) một số nguyên nhân khách
quan nên không được xuất bản Việt Nam. Đim chung của các sáng tác này là đều khai
thác những vấn đề bỏng rát của đời sống xã hội ngày nay gắn với tầng lớp tri thức, bằng
một góc nhìn giễu nhại, hiện sinh sâu sắc, đã đậm những bất an, bất tuân, bất trắc, bất
toàn trong bản thể con người, gợi ra bao suy nghiệm,i học về “cõi ngườithời hậu hin
đại. Mỗi nhân vật một lát cắt, mảnh vỡ về số phận con người trong thời đại toàn cầu
hóa, không tưởng, ng, nhất phiến, hiện lên những “khuôn hìnhmờ nhạt, thiếu
sức sống, vô định, mang đậm tinh thần hậu hiện đại. Các câu chuyện được kể không theo
trật tự tuyến tính thông thường, mà thường được nhà văn sử dụng kỹ thuật phân mảnh, lắp
ghép để phơi bày hết sự bề bộn, tù mù, hn tạp đến mất niềm tin, sụp đổ như thực tế đang
diễn ra trong cuộc sống hiện tại. Chính thế, sau khi đọc n xuôi của Lê Anh Hoài,
chúng ta khó nắm bắt được tính cách nhân vật, nội dung tưởng hay mạch truyện của câu
Tp chí Khoa hc Đại hc Th Du Mt ISSN (in): 1859-4433; (online): 2615-9635
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 99
chuyện. Quan niệm về những “đại tự sựtrong văn học truyền thống như nghệ thuật, tình
u, hôn nhân, tình dục… bị hạ bệ, phản biện, giải thiêng, nhằm hướng tới nhữngtiểu tự
sựtrong cuộc sống. Những yếu tố trên đã góp phần không nhỏ để tạo nên sắc thái riêng
biệt, đặc trưng trong văn xuôi Lê Anh Hoài. Thêm vào đó, các tác phẩm văn xuôi của ông
n nổi trội bởi sự nhìn nhận, suy ngẫm về ba loại hình nghệ thuật: văn chương, âm nhạc,
hội họa. Nhờ vậy, người đọc không chỉ phát hiện sự giao thoa, nới lỏng biên độ của chúng,
còn tham gia vào hành trình nhận thức lại, đối sánh, phản biện về quá trình sáng tạo
nghệ thuật của người nghệ sĩ trong bối cảnh xã hội đương đại.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Sau đại thắng năm 1975, Việt Nam đã nhng chuyn biến mnh m trong đi
sng lch sử, văn hóa, xã hội, đc bit là t sau Đại hội Đảng ln th VI/1986. Nhng
thay đổi u rng y tr thành tiền đề tt yếu dẫn đến nguyên đối thoại trong văn học
Việt Nam đương đại trên tinh thn nhn thc lại. Đặc biệt, đối thoi ngh thut tr thành
mt biu hiện độc đáo, giúp nhà văn soi ngm, xem xét các quan nim thc trng sáng
to ngh thut thi k trước, t đó tạo ra s đa thanh, đa chiu cho tác phẩm văn hc.
Hòa cùng “bầu không khí” đối thoi ngh thuật trong văn học Đổi mới, Lê Anh Hoài đã
nhìn nhận, đánh giá lại đời sống văn chương, âm nhạc, hi ha truyn thng dưới góc độ
giu nhi, phn bin, ng ti nhng lối tư duy sáng tạo ngh thut mi m, mang tinh
thn thời đại. Kho sát hiện tượng đối thoi ngh thuật trong văn xuôi Lê Anh Hoài va
hướng nghiên cu phù hợp để phát hin nhng góc nhìn của nhà văn với hành trình
sáng to ngh thut, va góp phn khẳng định n lc của ông trên con đưng cách tân
văn học Vit Nam.
Để thc hin bài viết, chúng tôi phi hp s dụng các phương pháp nghiên cứu dưới
đây:
Phương pháp cấu trúc - h thng: Xem xét đối tượng nghiên cu trong tính chnh
th ca tác phẩm. Đồng thi, kho sát các yếu t ca tinh thần đối thoi ngh thut th hin
trong h thng các tác phẩm văn xuôi nghệ thut ca Lê Anh Hoài.
Phương pháp phân tích tổng hp: Phân tích và lí gii các biu hin ca đối thoi văn
cơng, âm nhc, hi ha trong các tác phm văn xuôi của Lê Anh Hoài. T đó, tạo ra cái
nhìn toàn din n về các phương diện đối thoi ngh thuật trong văn xuôi của Lê Anh Hoài.
3. Kết qutho lun
3.1. Đi thoi văn chương
Trong văn học Vit Nam t sau 1986 đến nay, hành trình đối thoại văn chương trên
tinh thn nhn thc li nhng giá tr hoàn kết, các giá tr, quan niệm văn học, ngh thut
thi k trước cũng một trong nhng vấn đề ph biến, tr thành mch ngm của đời sng
văn học. Bức tranh văn học Vit Nam k t sau năm 1986 đã xuất hin tr li kiu nhân
vật nhà văn, lí giải mi quan h giữa nhà văn và văn bản, th hiện quan điểm sáng tác ca
người viết, ý nghĩa của quá trình sáng tác; đề cao vai trò và trách nhim của nhà văn chân
chính trong quá trình sáng tạo. Nhà văn không chỉ người k chuyện còn đối thoi
trc tiếp với người đọc qua văn bản; nhìn nhn li nhng tác gi, tác phm thời trưc qua
lăng kính hiện đại hướng ti mục đích đưa văn học gần hơn với đời sng, tr thành mt
“món ăn tinh thần” không thể thiếu của đc gi hiện đại.
Tp chí Khoa học Đại hc Th Du Mt S 4(77)-2025
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 100
Bng lối tư duy phá cách trong sáng tạo ngh thut, Lê Anh Hoài luôn m ra trong
sáng tác văn xuôi những cuộc đối thoại văn chương sôi nổi, mang tinh thn ca mt nhà
văn hu hiện đại, xem văn học mt cuộc chơi sáng to, khi y tác gi không gi v trí
độc tôn, quyn uy mà tạo cơ hội cho người đọc đồng sáng to trong hành trình gii tác
phm. Qua quá trình khám phá văn xuôi của ông, chúng tôi nhn thy biu hin ca đối
thoại văn chương nét qua các phương din: hành trình sáng tạo đầy gian nan ca nhà
văn; sự cnh tranh gia các tác phm vì nhu cu th trưng, th hiếu độc gi; m ra cách
tiếp cn khác vi tác phm kinh điển…
Trước tiên, Anh Hoài suy ngm v hành trình ng tạo văn chương đầy gian nan.
Qu tht, trong thế gii ngh thut, s sáng to va là một động cơ thúc giục người ngh
thăng hoa, ngược li, nếu mt đi nó, h s i vào trạng thái chơi vơi, lạc lõng, đánh mất
chính mình. Đó trường hp nhân vt Tâm trong tác phm Bay. Tâm là đại din cho kiu
nhà văn thực lực nhưng lạc lối trong hành trình sáng tác thơ văn bởi không tìm được
ngun cm hứng đ “baylên trong nghệ thuật. Dù mang đến công chúng nhng bài thơ
hay, nhận được không ít li khen cánh t các nhà phê bình: Các tập thơ của ông ra
mt công chúng, liên tiếp được các nhà phê bình uy tín nhận xét “hàm chứa ni tâm
phc hợp, đa diện của con người hôm nay”, “tiếng vng phn tnh của nhân tính”, “hình
bóng xã hội đương đi, mang tính toàn cầu”… (Lê Anh Hoài, 2022) nhưng dường như
ông đang loay hoay trong sự nghiệp văn chương của mình, không m được hướng đi đúng
đắn, hp thời: Nhưng ông ngày càng xa rời thc tế, hoc gi thc tế ca ông khác hn
cái th thc tế mà các nhà báo đang phn ánh?(Lê Anh Hoài, 2022). Có th nói, hành
trình sáng tạo văn chương không bao gi d dàng. Nhà văn đã sử dng th pháp “lạ hóa”
nhân vật để biến m t một nhà thơ tài năng, để ri chính nhng n c, ri lon tâm
khiến ông hoàn toàn bế tc, tuyt vọng trên con đường ngh thut. Tâm là hin thân cho
những người luôn khao khát, đam mê trong công việc, nhưng có lúc lại i vào tình cnh
trng rng, vô đnh, bc bi, mt kim soát nên càng c vùng vy thoát ra li càng tr nên
bt lc, tuyt vng. Thông qua vic xây dng nhân vt này, Lê Anh Hoài mun nhìn nhn
thc tế sáng tác văn chương ngày nay, khi những lời đánh giá tác phẩm đôi khi sáo rỗng,
đao to búa lớn nhưng lại d khiến người ngh sĩ lạc li, mất phương hướng sáng to ngh
thuật. Điều này khiến h dn xa ri thc tế, không tìm được cm hng sáng tác, t đó tạo
ra nhng sn phm vô hn, xa rời đi sng.
Cm hng sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong quá trình sáng tác, nên mất đi
thì người ngh sĩ dần rơi vào bế tắc, khó theo đui ngh thuật. Đó là câu chuyn ca nhân
vật nhà thơ trong truyện Chuyn giữa không gian thơ. Khi nhà thơ sáng tác, họ s đắm
chìm trong không gian ý niệm đầy độc đáo, nơi những ý tưởng baylng khắp nơi, trở
thành ngun hng cm tuyt vời để ra đời nhng tác phm độc đáo. Trong truyn, mi khi
làm thơ, luôn một hình bóng của Nàngxuất hin trong tâm trí nhân vật tôi”, trở
thành nguồn động lc sáng to mãnh lit để anh to ra những dòng thơ nh bay bổng:
Điu tôi mun nói thêm, trong lúc làm tình, hàng triu triu những câu thơ tuyệt hay đã
vang lên trong tôi. Tôi mc khải, người đàn này đúng Thơ.(Lê Anh Hoài, 2010).
Hình ảnh Nàng tượng trưng cho những ý tưởng đâng trào thôi thúc người ngh sĩ sáng
to, là ci nguồn để sinh thành nhng tác phẩm đặc sắc: “Nếu tôi có th ghi li, dù ch vài
câu, l tôi đã trở thành nhà thơ đại nht mi thời đại.(Lê Anh Hoài, 2010). Đặc
biệt, nhà văn n sử dng th pháp ngh thuật mặt n tác giả” để thông qua nhân vt
“tôi”, những suy tư, ý nghĩ, tri nghim ca tác gi được bc l ràng n. C th, để
hn chế s liên tưởng đến một “sex - story”, tác giả đã mượn li nhân vật “tôi” để gii
v cuộc “giao hợp” giữa nhà thơ “Nàng”: không mun câu chuyn tr thành mt
sex - story nên tôi s không k chi tiết những đã xảy ra giữa tôi người đàn y.
Tp chí Khoa hc Đại hc Th Du Mt ISSN (in): 1859-4433; (online): 2615-9635
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 101
(Lê Anh Hoài, 2010). Đâycách giúp nhà văn thỏa sc bày t quan điểm, ý kiến v thế
gii ngh thut mà không cn l diện, đồng thời, tăng cường kh ng tương tác giữa tác
gi nhân vt độc gi. Ngoài ra, Anh Hoài còn kéo người đọc đến mt thc trng
đáng buồn: Tôi chng còn bao gi gp Nàng, gặp Thơ và chẳng bao gi làm thơ nữa.
(Lê Anh Hoài, 2010). Tác gi to ra mt s đối lp gia hai trng thái sáng tác: cm
hng thun li sáng to, không cm hng khó khăn không thng tạo, như một s
nhn mạnh ý tưởng, cm hng, đam mê, niềm tin chính nhng yếu t quan trng, quyết
định kết qu của lao động ngh thuật. Tính đối nghch ấy cách để Anh Hoài m ra
mt không gian đối thoại liên văn bản vi độc gi, cũng như với chính mình, v hành trình
to sinh tác phm không h d dàng, đặc bit trong bi cnh ngày nay khi s cnh tranh
din ra ngày càng khc liệt độc gi thì “đang chán”, chưa chắc đã biết mình chán điều
(Lê Anh Hoài, 2022).
Thêm nữa, nhà văn đã xem xét, nhn thc li nhng quan nim, thành kiến văn
chương truyn thng bng mt tinh thn giu nhi, gii thiêng đáng suy ngẫm. Trước đây,
văn học thường vương đạo, tải đạo, “lấy đạo lí, giáo dc làm nn tng”, là tiếng nói mang
tính ph quát cho c cộng đồng, như Trọng Phụng coi Tiu thuyết s tht đời
hay Nam Cao đúc kết “Ngh thut không phi là ánh trăng lừa di mà là nhng tiếng đau
kh thoát ra t nhng kiếp lm than. (Nguyễn Văn Thuấn, 2013). Văn học theo tư tưởng
truyn thng phi lt t nhng vấn đề lớn lao, vĩ đại để hướng ti giáo dục con người. Vi
Anh Hoài, hin thc ch những điều tm thưng, vn vặt, nchuyn v b râu
chng hạn. Đó là thực tế din ra trong Cuộc đời khn nn ca mt bn tho. Nhà văn tạo
mt cuộc đối thoại văn chương giữa bn tho tác phm v bu đại din cho quan nim
sáng tạo, phá cách trong văn học vi các nhà văn lão thành – đại din cho quan niệm văn
chương truyền thống. Trước đề tài sáng tạo, độc đáo, mi l v b râu, nhà văn lão thành
phn bác, vùi dp với do: n chương sang trọng nht t thm chí lt t đưc
tâm hn con người, đây cậu lại đi vào chuyện u vi ria.hay Cu viết câu thng
băng như viết báo y”, Cy làm thế tm thường hóa văn chương… (Lê Anh Hoài,
2014). Ngược li, chính bn tho kì l y lại gây được s chú ý: T đó tôi bị coi là mt
k lp dị. Nhưng cũng vì thế, tôi được nhiu bn thảo khác để ý, thm chí làm thân. Chn
này, người ta chung lạ, người ta luôn muốn “đại chúng”.(Lê Anh Hoài, 2014). Đim
nhìn ngôi th nhất (file document) được tác gi s dng càng làm ni bt s điêu đứng,
khó khăn trong hành trình ra đời, xut bn ca bn tho. T lúc lên ý tưởng, đến chnh sa,
rồi ra đời qu mt chặng đường gian nan ca mt tác phẩm văn học: Tôi trót sinh ra t
mt tác gi “có vấn đề”, dù tôi chẳng có ti tình gì.” (Lê Anh Hoài, 2014). Nhà văn đang
đặt ra mt vấn đề mang tính phn biện cao, văn chương truyền thng tôn th nhng quy
chuẩn, khuôn thước, đè nén s sáng to của ngưi ngh thì văn chương đương đại đang
làm điều đối nghch, cho phép to ra i mi, i l, gây bt ng, hoang mang. Xã hi hin
đại đang chung l”, thích s mi m, nên quan niệm văn chương truyn thng liu
còn phù hp, hay đã tỏ ra tê ngng, thô cng, li thi, cn phi thay thế. Lê Anh Hoài giu
nhại trước thành kiến văn chương cổ h, lc hậu đã “cắm u” vào tư duy của nhà văn mt
thi gian dài khiến người đọc phi suy ngm, nhận ra cách tân văn học là mt nhu cu tt
yếu để tn ti. Ngoài ra, s cnh tranh khc lit trong th trường văn học ngày nay cũng
vấn đề khiến Lê Anh Hoài trăn trở, chiêm nghiệm. Đó là cuộc chơi gay cấn gia các nhà
văn, bắt buc h phi không ngừng thay đổi bút pháp, li viết, tư tưởng để tiếp cận được
vi công chúng. Nhng th loại truyn não nh”, truyn thiếu nhigiờ đây không thể
cnh tranh ni trong khi th hiếu độc gi li chng còn mn với chúng: Trong cuc
cnh tranh sinh t này, người khác sng mình chết. Tôi đã hiu chuyện đó. Người ngoài
cuộc, có chăng, là đứa tr truyn thiếu nhi, nó không có kh năng cạnh tranh.(Lê Anh