Tp chí Khoa hc Đại hc Th Du Mt ISSN (in): 1859-4433; (online): 2615-9635
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 123
KHÔNG GIAN NGH THUT TRONG TIU THUYT VIT NAM
VIT V ĐỀ I ĐỒNG TÍNH NAM
Từ Văn Việt(1), Nguyễn Thị Kim Tiến(1)
(1) Trường Đi hc Th Du Mt
Ngày nhận bài 11/6/2025; Chấp nhận đăng 27/7/2025
Liên hệ email: tienntk@tdmu.edu.vn
Tóm tt
Tiu thuyết Vit Nam viết v đề tài đồng tính nam những năm đầu thế k XXI đã
góp phn không nh trong vic phn ánh cuc sng thế gii ni tâm ca nhân vật đồng
tính nam. Bài viết này tp trung kho sát không gian ngh thut trong bn tiu thuyết Vit
Nam viết v đề tài đng tính nam được xut bn t năm 2000 đến 2020, bao gm: Mt
thế giới không có đàn bà, Song song, Lc gii Đời callboy. Hai không gian ngh thut
riêng cộng đồng biu hiện cho điều trong đời sng của người đồng tính nam?
Khi đi din với không gian riêng tư, họ đưc sng chính mình hay phi ng x
hành động theo mt bn dạng khác như khi không gian công cng? Bài viết s kiến gii
hai câu hi trên qua vic vn dụng phương pháp nghiên cứu so sánh, loi hình tiếp
cn thi pháp hc. T đó, chỉđặc điểm và ý nghĩa của không gian sng trong vic kiến
to thế gii nhân vt, nhằm hướng đến mt khát vng sống định v bn dng gii ca bn
thân trong mt cộng đồng xã hi vn còn nhiều định kiến, kht khe nhất là đối vi nhng
người đồng tính.
T khóa: đề tài đồng tính, đồng tính nam, không gian ngh thut, tiu thuyết
Abstract
ARTISTIC SPACE IN VIETNAMESE NOVELS ON GAY THEMES
Vietnamese novels on homosexuality theme in the early 21st century have made
significant contributions to portraying the lives and inner worlds of gay characters. This
article focuses on exploring the artistic space in four Vietnamese homosexual novels
published between 2000 and 2020, including Mot the gioi khong co dan ba (A World
Without Women), Song Song (Parallel), Lac gioi (Lost in Gender), and Doi callyboy (The
Life of a Callboy). What do the private and public spaces in these works signify for the
lived experiences of gay? In private settings, are these characters allowed to live
authentically, or do they still conform to alternate identities as they do in public spaces?
The title applied comparative, typological, and poetic approach to seek to answer the
following above questions. Through the article aims to elucidate the characteristics and
symbolic meanings of spatial representation in constructing the characters’ lived realities.
Ultimately, the title reveals how spatial dynamics embody the aspiration for self-defined
gender identity within a society that remains steeped in prejudice and rigidity,
particularly toward homosexual individuals.
Tp chí Khoa hc Đại hc Th Du Mt S 4(77)-2025
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 124
1. Gii thiu
Trong dòng chy của văn học Việt Nam đương đại, văn chương ngày càng chứng
t vai trò tiên phong trong vic khám phá nhng góc khut của đời sng xã hi và nhng
biến chuyn thm lng trong tâm thức con người. Mt trong nhng dòng chảy đáng chú
ý nht chính là s xut hin và phát trin ca các tác phm viết v đề tài đồng tính nam.
T ch mt vùng cm k hay ch được đề cp mt cách dt, e ngại, đến nay, đồng
tính đã trở thành một đề tài được nhiều nhà văn khai thác dưới những góc độ đa dạng,
phn ánh mt quá trình t nhn thức và đối thoi ngày càng ci m ca xã hi Vit Nam.
Nhng tác phm viết v đề tài đồng tính không ch đơn thuần k mt câu chuyn, mà còn
kiến to nên c mt thế gii ngh thuật riêng, nơi những thân phn, nhng khát khao
nhng n c của người đồng tính được ct lên tiếng nói. Đặc biệt trong đó, các tiểu
thuyết viết v đồng tính nam. Đây mt dng nhân vật đươc gọi đồng tính luyến ái
bao gm (gay, les, song tính, chuyn gii - LGBT) nhm s khu bit với người d tính.
Đồng tính nam là cách gi tên theo bn dạng thường quy v mt ví trí trong phân loi xã
hi. Xét t quan nim vai trò gii, xã hội quy đnh các công vic, trách nhim hoc tính
cách (nam tính, n tính) chun mc cho nam gii n giới. Theo đó, sự phân định
này thường quy chiếu qua hình nh bên ngoài, nam tính là mnh m, quyết đoán; nữ tính
chịu thương, chịu khó, khéo léo, khiêm nhường. Điều này to ra một định kiến gii khi
nhìn nhn nhãn (bn dng) ca một người là nam (v bên ngoài) nhưng lại mang nét ca
n tính. Dẫn đến quá trình bn dng của đồng tính nam nói riêng din ra người nam, là
khi nhân cm nhận được các khuynh hướng tình dc hoc hành vi nh ái vi người
cùng gii với mình. Chính điu y khiến người đồng tính nam (nói riêng) trong hi
hiện đại, khi có s ci m nht định v giới, đã dám bt lên gii hn của định kiến, dù h
biết h “vn là thiu s b lên án - nn nhân ca những định kiến v khuôn dng gii và
s phù hp gia hình dng gii tính sn trong truyn thng xã hội” (Viện nghiên
cu hi, kinh tế môi trường, 2014). Đây cũng cách các tiểu thuyết Vit Nam
đương đại phn ánh v mt dng nhân vt thuc cộng đồng LGBT, đồng tính nam, để có
cái nhìn đa chiều v đời sng nhân vật. Qua đó, cho thy s dn thân mnh m ca các
nhà văn khi lựa chn viết v đề tài nhy cm này.
Trong các yếu t cu thành nên tác phẩm văn học, không gian ngh thut gi mt
vai trò đc bit quan trng. Nó không phi mt chiếc phông nn th động, mt
thành t hữu cơ, một “nhân vật” thm lng kiến to nên thế gii ca nhân vt, chi phi
hành vi, bc l tâm trng và th hiện tư tưởng ca tác gi. Chính vì l đó, việc nghiên cu
không gian ngh thut càng tr nên ý nghĩa. cho phép chúng ta lý giải cách văn học
din gii v mt cộng đồng vn còn mang nhiều định kiến; cách các nhà văn kiến tạo nơi
chốn để nhân vt ca mình tn tại, yêu thương, đấu tranh và trình diễn căn tính.
Để thc hin mc tiêu trên, bài viết tp trung kho sát không gian ngh thut trong
bn tiu thuyết được xut bn t 2000 đến 2020: Mt thế giới không đàn (2005)
ca Bùi Anh Tn, Song song (2007) của Đình Giang, Lc gii (2008) ca Thy Anna,
Đời callboy (2012) ca Nguyn Ngc Thch. T đó, nghiên cứu này s tp trung gii
quyết hai câu hi ct lõi: Th nht, hai không gian ngh thuật riêng tư và cộng đồng biu
hiện cho điều gì trong đời sng của người đồng tính nam? Th hai, khi đối din vi không
gian riêng tư, người đồng tính nam được sng chính mình hay phi ng x hành
động theo mt bn dạng khác như khi ở không gian công cng?
Bng vic tr li nhng câu hi này, bài viết s mang đến một hướng tiếp cn mi,
góp phn có nhng kiến giải rõ hơn v đề tài văn học đồng tính nam nói riêng cũng như
Tp chí Khoa hc Đại hc Th Du Mt ISSN (in): 1859-4433; (online): 2615-9635
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 125
văn học Việt Nam đương đi nói chung khi viết v cộng đồng đồng tính (đồng tính nam
và đồng tính n), song tính và chuyn gii (LGBT).
2. Thc nghim
Không gian ngh thut bên cnh thi gian ngh thut mt trong nhng phương
din ch yếu ca thi pháp học. Không đơn thuần là “cái nền” hay “bối cnh” th động cho
s kin nhân vt din ra, không gian ngh thut mt thành t cấu trúc năng động, tham
gia trc tiếp vào việc định hình ý nghĩa, y dựng hình tượngth hiện tưởng ca nhà
n. Trần Đình Sử (2021) khẳng định, không gian ngh thut “sản phm sáng to ca
nhà n, thể hin s cm nhn không gian của con người, chc năng biểu nghĩa và có
giá tr thẩm mĩ”. Hơn thế na, không gian ngh thut “thể hin cu trúc n trong ca tác
phm ngh thut, sâu sắc hơn nhiều so vi khái nim kết cu” cho thấy tm quan trng ca
trong vic gii mã các tng lp ý nghĩa của tác phm.
thuyết không - thi gian (chronotope) ca Mikhail Bakhtin ch ra rng không
gian và thi gian không tn tại độc lp mà là mt th thng nhất, nơi “thời gian như đưc
đặc li, tr nên hu hình v mt ngh thuật; còn không gian thì được tăng cường, b
lôi cun vào s vận động ca thi gian, ca ch đề, ca lch sử.” (Bakhtin, 1992). Các
motip không gian như con đường, ngưỡng cửa, hay căn phòng riêng không chỉ địa điểm
còn là nơi neo giữ nhng khonh khc quan trọng trong đời nhân vt, th hin cái nhìn
ca tác gi v con người thc ti. Trong quá trình này, nhng din biến tâm tru
ợng như nhn thc bản thân hay “công khaiđược “vật chất hóa” trong nhng không
gian c th như căn phòng riêng tư, quán bar, hay không gian mạng.
Gaston Bachelard, trong Thi pháp ca không gian (xut bn lần đầu năm 1957),
tiếp cn không gian t góc độ hiện tượng hc, tp trung vào những “không gian được
sống” - nhng không gian thân thuộc như ngôi nhà, căn phòng - nơi chứa đựng c,
giấc khát vọng. Đối vi Bachelard, nhng không gian y mang ý nghĩa kép: chúng
th nơi trú n an toàn cho phép nhân vt sng tht vi bản thân, nhưng đng thi
cũng có thể tr thành biểu tượng ca s cô lập, tượng trưng cho “chiếc tủ” vô hình.
Có th thy, vic vn dng tng hp khung lý thuyết này vào mng tiu thuyết Vit
Nam viết v đề tài đồng tính nam cho phép chúng ta gii mã cách các tác gi kiến to và
s dụng không gian để biểu đạt nhng tri nghiệm và căn tính phức tp ca nhân vt. Qua
đó đóng góp vào việc hiểu sâu hơn cả v phương diện thi pháp ln những thông điệp nhân
văn mà các tác giả gi gm.
Bài viết được chúng tôi s dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
Phương pháp tiếp cn thi pháp hc: vn dng thuyết phương pháp này để tìm
hiu các tiu thuyết t phương diện hình thc, nhn din những đóng góp, sáng tạo ca
các nhà văn về ngh thut xây dng không gian ngh thut.
Phương pháp so sánh: bài viết s dụng phương pháp y khi chỉ ra nhng nét chung
và nét độc đáo riêng qua bốn tiu thuyết được la chn làm phm vi kho sát trong vic
xây dng không gian ngh thut. Vic s dụng phương pháp so sánh kết hp vi phân
tích, tng hợp, đánh giá là cần thiết để giải rõ hơn ý nghĩa của không gian riêng tư
không gian công cộng trong đời sng ca nhân vật đồng tính nam.
Phương pháp loại hình: phương pháp này giúp chúng tôi phân loại được các loi
hình không gian ngh thut qua th loi tiu thuyết viết v đề tài đồng tính nam đ t
đó phân tích, phát hiện được những nét độc đáo được biu hin nhân vt.
Tp chí Khoa hc Đại hc Th Du Mt S 4(77)-2025
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 126
3. Kết qu và tho lun
3.1. Không gian riêng tư
Không gian nghệ thuật không chỉ đơn thuần là bối cảnh diễn ra các sự kiện,còn
là một yếu tố quan trọng, một phương tiện hữu hiệu để nhà văn kiến tạo thế giới nhân vật
và chuyên chở những tầng sâu tư tưởng của tác phẩm. Đặc biệt, những không gian mang
tính riêng như căn nhà, phòng trọ, hay những chốn hẹn hò bí mật thường trở thành “sân
khấu” để nhân vật bộc lộ con người thật, nơi những góc khuất tâm tư và khát vọng thầm
kín nhất được phơi bày. Đối với nhân vật đồng tính nam, trong một xã hội định kiến
vẫn là rào cản vô hình thì không gian riêng tư lại càng thể hiện bản ngã cá nhân một cách
mạnh mẽ. Đó thể một “ốc đảo” an toàn, một chốn nương náu để họ tạm lánh xa
những phán xét nghiệt ngã từ thế giới bên ngoài, một nơi họ dám sống thật với bản dạng
của mình. Cũng chính tại những không gian này, những mối quan hệ nh cảm, dù đôi khi
phải diễn ra trong mật lén lút, mới hội nảy nở bộc lộ. Tuy nhiên, không
gian riêng tư không phải lúc nào cũng là thiên đường. Trớ trêu thay, nó cũng có thể biến
thành một phòng giam vô hình, nơi nhân vật đối diện với nỗi cô đơn cùng cực, sự tù túng
của tâm hồn khi không thể sẻ chia, và những giằng xé nội tâm khi phải vật lộn với chính
mình trong hành trình kiếm tìm sự chấp nhận và yêu thương.
Trong Mt thế giới không có đàn bà ca Bùi Anh Tn, không gian ngh thuật, đặc
bit là những không gian mang tính riêng tư, đóng vai trò then chốt trong vic hé l chiu
sâu tâm lýnhng góc khuất trong đời sng nhân vt. Tiêu biu là phòng ng ca thc
Phạm Hồng Bàng, nơi không chỉ din ra bi kch sau cùng còn một “sân khấu”
thm lặng, trưng y những mnh ghép v mt cuộc đời phc tp. Ngòi bút tác gi đã
khéo léo kiến to mt không gian va sang trng, tin nghi, th hiện “khiếu thm m
biết hưởng thụ” của ch nhân, li va phng pht mt bầu không khí “oi bức, ngt ngạt”
“máy lnh chy rầm rì” (Bùi Anh Tấn, 2019), như báo hiệu nhng ngt ngt trong
chính tâm hn và các mi quan h ca nhân vt
Nhng chi tiết tưởng chng vn vặt như “một vài cun sách kéo lệch” trên giá, “vài
bn v còn đang dang dở” trên bàn làm việc, hay “tm ảnh trên đầu giường nn nhân
Bàng đang nhìn Trung với n ời tươi trẻ” (Bùi Anh Tấn, 2019) không đơn thun
nhng vt bài trí vô tri. Chúng là nhng ch du tinh tế, gi m v nn tng giáo dc, s
đam cả nhng kết ni tình cảm sâu đậm mà Bàng trân trọng. Đặc bit, hin trng
ca nạn nhân khi được phát hin - gần như “trn trung ch còn mặc độc mt chiếc
qun lót mỏng” (Bùi Anh Tấn, 2019) ngay ti chốn riêng tư nhất, cùng với tàn dư của mt
cuộc vui dường như còn dang d qua “một chai rượu đổ nghiêng đã cạn và vài miếng ch
còn tươi” (Bùi Anh Tấn, 2019). Điều y đã mạnh m ám ch v mt cuc tao ng thân
mt, mt s hin din của “người khác” ngay trước thời điểm bi kch ập đến. Chính không
gian phòng ng này, vi tt c nhng gì nó chứa đựng, đã trở thành mt nhân chng câm
lng, hé l nhng bí mật trong đời sng tình cm, có th là nhng mi quan h đồng gii
mà nhân vật đã cố công che giu.
Đối lp với không gian riêng tư đầy n c ca Bàng, phòng làm vic ca Thiếu úy
Thành Trung và các đồng nghip tuy mang tính cht công cộng, nhưng cũng không hoàn
toàn trit tiêu nhng khonh khc cá nhân. Nhng gic ng trưa vội vã, nhng phút giây
ngh ngơi ngắn ngi tại nơi công sở vn có th là nơi cho những suy tư thầm kín, nhng
giấc mơ riêng tư trỗi dy, như giấc mộng “kinh hoàng” mà Thành Trung trải qua phn
đầu câu chuyện. Điều này cho thy, ngay c trong nhng không gian ng chừng như
ch dành cho công việc, đời sng ni tâm của con người vn luôn tìm cách len li, bc l
Tp chí Khoa hc Đại hc Th Du Mt ISSN (in): 1859-4433; (online): 2615-9635
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 127
nhng góc khuất riêng tư, chỉ thoáng qua. Qua đó, tác giả không ch khám phá không
gian riêng như một nơi chứa đựng bi kch mt, còn gi ý v s tn ti ca
những “khoảng lặng” cá nhân ngay trong lòng những không gian chung.
Căn nhà g bit lập “xa tít ngoại ô”, vi kiến trúc phn “lổn nhn ta hình
đồ chơi lắp ráp ca tr nh b lãng quên” và “khong hiên chy dài vênh vao d dạng
(Vũ Đình Giang, 2007), không chỉ một nơi ca G.g. Nó là mt cõi riêng, mt lãnh
địa ca s lp, ch bit khi nhng chun mc và nhịp điệu thông thường của đời
sng. Bên trong, s “chật chội”, “bài trí ln xộn” cùng những “góc khut thìnhnh thòi
ra mt th đó bất ng(Vũ Đình Giang, 2007) thế gii tâm hồn đầy bt n cùng
nhng góc khuất khó đoán định trong con ngưi ca G.g. S ba bn, th hin qua hình
ảnh “vỏ bao cao su G.g vt bừa bãi dưới gầm giường” (Vũ Đình Giang, 2007), không
ch phn ánh mt li sng phn buông th còn ám ch một không gian nơi bản
năng được giải phóng, đi kèm với nhng ri ro và phc tp tim n. Ngay c phòng ng,
được miêu t “khá thoải mái(Vũ Đình Giang, 2007), vn không thoát khi s ám
nh ca những điều bt ng, nhng yếu t khó lường tựa như chính m trạng ca G.g.
Bi kịch cũng không buông tha không gian y, khi nhà tm, một nơi vốn mang ý nghĩa
thanh ty và riêng tư, lại tr thành hiện trường của “cái chết đuối” trong cô đơn do “xut
huyết bao tcuộc rượu quá đà” (Vũ Đình Giang, 2007). Bên cnh không gian vt lý,
Song song còn gii thiu mt không gian nội m đc biệt đó là không gian “p”. Đây
được c định là “nơi chốn đ G.g trút b tt c mọi suy nghĩ sâu kín không s ai
dòm ngó” (Vũ Đình Giang, 2007). “p” không phimột địa điểm c th mà là mt cõi
tâm tưởng, một lãnh địa riêng tư tuyệt đối, nơi G.g có thể đối dinth hiện con người
tht ca nh mt cách trn tri nht. Trong không gian phi vt cht này, nhng ám nh,
những suy v bn dạng, tình yêu và ý nghĩa tn tại được t do tuôn chy, không b
phán xét hay dòm ngó, to nên mt chiu sâu biu tượng cho s phc tp nhng n
c trong tâm hn nhân vt.
Trái ngược vi không gian ca G.g, ngôi nhà ba gian truyn thng ca Sang, mt
không gian tưởng chng m áp quen thuc, li hin lên vi nhng tầng nghĩa phức tp.
“Giường ng ca b m được che bng mt tấm ri đô hàng chợ mỏng dính” (Thủy
Anna, 2014). Không gian này không ch khc ha mt nếp sinh hot gia đình mà còn ám
ch s thiếu vắng không gian riêng tư cần thiết, đặc bit vi một chàng trai đang độ tui
bắt đầu có nhng cm nhn và mun khám phá v bn thân. Chính s túng, ngt ngt
này, cộng hưởng vi ni xu h khi người m mang thai tui không còn trẻ, đã âm thầm
gieo vào lòng Sang nhng ht mm ca cm giác lc lõng, mt s bơ vơ ngay trong chính
t m của nh. Đối lp với không gian hãm đó, “gc y dâu da sau nhà” (Thủy Anna,
2014), nơi Sang thường xuyên tìm đến để s chia tâm s, li m ra một “khoảng
trời riêng” tuy tạm b nhưng cùng quý giá. Đây là nơi những băn khoăn thm kín v
gii tính, những khám phá đầu đời còn non nớt được th l, mt chốn nương náu cho
nhng tâm hồn đang chập chng tìm kiếm chính mình.
Nếu không gian gia đình của Sang hàm cha nhng áp lc tim ẩn, thì đối vi nhân
vật Tú, các không gian riêng khác lại gn lin vi hành trình kiếm tìm tình yêu cùng
nhng tri nghim cảm xúc đầy biến động. “Nhà nghỉ ven đê lộng gió. Mt trời yêu”
(Thy Anna, 2014) không ch một địa điểm c th đã được thi v hóa, tr thành mt
không gian ngh thuật tượng trưng cho những khonh khc lãng mạn, riêng tư của Tú và
Hà Mai. Tình yêu tưởng chừng thăng hoa đó, nhưng oái ăm thay, hin thực phũ phàng
li kéo tr v vi mặt đất. S thiếu vắng “giọt máu nào” trên tấm ga trắng đã biến
không gian của “một trời yêu” thành nơi chứng kiến “sự im lng tht vng khi biết mình