
Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một Số 4(77)-2025
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 112
HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ LÊ ANH HOÀI
Đoàn Chí Cường(1)
(1) Trường Đại học Sài Gòn
Ngày nhận bài 15/5/2025; Chấp nhận đăng 03/7/2025
Liên hệ email: doanchicuong3616@gmail.com
Tóm tắt
Trong nền văn học Việt Nam đương đại, Lê Anh Hoài được xem là một trong
những minh chứng tiêu biểu cho tinh thần sáng tạo, độc đáo. Đặc biệt, trong lĩnh vực thơ
ca, ông đã khẳng định dấu ấn riêng, khu biệt với các nhà thơ khác nhờ phong cách tự do,
ngẫu hứng. Để làm sáng tỏ điều trên, trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu khai thác thơ
Lê Anh Hoài từ góc độ thi pháp học và thao tác phân tích tổng hợp. Từ đây, người đọc
có sự nhìn nhận một cách cụ thể hơn về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Lê Anh Hoài.
Đó là cái tôi với ý thức kiếm tìm bản ngã, luôn khao khát vươn lên và vượt thoát khỏi
những khuôn khổ, cấm kị trong cuộc sống. Đồng thời, bài viết cũng góp phần làm sáng
tỏ những dụng ý nghệ thuật mà nhà thơ đã khéo léo gửi gắm trong các thi phẩm của mình.
Từ khóa: cái tôi trữ tình, Lê Anh Hoài, thơ ca Việt Nam đương đại
Abstract
THE IMAGE OF THE LYRICAL EGO IN LE ANH HOAI POETRY
In contemporary Vietnamese literature, Le Anh Hoai is considered one of the
typical pieces of evidence for the creative and unique spirit. Thanks to his open and
spontaneous approach, he has proven his viewpoint and area of expertise with other poets.
To clarify the foregoing, we will mostly look at Le Anh Hoai’s poetry via the method of
studying and manipulating general analysis. From here, readers have a more specific
view of the image of the lyrical ego in Le Anh Hoai’s poetry. This is the ego’s sense of
self-discovery and constant desire to soar beyond the social norms and taboos.
Furthermore, the essay serves to clarify the lyrical intentions that the poet has
successfully conveyed in his poetry.
1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của thời đại, đặc biệt trong bối cảnh văn học Việt Nam sau
năm 1986, xu hướng đổi mới mạnh mẽ và toàn diện đã mở ra một bước ngoặt quan trọng,
cho phép người nghệ sĩ khẳng định tài năng sáng tạo của mình. Thơ ca, trong tiến trình
ấy, đã mở ra một thế giới mới, cho phép nhà thơ có cơ hội thể hiện cái tôi cá nhân một
cách trực diện, phong phú và đa dạng hơn. Việc bộc lộ tâm tư, tình cảm của cái tôi trữ
tình không chỉ là một tín hiệu để truyền tải đến độc giả mà còn là sự phản tỉnh của một
cái tôi luôn nhạy cảm với những đổi thay của thời cuộc. Khi tìm hiểu đề tài Hình tượng
cái tôi trữ tình trong thơ Lê Anh Hoài, chúng tôi nhận thấy hình tượng cái tôi trữ tình là
một vấn đề đã được đề cập khá phổ biến trong nghiên cứu thơ ca. Nhiều công trình, bài
viết đã khai thác khía cạnh này dưới nhiều góc độ khác nhau.

Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một ISSN (in): 1859-4433; (online): 2615-9635
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 113
Một trong những công trình sớm và có tính định hướng là luận án Cái tôi trữ tình
trong thơ (qua một số hiện tượng thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990) của Lê Lưu Oanh
(1995). Tác giả đã trình bày nội dung thành ba chương: chương 1 giới thiệu mối quan hệ
giữa cái tôi trữ tình và thơ trữ tình; chương 2 đi sâu phân tích cái tôi trữ tình trong thơ
Việt Nam giai đoạn 1975-1990; chương 3 khảo sát các hình thức thể hiện của cái tôi trữ
tình trong giai đoạn này. Đây được xem là một trong những nghiên cứu nền tảng, góp
phần đặt nền móng cho những công trình tiếp theo.
Tiếp nối là luận văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính của Phạm Thị Thanh
Phượng (2000). Công trình tập trung làm rõ hai nội dung chính: biểu hiện của cái tôi trữ
tình trong thơ Nguyễn Bính và phương thức thể hiện cái tôi ấy. Qua đó, tác giả đã phân
tích khá cặn kẽ về không gian, thời gian, giọng điệu và các đặc điểm nghệ thuật đặc sắc
làm nổi bật hình tượng cái tôi trong thơ Nguyễn Bính.
Ở luận văn Cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên sau Cách mạng 1945 (Nguyễn
Thị Kim Dung, 2005), người đọc có cơ hội nhìn nhận rõ hơn về sự phát triển và biến đổi
của cái tôi trữ tình qua các giai đoạn sáng tác của Chế Lan Viên, từ Điêu tàn, Hái theo mùa
đến Hoa trên đá, Di cảo thơ. Luận văn đã hệ thống hóa tiến trình vận động của cái tôi, qua
đó góp phần lý giải chiều sâu tư tưởng cũng như cá tính sáng tạo đặc biệt của nhà thơ.
Luận văn Hình tượng cái tôi trữ tình trong Ngư phong thi tập của Nguyễn Quang
Bích của Trần Nguyễn Thùy Dương (2012) được triển khai với ba chương: giới thiệu về
Nguyễn Quang Bích, nội dung thể hiện cái tôi trữ tình trong Ngư phong thi tập và các thủ
pháp nghệ thuật góp phần khắc họa hình tượng này. Công trình đã kế thừa và phát triển
hướng tiếp cận trước đó, làm sáng rõ thêm vai trò và giá trị biểu đạt của cái tôi trong thơ
văn yêu nước.
Phan Trắc Thúc Định (2012) thực hiện luận văn Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ đương
đại (qua Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải), mang đến một cái nhìn khái quát
về biểu hiện của cái tôi trong thơ đương đại. Tác giả không chỉ khái lược về cái tôi trữ
tình mà còn chỉ ra những phương thức thể hiện đa dạng và mới mẻ trong thơ của mỗi tác
giả. Bùi Bích Hạnh (2012) với luận án Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam, một công
trình công phu và hệ thống, nhằm phác họa diện mạo và xu hướng biểu hiện cái tôi trong
thơ ca trẻ. Luận án này thể hiện được khả năng học thuật cao khi nghiên cứu về đặc trưng
thi pháp và tâm thức thế hệ nhà thơ hậu đổi mới.
Luận văn Tiếng nói của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh
trước năm 1986 – Một cái nhìn đối sánh của Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) đã đặt vấn đề
nghiên cứu trong mối quan hệ so sánh, làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt
trong biểu hiện cái tôi trữ tình giữa hai nhà thơ tiêu biểu trước thời kì đổi mới. Luận văn
đã kết hợp giữa phân tích nội dung và phương thức thể hiện, từ đó đưa ra những nhận
định sâu sắc về chất giọng và cá tính thi ca của mỗi tác giả.
Đáng chú ý, Trần Đình Sử (2020) trong công trình Cái tôi và hình tượng trữ tình
đã chỉ ra khoảng trống trong việc nghiên cứu khái niệm cái tôi trữ tình. Ông cho rằng,
mặc dù ai cũng thừa nhận thơ trữ tình luôn gắn liền với cái tôi, nhưng cho đến nay, khái
niệm này vẫn chưa được lý luận một cách đầy đủ, nhất quán. Theo ông: “Thơ trữ tình với
tư cách là sự biểu hiện của cái tôi, là phương tiện để con người cảm thấy sự tồn tại của
mình. Cái tôi trong thơ nâng con người lên cao hơn tồn tại trực tiếp, hướng nó về lý tưởng,
là cái cầu nối giữa vô thức với hữu thức.” (Trần Đình Sử, 2020). Nhận định của Trần
Đình Sử không chỉ cho thấy tầm quan trọng của cái tôi trong thơ mà còn mở ra nhiều
hướng tiếp cận mới, giàu tính nhân văn và triết luận cho việc nghiên cứu thể loại này.

Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một Số 4(77)-2025
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 114
Bên cạnh các công trình luận văn, luận án, còn có một số bài báo khoa học tiêu biểu
cũng đã khai thác vấn đề cái tôi trữ tình như: Cái tôi trữ tình trong thơ văn xuôi Việt Nam
hậu hiện đại (Nguyễn Thị Chính, 2016), Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ nữ Việt
Nam giai đoạn 1986-2016 (Hồ Tiểu Ngọc, 2019), Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ
Lê Thị Mây (Phạm Thị Thu Hằng, 2021), Cái tôi trữ tình trong thơ Bình Nguyên (Vũ
Nguyệt Khánh Phượng, 2024)…
Các công trình trên cho thấy mối quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu đối với hình
tượng cái tôi trữ tình. Bởi cái tôi là một yếu tố không thể thiếu trong việc khám phá thế
giới nội tâm của người nghệ sĩ, đồng thời góp phần làm phong phú thêm bức tranh nghiên
cứu thơ ca Việt Nam đương đại. Mặc dù đã có nhiều công trình và bài viết bàn về hình
tượng cái tôi trữ tình, tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi vẫn chưa có nghiên cứu nào
tập trung khai thác khía cạnh này trong thơ Lê Anh Hoài. Vì vậy, dù đề tài không thực sự
mới mẻ nhưng bài viết này mong muốn góp thêm một góc nhìn độc đáo về hình tượng
cái tôi trong thơ ông.
Trong dòng chảy thơ ca Việt Nam đương đại, Lê Anh Hoài hiện lên với tư cách là
một nhà thơ giàu cá tính, với lối viết sáng tạo và luôn khơi gợi sự tò mò thẩm mĩ nơi
người đọc. Cùng hai tập thơ Những giấc mơ bên đường (Lê Anh Hoài, 1999), Mảnh mảnh
mảnh (Lê Anh Hoài, 2012), ông đã tái hiện một thế giới ngổn ngang những mảnh vỡ của
hiện thực, đan xen giữa thực tại và giấc mơ… Tất cả đã hòa quyện và tạo thành một bức
tranh mờ ảo, không ranh giới rõ ràng, khiến cho cái tôi trữ tình rơi vào trạng thái lạc lõng,
chênh vênh, mất phương hướng và dần đánh mất niềm tin vào cuộc sống. Đồng thời, đó
cũng là một cuộc chơi kiếm tìm bản ngã, thể hiện khát vọng vượt thoát khỏi những khuôn
mẫu truyền thống đã được định sẵn. Chính vì vậy, việc tìm hiểu đề tài Hình tượng cái tôi
trữ tình trong thơ Lê Anh Hoài được xem là một cơ sở phù hợp để người nghiên cứu khám
phá những ẩn ý nghệ thuật, qua đó làm sáng tỏ tư tưởng, tài năng sáng tạo của nhà thơ.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu thơ ca, hình tượng cái tôi trữ tình được xem là một yếu
tố đặc trưng, giữ vai trò quan trọng trong việc cấu thành tác phẩm. Khái niệm này góp
phần thể hiện thế giới nội tâm phong phú của chủ thể sáng tạo, qua đó bộc lộ những cung
bậc cảm xúc và chiều sâu tư tưởng của nhà thơ. Khi tìm hiểu về “hình tượng” trong văn
học nghệ thuật, chúng tôi nhận thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau cũng như sự đa
dạng trong cách nhìn nhận và lý giải khái niệm này.
Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa hình tượng là “sự phản ánh hiện
thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh
động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính.” (Hoàng Phê, 2003). Từ định nghĩa
này, hình tượng có thể là một phương thức giúp nhà văn tái hiện và phản ánh thực tại
cuộc sống từ việc xây dựng các hiện tượng cụ thể trong tác phẩm.
Lại Nguyên Ân (2016) cho rằng: “Hình tượng là một cấu trúc gồm hai thành tố;
hình tượng là giao điểm của tuyến “vật thể” và tuyến “hàm nghĩa”. Ở hình tượng, một
đối tượng này được bộc lộ thông qua một đối tượng khác, các đối tượng chuyển hóa lẫn
nhau… Mục tiêu của hình tượng là tân tạo sự vật, biến nó thành một cái gì đó khác hẳn
- dù là biến cái đơn giản thành cái phức tạp hay biến cái phức tạp thành cái đơn giản,
nhưng bao giờ cũng có đạt tới một hiệu thế hàm nghĩa cao hơn giữa hai cực, bao giờ
cũng có làm lộ ra sự thâm nhập lẫn nhau của những bình diện rất khác nhau.”. Bên cạnh

Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một ISSN (in): 1859-4433; (online): 2615-9635
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 115
đó, tác giả còn xem hình tượng nghệ thuật là “phương thức chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực
riêng biệt, vốn có và chỉ có ở nghệ thuật. Bất cứ hiện tượng nào được xây dựng lại một
cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật… là kết quả hoạt động tưởng tượng, nhằm tạo
ra một thế giới ứng với những nhu cầu và định hướng về tinh thần của con người, ứng
với hoạt động có chủ đích, với lý tưởng của con người.”. Theo đó, hình tượng không chỉ
là kết quả của quan sát thông thường, mà còn được trừu xuất từ những trải nghiệm đã có,
dưới sự dẫn dắt của trí tưởng tượng và cảm thụ cá nhân, nhằm khám phá các lớp nghĩa
tiềm ẩn và truyền tải những thông điệp ý nghĩa.
Trong văn học nói chung và thơ ca nói riêng, việc xem cái tôi trữ tình như một thế
giới nghệ thuật đã mở ra nhiều khả năng khám phá mới. Tuy nhiên, khái niệm này không
đồng nhất với cái tôi tác giả, mà có thể được hiểu như một sự hiện thân của chủ thể sáng
tạo. Nhờ đó, người đọc có thể cảm nhận những tâm tư, tình cảm sâu kín của chủ thể, đồng
thời nhận diện giá trị thẩm mĩ của nó. Bàn về điều trên, Heghen (1999) đã nhấn mạnh:
“Nguồn gốc và điểm tựa của nó là ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất, độc nhất mang
nội dung. Chính vì vậy cho nên cá nhân phải có được một bản tính thi sĩ, phải có một trí
tưởng tượng phong phú, phải có một cảm xúc dồi dào và có thể lĩnh hội được những ý
niệm sâu sắc và đồ sộ”.
Ở công trình Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam, Nguyễn Bá Thành (1996)
nhận định cái tôi trữ tình như một nhân vật nhằm biểu đạt những tư tưởng thẩm mĩ của nhà
thơ. Ngoài ra, cái tôi ấy cần phải đặt trong một bối cảnh cụ thể, nó gắn liền với từng thời
đoạn nhất định. Và dưới sự chi phối của quan niệm thơ, sự chuyển biến trong nhận thức
của nhà thơ về cái tôi cũng trở nên khác nhau: “Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện
dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp. Thơ trữ
tình coi trọng sự biểu hiện của chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ.
Tuy nhiên, do sự chi phối quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí
của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định”. Trong thơ, việc giải mã cái tôi trữ tình là
điều cần thiết. Để làm được điều đó, cái tôi cần có một thế giới riêng để có thể bộc lộ cảm
xúc một cách tự nhiên, chân thật và mãnh liệt: “‘Thơ trữ tình là bản tốc kí nội tâm’, nghĩa
là sự tuôn trào của hình ảnh, từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng
tạo. Chính vì vậy về bản chất mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện đa
dạng của cái tôi trữ tình”.
Sau cùng là công trình Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990, Lê Lưu Oanh (1998) kiến
giải rằng cái tôi trữ tình có thể được hiểu như một thế giới nghệ thuật độc lập, mang giá
trị thẩm mĩ riêng. Trong thế giới ấy, nhà thơ được tự do thể hiện cá tính và sáng tạo nên
một thế giới mang đậm dấu ấn cá nhân. Qua đó khẳng định bản thân như một cá thể riêng
biệt, không bị hòa lẫn vào bất kì điều gì khác: “Gọi cái tôi trữ tình là một thế giới nghệ
thuật bởi thế giới nội cảm này là một chỉnh thể thống nhất, có ngôn ngữ và quy luật riêng,
chịu sự quy định của những quan niệm nghệ thuật riêng, phụ thuộc vào lịch sử thời đại
và lịch sử cá nhân… Đi vào thế giới nghệ thuật, được coi như một kênh giao tiếp với
những mã số, kí hiệu, giọng nói, chương trình riêng, cần có những thao tác phù hợp…
Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mỹ.” (Lê Lưu
Oanh, 1998).
Trong thơ Lê Anh Hoài, cái tôi trữ tình ý thức khá rõ về hành trình kiếm tìm bản
ngã và khát vọng vượt khỏi những khuôn khổ, cấm kị. Và đó cũng chính là con đường
dẫn lối người đọc giải mã tư tưởng và sự chuyển biến phức tạp, tinh vi về những cung
bậc cảm xúc của hình tượng cái tôi trong thơ của ông.

Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một Số 4(77)-2025
https://vjol.info.vn/index.php/tdm 116
Để thực hiện bài viết, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Vận dụng phương pháp này để làm rõ những
biểu hiện của hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Lê Anh Hoài.
Thao tác phân tích tổng hợp: Tiến hành phân tích và làm rõ những biểu hiện của cái
tôi trữ tình trong thơ Lê Anh Hoài qua hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Từ đó,
chúng tôi sẽ thu thập các dữ liệu để làm sáng tỏ đề tài.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Cái tôi với ý thức kiếm tìm bản ngã
Trong dòng chảy thơ ca đương đại Việt Nam, có những nhà thơ không chấp nhận
đi theo những lối mòn quen thuộc, mà chọn cách phá vỡ giới hạn, khai mở những hình
thức biểu đạt mới để khẳng định bản ngã riêng. Chẳng hạn như Bùi Giáng, Lê Đạt, Trần
Dần, Dương Tường, Hoàng Hưng, Bùi Chát, Lý Đợi, Nguyễn Hoàng Nam, Phan Huyền
Thư, Vi Thùy Linh… Trong dòng chảy ấy, Lê Anh Hoài được biết đến là một cây bút tuy
khá mới mẻ nhưng ông đã có những đóng góp đáng kể thông qua phong cách thơ độc đáo
và sáng tạo. Đặc biệt, ông thể hiện dấu ấn sâu đậm qua việc khắc họa hình tượng cái tôi
trữ tình trong thơ. Những con chữ được ông sắp xếp một cách tự do, ngẫu hứng nhưng ẩn
sau đó là sự tinh tế có chủ đích, thể hiện một ý thức kiếm tìm bản ngã – một cái tôi không
ngừng phản tỉnh, đối diện với chính mình và thế giới xung quanh.
Thơ Lê Anh Hoài tựa như một cuộc hành trình đi tìm sự tồn tại của bản ngã, nơi con
người không chỉ sống mà còn phải ý thức sâu sắc về sự hiện diện của mình trong đời, kể cả
khi lạc trôi vào miền vô thức. Nếu con người thường chìm vào giấc ngủ để lãng quên thực
tại, thì cái tôi trữ tình trong thơ ông lại chọn cách thức tỉnh, đối diện với chính mình: “chúng
mình đam mê trong trạng thái/ tỉnh thức mất ngủ/ dẫn nhau đi trên những mái nhà lúc đêm”
(Mộng du). Hành động “đi trên mái nhà” là biểu tượng cho hành trình kiếm tìm bản ngã.
Khi đặt mình vào trạng thái của những người mộng du, ta có thể cảm nhận được cái tôi trữ
tình đang thỏa sức vẫy vùng trong mê lộ không giới hạn. Họ đắm chìm vào những cảm xúc
chân thực nhất, như thể đang tham gia vào một cuộc truy nguyên con người đích thực của
chính mình. Tuy nhiên, sự tỉnh thức ấy cũng đi kèm với nỗi sợ hãi trước thực tại phũ phàng:
“xin đừng gọi, dừng gọi!/ anh và em sẽ tỉnh lại và rơi xuống/ và chết vì sự chắc chắn của
mặt đường” (Mộng du). Bài thơ không chỉ khắc họa một cái tôi cá nhân đầy mạnh mẽ mà
còn phản ánh sự giằng co giữa bản ngã và hiện thực, nơi con người khao khát tự do nhưng
vẫn bị ràng buộc bởi những quy luật khắc nghiệt của cuộc sống.
Bên cạnh đó, cái tôi trữ tình trong thơ Lê Anh Hoài còn bộc lộ qua khát vọng tìm
kiếm bản ngã và một nơi thuộc về mình. Điều này thể hiện rõ trong bài thơ Ước, khi nhân
vật trữ tình gửi gắm khát khao vào những hình ảnh thiên nhiên đầy biểu tượng: “buồm
trắng lênh đênh mơ về bến bờ/ tháng năm mơ về ngày Tết/ và cả thiên thần cũng mơ/ một
mái nhà mây” (Ước). Những hình ảnh “buồm trắng lênh đênh”, “chim chóc bay hoài”,
“gió lang thang thui thủi” gợi lên trạng thái vô định, khắc họa một cái tôi luôn trăn trở về
sự hiện hữu của mình giữa thế giới rộng lớn. Không chỉ con người mà cả thiên nhiên cũng
mang nỗi khắc khoải ấy: “chim chóc bay hoài,/ mơ một vòm cây/ và mây cũng mơ về lũng
núi/ và cả gió lang thang thui thủi/ vẫn mơ về đậu xuống mặt hồ.” (Ước). Khát khao tìm
kiếm chốn neo đậu không đơn thuần là câu hỏi về sự tồn tại của bản ngã mà còn là nỗi cô
đơn, lạc lõng của cái tôi trữ tình trong hành trình đi tìm giá trị đích thực.

