Mi quan h gia tiếng cười trào phúng và khát vng
n quyn trong thơ Nôm H Xuân Hương1
Phm Qunh An(*)
Tóm tt: H Xuân Hương được coi là nhà thơ ca ph n. Trong nhiu sáng tác thơ
Nôm, bà đã th hin khát vng n quyn, đòi hi s bình đẳng cho gii mình. Mt trong
nhng vũ khí đấu tranh cho n quyn ca thơ Nôm H Xuân Hương chính là tiếng cười
trào phúng, qua đó bà lên án chế độ phong kiến h lu tước đot quyn t do sng và t
do yêu đương ca người ph n. Bài viết tìm hiu mi quan h gia tiếng cười trào phúng
và khát vng n quyn trong thơ Nôm H Xuân Hương, t đó khng định thơ H Xuân
Hương không nhng là mt bước tiến vượt bc ca thơ trào phúng trung đại mà còn là
tiếng nói mnh m ca văn hc n quyn thi by gi.
T khóa: Bà Chúa thơ Nôm, H Xuân Hương, Thơ Nôm, N quyn, Tiếng cười trào
phúng
Abstract: Ho Xuan Huong is considered a poet of women. She expressed her feminist
aspirations, demanding equality for women in many of her Nom poems. One of the
weapons of struggle for feminism in Ho Xuan Huong’s Nom poetry is satirical laughter,
through which she condemns the feudal regime that deprives women of their freedom
to live and love. This article explores the relationship between satirical laughter and
feminist aspirations in Ho Xuan Huong’s Nom poetry, thereby a rming that Ho Xuan
Huong’s poetry is not only a great step forward for medieval satirical poetry but also a
strong voice of feminist literature of the time.
Keywords: Lady of Nom Poetry, Ho Xuan Huong, Nom Poetry, Feminism, Satirical
Laughter
Ngày nhn bài: 21/6/2024; Ngày duyt đăng: 15/7/2024
1. M đầu1(*)
Dưới chế độ phong kiến, người ph n
phi chu thân phn lép vế, bt bình đẳng
so vi nam gii. H b ràng buc bi quan
1 Bài viết là sn phm ca Đề tài cơ s năm 2024
“Tng quan nghiên cu v phê bình văn hc n
quyn ti Vit Nam”, do ThS. Phm Qunh An ch
nhim, Vin Thông tin Khoa hc xã hi ch trì.
(*) ThS., Vin Thông tin Khoa hc xã hi, Vin Hàn
lâm Khoa hc xã hi Vit Nam;
Email: quynhantb@gmail.com
nim “tam tòng t đức”, không được t do
phát trin bn thân, t do la chn hnh
phúc. Trong bi cnh đó, H Xuân Hương,
“Bà Chúa thơ Nôm”, được coi là người
ph n mnh m dám ct lên tiếng nói
phn kháng, đòi quyn bình đẳng cho gii
mình. Đặng Thanh Lê (1996) tng khng
định H Xuân Hương là nhà thơ ca ph n.
Thơ Nôm ca bà, vi tiếng cười trào phúng,
đã góp mt tiếng nói riêng, độc đáo, thm
đẫm khát vng n quyn cho văn chương
55
Mi quan h gia tiếng cười…
n gii thi trung đại nói riêng và văn hc
Vit Nam nói chung.
2. Tiếng cười trào phúng như mt
phương tin đấu tranh cho n quyn
Trong văn hc, tiếng cười không đơn
gin là s th hin nim vui, tinh thn phn
khi. Vi đặc thù ca loi hình ngh thut
ngôn t, có kh năng phn ánh tư tưởng,
tâm tư, tình cm, khát vng, suy nghĩ ca
con người, văn hc trào phúng đã biến
tiếng cười thành mt phương tin biu đạt.
Tiếng cười trào phúng trong văn hc có th
là ni đau, có th là s chê bai, giu ct,
ma mai, châm biếm, cũng có th là khát
vng ca con người v mt cuc sng tt
đẹp hơn, nhưng dù là gì, nó cũng đã được
ct lên như mt th sc mnh. Theo Văn
Tân, tiếng cười trào phúng th hin s đánh
giá mt đối tượng nào đó, “s đánh giá này
th hin s khinh b, s chê bai mt cách
sâu cay, ca k được vào cái thế được
ma mai k khác” (Văn Tân, 1957: 20). Có
người cho rng, “tiếng cười hài hước bt ra
là do sc mnh ni ti ca tâm trí chúng ta,
tc là s phn kháng và s thng li ca tư
duy logic đối vi nhng hin tượng mun
lt ra khi phm vi gii quyết ca nó. Tiếng
cười hài hước th hin s thng li ca trí
tu” (Đinh Gia Khánh, 2002: 366).
Như vy, tiếng cười trào phúng trong
văn hc bt ngun t s không hài lòng
vi thc tế, và tiếng cười thc cht là s
đánh giá (ma mai, giu ct, chê bai, h b,
lên án…) đối vi mt đối tượng nào đó,
th hin tâm thế b trên ca ch th. Nó
chính là tiếng nói t cáo, lên án cái xu xa,
qua đó th hin khát vng mun thay đổi
thc ti sao cho tt đẹp hơn. Tiếng cười,
khía cnh này, chính là “sc mnh ni ti
ca tâm trí”.
Trong thơ Nôm H Xuân Hương nói
riêng và văn hc n quyn Vit Nam nói
chung, tiếng cười trào phúng phá v nhng
định kiến, quan nim li thi v vai trò ca
ph n trong xã hi. Bng cách chế giu
quan nim trng nam khinh n, lên án s
bt công trong xã hi mà n gii phi gánh
chu, các tác phm này đã giúp thay đổi
nhn thc xã hi và đòi hi, đấu tranh cho
bình đẳng gii.
Tiếng cười trào phúng là công c hiu
qu để phê phán nhng bt công và phân
bit gii tính trong xã hi. Bng cách s
dng s hài hước, ma mai, châm biếm, các
nhà văn có th ch ra nhng bt cp và bt
công mà ph n phi đối mt, t đó khơi gi
s chú ý và đồng cm ca người đọc. Khác
vi cách biu đạt thông thường, cách thc
ca tiếng cười giúp khơi dy nhn thc, s
tnh thc v nhng vn đề nghiêm trng
liên quan đến gii tính và quyn li ca
ph n. S hài hước, ma mai có th giúp
người đọc nhn ra nhng điu bt thường,
phi lý mà trước đó h (có th) tng coi và
chp nhn như mt điu bình thường. T
đó, các tác phm n quyn có th thúc đẩy
s thay đổi xã hi bng cách ch ra nhng
khía cnh cn được ci thin, khơi dy tinh
thn đấu tranh cho s bình đẳng gii. Khi
vn đề được trình bày mt cách hài hước và
sc so, nó có th khiến công chúng d tiếp
cn, d nhn ra và thy được s cn thiết
phi thay đổi xã hi.
Vn b lép vế trước nam gii, gi đây
tiếng cười trào phúng có th là mt ch
da cho n gii. S trào phúng trong sáng
tác văn chương giúp ph n mnh dn hơn
trong vic lên tiếng v nhng bt công mà
h phi chu đựng. S châm biếm, hài hước
là mt phương tin mnh m để ph n th
hin quan đim ca mình mà nếu đấu tranh
bng các phương tin khác có th b bác b
hay coi thường. Tiếng cười trào phúng cho
phép các tác gi n quyn s dng ngôn
Tp chí Thông tin Khoa hc xã hi, s 8.2024
56
ng và hình nh mt cách sáng to để th
hin nhng suy nghĩ và cm xúc ca mình.
Điu này không ch làm cho các tác phm
tr nên hp dn hơn mà còn m rng không
gian cho s t do biu đạt trong văn hc.
Như vy, tính cht trào phúng trong
văn hc n quyn không ch là mt công
c phê phán mnh m mà còn có ý nghĩa
quan trng trong vic nâng cao nhn thc,
thúc đẩy s thay đổi xã hi, khuyến khích
s t do biu đạt, sáng to ca ph n.
3. Các biu hin ca khát vng n
quyn trong thơ Nôm trào phúng H
Xuân Hương
Theo mt s nhà nghiên cu, mc dù
nhng biu hin phn kháng ca người ph
n trong văn hc dân gian và trung đại ch
là s “quy đạp” vô vng, ý thc phái tính
và n quyn vn được th hin bng âm
sc riêng ca nhng người ph n giàu
lòng trc n và luôn khát khao hnh phúc.
Đặc bit, “t thế k XVIII đến cui thế k
XIX, khi Nho giáo thc s vn gi vai trò
thng tr, khi nhng luân lý Nho hc đã ăn
sâu vào tâm thc toàn xã hi Vit Nam,
khi người ph n nht nht phi tuân th
nhng l giáo phong kiến hà khc ca đạo
Nho thì dường như nhng khúc ca ai oán
ca người cung n, nhng li tâm s hao
gy, héo mòn ca người chinh ph, nhng
li phn kháng, lên án xã hi bt công, đòi
bình đẳng nam n ca nhng người ph n
b xã hi phong kiến dn đến tn đáy cùng
cùng lúc được ct lên” (Nguyn Th Thanh
Xuân, 2013). Biu hin ca ý thc phái tính
mi n tác gi là khác nhau, chng hn
Đoàn Th Đim là khát vng gii phóng
tài năng, đòi hi quyn t ch, theo đui
hoài bão, lý tưởng cho người ph n (thông
qua mt lot các hình tượng nhân vt n
như Cung phi Bích Châu, Thánh Mu Liu
Hnh… trong Truyn k tân ph); Đạm
Phương n s là s đồng cm, khâm phc
đối vi nhng người ph n tiết hnh, gp
cnh oan nghit (qua các bài thơ như
M Châu, Bà M Ê, Li t ơn bà Trn
Th Th Nam k…). Còn thơ Nôm H
Xuân Hương, đặc trưng ý thc n quyn
là tiếng cười trào phúng va xót xa, va
ngang tàng, mnh m. Qua tiếng cười đó,
n sĩ mun th hin khát vng t do, khát
vng tình yêu đôi la, mun gii thiêng
hình tượng nam gii, đả phá nam quyn.
3.1. Khát vng t do, chng li tư
tưởng trng nam khinh n, khng định
vai trò ca người ph n
Trong nhiu bài thơ, H Xuân Hương
đã khng định vai trò, giá tr ca bn thân
nói riêng và người ph n nói chung. Chng
hn trong bài Bánh trôi nước, bà đã miêu
t người ph n vi v đẹp đầy đặn, trong
ngn: “Thân em va trng li va tròn” (H
Xuân Hương, 2022: 8). Còn trong bài Đề
tranh t n, H Xuân Hương đã khc ha
hình nh người ph n bng ging điu dí
dm. Cũng vy, Thiếu n ng ngày ca ngi
v đẹp trinh trng ngây thơ ca người thiếu
n vi mt n cười hóm hnh. Không ch
đẹp v hình th, người ph n trong thơ
còn đẹp v tâm hn. Gia thi bui nhiu
nhương, dưới chế độ phong kiến ngt ngt,
b chèn ép, mang thân phn ca chiếc bánh
trôi “by ni ba chìm”, “rn nát mc du tay
k nn” (Bánh trôi nước) (H Xuân Hương,
2022: 8), ca qu mít “v nó xù xì” (Qu
mít) (H Xuân Hương, 2022: 38), ca con
c nhi “đêm ngày lăn lóc đám c hôi” (c
nhi) (H Xuân Hương, 2022: 36), người
ph n “vn gi tm lòng son” (Bánh trôi
nước) (H Xuân Hương, 2022: 8).
Đặc bit, ging điu trào phúng trong
bài Không chng mà cha (H Xuân
Hương, 2022: 16) đã đạt đến mt tng nc
mi ca s lên án, đả kích: nhà thơ dám
57
Mi quan h gia tiếng cười…
thách thc c chế độ phong kiến bng quan
nim đi ngược li vi quan nim ca xã
hi. Vic “không chng mà cha” được bà
gii thích mt cách tnh bơ, vi mt thái
độ bông lơn như vi chuyn tm phào: do
“c n”. Thm chí, cái vic mang thai khi
chưa có chng ca người ph n còn được
bà dõng dc tuyên b: “Qun bao ming
thế li chênh lch/ Không có, nhưng mà
có, mi ngoan”. T cáo tp tc khc nghit,
bóp nght quyn sng ca người ph n,
tiếng cười trào phúng trong thơ Nôm H
Xuân Hương chính là tiếng nói bày t khát
vng được t do ca n gii.
Khng định v đẹp hình th, tâm hn,
trí tu ca người ph n, H Xuân Hương
cười ma tư tưởng trng nam khinh n ca
chế độ phong kiến. Hơn thế, bà đả kích,
châm biếm thói hư tt xu ca nhng nhân
vt đại din cho chế độ này, t vua chúa,
quan th cho đến sư sãi và nhng k được
coi là “hin nhân quân t”. Thói mê hoa,
hiếu sc ca chúa b cười chê trong bài
Vnh cái qut: “Hng hng má phn duyên
vì cy/ Chúa du vua yêu mt cái này”
(Kiu Thu Hoch, 2022: 222). Cuc sng
trái l t nhiên ca đám quan li b phơi
bày dưới ngòi bút trào phúng ca H Xuân
Hương: “Đố ai biết đó vông hay chc/ Còn
k nào hay cung vi đầu” (Quan th) (H
Xuân Hương, 2022: 39).
Chng chế độ phong kiến, H Xuân
Hương còn chng tư tưởng thn quyn
trong xã hi, đại din là nhng k đội lt
tu hành. Li nói lái được bà s dng nhiu
nhm th hin tiếng cười khinh mit, trong
đó nhiu ln được dùng để ch các b phn
sinh dc, chuyn tình dc: “đá đeo”, “trái
gió”, “ln lèo”, “cái xuân tình”, “đáo nơi
neo”, “suông không đấm”, “đếm li đeo”
(H Xuân Hương, 2022: 18)… Vi phép
nói lái đầy ma mai này, H Xuân Hương
mun h b các nhà sư, t “sư c đến
“tiu” và “vãi”. Trong mt lot các bài như
Hang Thánh Hóa, Sư b ong châm, Chùa
Quán S, n sĩ mô t sư vi hình nh thô
tc. Tiếng cười ma mai, giu ct ca bà
không quên ct lên trước nhng hình nh
l lăng, phn cm này. Bà chng li “th
tôn giáo” đi ngược li bn tính t nhiên ca
con người, “th tôn giáo” bóp nght cuc
sng ca h mà trong xã hi phong kiến,
người ph n chu thit thòi, áp bc hơn
bt c ai khác.
3.2. Khát vng tình yêu và nhu cu
gii phóng tính dc
Khát vng t do yêu đương trong thơ
H Xuân Hương là điu không phi bàn cãi.
Thm chí nhiu người cho rng thơ bà luôn
có ý lng lơ. T góc độ trào phúng, có th
thy yếu t cười ct, trào lng, châm biếm
trong nhng bài thơ đề cp đến tình yêu
và hôn nhân ca bà đã góp mt tiếng nói
riêng, độc đáo trong hành trình đấu tranh
cho n quyn. Nếu như Bà Huyn Thanh
Quan, Đoàn Th Đim hay Đạm Phương n
s bày t khát vng được sng bình đẳng
vi nam gii mt cách nh nhàng, nghiêm
cn và đầy xa xót, thì H Xuân Hương, vi
cá tính mnh m ca mình đã cười vào chế
độ đa thê, ma mai s bt công mà ph n
phi gánh chu trong tình yêu. Đặng Thanh
Lê (1996) khng định, đây là ln đầu tiên
trong văn hc Vit Nam, mt ph n tài
hoa và dũng cm đã lên tiếng trên giy
trng mc đen đấu tranh cho quyn li ca
gii mình.
Sng gia xã hi mà đàn ông có quyn
“năm thê by thiếp”, người ph n chu
thân phn “by ni ba chìm”, không được
t quyn định đot s phn mình, “rn nát
mc du tay k nn”, H Xuân Hương vn
khng định v đẹp trn vn, trinh trng ca
h. Cay đắng là vy nhưng n sĩ không cam
Tp chí Thông tin Khoa hc xã hi, s 8.2024
58
chu trong nghn ngào, bà ca ngi v đẹp
ca người ph n bng mt ging điu dí
dm, khiến mi kh hnh dường như nh
bng, ch còn li tiếng cười tim n trong
đó s t tin và sc mnh. Như trong bài Đề
tranh t n, tác gi viết: “Nghìn năm còn
mãi cái xuân xanh” (Kiu Thu Hoch, 2022:
250). Hay như trong bài Mi tru (H Xuân
Hương, 2022: 34), bà viết như đang đùa vui
mà li n cha trong tng câu ch, ging
điu mt s đòi hi đầy tha thiết và mãnh
lit v tình yêu đôi la: “Qu cau nho nh
miếng tru hôi/ Này ca Xuân Hương mi
qut ri”. Bà không ngn ngi đưa tên mình
mt cách đầy thách thc vào trong thơ, vi
hàm ý khng định ch quyn. Khát khao
yêu đương, khát khao tình duyên “thm
li”, nhưng H Xuân Hương cũng không
quên nh nhàng cnh cáo đối phương:
Đừng xanh như lá, bc như vôi”.
Trong mt bài thơ khác, H Xuân
Hương cũng bày t mong mun này nhưng
bng cách thc hài hước hơn. Mượn qu
mít để nói v người ph n và khát vng
yêu đương, bà cnh báo: “Quân t có yêu
thì đóng cc/ Xin đừng mân mó nha ra
tay” (Qu mít) (H Xuân Hương, 2022:
38). “Đóng cc”, “mân mó” đều là nhng
động t được tác gi dùng để ám ch nhng
hành động ca nam gii trong mi quan h
yêu đương vi n gii. Bng cách nói dí
dm này, H Xuân Hương khng định ph
n có quyn đòi hi mt tình yêu nghiêm
túc, có trách nhim. Khát vng cháy bng
v mt tình yêu chân chính, chung thy còn
được th hin trong mt lot các bài thơ
như Qua sông ph sóng, Trách Chiêu H
III, Làm l,…
Không nhng lên án chế độ đa thê coi
thường ph n, gây ra nhng cnh tr trêu
khiến người ph n khn kh, H Xuân
Hương còn mnh dn đấu tranh đòi quyn
bình đẳng cho n gii khi đả phá nhng
quan nim, tp tc phong kiến khc nghit
v người ph n “không chng mà cha”.
Điu đáng nói là, n thi sĩ bày t thái độ
ca mình theo cách châm biếm, ma mai.
Nó ging như mt tiếng cười ma đầy thách
thc đối vi chế độ phong kiến h lu:
“Qun bao ming thế li chênh lch/ Không
có, nhưng mà có mi ngoan” (Không chng
mà cha) (H Xuân Hương, 2022: 16).
Nhng người đàn bà “không chng mà
cha” được H Xuân Hương mô t theo li
trào lng là “có mi ngoan”, còn vi nhng
người đàn bà có chng chết, n sĩ cũng th
vào thơ mt tiếng cười bn ct. Theo giai
thoi, H Xuân Hương làm v l Tng Cóc
và có cuc sng v chng không my mn
mà. Khi Tng Cóc chết, tiếng cười vang lên
trong thơ bà, qua đó th hin khát vng tháo
cũi s lng, khát vng được hnh phúc trong
tình yêu và hôn nhân. Bài thơ Khóc Tng
Cóc cùng mt s bài thơ viết v nhng
người đàn bà có chng chết khác như Bn
bà lang khóc chng, D người đàn bà có
chng chết đều được viết vi cùng mt tinh
thn như thế.
đim đặc bit, cũng là điu gây tranh
cãi trong thơ H Xuân Hương chính là nhu
cu gii phóng tính dc được th hin mt
cách khá rõ nét. Liên quan đến vn đề này,
trong gii nghiên cu chia ra nhiu lung ý
kiến. Trương Tu trong khi áp dng thuyết
phân tâm hc ca Freud để lý gii hin
tượng H Xuân Hương đã cho rng “não
trng y là di tích ca mt tôn giáo th s
sinh đẻ”, rng H Xuân Hương là “thiên tài
hiếu dâm đến cc đim”, “bt k t cnh
vt gì, nàng cũng t qua mt cái khung dâm
- cái ging” (Trương Tu, 1940: 159, 160).
Trong mt công trình khác, Trương Tu ch
ra căn bnh thn kinh ca H Xuân Hương
th hin “ham mun nhc tình sôi ni” vì