intTypePromotion=1

Email marketing - Phạm Thanh Thúy Vy

Chia sẻ: Lê Thị Na | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:91

0
117
lượt xem
20
download

Email marketing - Phạm Thanh Thúy Vy

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung tài liệu trình bày lịch sử phát triển của email marketing, khái niệm email marketing, các dạng email sử dụng trong email marketing, đặc điểm người dùng email, quy trình thực hiện một chiến lược email marketing, yêu cầu kỹ thuật đối với email marketing, bàn luận phương pháp tối ưu hóa chiến lược email marketing, lợi ích của email marketing, các hạn chế, khó khăn của email marketing.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Email marketing - Phạm Thanh Thúy Vy

  1. Mục lục
  2. iệu rằng  Email có đang “chết” như mọi người vẫn nói ? Ngày nay, nhiều người vẫn cho rằng “Email đang chết”, bạn có thể tìm thấy nhiều  bình luận và tiêu đề  bài viết như  thế này trên cộng đồng mạng. Mỗi người sẽ  có   một góc nhìn của riêng mình, riêng đối với nhóm chúng tôi lại thiên về quan điểm  của ông Mark Brownlow “Email không chết mà Email đang thay đổi”, một nhà báo,   một blogger và một nhà xuất bản tự đo, người đã đưa ra những báo cáo đáng chú ý   về Email Marketing. “Mạng xã hội và di động đang giết chết Email” Chắc hẳn nó không chỉ là một ý nghĩ ngẫu nhiên của một người, mà nhiều người  cũng từng có ý niệm đó. Nhưng theo báo cáo “Góc nhìn từ  hộp thư  kỹ  thuật số  2011” của Merckle, một công ty chuyên về quản lý quan hệ khách hàng, chỉ ra rằng  người sử  dụng mạng xã hội có xu hướng trở  thành “những người năng kiểm tra   email” (cụm từ  “năng kiểm tra email” tương  ứng với tần suất kiểm tra email tối   thiểu là bốn lần mỗi ngày). Lại có quan điểm cho rằng “Người ta chỉ  kiểm tra email cá nhân chứ  không   phải là những email thương mại” Số liệu của Merckle về vấn đề thời gian người dùng tiêu tốn cho email (cả đọc và   trả lời email) theo loại (bao gồm bạn bè và gia đình, thương mại, công việc và các  loại khác) thì đối với loại email thương mại nhận thấy sự gia tăng nhanh chóng từ  23% năm 2007 đến 30% năm 2010. Cũng trong khoảng thời gian đó, những email từ  bạn bè và gia đình giảm từ 43% còn 37%. Còn những loại khác thì vẫn giữ tỷ lệ ổn   định so với tổng email. 3.3 tỷ người dùng Hơn 3.3 tỷ tài khoản người dùng email vào năm 2014. 
  3. 247 tỷ email được gửi đi mỗi ngày.  Khi bạn tiếp thị thông qua email, khách hàng sẽ chi hơn 138% so với những người   không nhận được email.
  4. Khả năng tiếp thị của email 91% người dùng sử dụng email ít nhất một lần mỗi ngày. Căn bản mỗi ngày, người tiêu dùng Hoa Kỳ  tương tác với khoảng  11 thương  hiệu qua email. 48% khách hàng trả lời rằng họ thích giao tiếp với thương hiệu qua email. 44% khách hàng thực hiện một lần mua hàng mỗi năm do email quảng bá mà họ  nhận được. Ngoài ra, theo Mark the Marketer 66% khách hàng thực hiện một hành  vi mua hàng trực tuyến là từ  một thông điệp email marketing, và hơn 70% quyết  định mua hàng từ di động chịu ảnh hưởng từ các email quảng cáo.  60% người làm tiếp thị  trả  lời rằng email marketing đang mang lại ROI cho tổ  chức của họ. Khả năng đạt được khách hàng mới từ email cao hơn  40 lần so với Facebook và  Twitter.
  5. Theo Mark the Marketer, 76% email được mở  trong 2 ngày kể  từ  khi email được   gửi đi.
  6. Một cuộc điều tra thú vị được Elie Bursztein_ một blogger, khảo sát được tiến  hành trên người sử dụng Google. Kết quả hơn 45.1% người dùng đánh giá tài  khoản email là giá trị nhất đối với họ, so với các tài khoản online khác.
  7. 1­ Lịch sử phát triển của email marketing Kể từ  khi Ray Tomlison gửi đi email đầu  tiên, lịch sử  đã mở  ra một con đường  mới   cho   những   người   làm   marketing.  Trong   suốt   hơn   42   năm   hình   thành   và  phát triển, email marketing được xem là  một   trong   những   hình   thức   có   chi   phí  hiệu quả  nhất cho marketing trực tiếp.  Phương pháp không chỉ  nhanh và rẻ, nó  lại còn giúp cho người marketing có thể  kiểm soát và phản ứng lại những hành vi  của khách hàng theo cách mà trước đây  không thể thực hiện được. Năm 1978, Gary Thuerk đã gửi một email  quảng bá cho những thiết bị  DEC  đến  400 người dùng thông qua Arpanet. Điều  này mang lại một khái niệm hoàn toàn  mới cho người nhận và nó mang lại lợi  nhuận 13 triệu USD cho thiết bị  DEC.  Ngay   từ   thời   điểm   ban   đầu,   email   đã  chứng   minh   bản   thân   nó   là   một   kênh  hiệu   quả   cho   marketing   trực   tiếp.   Và  Thuerk được xem là “Cha của thư  rác_  Father of Spam”. Năm 1991, sự ra đời của Internet đã mang  lại một cuộc cách mạng hóa hoàn toàn  cách   mà   mọi   người   sống,   làm   việc   và  giải   trí.   Đối   với   những   nhà   marketing  trên khắp thế  giới nó mở  ra  một  cánh  cửa thông tin đại chúng. Và khi Hotmail  (ngày   nay   được   biết   đến   như   là  HoTMaiL) phát hành, cung cấp dịch vụ  email   miễn   phí   đầu   tiên   trên   web   đã  mang lại cho những người làm tiếp thị  một con  đường hoàn toàn mới để  tiếp  cận khách hàng. Trước đây email chỉ  có  học sinh và người lao động có thể  dùng. 
  8. Việc cho ra đời các địa chỉ  email cá nhân đã chuyển đổi hình thức marketing trực   tiếp. Đến những năm 1990, hình thức marketing trực tiếp của B2C vẫn hầu như  thực   hiện bằng gửi thư hoặc trò chuyện qua điện thoại, nhưng cả hai phương pháp này   lại quá đắt. Với email, những người làm tiếp thị có thể đạt được một chi phí hiệu   quả hơn, một con đường nhanh chóng để tiếp cận khách hàng. Cũng trong những năm 1990, email vẫn được xem như  là một điều mới mẻ  với  khách hàng, trong khi đó ngày càng nhiều người làm tiếp thị  nhảy lên toa xe của   công cụ  email này. Kết quả  là hộp thư  của khách hàng trở  nên lộn xộn và nhận   những thư  không mong muốn, và kéo theo là sự  xuất hiện của những luật lệ bảo  vệ khách hàng khỏi những thư rác. Năm 1998, Luật bảo vệ dữ liệu được cập nhật để  bảo đảm cho tất cả  các email  marketing gồm cả opt­out. Năm 2003, Luật thư rác được quốc hội US đưa ra như là  những quy định đầu tiên về những email thương mại, cũng cùng năm tại châu Âu,  Quy định về truyền thông điện tử và quyền riêng tư ra đời xác định những điều cho   phép đối với người làm tiếp thị, và năm 2004 Khung chính sách người gửi được   ban hành, cung cấp một hệ  thống đánh giá email giúp ngăn chặn những thư  rác   bằng cách thẩm định địa chỉ IP của người gửi. Trong suốt khoảng thời gian đó số lượng email marketing được phân phối tăng lên  một cách nhanh chóng, đồng thời cũng gia tăng số  lượng virus hay các thư  rác  ngành dược, chuyển môi trường email thành một cuộc chiến ảo giữa người gửi và  người nhận email. Năm 2004, AOL trả  lại các phản hồi của người nhận cho một số  nhà cung cấp   dịch vụ  email, sau đó Hotmail và Yahoo cũng lần lượt giới thiệu các đề  án phản   hồi của người nhận. Lúc đó, người làm tiếp thị  có thể  biết được suy nghĩ của  người nhận đối với các email của họ và có thể sử dụng các phàn nàn thư rác như là  một thông số đo lường. Trong những năm từ 2000 đến 2009, các ISP đã đưa ra hàng loạt các biện pháp để  bảo vệ  người dùng khỏi các email không mong muốn. Chẳng hạn như  Windows   Live Sender Reputation Data (2008) cho phép người nhận đưa ra ý kiến rằng một   email nào đó là thư  rác hay không; hoặc Hotmail Sweep và Google’s Priority Inbox  (2010) giúp cho người nhận giảm sự lộn xộn trong hộp thư của họ. Điều này buộc   các nhà marketing phải tập trung hơn vào chiến lược của mình nếu họ muốn thông  điệp của mình được chú ý.  Năm 2009 Return Path báo cáo rằng gần 30% các email thương mại không đến  được hộp thư  người nhận, trong cùng năm Merkle cũng chỉ  ra rằng sự  thiếu liên  quan là nguyên nhân lớn nhất khiến người dùng quyết định opt­out một email. Với 
  9. sự gia tăng khả năng kiểm soát của người nhận, các nhà tiếp thị cần phải suy nghĩ   đến một chiến lược kéo hơn là một chiến lược đẩy. Năm 1992, chiếc điện thoại thông minh đầu tiên được tung ra cho phép đăng nhập   email tại trên điện thoại, và trong năm 2007 Apple giới thiệu sản phẩm iPhone.   Đến năm 2011 Apple thông báo rằng họ đã bán được hơn 100 triệu iPhone và cũng   trong năm đó họ  đưa ra báo cáo email được 75% người sở  hữu iPhone tại Anh sử  dụng, điều này đã kích hoạt các hoạt động internet trên điện thoại. Năm 2012, một báo cáo chỉ ra rằng 40% email marketing được mở bằng thiết bị di  động. Với nhiều động lực từ việc người dùng đọc email bằng điện thoại, buộc các   nhà tiếp thị  phải suy nghĩ biện pháp để  email của mình có thể  hiển thị  trên một   chiếc điện thoại. Cũng   lúc   đó,   mạng   xã   hội   ra   đời   đã   tác   động   mạnh   mẽ   lên   email   marketing.   Facebook phổ  biến đến cộng đồng vào năm 2006. Đến cuối năm 2007, nó đã tạo   được hơn 100,000 trang doanh nghiệp, cho phép công ty thu hút những khách hàng  tiềm năng. Và tại thời điểm này khách hàng có thể tương tác với một thương hiệu  qua nhiều kênh khác nhau như trực tuyến, tại cửa hàng, Twitter, Facebook, email. Sự gia tăng các chương trình hướng đến hành vi khách hàng và tự động hóa đã kéo  theo việc suy giảm các bản tin truyền thống, và chiến lược email chuyển sang tập   trung vào những nhu cầu đặc biệt, những mong muốn của từng cá nhân người   dùng.  Ngày nay, những hệ thống tự động marketing cho phép thuận tiện trong việc phân   nhóm, cho phép doanh nghiệp có thể  gửi đi những thông điệp email có tính mục  tiêu cao. Người làm tiếp thị ngày càng chú trọng hơn vào việc nhấn mạnh tính liên   quan và cam kết trong nội dung email để đạt được sự một đánh giá tốt, chất lượng   dần thay thế cho số lượng đây được xem là chiến lược để tiếp thị email.
  10. 2­ Khái niệm email marketing Khái niệm email: Email bao gồm những thư  từ, thông điệp điện tử  được trao đổi giữa bạn bè, gia  đình, đồng nghiệp và bạn học thông qua mạng máy tính. Thông thường nó là một  thông điệp gửi cho một người, hoặc một thông điệp gửi cho một nhóm nhỏ có liên  quan. Email ngoài ra còn có thể là phương tiện trao đổi ý tưởng, đặt câu hỏi, yêu  cầu thông tin… Khái niệm email marketing: Email marketing lại là một kênh của marketing, nó cho phép những cá nhân hoặc  các doanh nghiệp chuyển một lượng lớn thư   đến khách hàng, khách hàng tiềm  năng, người hâm mộ, hoặc những người đăng ký.  Như  vậy Email marketing là hình thức marketing trực tiếp một thông điệp có tính  chất thương mại đến một nhóm người sử dụng email. Cũng có thể nói, mỗi email   được gửi đến một khách hàng tiềm năng hoặc hiện tại vẫn được xem là email  marketing. Email trong trường hợp này thường được sử  dụng để  gửi các nội dung  quảng cáo, yêu cầu giao dịch, hoặc kêu gọi mua hàng hoặc tài trợ, đồng thời nó  cũng bao hàm việc xây dựng sự trung thành, lòng tin hoặc tăng khả năng nhận biết  thương hiệu. Email marketing có thể được thực hiện dựa trên các danh sách khách   hàng được bán hoặc trên chính dữ  liệu khách hàng hiện tại của doanh nghiệp.  Ngoài ra, thuật ngữ này còn đúng trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng email với  mục đích gửi đi thông điệp gia tăng mối quan hệ  với khách hàng hiện tại hoặc   khách hàng đã từng giao dịch, từ đó sẽ  khuyến khích lòng trung thành và tăng khả  năng lặp lại giao dịch, thu hút được khách hàng mới hoặc thuyết phục khách hàng  mua ngay một số mặt hàng, và cả  trường hợp thêm quảng cáo của bạn vào email  của các doanh nghiệp khác khi gửi cho khách hàng của họ. Đối với quan điểm của   B2C, email marketing giữ  vai trò chủ  lực trong việc bán hàng, đồng thời đối với   B2B nó cũng là một phương tiện giao tiếp mạnh mẽ.
  11. 3­ Các dạng email sử dụng trong email marketing Email bản tin điện tử (Email Newsletter) Là loại email được gửi trực tiếp đến một danh sách khách hàng, thuê bao có sẵn  nhằm cập nhật thông tin chuyên môn hoặc theo một chủ đề nào đó. Mục đích chính  của loại email này là xây dựng và nuôi dưỡng mối quan hệ giữa doanh nghiệp và  khách hàng, hướng doanh nghiệp trở  thành thương hiệu đầu tiên khách hàng sẽ  nghĩ đến khi họ cần một sản phẩm hoặc dịch vụ trong ngành của bạn. Nhận diện thương hiệu: Tương tự như báo, newsletter sẽ tạo nên một sự thúc đẩy  nhất định trong người đọc. Tuy nhiên làm thế nào để tạo thói quen cho người nhận   lại là vấn đề  chính, có thể  là tần suất gửi (hàng ngày, hàng tuần) hoặc một nội   dung hấp dẫn người dùng khiến họ mong chờ cho lần nhận email tiếp theo. Bằng   việc hình thành nên thói quen này, bạn có thể  giúp họ  nhận ra được thương hiệu   của bạn và liên kết nó với một ý niệm tích cực. Sử  dụng lại nội dung: Trong các bản tin gửi khách hàng này,  các doanh nghiệp  thường sử  dụng các thông tin họ  vừa công bố  như  các bài đăng trên blog, các bài   báo… dưới dạng các tóm tắt ngắn và đường dẫn đến các nội dung đó. Bằng cách   này, doanh nghiệp sẽ hướng người dùng quay lại website của công ty và tương tác   với nhiều nội dung khác nữa. Nội dung đa dạng: trong một newsletter bạn có thể tự do sử dụng nhiều dạng nội   dung khác nhau liên quan đến doanh nghiệp bạn. Chẳng hạn như một bài đăng trên  blog đang được yêu thích, một đề  nghị  mới, một thông báo về  sự  kiện sắp đến,  thông tin về chiết khấu hoặc có thể là một đường dẫn đến một khảo sát. Làm xao lãng khách hàng Chính vì tính đa dạng và bản chất của newsletter, làm cho các nội dung đôi khi áp  đảo hoặc bỏ  qua mục tiêu chính của newsletter là “kêu gọi hành động_ call­to­ action”. Tất nhiên với một loạt thông tin quảng cáo hoặc các tóm tắt từ các bài báo  sẽ khiến người nhận bị  phân tán trong mẫu tin, đối lập với mục đích chính là tập  trung vào một nội dung chính. Để hạn chế, bạn có thể đặt các nội dung chính ưu   tiên ở vị trí trên cùng của bản tin và đưa ra một lời kêu gọi “call­to­action” rõ ràng  sau khi/ dọc theo các đoạn văn bản. Thiết kế
  12. Với một bản tin,  vấn đề  bố  cục trở  nên phức tạp hơn so với các email chuyên   dụng. Bạn phải tốn nhiều thời gian quyết định hình ảnh, văn bản ở vị trí phù hợp,  việc sắp xếp và ưu tiên của các thông tin. Để hạn chế bạn có thể sử dụng dịch vụ  của một số website, với sự đa dạng về biểu mẫu cũng như sử dụng đơn giản. 
  13. Email digest Digest là một dạng email tóm tắt lại những thông tin đã đăng trong một khoảng   thời gian nhất định, thường thì hàng tuần hoặc hàng tháng. Digest cũng có thể được  xem như  là một loại tập san, nó giúp người đọc nắm bắt được những thông tin  được quan tâm nhiều nhất trong thời gian trước.  Email digest được xem là dễ sử dụng hơn newsletter, vì chúng thường chứa những  danh sách và những đường liên kết. Từ đó giúp cho người dùng đọc lướt nhanh qua   email và nhấp vào những phần mà họ thích thú nhất. 
  14. Email chuyên dụng (Dedicated email) Những email chuyên dụng này có thể  xem là những email độc lập, chỉ  chứa nội   dung về một đề nghị. Bạn có thể thông báo đến những khán giả  mục tiêu về  một  báo cáo bạn mới phát hành hoặc mời họ tham dự một sự kiện do bạn tổ chức. Tập trung vào việc “kêu gọi hành động_ call­to­action”, không giống như các bản  tin,  những email chuyên dụng này tập trung vào những kết quả  đã được chỉ  định  với mục đích kêu gọi sự tham gia của khách hàng. Dễ dàng xây dựng: một khi bạn đã có biểu mẫu cho email thì việc xây dựng một  email chuyên dụng trở nên rất dễ dàng. Bạn chỉ việc lấy một vài thông tin đã có từ  landing page, sau đó thực hiện một vài tùy chỉnh nhỏ và chỉ tốn thời gian cho việc   tạo nên tiêu đề cho chúng.  Đo lường nhanh chóng: Với chỉ  một thông điệp chính trong email này, bạn sẽ  đễ  dàng theo dõi quá trình. Bạn có thể  kiểm tra nhanh qua CTR của email, lượt xem   trên landing page và số lượt chuyển đổi, cũng như theo dõi ROI dài hạn. Thiếu tính nhất quán:  Trái với dạng email bản tin luôn được gửi theo một thời   điểm nhất định, lịch trình của email chuyên dụng lại không rõ ràng và thiếu tính   nhất quán. Vì thật ra bạn chỉ sử dụng email chuyên dụng khi phát sinh một đề nghị  gì đó cho khách hàng. Nội dung đồng nhất: Cũng chính việc chứa duy nhất một thông điệp, nó lại gây ra  khó khăn để  đưa thêm một số  giới thiệu về  một vài chiến dịch quan trọng của   doanh nghiệp. Để vượt qua khó khăn này, ta có thể sử dụng vài thủ  thuật như  P.S   hoặc giảm một phần nội dung để sử  dụng như  một mục đích “call­to­action” thứ  hai mà bạn muốn giới thiệu. Email nuôi dưỡng khách hàng tiềm năng “Lead Nurturing” Như  trong chiến thuật inbound marketing, “Lead Nurturing” liên quan  đến việc   thấu hiểu tất cả  các sắc thái của khách hàng tiềm năng của bạn về  thời gian và  nhu cầu. “Lead nurturing” được mô tả như là một loạt các email được kết nối một  cách chặt chẽ  với một mục đích rõ ràng và cùng với đầy đủ  các nội dung hữu  dụng. 
  15. Tính kịp thời: Nhiều nghiên cứu về tỷ lệ phản hồi email và các yếu tố ảnh hưởng,   và trong nghiên cứu về khoa học thời gian của Dan Zarrella (Nhà khoa học truyền   thông xã  hội  của  HubSpot)  đã  xác  định  mối tương  quan thuận giữa  thời  điểm  tương tác của người dùng và CTR. Nếu vận dụng tốt chiến dịch Lead nurturing   bạn có thể tận dụng được ưu điểm năng động của nó, nhờ đó tương tác với người  dùng nhanh hơn, tốt hơn. Tính tự động: Một khi đã cài đặt lead nurturing, những email sẽ được tự động gửi   đi theo kế  hoạch mà bạn đã đặt ra. Bạn có thể  phát động chương trình và có thể  quên chúng đi, nhưng những email này vẫn hoạt động cho bạn. Tính mục tiêu: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các email được định hướng và phân   loại có hiệu quả  tốt hơn so với việc truyền tải một số lượng lớn. Lead nurturing   cho phép bạn buộc một chuỗi các email vào một hoạt động đặc biệt hoặc một   chương trình chuyển đổi. Bạn có thể đánh giá dựa vào những hành động mà khách  hàng tiềm năng thực hiện trên website của bạn, từ  đó chỉ  ra được những sở  thích   của họ và giúp bạn xác định được điều họ cần tiếp theo. Tạo ra ít hiệu ứng lan truyền trong cùng một lúc: Với những email chuyên dụng được gửi đến toàn bộ cơ sở dữ liệu email của bạn,   bạn có thể  tạo ra hàng loạt sự  lan truyền xung quanh thương hiệu của mình. Đây  sẽ là một sự bùng nổ về sự tham gia, đây là kết quả từ việc chuyển tiếp cùng lúc  và chia sẻ của truyền thông xã hội (đặc biệt nếu bạn chia sẻ các link trong email  của bạn trên Twitter, LinkedIn và Facebook). Lead nurturing không thể  đạt được 
  16. hiệu  ứng tương tự  như  vậy bởi vì nó được lập trình số  email ít hơn để  đến với  những khán giả  đã được phân loại. Vì thế  trong khi vẫn có sự  chia sẻ, bạn sẽ  không thể thấy được một lượng truy cập lớn và sự chuyển đổi trong một ngày nào   đó. Mà thay vào đó, số  lượt viếng thăm trang web và số  lượng khách hàng tiềm   năng sẽ gia tăng từ từ. Theo dõi bị động Chính do tính tự  động của Lead nurturing và người làm tiếp thị  thường quên đi  chúng sau khi họ đã cài đặt chương trình, nó đôi khi cũng có xu hướng không được  báo cáo. Do đó cần đảm bảo rằng những chương trình lead nurturing của bạn có   được các dấu hiệu theo dõi riêng và phải được tái phân tích marketing để đánh giá   hiệu năng và chứng minh ROI của những nỗ lực đó. Email tài trợ Tất cả  những dạng email mà chúng ta đã nói  ở  trên đều dựa trên việc bạn gửi đi  các thông tin đến cơ sở dữ liệu email của chính bạn. Nếu bạn muốn tiếp cận được   các nhóm khán giả  khác và thu hút được những khách hàng tiềm năng, thì bạn có  thể thử  với các email dạng tài trợ. Đối với hình thức này bạn sẽ  phải trả  phí cho   việc đính kèm các nội dung copy của bạn vào một bản tin hoặc một email chuyên   dụng của một doanh nghiệp khác.  Email tài trợ là một phần của chiến lược truyền thông phải trả phí, trong đó có thể  bao gồm pay­per­click, quảng cáo hiển thị, quảng cáo di động… Trong dạng chiến  lược này, bạn phải xác định khán giả mục tiêu mà bạn hướng đến. Ví dụ như bạn   có thể tập trung vào phụ nữ châu Á trong độ tuổi từ 30 đến 40. Thông thường, bạn sẽ  phải thiết kế  các copy của bạn hoặc vị  trí sắp đặt quảng  cáo theo tiêu chuẩn của người cung cấp dịch vụ.  Ngoài ra khi thực hiện email tài trợ, bạn cần phải đánh giá doanh nghiệp bạn sẽ  liên kết. Đảm bảo rằng họ  là một đối tác đáng tin trước khi tiến hành thiết lập   quan hệ. Tính định hướng mục tiêu cao: ưu điểm lớn nhất của email tài trợ đó là bạn có thể  đặc biệt xác định một phân khúc mà bạn muốn tiếp cận.  ROI chính xác: Email tài trợ  là một hình thức đầu tư  xác định, bạn biết bạn phải  chi bao nhiêu cho đối tác. Và với việc theo dõi kết quả  mà bạn đã đặt ra như  số  lượt thăm viếng, số khách hàng tiềm năng, số lượng giao dịch… từ đó bạn sẽ xác   định được cái mà bạn nhận được trên chi phí đã được chi ra. Biết được chính xác 
  17. ROI sẽ  giúp bạn cân đối ngân sách marketing của mình và đưa ra các báo cáo   marketing chính xác vào thời điểm kết thúc hàng quý. Phải trả phí: Đối tác sẽ đưa ra các gói phí khác nhau cho việc thực hiện email tài   trợ và bạn phải đàm phán về khoản phí này. Một số hình thức phổ biến như trả phí  dựa trên số lượt hiển thị CPM (Cost per thousand impressions) hoặc trả dựa trên số  khách hàng tiềm năng đạt được… Những nguồn lực chuyên dụng: Những email tài trợ  và việc quản lý mối quan hệ  với đối tác yên cầu một nỗ  lực marketing lớn và kiểm soát chặt chẽ. “Đối với   dạng tài trợ này để thành công thì cần phải có một đội ngũ chuyên dụng đứng đằng  sau chương trình để hiểu được dữ liệu, tiềm lực của thương hiệu, và khả năng tìm   ra những cơ hội hợp tác vô hình”_ được viết bởi Jackie Fast, Giám đốc quản lý của  Slingshot Sponsorship. Nếu bạn có một đội ngũ marketing nhỏ, hình thức này sẽ  trở thành khó khăn để kiểm soát toàn bộ các email tài trợ. Email giao dịch Các email giao dịch thường được kích hoạt dựa trên một hoạt động tương tác của   khách hàng với một doanh nghiệp. Để xác định nó là thông điệp giao dịch hay thông  điệp tạo quan hệ, ta có thể dựa vào các mục tiêu chính của việc giao tiếp như “làm   thuận tiện, hoàn thành hoặc xác nhận một giao dịch thương mại mà người nhận  email trước đó đã đồng ý giao dịch với người gửi”, cùng với một vài trường hợp  khác. Các thông điệp giao dịch được kích hoạt bao gồm các thông điệp về lựa chọn  giỏ  hàng, email thiết lập lại mật khẩu, email mua hàng hoặc yêu cầu xác nhận,  email thông báo trạng thái của yêu cầu, email tái yêu cầu và email về biên nhận.  Mục đích chính của các email giao dịch là truyền tải thông tin liên quan đến một  hoạt động nào đó để  kích hoạt chúng. Tuy nhiên, do chính tỷ  lệ  mở  cao của các  email này (51.3% so với 36.6% của các email newsletter), nên các email giao dịch  tạo nên một cơ hội tương tác với khách hàng của mình: ví dụ  như  giới thiệu hoặc   mở  rộng quan hệ email với khách hàng hoặc người  ủng hộ, đến việc dự  đoán và   trả lời những câu hỏi của họ, hoặc thực hiện việc bán thêm các sản phẩm, dịch vụ  khác “cross­sell”, hoặc bán thêm các gói sản phẩm, dịch vụ kèm theo “up­sell” cho   khách hàng.
  18. 4­ Đặc điểm người dùng email Tỷ lệ sử dụng email theo độ tuổi (2011) Khảo sát của Mail Chimp năm 2013 Tiến hành trên 10 triệu địa chỉ email của những domain đứng đầu, và dựa theo dữ  liệu thu được họ xây dựng nên biểu đồ  sự  phân bố  độ  tuổi của từng domain như  sau:
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2