
Ngày nhận bài: 21-03-2025 / Ngày chấp nhận đăng bài: 18-04-2025 / Ngày đăng bài: 24-04-2025
*Tác giả liên hệ: Huỳnh Mạnh Tiến. Bộ môn Nội tổng quát, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
E-mail: Tienhuynh@ump.edu.vn
© 2025 Bản quyền thuộc về Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh.
8 https://www.tapchiyhoctphcm.vn
ISSN: 1859-1779
Tổng quan
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh;28(5):08-17
https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.05.02
Giá trị của xét nghiệm Xpert MTB/RIF mô trong chẩn
đoán lao ruột
Phan Trung Nhân1, Huỳnh Mạnh Tiến2,*, Trần Ngọc Nguyên3
1Khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
2Bộ môn Nội tổng quát, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
3Bộ môn Lao và Bệnh phổi, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Tóm tắt
Lao ruột là một dạng lao ngoài phổi, tuy ít phổ biến hơn so với một số dạng lao ngoài phổi khác nhưng vẫn gặp tương đối
thường xuyên, đặc biệt ở các quốc gia có tỷ lệ mắc lao cao. Việc chẩn đoán lao ruột gặp nhiều khó khăn do triệu chứng
không đặc hiệu và dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác như bệnh Crohn hoặc ung thư đường tiêu hóa. Kỹ thuật Gene Xpert
MTB/RIF (Xpert MTB/RIF, Xpert MTB/RIF Ultra), một xét nghiệm phân tử tự động dựa trên phản ứng chuỗi polymerase thời
gian thực, đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc phát hiện Mycobacterium tuberculosis và tình trạng kháng rifampicin,
nhờ cung cấp kết quả nhanh chóng và độ đặc hiệu cao. Tuy nhiên, xét nghiệm này vẫn còn hạn chế về độ nhạy trong một
số trường hợp có tải lượng vi khuẩn thấp. Gần đây, Xpert MTB/RIF Ultra, phiên bản cải tiến của Xpert MTB/RIF, đã được
phát triển nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán với độ nhạy được cải thiện, đặc biệt trong các mẫu bệnh phẩm có tải lượng
vi khuẩn rất thấp. Tổng quan này đánh giá vai trò của Xpert MTB/RIF và Xpert MTB/RIF Ultra trong chẩn đoán lao ruột. Kết
quả cho thấy cả hai công cụ đều hữu ích trong việc cải thiện chẩn đoán lao ruột, nhưng cần được kết hợp với các bằng
chứng lâm sàng và phương pháp khác để tối ưu hóa hiệu quả chẩn đoán.
Từ khóa: lao ruột; Xpert MTB/RIF; chẩn đoán
Abstract
THE VALUE OF Xpert MTB/RIF ASSAY ON TISSUE IN THE DIAGNOSIS OF
INTESTINAL TUBERCULOSIS
Phan Trung Nhan, Huynh Manh Tien, Tran Ngoc Nguyen
Intestinal tuberculosis is a form of less common extrapulmonary tuberculosis but still relatively frequent, especially in
countries with a high prevalence of tuberculosis. Diagnosing intestinal tuberculosis is challenging due to nonspecific
symptoms that can easily be mistaken for other conditions such as Crohn's disease or gastrointestinal cancer. Xpert
MTB/RIF, an automated molecular test based on real-time polymerase chain reaction, has demonstrated exceptional
efficacy in detecting Mycobacterium tuberculosis and rifampicin resistance, providing rapid results with high specificity.

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh * Tập 28 * Số 5 * 2025
https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.05.02 https://www.tapchiyhoctphcm.vn | 9
However, this test has limitations, including reduced sensitivity in cases with low bacterial loads. Recently, Xpert
MTB/RIF Ultra, an improved version of Xpert MTB/RIF, has been developed to enhance diagnostic performance, offering
increased sensitivity, particularly for samples with very low bacterial loads. This review provided perspectives on the
roles of Xpert MTB/RIF and Xpert MTB/RIF Ultra in the diagnosis of intestinal tuberculosis. The findings showed the
value of both tools on improving diagnostic accuracy, but suggested that their effectiveness should be optimized by
combining them with clinical assessments and other diagnostic methods.
Keywords: intestinal tuberculosis; Xpert MTB/RIF; diagnosis
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lao là bệnh do vi khuẩn lao (Mycobacterium
tuberculosis – MTB) gây ra. Đây là một đại dịch trên toàn
cầu đồng thời là bệnh lý nhiễm trùng hàng đầu gây tử vong.
Có khoảng một phần tư dân số thế giới nhiễm vi khuẩn lao
và nếu không điều trị, tỷ lệ tử vong do bệnh lao lên đến 50%
[1]. Bệnh lao được chia thành hai nhóm là lao phổi và lao
ngoài phổi, trong đó lao ngoài phổi chiếm tỷ lệ khoảng 15%
trong số những trường hợp bệnh lao mới được chẩn đoán [2].
Lao đường tiêu hóa là một thể bệnh chiếm khoảng 3,5% các
trường hợp lao ngoài phổi [3]. Trong đó, lao ruột với sự tổn
thương chủ yếu vùng hồi, manh tràng là dạng lao đường tiêu
hóa phổ biến nhất [4]. Lao ruột với những đặc điểm lâm sàng
và nội soi không đặc hiệu gây khó khăn trong việc chẩn đoán.
Đặc biệt, khi mà các bệnh lý viêm ruột bao gồm bệnh Crohn
và viêm loét đại tràng có xu hướng ngày càng gia tăng thì
việc chẩn đoán phân biệt giữa bệnh lao ruột với các bệnh lý
viêm ruột kể trên là một điều cực kì quan trọng (Hình 1) [5].
Ngoài ra, một vấn đề đang gây lo ngại là sự gia tăng tình
trạng lao kháng thuốc trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization –
WHO), Việt Nam nằm trong số những quốc gia có số lượng
mới mắc lao kháng đa thuốc cao trên toàn cầu và tăng từ
8400 ca năm 2019 lên 8900 ca năm 2021 [6].
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định lao ruột chủ yếu dựa trên
kết quả các xét nghiệm vi sinh truyền thống như nuôi cấy mô
tìm vi khuẩn lao, nhuộm soi mô tìm vi khuẩn kháng axit
(acid-fast bacilii – AFB) hay hình ảnh mô bệnh học đặc trưng
[4]. Tuy nhiên, các phương pháp này có nhiều hạn chế ở độ
nhạy thấp hay mất nhiều thời gian để có kết quả. Ngoài các
xét nghiệm truyền thống, các xét nghiệm chẩn đoán lao dựa
trên sinh học phân tử ngày càng được ứng dụng nhiều trong
chẩn đoán lao với độ nhạy cao hơn và thời gian cho kết quả
ngắn hơn. Trong số đó, WHO đã phê duyệt và hướng dẫn
việc sử dụng xét nghiệm Xpert MTB/RIF để chẩn đoán bệnh
lao và phát hiện tình trạng kháng rifampicin (RMP). Ban đầu,
vào năm 2010, xét nghiệm này được khuyến nghị sử dụng
cho những người nghi ngờ mắc lao kháng đa thuốc hoặc lao
ở bệnh nhân nhiễm HIV, nhưng phạm vi ứng dụng đã được
mở rộng từ đó. Đến năm 2013, WHO đã cập nhật chính sách,
bao gồm việc sử dụng Xpert MTB/RIF như là xét nghiệm
chẩn đoán ban đầu cho tất cả những người được nghi là mắc
lao phổi, cũng như các trường hợp lao ở trẻ em và lao ngoài
phổi [8]. Mục tiêu của bài tổng quan này là đánh giá vai trò
của xét nghiệm Xpert MTB/RIF và Xpert MTB/RIF Ultra
trong chẩn đoán lao ruột, từ đó đề xuất các hướng nghiên cứu
trong tương lai để tối ưu hóa hiệu quả của xét nghiệm này.
Hình 1. Các đặc điểm nội soi điển hình của bệnh lao ruột. (A) Loét chu vi, (B) Van hồi manh tràng biến dạng và mở rộng, (C) Giả polyp [7]

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh * Tập 28 * Số 5* 2025
10 | https://www.tapchiyhoctphcm.vn https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.05.02
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Về tiếng Anh, chúng tôi sử dụng các từ khoá liên quan đến
nhóm bệnh lý gồm: "intestinal tuberculosis",
"gastrointestinal tuberculosis", "abdominal tuberculosis",
"colonic tuberculosis", "ileocecal tuberculosis", "peritoneal
tuberculosis"; nhóm phương pháp chẩn đoán gồm: "Xpert
MTB/RIF", "Xpert MTB/RIF Ultra", "PCR", "polymerase
chain reaction", "nucleic acid amplification test", "molecular
diagnosis"; và thuật ngữ chung là "diagnosis". Về tiếng Việt,
nhóm bệnh lý gồm: “lao”, “lao ngoài phổi”, "lao ruột", "lao
đại tràng", "lao hồi tràng", "lao hồi manh tràng", "lao màng
bụng”, "lao đường tiêu hóa"; nhóm phương pháp chẩn đoán
gồm: "xét nghiệm Xpert MTB/RIF", "xét nghiệm Xpert
MTB/RIF Ultra", "xét nghiệm GeneXpert", "xét nghiệm
PCR", "phản ứng chuỗi polymerase", "xét nghiệm khuếch
đại acid nucleic", "chẩn đoán phân tử"; và thuật ngữ chung
là "chẩn đoán".
Các cơ sở dữ liệu được sử dụng trong tìm kiếm: PubMed,
Embase, Cochrane Library, Google Scholar và Tạp chí Khoa
học Việt Nam Trực tuyến.
Khoảng thời gian tìm kiếm: từ 2010 đến tháng 4 năm 2024.
Các tiêu chí lựa chọn nghiên cứu đưa vào bài tổng quan:
o Các nghiên cứu về chẩn đoán lao ruột sử dụng xét
nghiệm Xpert MTB/RIF hoặc Xpert MTB/RIF Ultra.
o Các nghiên cứu có thiết kế rõ ràng (nghiên cứu đa trung
tâm, nghiên cứu lớn, phân tích hệ thống, tổng quan hệ thống,
phân tích gộp).
o Loại trừ các bài viết không có dữ liệu nguyên gốc, thư
biên tập, ý kiến chuyên gia, hoặc các nghiên cứu nhỏ lẻ thiếu
dữ liệu đánh giá rõ ràng về độ nhạy, độ đặc hiệu, và các thông
số chẩn đoán khác.
Trong bài viết này, chất lượng các tài liệu được tổng quan
sẽ được xem xét dựa trên các tiêu chí và công cụ đánh giá
phù hợp với nghiên cứu về xét nghiệm chẩn đoán, nhằm đảm
bảo tính khách quan và độ tin cậy của các nghiên cứu được
đưa vào phân tích.
3. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN
ĐOÁN LAO RUỘT
Chẩn đoán xác định bệnh lao đường tiêu hóa nói chung và
lao ruột nói riêng nếu bất kỳ một trong bốn tiêu chí sau đây
được đáp ứng [4]:
Nuôi cấy mô (sinh thiết đại tràng) dương tính với MTB;
Thực hiện xét nghiệm Xpert MTB/RIF hoặc phản ứng
chuỗi polymerase (polymerase chain reaction – PCR) lao
trên mẫu sinh thiết phát hiện sự hiện diện của MTB;
Quan sát mô học thấy vi khuẩn kháng axit điển hình;
Bằng chứng mô học của u hạt hoại tử bã đậu.
Tuy nhiên, việc chẩn đoán lao ruột trong một số trường
hợp gặp nhiều khó khăn do các phương pháp chẩn đoán trên
có độ nhạy thấp. Chẳng hạn, tỷ lệ AFB dương tính trong mô
ruột rất thấp so với đàm, làm hạn chế vai trò của nó trong
chẩn đoán lao đường tiêu hóa. Độ nhạy của xét nghiệm AFB
trong mô ruột đối với lao đường tiêu hóa là dưới 5% [9]. Về
nuôi cấy tìm vi khuẩn lao, mặc dù kĩ thuật nuôi cấy trong
môi trường lỏng MGIT (Mycobacterium Growth Indicator
Tube 960 – MGIT) cung cấp kết quả nhanh chóng với độ
nhạy tốt hơn so với nuôi cấy truyền thống trong môi trường
đặc Löwenstein–Jensen medium, độ nhạy của MGIT để
chẩn đoán lao đường tiêu hóa là 40 – 52,8% và tương đối
thấp [10]. Ngoài ra, nhược điểm của phương pháp nuôi cấy
bên cạnh độ nhạy không cao còn ở thời gian trả lời kết quả
khá dài, dao động từ 2 đến 6 tuần [4].
Việc chẩn đoán lao ruột bằng sinh thiết niêm mạc qua nội
soi là khó khăn, vì tổn thương đích thường nằm dưới niêm
mạc và hiệu quả chẩn đoán thấp [4]. Một phân tích tổng hợp
trên 316 bệnh nhân lao ruột cho thấy mặc dù độ đặc hiệu là
100%, độ nhạy của u hạt hoại tử bã đậu trên mẫu mô sinh
thiết chỉ là 21% [11].
Như đã đề cập ở trên, các xét nghiệm sinh học phân tử được
cho là có giá trị trong chẩn đoán lao ruột, nhất là thời gian thực
hiện nhanh hơn. Độ chính xác và độ đặc hiệu của xét nghiệm
PCR lên đến lần lượt là 82,6% và 95% [12]. Trong đó, xét
nghiệm Xpert MTB/RIF là xét nghiệm dựa trên kĩ thuật PCR
và có nhiều ưu điểm trong chẩn đoán lao ruột.
4. GIỚI THIỆU VỀ XÉT NGHIỆM
XPERT MTB/RIF

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh * Tập 28 * Số 5 * 2025
https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.05.02 https://www.tapchiyhoctphcm.vn
|
11
4.1. Nguyên lý hoạt động của Xpert MTB/RIF
Xpert MTB/RIF là một xét nghiệm chẩn đoán tự động in
vitro, sử dụng kỹ thuật nested real-time PCR để phát hiện vi
khuẩn lao và phát hiện tính kháng RMP. Các đoạn mồi trong
xét nghiệm này khuếch đại một phần của gen rpoB, chứa
vùng lõi 81 cặp base. Các đầu dò được thiết kế để phân biệt
giữa kiểu gen gốc và các đột biến trong vùng lõi liên quan
đến kháng RMP. Xpert MTB/RIF phát hiện đồng thời vi
khuẩn lao và tình trạng kháng RMP bằng cách khuếch đại
một trình tự đặc hiệu của gen rpoB, sử dụng 5 đầu dò phân
tử (đầu dò A – E) để phát hiện các đột biến trong vùng quyết
định kháng RMP [13].
Xét nghiệm được thực hiện trên nền tảng có sẵn tích hợp
quy trình xử lý mẫu và PCR trong một hộp nhựa dùng một
lần, chứa tất cả các thuốc thử cần thiết để ly giải vi khuẩn,
chiết tách axit nucleic, khuếch đại, và phát hiện sản phẩm
khuếch đại. Bước thủ công duy nhất là thêm dung dịch đệm
có tính diệt khuẩn vào mẫu bệnh phẩm trước khi chuyển một
thể tích xác định vào hộp thử nghiệm. Sau đó, hộp thử
nghiệm MTB/RIF được đưa vào thiết bị Xpert, thiết bị này
sẽ cung cấp kết quả trong vòng 2 giờ (Hình 2) [14].
Hình 2. Quy trình thực hiện xét nghiệm Xpert MTB/RIF. Nguồn: Hướng dẫn quy trình triển khai kỹ thuật Gene Xpert- MTB/RIF. Bộ Y tế
(2011) [15]
Xét nghiệm này được đánh giá là có nhiều ưu điểm vì
nhiều lý do: (i) độ nhạy được cải thiện so với các xét nghiệm
trước đây thông qua sử dụng chiến lược xét nghiệm khuếch
đại axit nucleic, (ii) khả năng phát hiện đồng thời kháng RMP,
(iii) định dạng mô đun cho phép xét nghiệm đáp ứng được
nhu cầu với các mức độ thể tích khác nhau, (iv) khả năng tự
động hóa, (v) tính đơn giản, (vi) tốc độ nhanh, và (vii) an
toàn (chỉ cần một phòng xét nghiệm, không cần tủ an toàn
sinh học và có thể thực hiện xét nghiệm ngay tại phòng
khám) [16].
4.2. Đánh giá kết quả của xét nghiệm Xpert
MTB/RIF
Xpert MTB/RIF sẽ cho ra kết quả 2 phần: phát hiện MTB
và tình trạng kháng RMP của quần thể vi khuẩn đó. Song
song với việc phát hiện thấy MTB thì Xpert MTB/RIF sẽ cho
biết nồng độ vi khuẩn được phát hiện với các mức độ cao,
trung bình, thấp hoặc rất thấp. Tình trạng kháng RMP sẽ
được trả về là có phát hiện hay không, sau khi đã phát hiện
MTB. Công nghệ Xpert MTB/RIF Ultra gần đây giúp tăng
độ nhạy có thể phát hiện được vi khuẩn lao ở nồng độ cực

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh * Tập 28 * Số 5* 2025
12 | https://www.tapchiyhoctphcm.vn https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2025.05.02
kỳ thấp ngang với ngưỡng của cấy MGIT, với kết quả trả về
là “vết” (trace hoặc trace call), trong tình huống này thì sẽ
không thể xác định được tình trạng kháng RMP. Do đó, kết
quả thu được từ xét nghiệm Xpert MTB/RIF thường bao
gồm sáu trường hợp như sau: (1) có MTB, (2) có MTB và
không kháng RMP, (3) có MTB và kháng RMP, (4) có MTB
và không xác định kháng RIF, (5) có MTB dạng vết (đối với
Xpert MTB/RIF Ultra) và không xác định kháng RIF, (6) lỗi
hoặc không hợp lệ [17].
Khi Xpert MTB/RIF phát hiện MTB mà không kháng
RMP, bệnh nhân nên được chuyển sang điều trị bằng phác
đồ hàng đầu được WHO khuyến cáo và được đăng ký là
trường hợp mắc lao đã được xác nhận về mặt vi khuẩn học
và nhạy cảm thuốc. Không cần thực hiện thêm xét nghiệm
kháng thuốc bằng phương pháp khác [18]. Khi Xpert
MTB/RIF phát hiện MTB có kháng RMP, các quyết định về
các bước tiếp theo sẽ phụ thuộc vào nhóm nguy cơ của bệnh
nhân [18]. Đối với bệnh nhân có nguy cơ cao mắc lao kháng
đa thuốc (MDR-TB) nên bắt đầu điều trị theo phác đồ WHO
khuyến cáo. Khi xác nhận kháng rifampicin (RR-TB), cần
lấy thêm mẫu đàm để xét nghiệm kháng thuốc với isoniazid,
fluoroquinolones và thuốc hàng hai khác. Không cần xét
nghiệm xác nhận lại do giá trị tiên đoán dương cao. Với bệnh
nhân nguy cơ thấp, kết quả kháng RMP có thể bất ngờ, do
lỗi tiền/hậu phân tích hoặc nhầm lẫn mẫu bệnh phẩm. Lặp
lại xét nghiệm Xpert MTB/RIF ngay trên mẫu mới giúp loại
trừ sai sót, tăng độ tin cậy trong quyết định điều trị [15,19].
4.3. Giá trị kĩ thuật tại Việt Nam
Kỹ thuật GeneXpert được triển khai tại Việt Nam từ năm
2011 thông qua các chương trình của WHO, TB Care và các
tổ chức y tế. Hiện nay, xét nghiệm này được áp dụng tại
nhiều bệnh viện lớn, trong đó có Bệnh viện Phạm Ngọc
Thạch, Chợ Rẫy, nhằm chẩn đoán nhanh bệnh lao và xác
định tình trạng kháng rifampicin (RMP). Xpert MTB đã
được sử dụng trên nhiều nhóm bệnh nhân, bao gồm người
nghi lao, bệnh nhân nhiễm HIV, trẻ em và các trường hợp lao
ngoài phổi. Báo cáo từ Chương trình chống lao quốc gia năm
2015 cho thấy, hệ thống Xpert MTB đã được triển khai rộng
khắp cả nước, với hơn 56 xét nghiệm được thực hiện từ 2012
đến 2014 trên 22.752 bệnh nhân. Trong đó, 17.308 (76%) có
đối tượng nghi lao đa kháng thuốc (MDR-TB), 3.573 người
nhiễm HIV nghi lao, và 1.635 trẻ em nghi lao. Sau ba năm
triển khai, đã phát hiện 10.831 (49,3%) ca bệnh lao và 2.554
trường hợp lao kháng đa thuốc [15,20]. Kỹ thuật Xpert MTB
giúp rút ngắn thời gian chẩn đoán lao, đặc biệt với lao kháng
thuốc, hỗ trợ bác sĩ đưa ra quyết định điều trị nhanh chóng.
Tuy nhiên, xét nghiệm này vẫn có những hạn chế nhất định,
bao gồm khả năng dương tính giả hoặc âm tính giả trong một
số trường hợp. Vì vậy, việc kết hợp với các phương pháp
chẩn đoán khác như nuôi cấy vi khuẩn lao vẫn được khuyến
nghị nhằm tăng độ chính xác trong chẩn đoán và điều trị.
5. GIÁ TRỊ CỦA XÉT NGHIỆM
XPERT MTB/RIF TRONG CHẨN
ĐOÁN LAO RUỘT
5.1. Giá trị của xét nghiệm Xpert MTB/RIF trong
chẩn đoán lao phổi
Xpert MTB/RIF ban đầu được ứng dụng trong chẩn đoán
lao phổi và có nhiều bằng chứng cho thấy độ chính xác cao
của xét nghiệm này. Trong chẩn đoán lao phổi, một tổng
quan hệ thống Cochrane dựa trên 86 nghiên cứu với 42 091
bệnh nhân cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu tổng hợp của
Xpert MTB/RIF lần lượt là 85% và 98% [21]. Độ nhạy tổng
hợp của Xpert MTB/RIF là 98% ở nhóm bệnh nhân dương
tính với xét nghiệm AFB mẫu đàm và 67% ở nhóm xét
nghiệm AFB âm tính nhưng dương tính ở mẫu bệnh phẩm
nuôi cấy [21]. Cũng trong tổng quan trên, việc phát hiện
kháng RMP, độ nhạy và độ đặc hiệu tổng hợp của Xpert
MTB/RIF (khoảng tin cậy (KTC) 95%) lần lượt là 96%
(94% đến 97%) và 98% (98% đến 99%) [21].
5.2. Giá trị của xét nghiệm Xpert MTB/RIF trong
chẩn đoán lao ruột
Bên cạnh chẩn đoán lao phổi, giá trị của Xpert MTB/RIF
trong chẩn đoán lao ngoài phổi cũng được đánh giá qua
nhiều nghiên cứu. Một tổng quan hệ thống của Maynard-
Smith dựa trên 27 nghiên cứu với tổng cộng 6026 bệnh phẩm
ngoài phổi cho thấy độ nhạy trung vị là 0,83 và độ đặc hiệu
trung vị là 0,98 (khoảng liên tứ phân vị, 0,89 – 1,00). Tuy
nhiên, độ nhạy tổng hợp của Xpert MTB/RIF trên các bệnh
phẩm âm tính qua soi trên kính hiển vi chỉ đạt 69% (KTC
95%: 60%-80%) [22]. Tại Việt Nam, hiện tại chúng tôi chưa
có nghiên cứu nào về giá trị của xét nghiệm trên.
Bệnh phẩm được sử dụng trong chẩn đoán lao ngoài phổi
rất đa dạng bao gồm mô hạch bạch huyết, dịch não tủy, dịch
dạ dày, dịch màng phổi cho đến các loại mô khác [22]. Trong
chẩn đoán lao ruột, nhiều nghiên cứu về giá trị của Xpert

