BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------------
Họ và tên tác giả luận văn LƯƠNG NGỌC THÀNH TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS. NGUYỄN BÁ NGỌC
Hà Nội – Năm 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
LỜI CAM ĐOAN
Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các đánh giá,
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp tên đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh” là bản nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tế và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc. kiến nghị đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm
Tác giả
Lương Ngọc Thành
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 4 1. Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................................... 1 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................................... 3 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn .......................................................... 5 3.1. Mục đích .................................................................................................... 5 3.2. Nhiệm vụ .................................................................................................... 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................................... 5 4.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................. 5 4.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 5 5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn .......................................................................... 6 6. Những đóng góp về khoa học của luận văn .................................................................. 6 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ..................................................................... 6 7.1. Ý nghĩa lý luận ............................................................................................ 6 7.2. Ý nghĩa thực tiễn ......................................................................................... 6 8. Kết cấu của luận văn ........................................................................................................ 7 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN............................................................................... 8 1.1. HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN ...................................................................... 8 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và đối tượng của kiểm tra sau thông quan ... 8 1.1.2. Phân biệt kiểm tra sau thông quan với một số nghiệp vụ có liên quan ... 15 1.1.3. Phân loại nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan ........................................... 18 1.1.4. Vai trò của kiểm tra sau thông quan ........................................................ 20 1.2. NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN .............................................................................................. 21 1.2.1. Nội dung của hoạt động kiểm tra sau thông quan ..................................... 21 1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra sau thông quan ................ 30 1.3. KINH NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ... 37 1.3.1. Kinh nghiệm trong hoạt động kiểm tra sau thông quan của một số địa phương ... 37 1.3.2. Bài học rút ra cho Cục Hải quan Quảng Ninh .......................................... 42 Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ..................................................................... 45 2.1. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ........................................... 45 2.1.1. Giới thiệu khái quát về Cục Hải quan Quảng Ninh và hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh ......................................................... 45 2.1.2. Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh ...................................................................................... 49 2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2008-2013 VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC . 51 2.2.1. Thực trạng hoạt động thu thập, xử lý thông tin, xác định đối tượng phải
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
kiểm tra và những kết quả đạt được .................................................................. 51 2.2.2. Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và những kết quả đạt được ............................................................... 66 2.2.3. Thực trạng công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu .................. 78 2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ........................................................................ 82 2.3.1. Những mặt được trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh .................................................................................................... 82 2.3.2. Những tồn tại chính trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh ............................................................................................ 83 2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan Quảng Ninh ......................................................................... 83 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ............................................................................................................. 86 3.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI .................................. 86 3.1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Ngành Hải quan trong việc phát triển Hải quan hiện đại ..................................................................................... 86 3.1.2. Xu hướng về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và khả năng xảy ra rủi ro trong quản lý Hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ........................................ 88 3.1.3. Phương hướng, mục tiêu hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh đến năm 2017 ...................................................................... 90 3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI . 91 3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách về KTSTQ ................ 91 3.2.2. Tiếp tục hoàn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng lực lượng kiểm tra sau thông quan theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu ........................................... 95 3.2.3. Hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra sau thông quan ................................................................... 99 3.2.4. Xây dựng chương trình và tăng cường công tác phối hợp với các tổ chức, cá nhân phục vụ kiểm tra sau thông quan ............................................................ 100 3.2.5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kiểm tra sau thông quan . 102 3.3. KIẾN NGHỊ ............................................................................................................... 103 3.3.1. Kiến nghị chung ................................................................................... 103 3.3.2. Kiến nghị Quốc hội ............................................................................. 103 3.3.3. Kiến nghị Chính phủ: ........................................................................... 104 3.3.4. Kiến nghị Bộ Tài chính và Tổng Cục Hải quan: .................................... 104 3.3.4. Kiến nghị UBND tỉnh Quảng Ninh: ...................................................... 105 3.3.5. Kiến nghị Cục Hải quan Quảng Ninh: .................................................. 105 KẾT LUẬN................................................................................................................. 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 109
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực Châu Á Thái Bình Dương
APEC
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
ASEAN
Vận tải đơn
B/L
Cán bộ công chức
CBCC
Chống buôn lậu
CBL
Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
C/O
Hiệp định chung về thuế quan
GATT
Chương trình Quản lý giá tính thuế
GTT22, GTT01
Hệ thống mô tả hài hòa mã số hàng hóa
KTSTQ
Kiểm tra Sau thông quan
KT559
Chương trình Kế toán thuế
NSNN
Ngân sách Nhà nước
SLXNK
Chương trình Số liệu xuất nhập khẩu
QLRR
Web Quản lý rủi ro
QLVP
Chương trình Quản lý vi phạm
STQ01
Chương trình Quản lý doanh nghiệp phục vụ công tác kiểm tra Sau thông quan và quản lý rủi ro
Tổng cục Hải quan
TCHQ
Chi phí xếp dỡ hàng hóa
THC
Thông quan điện tử
TTHQĐT
Tổ chức Hải quan Thế giới
WCO
Tổ chức Thương Mại Thế giới
WTO
Xuất nhập khẩu
XNK
Xuất nhập cảnh
XNC
H/S
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 1.1: Kết quả KTSQ tại Cục Hải quan Lạng Sơn 38
Bảng 1.2: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai 40
Bảng 1.3: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hoá 41
Sơ đồ 2.1: 48 Sơ đồ tổ chức bộ máy KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh
Bảng 2.1: 56 Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
Bảng 2.2: 58 Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
Bảng 2.3: 59 Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
Bảng 2.4: 61 Thông tin do các Chi Cục Hải quan cửa khẩu cung cấp cho hoạt động KTSTQ giai đoạn 2008-2013
Bảng 2.5: 62 Nguồn thông tin nhận được từ các cơ quan liên quan giai đoạn 2008-2013
Bảng 2.6: Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013 63
Bảng 2.7: 69
Bảng 2.8: 71
Bảng 2.9: 72
Bảng 2.10: 74
Bảng 2.11: 75 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008- 2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008- 2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008- 2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số tiền truy thu thuế từ kết quả KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
Bảng 2.12: 80 Số quyết định hành chính được ban hành từ kết quả KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh từ 2008-2013
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
DANH MỤC CÁC BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Biểu 2.1: Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 – 2013
Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh Biểu 2.2: giai đoạn 2008-2013
Biểu 2.3: Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013 Biểu 2.4:
Biểu 2.5:
Biểu 2.6:
Biểu 2.7:
Biểu 2.8:
Biểu 2.9: Số lượng doanh nghiệp được KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế xã hội cùng với việc nước ta trở
thành thành viên của nhiều tổ chức thương mại đã làm gia tăng nhanh chóng hoạt động
thương mại xuất nhập khẩu, đặt ra cho ngành Hải quan yêu cầu cấp thiết là phải tạo
điều kiện thông thoáng về thủ tục Hải quan, đồng thời quản lý chặt chẽ hoạt động xuất
nhập khẩu, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Trong bối cảnh đó, chuyển từ
phương pháp quản lý Hải quan truyền thống dựa trên hoạt động kiểm tra toàn bộ hàng
hóa để thông quan sang phương pháp quản lý tiên tiến dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro,
tức là trên cơ sở thu thập, phân tích, xử lý thông tin để quyết định thông quan, cùng với
việc sử dụng các giải pháp nghiệp vụ hỗ trợ như quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông
quan, kiểm soát, thu thập thông tin… đã trở thành yêu cầu tất yếu khách quan. Một
trong các mô hình nghiệp vụ hỗ trợ có hiệu quả nhất chính là nghiệp vụ kiểm tra sau
thông quan (KTSTQ).
Trên bình diện quốc tế, cơ quan Hải quan các nước tiến tiến đều coi KTSTQ là
một khâu nghiệp vụ trong công nghệ quản lý của Hải quan hiện đại. Hơn nữa, ứng
dụng mô hình KTSTQ là phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các cam kết của Việt
Nam trong quá trình hội nhập. KTSTQ đang được phổ biến và áp dụng rộng rãi trên
toàn thế giới.
Đối với Hải quan Việt Nam, mô hình KTSTQ mới chỉ được triển khai thực hiện
từ 01/01/2002, thời điểm Luật Hải quan có hiệu lực. Mặc dù đã đạt được những kết quả
đáng khích lệ ban đầu nhưng hoạt động KTSTQ của Hải quan Việt Nam vẫn còn rất
nhiều bất cập, thiếu sót cần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp. Trong quá trình triển khai
hoạt động KTSTQ, hiện tại Hải quan Việt Nam đang gặp phải một số khó khăn như
sau:
- Thứ nhất, là về nhận thức, bao gồm nhận thức trong nội bộ ngành Hải quan,
nhận thức của các doanh nghiệp, của xã hội và của một số cơ quan nhà nước hữu quan
về hoạt động KTSTQ chưa đầy đủ.
- Thứ hai, là khối lượng công việc tăng nhanh, tạo áp lực lớn. Với mức độ tăng
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 1 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
về số lượng các lô hàng XNK mỗi năm từ 20 đến 30%. Khối lượng khổng lồ như vậy
tạo sức ép công việc rất lớn đến thông quan và KTSTQ.
- Thứ ba, là về hệ thống pháp luật, còn có những quy định không đồng bộ, do đó
người thực thi gặp nhiều khó khăn.
- Thứ tư, là ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp
cố tình vi phạm pháp luật, gian lận trốn thuế gây khó khăn cho cơ quan Hải quan khi
KTSTQ.
- Thứ năm, mô hình KTSTQ chưa đồng bộ, đặc biệt là vấn đề tổ chức bộ máy,
phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong và ngoài ngành, và vấn đề ứng dụng công
nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ.
Là một đơn vị trực thuộc Tổng Cục Hải quan, được giao thực hiện nhiệm vụ
quản lý nhà nước về Hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, một địa bàn có vị trí chiến
lược cả về lĩnh vực kinh tế và an ninh quốc phòng ở vùng Đông bắc của Tổ quốc.
Trong những năm qua, cùng với toàn Ngành Hải quan, Cục Hải quan Quảng Ninh đã
tập trung và ưu tiên hàng đầu cho công tác cải cách, phát triển và hiện đại hoá với mục
tiêu liên tục nâng cao năng lực quản lý cả về chất lượng và hiệu quả các mặt công tác
nhằm giải quyết được sự mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh hàng năm của khối lượng hàng
hoá XNK, phương tiện vận tải và hành khách XNC với yêu cầu phải luôn đảm bảo và
nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về Hải quan.
KTSTQ nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, phát hiện
những gian lận, sai sót trong khai báo Hải quan và trong thực tế kinh doanh của doanh
nghiệp đối với hàng hoá XNK, chống thất thu cho NSNN; và điều quan trọng là thông
qua hoạt động KTSTQ quan để tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng doanh nghiệp và
nhân dân hiểu rõ hơn về các quy định của Nhà nước trong hoạt động XNK. Vì vậy,
hoạt động KTSTQ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giữ vị trí chủ đạo trong công tác
quản lý Hải quan hiện đại.
Để đáp ứng yêu cầu đó, Cục Hải quan Quảng Ninh là một trong những đơn vị đi
đầu trong toàn ngành Hải quan thành lập và triển khai hoạt động KTSTQ; thực tế sau
một thời gian thực hiện KTSTQ đã thu được những kết quả đáng khích lệ, phát hiện và
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 2 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
xử lý nhiều vi phạm, gian lận trốn thuế… truy thu về cho NSNN hàng trăm tỷ đồng.
Tuy nhiên, hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh cũng gặp những bất cập,
khó khăn như đã nêu ở trên.
Là một công chức Hải quan công tác tại Cục Hải quan Quảng Ninh, nhận thức
được tầm quan trọng với tính cấp thiết được nêu ở trên chính là lý do tác giả lựa chọn
đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông
quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở các quốc gia trên thế giới, đã có nhiều tác giả, nhiều tổ chức quốc tế tiến hành
phân tích đánh giá hoạt động KTSTQ thông qua các bài viết, công trình nghiên cứu, ví
dụ như:
- Association of Southeast Asian Nation (2004), ASEAN Post - Clearance Audit
Manual - The Final Draft 2004, Jakarta.
- Igarashi K., P.R. China Post - Clearance Audit, Seminar on Risk Management
and Post - Entry Audit Entry Audit, 7-10 June 2005 Shenzhen.
- Kitaura M. (2005), Outline of Valuation and PCA in Japan, Osaka Customs
- Tanaka M. (2006), Computer Assisted Audit, Asean PCA Training on Trainer
20 February 2006.
Các công trình này mới chỉ nghiên cứu về hoạt động KTSTQ ở nước ngoài,
hơn nữa, tập trung vào mô tả các kỹ thuật KTSTQ nói chung, chưa gắn với điều
kiện, đặc điểm của công tác quản lý Hải quan tại một quốc gia, một địa phương.
Ở trong nước, đã có một số công trình nghiên cứu về KTSTQ, cụ thể là:
- Cục kiểm tra sau thông quan (2006), Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông
quan của Hải quan Việt Nam, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 08-N2005.
- Cục kiểm tra sau thông quan (2005), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kế hoạch cải cách, phát triển và
hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2004 -2006, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 09 -
N2004.
- Cục Hải quan thành phố Hải Phòng - Cục kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 3 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
(2002), Cơ sở lý luận, thực tiễn, nội dung và tác nghiệp cụ thể nghiệp vụ kiểm tra sau
thông quan, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 10 - N2002.
- Thạc sỹ Nguyễn Viết Hồng, Tổng Cục Hải quan (2005), Các giải pháp nâng
cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của kế
hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hoá Hải quan giai đoạn 2004 - 2006, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp ngành, mã số 08 - N2005.
- Thạc sỹ Nguyễn Viết Hồng, Tổng Cục Hải quan (2006), Hoàn thiện mô hình
kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
ngành, mã số 05 - N2006.
- Phạm Ngọc Hữu (2003), Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, Tổng Cục Hải
quan - Tài liệu nghiệp vụ lưu hành nội bộ.
Những bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên, ở góc độ này hay góc độ khác
mới chỉ đề cập đến chiến lược phát triển hoặc phân tích chi tiết nghiệp vụ KTSTQ. Đây
là những tài liệu tham khảo hết sức bổ ích, đóng góp về lý luận chung và các cơ sở
khoa học để đề tài này kế thừa và tiếp tục phân tích nhằm đề xuất các giải pháp hoàn
thiện mô hình và các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải
quan Quảng Ninh.
Ở cả trong nước và trên bình diện quốc tế, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ
thể về hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh. Đây là đề tài mang tính độc
lập, không bị trùng lặp và cần được tiếp tục nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu trong tình hình có sự thay đổi của một loạt các văn bản
quy phạm pháp luật trong lĩnh vực Hải quan như: Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày
10/9/2013 mới được ban hành thay thế cho Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày
06/12/2010 Hướng dẫn về thủ tục Hải quan; kiểm tra, giám sát Hải quan; thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Thông
tư số 205/2010/TT-BTC ngày 15/12/2010 mới được ban hành thay thế cho Thông tư số
40/2007/TT-BTC Hướng dẫn xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu; Đang rà soát bổ sung, sửa đổi Luật Hải quan, Luật quản lý thuế… Đây là
các văn bản rất quan trọng đối với ngành Hải quan về mặt thủ tục cũng như về mặt
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 4 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
quản lý thuế; nhằm đáp ứng đòi hỏi về một hệ thống văn bản thể hiện tính tập trung hoá
cao, không dàn trải, giải quyết sự chồng chéo của một số các văn bản liên quan,… đáp
ứng sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật tương
xứng với một Hải quan hiện đại mang tầm vóc khu vực và quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh hiện nay
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải
quan Quảng Ninh trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt
động KTSTQ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ, chỉ rõ những tồn tại, yếu
kém của hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh từ năm 2002 đến nay.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong thời gian tới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng
Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu ba hoạt động
sau:
+ Hoạt động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng phải kiểm tra;
+ Hoạt động KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
+ Hoạt động lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực
KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
- Về thời gian nghiên cứu: Luận văn giới hạn ở việc phân tích hoạt động
KTSTQ từ khi có Luật Hải quan năm 2001 đến 2013.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 5 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
- Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá hoạt động KTSTQ trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện luận văn, tác giả sẽ áp dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
và các phương pháp mang tính trải nghiệm thực tế như: Phương pháp thu thập thông
tin, phương pháp so sánh, phương pháp lý luận khoa học, phương pháp biện chứng,
phương pháp suy luận, phương pháp logic,… Đồng thời có kế thừa những công trình
nghiên cứu liên quan đến hoạt động KTSTQ.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung về hoạt động KTSTQ của các nước trên
thế giới và Việt Nam.
- Phân tích hoạt động KTSTQ thông qua 3 lĩnh vực nghiệp vụ cơ bản là: Hoạt
động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng phải kiểm tra; Hoạt động
KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Hoạt động lập hồ sơ và ban hành
quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Bài học về hoạt động KTSTQ của Hải quan một số địa phương có cùng đặc thù, từ đó
rút ra các bài học kinh nghiệm cho Cục Hải quan Quảng Ninh.
- Đánh giá khách quan thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng
Ninh. Phân tích rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động KTSTQ tại
Cục Hải quan Quảng Ninh.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Ý nghĩa lý luận
Khái quát một cách có hệ thống lý luận về hoạt động KTSTQ nói chung và hoạt
động KTSTQ có tính đặc thù tại Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã thực hiện được việc phân tích về thực trạng của hoạt động KTSTQ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh và từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 6 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh, qua đó góp phần vào việc giúp cho
đơn vị sẽ luôn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Bộ tài chính, Tổng Cục Hải quan
và tỉnh Quảng Ninh giao cho.
Luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho Cục Hải quan Quảng Ninh trong hoạt
động KTSTQ trên địa bàn.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động KTSTQ.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động
KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 7 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
1.1. HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM
TRA SAU THÔNG QUAN
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và đối tượng của kiểm tra sau thông quan
1.1.1.1. Khái niệm kiểm tra sau thông quan
Nghiệp vụ KTSTQ được hình thành và hoàn thiện dần cùng với việc hình thành
và hoàn thiện khoa học về quản lý rủi ro trong hoạt động của các cơ quan Hải quan trên
thế giới. Cho đến nay, cơ quan Hải quan nhiều nước đã áp dụng biện pháp KTSTQ
trong công tác quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, xác định lịch sử và nguồn
gốc hình thành nghiệp vụ KTSTQ một cách chính xác là rất khó khăn. Từ những năm
60 của thế kỷ XIX, Hội đồng Hợp tác Hải quan thế giới (Customs Cooperation
Council) đã có những nghiên cứu đầu tiên về các biện pháp quản lý Hải quan hiện đại,
trong đó nhấn mạnh việc kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan. Cơ sở kiểm
tra là các chứng từ Hải quan, sổ sách kế toán và các loại giấy tờ khác còn lưu giữ tại cơ
quan Hải quan, tại doanh nghiệp và các bên có liên quan.
Công ước về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục Hải quan (Công ước Kyoto
1973, có hiệu lực từ 25/09/1974) cũng đã hình thành những quy định cơ sở về
KTSTQ. Nhưng, phải một vài năm sau, hoạt động KTSTQ mới được Tổ chức Hải
quan thế giới - WCO công nhận trong quá trình nghiên cứu, áp dụng các biện pháp
quản lý mới tại một số nước. Nội dung hoạt động nghiệp vụ này được quy định tại
Phần Phụ lục Tổng quát, Chương VI về kiểm tra Hải quan, Công ước Kyoto sửa
đổi, bổ sung năm 1999 [7].
Thực tế, trong quá trình cải cách về thủ tục Hải quan và hiện đại hóa các quy
trình thủ tục Hải quan, nhiều quốc gia đã tiến hành áp dụng và thực hiện biện pháp
KTSTQ. Cụ thể ở Nhật Bản, thực hiện thí điểm KTSTQ từ năm 1967 và chính thức
triển khai hệ thống nghiệp vụ này từ năm 1968; ở Indonesia hoạt động KTSTQ được
triển khai áp dụng từ năm 1998. Cho đến nay, Indonesia là quốc gia có nhiều kinh
nghiệm và áp dụng KTSTQ có hiệu quả nhất ASEAN. Hiện tại, Indonesia là điều phối
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 8 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
viên về KTSTQ của chương trình hợp tác Hải quan ASEAN. Ở Trung Quốc, bắt đầu
thực hiện thí điểm nghiệp vụ KTSTQ tại 03 địa phương có hoạt động xuất nhập khẩu
phức tạp từ tháng 04/1992. Điều lệ KTSTQ được Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa công bố ngày 01/03/1997. Ở khu vực ASEAN, hoạt động KTSTQ đã
có một khuôn mẫu chuẩn cho tất cả các thành viên thực hiện, tuy nhiên chưa được phê
duyệt chính thức. Hiện nay, ASEAN đã thống nhất xây dựng Sách hướng dẫn về
KTSTQ của ASEAN (được hội nghị Tổng cục trưởng Hải quan ASEAN lần 12 tại Hà
Nội phê chuẩn) nhằm định hướng chiến lược và phương pháp áp dụng chung ở trong
khối. Ở Việt Nam, hoạt động KTSTQ được chính thức triển khai thực hiện khi Luật
Hải quan có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2002.
Trên thế giới hiện đang tồn tại một số quan niệm về KTSTQ:
- Theo Công ước về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục Hải quan (Công ước
Kyoto sửa đổi, bổ sung vào tháng 9/1999) của Tổ chức Hải quan thế giới - WCO,
KTSTQ được định nghĩa như sau: "Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp
được cơ quan Hải quan tiến hành nhằm xác định tính chính xác và trung thực của
khai báo Hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế toán, hệ thống kinh
doanh và dữ liệu thương mại của các bên có liên quan" [7, tr.98].
- Theo Luật Hải quan Nhật Bản:
Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra có hệ thống nhằm thẩm định tính
chính xác và trung thực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế
toán, hệ thống kinh doanh, dữ liệu thương mại có liên quan được lưu giữ bởi các tổ
chức cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương mại quốc tế [7].
- Theo Luật Hải quan Indonesia năm 1995:
Kiểm tra sau thông quan là một biện pháp kiểm soát có tính hệ thống của cơ
quan Hải quan. Bằng biện pháp này, cơ quan Hải quan kiểm tra tính chính xác và trung
thực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra các sổ sách kế toán, ghi chép kế toán,
chứng từ thương mại và các dữ liệu kinh doanh có liên quan do các tổ chức, cá nhân
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế lưu giữ [7].
- Theo Điều 2, Điều lệ KTSTQ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997:
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 9 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày hàng hóa xuất nhập khẩu được thông quan
hoặc trong thời hạn giám sát Hải quan của hàng hóa bảo thuế, hàng hóa miễn giảm
thuế nhập khẩu, cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ, đơn
chứng báo quan và các tài liệu liên quan khác cùng với hàng hóa xuất nhập khẩu
của đơn vị được kiểm tra để thẩm định tính hợp pháp và chân thực của hoạt động
xuất nhập khẩu [7].
- Theo Sách hướng dẫn về KTSTQ của Tổ chức Hải quan ASEAN (bản Final
Draft - 06/2004):
KTSTQ là một biện pháp kiểm soát Hải quan có hệ thống nhằm thẩm định tính
chính xác và trung thực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra chứng từ, sổ sách kế
toán, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại có liên quan được lưu giữ bởi các tổ
chức, cá nhân tham gia trực tiếp và gián tiếp vào thương mại quốc tế [24].
Kết hợp các định nghĩa được áp dụng trên thế giới, có xem xét đến đặc thù của
Việt Nam, Điều 32 Luật Hải quan sửa đổi bổ sung 2005 quy định về KTSTQ nêu rõ:
KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm: (i) Thẩm định tính
chính xác, trung thực của nội dung các chứng từ mà chủ hàng, người được chủ hàng ủy
quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ
quan Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan. (ii) Thẩm
định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu [18].
Từ các quan niệm trên đây, ta có thể xây dựng một khái niệm chung về KTSTQ
như sau:
KTSTQ quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan, diễn ra sau khi hàng
hóa đã được thông quan, nhằm kiểm tra tính chính xác và trung thực các nội dung khai
báo Hải quan trong quá trình thông quan.
1.1.1.2. Đặc điểm kiểm tra sau thông quan
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về KTSTQ, nhưng các quan niệm này đều
thể hiện bảy đặc điểm cơ bản của hoạt động KTSTQ như sau:
- KTSTQ là một công đoạn trong hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan,
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 10 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
cùng thực hiện trách nhiệm quản lý về mặt Hải quan trong mối quan hệ phối hợp với
các đơn vị chức năng khác của Hải quan, ví dụ: đơn vị thông quan, đơn vị điều tra vi
phạm Hải quan và các đơn vị khác. KTSTQ không phải là một hệ thống độc lập mà là
một chức năng của tổ chức Hải quan, đóng góp vai trò trong phạm vi hoạt động chiến
lược tổng thể ngành Hải quan.
- KTSTQ là hoạt động kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan do cơ
quan Hải quan thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. KTSTQ sẽ có
hiệu quả đáng kể nếu được thực hiện đối với những cá nhân, doanh nghiệp tiến hành
khai báo Hải quan liên tục trong một thời gian nhất định, dựa trên cơ sở phân tích trước
hồ sơ lưu trữ của họ. Mặt khác, phương pháp này sẽ không đạt hiệu quả cao, nếu áp
dụng cho những đối tượng tiến hành XNK số lượng nhỏ hàng hóa hoặc có số thuế phải
nộp thấp.
- Kết quả KTSTQ có liên quan đến quy định của pháp luật về nghĩa vụ lưu giữ
hồ sơ và các chế tài có liên quan. Vì KTSTQ được thực hiện dựa trên việc kiểm tra sổ
sách giấy tờ là chủ yếu, nên để thực hiện có hiệu quả, cần quy định rõ nghĩa vụ và các
chế tài liên quan đến việc lưu giữ hồ sơ của đối tượng.
- KTSTQ được tiến hành nhằm xác định việc khai Hải quan có tuân thủ các yêu
cầu của Luật Hải quan và các qui định liên quan hay không; đặc điểm này đòi hỏi công
chức KTSTQ phải tinh thông về nghiệp vụ. Ngoài ra, đặc điểm này cũng gợi ý một
điểm quan trọng khác để tiến hành KTSTQ có hiệu quả, đó là khuyến khích các nhà
nhập khẩu, xuất khẩu hoặc bất kỳ đối tượng khai Hải quan nào tuân thủ các quy định
pháp luật Hải quan thông qua phần tự khai báo và tự chịu trách nhiệm về nội dung khai
báo của mình.
- KTSTQ được tiến hành với sự hỗ trợ từ các nguồn thông tin liên quan, gồm cả
các dữ liệu điện tử được các cá nhân/tổ chức liên quan cung cấp. Công chức KTSTQ
tập hợp các bằng chứng thu thập từ các nguồn thông tin, đánh giá chúng trên cơ sở quy
định pháp luật Hải quan và sau đó xác định tính chính xác và trung thực của khai báo
Hải quan.
- KTSTQ không chỉ áp dụng với đối tượng khai Hải quan trực tiếp mà còn áp
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 11 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
dụng với các cá nhân/tổ chức tham gia vào thương mại quốc tế. Hoạt động thương mại
quốc tế ngày nay có rất nhiều đối tượng tham gia và thông tin từ các đối tượng đó có
thể rất hữu ích cho cơ quan Hải quan trong việc xác định tính chính xác và trung thực
của khai báo Hải quan.
- KTSTQ được thực hiện với sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan và đối
tượng kiểm tra. Cần lưu ý là KTSTQ không phải là biện pháp điều tra vi phạm Hải
quan ngay cả khi Luật Hải quan cho phép công chức KTSTQ vào các cơ sở của cá
nhân, tổ chức để kiểm tra hồ sơ của họ và tiến hành xử phạt những ai chống đối hoặc
ngăn cản công tác kiểm tra. Thông qua quy trình KTSTQ, công chức KTSTQ tiếp cận,
hợp tác với các cá nhân, tổ chức đang bị kiểm tra và tiến hành KTSTQ với sự hợp tác
và đồng ý của họ.
Như vậy, các đặc điểm trên cho thấy, KTSTQ không phải là một lĩnh vực riêng
rẽ, mà là hoạt động nghiệp vụ bình thường gắn kết trong tổng thể mối quan hệ của toàn
bộ hoạt động kiểm tra giám sát Hải quan đối với hàng hóa XNK.
1.1.1.3. Mục tiêu và lợi ích của kiểm tra sau thông quan
- Mục tiêu của KTSTQ:
Như trên đã đề cập, KTSTQ là một giải pháp quản lý Hải quan mang tính hệ
thống. Theo đó, cơ quan Hải quan đánh giá sự chính xác và trung thực của việc khai
báo Hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ, hệ thống kinh doanh và các dữ
liệu do cá nhân/doanh nghiệp tham gia trực tiếp hay gián tiếp đến thương mại quốc tế
lưu giữ. Vì vậy, mục tiêu của KTSTQ sẽ là:
+ Xác minh tính chính xác và trung thực của việc khai báo Hải quan trong một
khoảng thời gian xác định;
+ Khuyến nghị đối tượng kiểm tra thực hiện bổ sung, điều chỉnh những vấn đề
chưa chính xác trong quá trình khai báo Hải quan;
+ Khuyến khích đối tượng kiểm tra nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật và quy
định về Hải quan [16].
- Lợi ích của KTSTQ:
+ Đối với cơ quan Hải quan, trong những thập kỷ gần đây cơ quan Hải quan
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 12 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
các nước mới bắt đầu nhận thức rõ ràng lợi ích của KTSTQ, và đặt KTSTQ nằm
trong chương trình phát triển, hiện đại hóa của Hải quan. Việc tiến hành hoạt động
KTSTQ một cách chuyên nghiệp, chuyên sâu đem lại cho cơ quan Hải quan rất
nhiều lợi ích như:
Quản lý các hoạt động của doanh nghiệp XNK trong mối quan hệ tổng thể,
liên tục chứ không trên cơ sở từng lần làm thủ tục Hải quan. Điều này dẫn đến hiệu quả
cao trong đánh giá và phân loại đối tượng quản lý.
Quản lý trên cơ sở lựa chọn, đánh giá từng doanh nghiệp XNK để tập trung
kiểm tra có trọng điểm trên cơ sở nghi vấn (nếu có) nhằm tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp làm ăn chân chính, răn đe hạn chế thấp nhất các doanh nghiệp có khả năng
vi phạm pháp luật Hải quan, đồng thời tiết kiệm nguồn nhân lực, vật lực cho cơ
quan Hải quan.
Khả năng đảm bảo nguồn thu thông qua việc thu nộp thuế đúng đủ, kịp thời
vào ngân sách. Đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với những nước đang phát triển
mà ở đó nguồn thu từ Hải quan chiếm phần lớn trong ngân sách.
+ Đối với cộng đồng doanh nghiệp, các lợi ích mà họ có được từ hoạt động
KTSTQ là:
Giảm chi phí, hưởng thuận lợi trong quá trình thông quan nếu tuân thủ
pháp luật tốt. Cơ quan Hải quan các nước đều áp dụng cơ chế ưu tiên làm thủ tục
Hải quan, mà cụ thể là miễn kiểm tra hàng hóa cho các doanh nghiệp chấp hành tốt
pháp luật Hải quan. Điều này giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả
cao trong kinh doanh.
Khi được áp dụng các ưu đãi, thời gian thông quan cho một lô hàng sẽ
giảm xuống. Đây cũng là một nội dung tạo thuận lợi quan trọng trong quá trình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.1.4. Đối tượng kiểm tra sau thông quan
Trong quá trình tiến hành KTSTQ, việc xác định rõ ràng đối tượng của
KTSTQ là vô cùng quan trọng. Theo các quy định của pháp luật của các nước nói
chung và của Việt Nam nói riêng thì hoạt động KTSTQ hướng tới việc kiểm tra
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 13 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
xem xét các chứng từ thuộc hồ sơ Hải quan, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính,
các dữ liệu điện tử và các giấy tờ khác có liên quan đến hàng hoá XNK. Theo quan
niệm này, một số nước cho rằng, đối tượng KTSTQ chỉ là các sổ sách, giấy tờ có
liên quan đến giao dịch XNK cần kiểm tra. Tuy nhiên các chứng từ tài liệu này
được lưu giữ bởi các tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến giao
dịch thương mại và trong hầu hết các trường hợp, thông tin từ nhóm đối tượng này
lại có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình KTSTQ. Vì vậy, cần coi đối tượng
của KTSTQ bao gồm cả sổ sách giấy tờ cần kiểm tra và các tổ chức, cá nhân liên
quan đến hoạt động thương mại quốc tế.
- Trên quan điểm chung đó, các tổ chức/cá nhân bị kiểm tra bao gồm:
+ Người XNK (người khai Hải quan);
+ Người nhận ủy thác XNK;
+ Người chuyên chở hàng XNK;
+ Chủ sở hữu hàng hóa nhập khẩu;
+ Người mua hàng nhập khẩu;
+ Đại lý thông quan hàng nhập khẩu;
+ Các tổ chức/cá nhân khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến giao
dịch XNK.
Đối tượng đầu tiên cần hướng tới chính là người XNK (người khai Hải
quan), là đối tượng xuất trình tờ khai Hải quan cho cơ quan Hải quan để thực hiện
khai báo. Trong trường hợp cần thêm các bằng chứng bổ sung, cơ quan Hải quan có
thể tiến hành kiểm tra các đối tượng khác có liên quan.
- Các loại sổ sách, chứng từ, bản ghi cần kiểm tra bao gồm:
+ Các chứng từ, sổ sách có liên quan đến giao dịch thương mại, ví dụ hợp
đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng trợ giúp kỹ thuật, hợp đồng đại lý, đơn đặt hàng,
hướng dẫn sản xuất, báo cáo sản xuất, thư tín...
+ Chứng từ và sổ sách kế toán: các loại sổ kế toán và mọi chứng từ có liên
quan như L/C, bảng kê chi tiết, giấy yêu cầu chuyển tiền, sổ ghi nợ/có...;
+ Chứng từ có liên quan đến hồ sơ Hải quan (tờ khai Hải quan, hóa đơn
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 14 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
thương mại, C/O, B/L, đơn bảo hiểm...);
Việc xem xét cả hai nhóm đối tượng như trên có ý nghĩa thực tế quan trọng
khi tiến hành KTSTQ. Kiểm tra tổng thể các đối tượng và sự kiện sẽ đem lại hiệu
quả cao hơn là kiểm tra một đối tượng hoặc một giao dịch đơn lẻ.
1.1.2. Phân biệt kiểm tra sau thông quan với một số nghiệp vụ có liên quan
1.1.2.1. Phân biệt với nghiệp vụ kiểm toán
Nghiệp vụ kiểm toán ứng dụng khoa học về kiểm toán tài chính doanh
nghiệp. Ở một số nước, người ta đồng nhất khái niệm về KTSTQ với kiểm toán Hải
quan (Post Clearance Audit). Ở nước ta hai lĩnh vực này có những điểm giống nhau
và khác nhau. Nghiệp vụ kiểm toán rất đa dạng và phức tạp, trong phạm vi đề tài
này chỉ nêu một số nội dung cơ bản về kiểm toán. Tùy theo cách thức phân loại có
các loại kiểm toán sau:
- Theo chức năng kiểm toán, bao gồm có 3 loại: kiểm toán hoạt động, kiểm
toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính.
Kiểm toán hoạt động (Operationnal Audit): Là kiểm toán để xem xét và đánh
giá tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động của một đơn vị.
Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit): Là kiểm toán để xem xét bên được
kiểm toán có tuân thủ các thủ tục, các nguyên tắc, quy chế mà các cơ quan có thẩm
quyền cấp trên hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước đã đề ra hay không. Vì
thế, kiểm toán tuân thủ còn được gọi là kiểm toán tính quy tắc (Regularity Audit).
Kiểm toán báo cáo tài chính (Audit of Financial Statement): Là việc kiểm tra
và xác nhận tính trung thực và tính hợp lý của báo cáo tài chính cũng như xem xét
báo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và các yêu cầu
của pháp luật hay không. Ở Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, công việc
kiểm toán báo cáo tài chính do các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thực hiện để
phục vụ cho các nhà quản lý, chính phủ, các ngân hàng và chủ đầu tư, cho người
bán, khách hàng...
- Theo chủ thể kiểm toán, gồm có 3 loại: kiểm toán nội bộ, kiểm toán Nhà
nước và kiểm toán độc lập.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 15 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Kiểm toán nội bộ (Internal Audit): Là kiểm toán do các kiểm toán viên nội
bộ của đơn vị tiến hành. Phạm vi của kiểm toán nội bộ rất biến động và tùy thuộc
vào quy mô, cơ cấu của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của các nhà quản lý đơn vị.
Tuy nhiên, thông thường kiểm toán nội bộ hoạt động trong một hoặc vài lĩnh vực
sau: Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan, giám
sát sự hoạt động của các hệ thống này cũng như tham gia hoàn thiện chúng; kiểm
tra lại các thông tin tác nghiệp và thông tin tài chính bao gồm việc soát xét lại các
phương tiện đã sử dụng để xác định, để tính toán, phân loại và báo cáo những thông
tin này, thẩm định cụ thể các khoản mục cá biệt (kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các
số dư tài khoản...); kiểm tra tính hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả của các hoạt động
trong đơn vị.
Kiểm toán Nhà nước (State Audit): Là việc kiểm toán do các kiểm toán viên
của cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện; là cơ quan kiểm tra tài chính Nhà nước
độc lập. Kiểm toán Nhà nước thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ kết hợp
với kiểm toán báo cáo tài chính, xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ và
chế độ của Nhà nước tại các đơn vị có sử dụng vốn là kinh phí của Nhà nước. Ngoài
ra, Kiểm toán Nhà nước còn thực hiện kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế,
tính hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của các đơn vị nói trên.
Kiểm toán độc lập (Indepndent Audit): Là loại kiểm toán do các kiểm toán
viên độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp (thường gọi là doanh
nghiệp kiểm toán) tiến hành. Thực chất, kiểm toán độc lập là loại dịch vụ, tư vấn
được pháp luật thừa nhận và bảo hộ.
Xét ở góc độ chung nhất thì các phương pháp kiểm toán về cơ bản đều dựa
trên cơ sở quản lý rủi ro, lựa chọn mẫu, áp dụng các phương pháp phân tích, đánh
giá đặc biệt là dựa trên hệ thống kiểm soát nội bộ. Các nguyên tắc tiến hành kiểm
toán là đảm bảo chính trực, khách quan, độc lập, bí mật quy định rõ trách nhiệm của
kiểm toán viên, nêu dẫn bằng chứng tài liệu [13].
KTSTQ thực chất là quá trình ứng dụng những kiến thức và kỹ năng cơ bản
của kiểm toán để xem xét thẩm định tính chính xác, trung thực của các thông tin, tài
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 16 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
liệu mà chủ hàng, người được chủ hàng ủy quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất
khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan Hải quan. Tuy nhiên, giữa
kiểm tra sau thông quan và kiểm toán có những điểm khác nhau cơ bản, đó là:
Nguồn luật điều chỉnh: Kiểm toán được điều chỉnh bởi Luật Kiểm toán và
các văn bản hướng dẫn, trong khi KTSTQ được điều chỉnh bởi Luật Hải quan và
các văn bản hướng dẫn.
Thẩm quyền xử lý: Điều khác biệt là cơ quan Hải quan thực hiện việc
KTSTQ, đồng thời là cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật Hải quan
trong phạm vi quản lý của mình theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức kiểm
toán trong hoạt động nghiệp vụ của mình chỉ đưa ra nhận xét, kết luận, đánh giá
hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật được phát hiện trong quá trình kiểm toán.
1.1.2.2. Phân biệt với hoạt động kiểm soát Hải quan
Kiểm soát Hải quan bao gồm các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết như:
- Cơ sở bí mật: Lực lượng kiểm soát Hải quan được tuyển chọn người không
thuộc biên chế ngành Hải quan, có khả năng, điều kiện tham gia thực hiện nhiệm vụ
kiểm soát Hải quan theo nguyên tắc bí mật.
- Biện pháp sưu tra: Lực lượng kiểm soát Hải quan tiến hành lập danh sách
các tổ chức, cá nhân, mặt hàng, tuyến đường có liên quan đến hoạt động buôn lậu,
vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới để chủ động áp dụng các biện pháp
phòng ngừa và quản lý theo trọng tâm, trọng điểm.
- Tổ chức đấu tranh chuyên án: Lực lượng kiểm soát Hải quan sử dụng tập
trung và tổng hợp lực lượng, phương tiện, các biện pháp nghiệp vụ để ngăn chặn
kịp thời, chính xác các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan; thu thập thông tin, tài
liệu, chứng cứ tạm giữ đối tượng vi phạm theo đúng nhiệm vụ và thẩm quyền mà
pháp luật đã quy định.
- Trinh sát nội tuyến, trinh sát ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật: Trong trường
hợp cần thiết lực lượng kiểm soát Hải quan được áp dụng các biện pháp nghiệp vụ
này để phát hiện hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 17 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Kiểm soát Hải quan thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu và gian lận thương
mại, có thể diễn ra trước, trong và sau thông quan, còn KTSTQ là chống gian lận
thương mại sau khi hàng hóa đã thông quan [16].
1.1.2.3. Phân biệt với hoạt động thanh tra Hải quan và thanh tra chuyên ngành
Hiện nay, tổ chức và hoạt động thanh tra được thực hiện theo Luật thanh tra
ngày 15/6/2004, với đối tượng và phạm vi điều chỉnh rộng.
Trong công tác quản lý nhà nước về Hải quan, nhiệm vụ của cơ quan Hải
quan trong công tác quản lý Hải quan đối với hàng hóa XNK rất lớn liên quan đến
nhiều loại hàng hóa, sản phẩm hoặc đối tượng quản lý chuyên ngành của nhiều bộ
ngành khác nhau. Do vậy, nghiệp vụ KTSTQ khi phát hiện ra vi phạm pháp luật Hải
quan có liên quan đến chức năng kiểm tra, thanh tra chuyên ngành của các bộ ngành
khác thì có sự phối hợp giải quyết xử lý. Đây là hoạt động trùng hợp với thanh tra
chuyên ngành, đặc biệt là thanh tra vi phạm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các
loại thuế khác:
- Đối tượng của thanh tra thuế XNK bao gồm việc chấp hành pháp luật về
thuế XNK của cả đối tượng nộp thuế và cơ quan được giao quyền thu thuế XNK.
- Đối tượng KTSTQ là nội dung các chứng từ của cá nhân, tổ chức tham gia
các hoạt động XNK đã khai, nộp, xuất trình cho cơ quan Hải quan.
1.1.3. Phân loại nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan
Việc phân loại KTSTQ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cách thức
tổ chức tiến hành, quy trình nghiệp vụ cụ thể để tiến hành KTSTQ đạt hiệu quả.
Trong phạm vi đề tài này chỉ giới thiệu một số tiêu chí phân loại cơ bản.
1.1.3.1. Phân loại theo đơn vị được kiểm tra
Theo cách này, người ta phân loại KTSTQ thành kiểm tra theo kế hoạch và
kiểm tra ngẫu nhiên:
- Kiểm tra theo kế hoạch: về cơ bản, kiểm tra theo kế hoạch được thực hiện
trong khoảng thời gian nhất định đối với một doanh nghiệp cụ thể, trên cơ sở phân
tích các thông tin về doanh nghiệp đó.
- Kiểm tra ngẫu nhiên: là việc kiểm tra đối với một mặt hàng XNK hoặc một
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 18 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
doanh nghiệp cụ thể một cách ngẫu nhiên mà không dựa vào việc phân tích thông
tin từ đầu.
1.1.3.2. Phân loại theo mục đích
KTSTQ để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật: Là việc kiểm tra nhằm xác
định đơn vị được kiểm tra có chấp hành đúng các quy định của pháp luật Hải quan,
pháp luật có liên quan đối với hàng hoá XNK hay không. Thông qua việc KTSTQ
đánh giá được mức độ và quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp để làm cơ
sở xem xét mức độ ưu tiên trong việc làm thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hải
quan và xử lý vi phạm (nếu có). Nếu làm tốt việc KTSTQ sẽ nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật của doanh nghiệp. Điều này rất có ý nghĩa khi Việt Nam tham gia
vào WTO.
KTSTQ khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải quan hoặc xác định
có khả năng vi phạm pháp luật Hải quan dựa trên phân tích thông tin của cơ quan
Hải quan: Cơ quan Hải quan căn cứ vào hệ thống cơ sở dữ liệu phân tích đánh giá
để xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật và khả năng vi phạm để tiến hành KTSTQ
đối với các mặt hàng XNK có dấu hiệu vi phạm pháp luật của doanh nghiệp.
1.1.3.3. Phân loại theo địa điểm tiến hành kiểm tra
- Kiểm tra hồ sơ Hải quan tại trụ sở cơ quan Hải quan: là việc cơ quan Hải
quan tiến hành KTSTQ đối với hồ sơ Hải quan các lô hàng XNK đã được thông
quan, đây có thể được coi là bước tiền kiểm tra tại trụ sở của doanh nghiệp, được
tiến hành chủ yếu đối với hồ sơ Hải quan mà cơ quan Hải quan đang lưu giữ. Trong
một số trường hợp cụ thể có thể tiến hành xác minh một số thông tin tài liệu có liên
quan đến lô hàng XNK đã được thông quan tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan hoặc yêu cầu doanh nghiệp bổ sung tài liệu hồ sơ, giải trình với cơ quan Hải
quan. Việc KTSTQ tại cơ quan Hải quan nhằm hạn chế tối đa sự phiền hà, gây ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp khi tiến hành
KTSTQ.
- KTSTQ tại trụ sở của đơn vị được kiểm tra: là việc cơ quan Hải quan tiến
hành kiểm tra chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính, dữ liệu điện từ và các
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 19 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
hồ sơ tài liệu khác có liên quan đến hàng hóa XNK đã được thông quan, tại trụ sở
của doanh nghiệp hoặc những nơi lưu giữ các chứng từ, hồ sơ, tài liệu nêu trên.
Trong trường hợp cần thiết có thể kiểm tra dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị
có liên quan đến sản xuất, chế biến hàng hóa XNK hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa
nhập khẩu khi còn đủ điều kiện.
1.1.4. Vai trò của kiểm tra sau thông quan
1.1.4.1. Nâng cao năng lực quản lý Hải quan
KTSTQ là một trong những biện pháp nâng cao năng lực quản lý của cơ
quan Hải quan, chống gian lận thương mại có hiệu quả, tạo điều kiện cho thông
quan nhanh, góp phần tích cực phát triển giao lưu thương mại quốc tế, cải thiện môi
trường đầu tư, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng doanh nghiệp.
1.1.4.2. Đảm bảo tuân thủ pháp luật
Góp phần đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả pháp luật Hải
quan và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực XNK hàng hoá, đặc
biệt nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp.
1.1.4.3. Tăng thu thuế, giảm thiểu chi phí và rủi ro
Mặc dù thuế suất thuế nhập khẩu giảm dần theo tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế, song số thu thuế đối với hàng hoá XNK của ngành Hải quan hàng năm vẫn
tăng cao, KTSTQ đảm bảo ngăn chặn tình trạng thất thu cho ngân sách nhà nước,
giảm chi phí quản lý về Hải quan; giảm thiểu rủi ro cho các chủ thể tham gia vào
quan hệ pháp luật Hải quan.
1.1.4.4. Mở rộng phạm vi kiểm tra
Thông qua hoạt động KTSTQ có thể mở rộng phạm vi kiểm tra tiếp theo khi
cần thiết trong nhiều lĩnh vực khác, như kiểm tra chế độ giấy phép, về hạn ngạch, về
xuất xứ hàng hoá, về chống bán phá giá…
1.1.4.5. Là công cụ quản lý hiệu quả đối với công tác kiểm tra, giám sát của Hải quan
Thông tin qua nghiệp vụ này cơ quan Hải quan có được khá đầy đủ các
thông tin về giao dịch có liên quan được phản ánh trong hệ thống sổ sách kế toán và
báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Tác động tích cực trở lại với hệ thống quản lý
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 20 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
của cơ quan Hải quan thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn của hệ
thống.
1.1.4.6. Đơn giản hoá trong giám sát, quản lý Hải quan
Cho phép cơ quan Hải quan áp dụng đơn giản hoá các biện pháp giám sát,
quản lý trên cơ sở hiện đại hóa Hải quan nhưng vẫn đảm bảo chức năng quản lý nhà
nước về Hải quan.
1.2. NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU
THÔNG QUAN
1.2.1. Nội dung của hoạt động kiểm tra sau thông quan
1.2.1.1. Hoạt động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng phải kiểm tra
- Hoạt động thu thập thông tin về các đối tượng vi phạm:
Dấu hiệu vi phạm ở đây là dấu hiệu gây thất thu thuế hoặc khai sai trị giá
hàng hóa góp vốn đầu tư (nộp thiếu thuế, gian lận, trốn thuế, lợi dụng ưu đãi
miễn thuế, hoàn thuế, xuất xứ, khai tăng trị giá máy móc, thiết bị để tăng tỷ lệ
góp vốn đầu tư…) và dấu hiệu xuất khẩu, nhập khẩu trái quy định, trái phép
hàng hóa (xuất khẩu, nhập khẩu hàng cấm, hàng XNK có điều kiện nhưng chưa
có đủ điều kiện đó…).
Dấu hiệu vi phạm bao gồm dấu hiệu cụ thể của một đối tượng cụ thể, dấu
hiệu cụ thể của nhóm đối tượng nhưng chưa xác định được tên đối tượng cụ thể,
hoặc dấu hiệu mới chỉ là vấn đề đang nổi cộm (ví dụ: hiện tượng khai tỷ lệ chiết
khấu giá do mua lượng hàng lớn, nhưng thực hiện bằng nhiều hợp đồng...), chưa rõ
những doanh nghiệp nào có dấu hiệu này. Thông tin về dấu hiệu thường chưa đủ cụ
thể, chính xác nên diện phải xem xét thường rất rộng, khó đánh giá phạm vi, mức
độ rủi ro, xem xét tất cả sẽ lãng phí nguồn lực. Do vậy, cần nhận dạng tương đối
chính xác về dấu hiệu vi phạm làm cơ sở cho việc xác định quy mô của dấu hiệu.
Sau khi nhận rõ dấu hiệu, nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm có thể
gây thất thu đáng kể (ví dụ chênh lệch lớn về mức thuế suất…), hoặc vi phạm lớn
chính sách quản lý xuất nhập khẩu, hoặc đây là thủ đoạn mới, nếu không ngăn chặn
thì sẽ lan rộng, hoặc theo quy định của pháp luật sắp hết thời hạn KTSTQ… thì tiến
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 21 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
hành các bước tiếp theo; nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm, nhưng hậu
quả có thể nhỏ (ví dụ sai mã số hàng hóa, nhưng không thay đổi thuế suất…), trong
khi tại thời điểm hiện tại đơn vị có những nhiệm vụ khác cần ưu tiên nguồn lực hơn,
thì đề nghị tạm dừng, đưa vào diện theo dõi tiếp. Quá trình thu thập thông tin cho
thấy dấu hiệu vi phạm, quy mô vi phạm còn được thể hiện ở các nguồn thông tin
khác thì tiến hành thu thập thêm thông tin từ các nguồn đó nhằm nhận dạng rõ hơn
về dấu hiệu vi phạm.
Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin đối với trường hợp đã có dấu
hiệu vi phạm là việc xác định được doanh nghiệp phải được tiến hành KTSTQ.
+ Trường hợp đã xác định được tên doanh nghiệp cụ thể: Nếu dấu hiệu đã rõ,
quy mô dấu hiệu lớn đến mức phải ưu tiên kiểm tra thì đưa vào danh sách các doanh
nghiệp phải KTSTQ; Nếu dấu hiệu chưa thật rõ, hoặc dấu hiệu rõ nhưng quy mô
nhỏ thì đề nghị đưa vào diện theo dõi tiếp, khi đơn vị bố trí được nguồn lực thì thực
hiện kiểm tra.
+ Trường hợp dấu hiệu liên quan đến một nhóm doanh nghiệp: Tùy theo
nguồn lực mà quyết định số lượng doanh nghiệp sẽ được kiểm tra và thứ tự ưu tiên
kiểm tra trước. Nếu nguồn lực hạn chế thì chọn doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao
hơn so với các doanh nghiệp khác (dấu hiệu vi phạm rõ hơn, quy mô vi phạm lớn
hơn, kim ngạch lớn hơn,…) tiến hành kiểm tra trước.
- Hoạt động xử lý thông tin và xác định đối tượng phải KTSTQ:
Căn cứ xác định đối tượng thu thập thông tin là kế hoạch kiểm tra đã được
xác định, chỉ đạo của lãnh đạo các cấp và nguồn lực hiện tại. Đối tượng ở đây gồm
doanh nghiệp hoặc lĩnh vực cần thu thập thông tin. Nguồn thông tin thu thập từ cơ
sở dữ liệu của ngành Hải quan (số liệu QLRR XNK, GT01, QLVP, KT559...) và
thu thập thông tin từ các nguồn khác.
Một doanh nghiệp có thể kinh doanh XNK nhiều loại hàng, nhiều loại hình;
một lĩnh vực có thể có nhiều doanh nghiệp kinh doanh, nếu thu thập thông tin dàn
trải vào tất cả các mặt hàng, loại hình, lĩnh vực đó thì sẽ lãng phí nguồn lực, không
hiệu quả và không phù hợp nguyên tắc quản lý rủi ro. Vì vậy, việc thu thập thông
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 22 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
tin phải được tập trung vào những vấn đề nhất định. Phạm vi đó có thể là một doanh
nghiệp (trường hợp có nhiều doanh nghiệp cùng XNK một mặt hàng, loại hình, lĩnh
vực, có cùng một hiện tượng), có thể là một mặt hàng (trường hợp doanh nghiệp
XNK nhiều mặt hàng), có thể là một chi tiết về mặt hàng (mã số, giá…).
Xác định phạm vi thu thập thông tin:
+ Trường hợp đối tượng là một doanh nghiệp cụ thể: Thu thập thông tin
tổng hợp về hoạt động XNK (mặt hàng, lĩnh vực, kim ngạch XNK, tình hình chấp
hành pháp luật…) trong thời gian từ thời điểm đang thu thập thông tin trở về 5 năm
trước. Trong các hoạt động XNK trên thấy vấn đề gì nổi cộm, có dấu hiệu hoặc đối
chiếu với tình hình chung của các doanh nghiệp khác để nhận định khả năng rủi ro
cao nằm trong phạm vi nào, từ đó xác định phạm vi thu thập thông tin sâu (tập trung
vào mặt hàng nào? lĩnh vực nào?…).
+ Trường hợp đối tượng là một nhóm doanh nghiệp (xuất, nhập khẩu cùng
một mặt hàng, loại hình hoặc có cùng một hiện tượng): Tra cứu tìm tất cả các doanh
nghiệp đó; Sắp xếp thứ tự từ lớn đến nhỏ theo kim ngạch; Căn cứ vào nguồn lực
hiện tại để xác định thu thập thông tin theo thứ tự ưu tiên kim ngạch lớn kiểm tra
trước, kim ngạch nhỏ kiểm tra sau.
Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin là việc xác định được doanh
nghiệp đưa vào kế hoạch KTSTQ [23].
1.2.1.2. Hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu
- KTSTQ tại trụ sở Hải quan:
Xác định đối tượng kiểm tra, phạm vi kiểm tra theo nguyên tắc quản lý rủi
ro, căn cứ vào kết quả thu thập, xử lý thông tin, kế hoạch đã được xác định, dấu
hiệu vi phạm mới phát hiện, tình hình nổi cộm từng thời gian hoặc chỉ đạo của cấp
trên. Phạm vi kiểm tra tùy thuộc vào hình thức cuộc kiểm tra:
+ Kiểm tra theo kế hoạch: Là kiểm tra đánh giá sự tuân thủ pháp luật của
doanh nghiệp, chưa có dấu hiệu vi phạm cụ thể. Do vậy, phạm vi kiểm tra rộng hơn,
thường là kiểm tra toàn diện hoạt động XNK của doanh nghiệp, trong một giai đoạn.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 23 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
+ Kiểm tra chọn mẫu, kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm:
Là kiểm tra khi đã có những thông tin vi phạm pháp luật hoặc đã có những
nghi ngờ nhất định. Do vậy, phạm vi kiểm tra thường hẹp hơn, tập trung vào những
dấu hiệu, nghi ngờ đó (kiểm tra chuyên sâu).
Thực hiện rà soát, củng cố lại thông tin đã có bằng việc đối chiếu các thông
tin đó với các cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan (cơ sở dữ liệu quản lý tờ khai Hải
quan, cơ sở dữ liệu quản lý giá tính thuế, cơ sở dữ liệu về vi phạm hành chính về
Hải quan và cơ sở dữ liệu quản lý hàng gia công, sản xuất - xuất khẩu...). Đối chiếu
các thông tin đã được củng cố trên với hồ sơ Hải quan lưu tại đơn vị Hải quan làm
thủ tục thông quan cho các lô hàng liên quan và tiến hành các công việc sau:
Đề nghị các đơn vị Hải quan làm thủ tục thông quan cung cấp bổ sung tài
liệu, thông tin, giải thích những vấn đề chưa rõ trên hồ sơ Hải quan.
Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các tài liệu, chứng từ liên quan.
Xác minh các vấn đề chưa rõ ở các tổ chức, cá nhân liên quan hoặc có khả
năng biết được vấn đề đó.
Giám định các chứng từ nghi vấn, giám định hàng hóa nếu cần thiết và còn
điều kiện.
Tổng hợp, hệ thống lại các thông tin trên, để làm rõ về đối tượng kiểm tra.
Báo cáo các công việc, biện pháp đã làm, các thông tin đã thu thập được, phân tích
về các thông tin đó, những vấn đề đã kết luận được, những vấn đề chưa rõ, những
việc cần làm tiếp, những đề xuất.
Trường hợp các thông tin về hoạt động XNK của doanh nghiệp là đầy đủ,
minh bạch, doanh nghiệp không vi phạm pháp luật thì đề nghị kết thúc kiểm tra, lập
“Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan”, đưa doanh nghiệp vào diện
chấp hành tốt pháp luật, tổ chức lưu trữ hồ sơ vụ việc theo quy định.
Trường hợp phát hiện doanh nghiệp có dấu hiệu nộp thiếu tiền thuế hoặc có
vi phạm pháp luật, nhưng chưa đủ căn cứ để kết luận doanh nghiệp có vi phạm pháp
luật không thì yêu cầu doanh nghiệp giải trình.
Trường hợp doanh nghiệp giải trình được rõ ràng các vấn đề nêu ra thì báo
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 24 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
cáo đề xuất kết thúc kiểm tra, lập “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải
quan”, đưa doanh nghiệp vào diện chấp hành tốt pháp luật, tổ chức lưu trữ hồ sơ vụ
việc theo quy định.
Trường hợp có nghi vấn về giải trình của doanh nghiệp liên quan đến các tổ
chức, cá nhân khác thì tiến hành xác minh làm rõ.
Trường hợp doanh nghiệp không giải trình hoặc không giải trình được thì:
Nếu đã có đủ căn cứ để ấn định thuế, căn cứ để xử lý vi phạm hành chính
thì lập “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan”.
Nếu chưa đủ căn cứ để ấn định thuế thì đề nghị tiếp tục KTSTQ tại trụ sở
doanh nghiệp.
- KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp:
+ Ban hành Quyết định thành lập đoàn KTSTQ tại doanh nghiệp, đoàn kiểm
tra xác định phạm vi kiểm tra và lập kế hoạch kiểm tra. Nội dung cơ bản của một
bản kế hoạch KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp bao gồm: Phạm vi kiểm tra; nội dung
kiểm tra; thời gian kiểm tra; dự kiến những công việc phải làm; phân công nhiệm vụ
cho các thành viên; dự kiến các tình huống và biện pháp xử lý tình huống; thông tin
liên lạc; kế hoạch hậu cần, đảm bảo… Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm tổ chức
gửi quyết định kiểm tra với doanh nghiệp được kiểm tra trong thời hạn 3 ngày (trừ
trường hợp kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm được thực hiện ngay sau khi ban hành
quyết định, không yêu cầu phải báo trước). Cùng với quyết định kiểm tra, Trưởng
đoàn kiểm tra gửi cho doanh nghiệp bản thông báo sơ bộ những công việc sẽ làm,
sổ kế toán, chứng từ, tài liệu doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn.
+ Thực hiện kiểm tra tại doanh nghiệp:
Công bố quyết định kiểm tra: Trưởng đoàn kiểm tra công bố quyết định
kiểm tra, nói rõ lý do, mục đích, yêu cầu của cuộc kiểm tra; giải thích những vấn đề
doanh nghiệp chưa rõ; những công việc doanh nghiệp phải thực hiện; những sổ kế
toán, chứng từ, tài liệu, dữ liệu điện tử… doanh nghiệp phải chuẩn bị cung cấp;
quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; yêu cầu doanh
nghiệp cử lãnh đạo, kế toán và những người khác trực tiếp làm việc với đoàn và ký
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 25 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
các biên bản trong quá trình kiểm tra; những đề nghị doanh nghiệp hợp tác,… Đại
diện doanh nghiệp thông báo với đoàn về những người được ủy quyền đại diện
doanh nghiệp làm việc với đoàn trong quá trình kiểm tra, những người được ủy
quyền ký các biên bản. Thông báo này được ghi vào biên bản làm việc (hoặc doanh
nghiệp có văn bản chỉ định gửi đoàn kiểm tra. Trong trường hợp này, vẫn phải ghi
vào biên bản làm việc), có giá trị thực hiện. Ngoài ra, phía doanh nghiệp có thể yêu
cầu đoàn giải thích những vấn đề mà mình chưa rõ, những đề nghị…
Thực hiện kiểm tra: Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện các tình tiết
mới cần phải xác minh thì Trưởng đoàn phân công thành viên của đoàn đi xác minh.
Nếu có những vấn đề cần doanh nghiệp phải giải trình bằng văn bản hoặc doanh
nghiệp đề nghị được giải trình bằng văn bản thì yêu cầu hoặc đồng ý doanh nghiệp
giải trình bằng văn bản. Văn bản giải trình được gắn liền với biên bản làm việc hàng
ngày ký giữa Trưởng đoàn và đại diện doanh nghiệp. Trong quá trình kiểm tra phát
hiện các chứng từ, sổ kế toán, tài liệu có nội dung phản ánh hành vi vi phạm pháp
luật của doanh nghiệp thì yêu cầu người có trách nhiệm của doanh nghiệp sao y bản
chính và ký xác nhận vào bản sao y để làm chứng cứ xử lý vi phạm sau này. Kết
thúc mỗi ngày làm việc hoặc từng nội dung kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra phải
cùng đại diện được ủy quyền của doanh nghiệp lập biên bản làm việc ghi nhận nội
dung công việc đã làm trong ngày hoặc lũy kế từ những ngày trước, kết luận những
nội dung đã kiểm tra xong, những yêu cầu, đề nghị của mỗi bên (nếu có).
Kết luận kiểm tra: Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn
KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp, Trưởng đoàn kiểm tra phải ký “Bản kết luận
KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp”. Nội dung cơ bản của Bản kết luận phải thể hiện rõ
được các nhiệm vụ kiểm tra theo quyết định kiểm tra; những công việc đã làm, kết
quả, kết luận cụ thể về từng nội dung; những nội dung doanh nghiệp đã thực hiện
đúng, không sai phạm; những nội dung doanh nghiệp thực hiện chưa đúng hoặc có
sai phạm (ghi cụ thể hành vi vi phạm), vi phạm quy định nào của pháp luật; số thuế
nộp thiếu, nộp thừa (nếu có); trách nhiệm của doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân
khác có liên quan; những nội dung chưa thực hiện được hoặc chưa hoàn thành,
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 26 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
nguyên nhân; tinh thần, thái độ của doanh nghiệp trong quá trình kiểm tra; các kiến
nghị. Bản kết luận, các bản số liệu tính toán, các biên bản của đoàn và của thành
viên, nhóm thành viên đoàn kiểm tra, các bản giải trình, tham gia ý kiến của doanh
nghiệp, các bản xác minh tạo thành bộ hồ sơ KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp [23].
1.2.1.3. Hoạt động lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực
KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
- Hoạt động lập hồ sơ trong lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu: Hoạt động này được thực hiện từ khi ban hành Quyết định KTSTQ tại
trụ sở doanh nghiệp tới khi ban hành “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở doanh
nghiệp” hoặc sau khi lập Biên bản vi phạm hành chính (nếu có).
Các hồ sơ được lập trong giai đoạn này gồm:
+ Biên bản làm việc giữa đoàn kiểm tra với giám đốc hoặc người được giám
đốc ủy quyền của doanh nghiệp được kiểm tra (doanh nghiệp): Biên bản này có vị
trí đặc biệt quan trọng, để xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp, xác định rõ
những người có trách nhiệm tham gia trong quá trình kiểm tra, xác định phương
pháp làm việc, cách thức phối hợp hai bên. Nội dung chính của biên bản là ghi lại
việc công bố quyết định KTSTQ, sự thống nhất giữa hai bên về các công việc mỗi
bên phải làm, cách thức phối hợp để thực hiện các công việc đó, những người có
trách nhiệm chung và trong từng phần việc.
+ Biên bản làm việc của thành viên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra với đại
diện doanh nghiệp: Ghi lại kết quả kiểm tra, nội dung làm việc giữa thành
viên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra với đại diện doanh nghiệp. Biên bản này phải
phản ánh được đầy đủ, cụ thể, chính xác nội dung và kết quả kiểm tra; phải có kết
luận rõ ràng về từng vấn đề.
+ Báo cáo kết quả kiểm tra hàng ngày của thành viên/nhóm thành viên với
Trưởng đoàn kiểm tra: Báo cáo này giúp cho Trưởng đoàn kiểm tra nắm chắc tình
hình, tiến độ công việc để có chỉ đạo, điều chỉnh phù hợp.
+ Biên bản làm việc giữa Trưởng đoàn kiểm tra với đại diện có thẩm quyền
của doanh nghiệp: Biên bản này là cơ sở để Trưởng đoàn lập “Bản kết luận KTSTQ
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 27 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
tại trụ sở doanh nghiệp”, là cơ sở lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý vi phạm
sau này.
+ Tài liệu xác minh trong quá trình kiểm tra (nếu có): Là một trong những
căn cứ để xem xét kết luận về vấn đề còn nghi vấn, chưa rõ, còn ý kiến khác nhau
giữa đoàn kiểm tra và doanh nghiệp. Tài liệu xác minh là bộ phận không tách rời
của Biên bản làm việc của thành viên/nhóm thành viên, Bản kết luận của Trưởng
đoàn kiểm tra; là hồ sơ xử lý sau này.
+ Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp (Bản kết luận): Là cơ sở để
người ban hành quyết định kiểm tra xem xét, kết luận vụ việc; là căn cứ để lập biên
bản vi phạm hành chính; là cơ sở để người có thẩm quyền ban hành các quyết định
hành chính. Bản kết luận được lập trên cơ sở Biên bản làm việc giữa Trưởng đoàn
kiểm tra với đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp; Các tài liệu xác minh; Các
bản giải trình của doanh nghiệp trong quá trình kiểm tra.
+ Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan: Biên bản này được
lập sau Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan hoặc tại trụ sở doanh
nghiệp; hoặc sau kết luận của người ban hành quyết định kiểm tra (nếu có). Căn cứ
để lập Biên bản vi phạm hành chính là Bản kết luận. Các loại biên bản làm việc của
thành viên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra, của trưởng đoàn kiểm tra ký với đại diện
doanh nghiệp cũng được xem xét khi lập biên bản vi phạm.
- Hoạt động ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ đối với
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu:
+ Quyết định ấn định thuế:
Áp dụng trong trường hợp số thuế phải nộp do: người nộp thuế tự phát hiện
thiếu thuế, xin khai nộp bổ sung; cơ quan Hải quan xác định trên cơ sở kết quả
KTSTQ tại trụ sở Hải quan hoặc tại trụ sở doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp đã
giải trình hoặc doanh nghiệp không thực hiện quyền giải trình. Quyết định ấn định
thuế được ban hành trên cơ sở nội dung khai bổ sung của người nộp thuế sau khi cơ
quan Hải quan đã rà soát, đối chiếu với hồ sơ Hải quan; Kết quả KTSTQ tại trụ sở
Hải quan hoặc tại trụ sở doanh nghiệp đã đủ căn cứ để kết luận doanh nghiệp nộp
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 28 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
thiếu thuế và đã xác định được số thuế nộp thiếu. Thẩm quyền ký ban hành Quyết
định ấn định thuế là: Chi cục trưởng KTSTQ; Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành
phố; Tổng cục trưởng Tổng Cục Hải quan hoặc người được ủy quyền.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính:
Trong lĩnh vực KTSTQ các quyết định xử phạt vi phạm hành chính gồm:
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về Hải quan ngoài lĩnh vực thuế; Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính về Hải quan trong lĩnh vực thuế; Quyết định xử
phạt VPHC trong lĩnh vực Hải quan bằng hình thức phạt cảnh cáo.
Khi ban hành quyết định hành chính, phải đặc biệt chú ý thực hiện đúng quy
định của pháp luật nói chung, hình thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền. Việc soạn
thảo các quyết định hành chính sử dụng theo mẫu ấn chỉ quy định. Phần căn cứ
pháp luật áp dụng để ban hành quyết định hành chính trước hết phải dẫn chiếu đến
văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, rồi đến các văn bản pháp
luật khác, về lĩnh vực đó, đang có hiệu lực thi hành. Phải trích dẫn cụ thể chương,
mục, điều, khoản, điểm cụ thể được áp dụng. Ngoài các văn bản pháp luật, có thể
dẫn chiếu thêm các văn bản cá biệt, các bản kết luận kiểm tra, các biên bản, nhưng
không ghi là căn cứ vào văn bản đó. Chú ý thực hiện đúng thẩm quyền của người
ban hành quyết định hoặc thủ tục ủy quyền cho người ban hành quyết định hành
chính; thời hiệu, thời hạn khi ban hành các quyết định hành chính.
+ Giải quyết khiếu nại (nếu có): Quyết định giải quyết khiếu nại phải gửi cho
người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trước đó (nếu là giải quyết lần hai),
người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan, người chuyển đơn đến trong
thời hạn 05 ngày kể từ ngày ký quyết định. Khi giải quyết khiếu nại về thuế, có
quyền yêu cầu người khiếu nại cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại;
nếu người khiếu nại từ chối cung cấp hồ sơ, tài liệu thì có quyền từ chối xem xét
giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại (bao gồm quyết định giải
quyết khiếu nại lần đầu và lần hai) có hiệu lực pháp luật, nếu trong thời hạn do pháp
luật quy định, người khiếu nại không khiếu nại tiếp, không khởi kiện vụ án hành
chính tại tòa án.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 29 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
+ Tham gia tố tụng tại tòa án (nếu có): Sau khi nhận được thông báo thụ lý
vụ án hành chính của tòa án mà đơn vị KTSTQ là bên bị kiện, phải đọc kỹ nội dung
thông báo; đồng thời làm công văn giải trình gửi tòa án trong thời hạn 15 ngày tính
từ ngày nhận được thông báo của tòa; nếu không thể giải trình trong thời hạn trên
thì làm đơn xin gia hạn gửi tòa án, nêu rõ lý do. Cung cấp cho tòa án các tài liệu,
văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn đã được sử dụng làm căn cứ ban hành quyết
định hành chính bị khiếu kiện; lập bảng kê, ký tên, đóng dấu vào từng tài liệu cung
cấp. Sau khi có bản án, quyết định của tòa án, cần làm thủ tục xin cấp bản sao bản
án, quyết định của tòa án. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, nếu không đồng ý thì
có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tòa tuyên án hoặc ra quyết
định. Đơn kháng cáo được gửi đến tòa án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo phải nêu rõ:
Nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của tòa án sơ thẩm bị kháng cáo,
yêu cầu kháng cáo, lý do kháng cáo. Nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà
không có đương sự nào kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị thì bản án,
quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật [23].
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra sau thông quan
1.2.2.1. Hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách về hoạt động KTSTQ
- Hệ thống pháp luật Hải quan về KTSTQ:
Hệ thống này có ý nghĩa quyết định đến hoạt động KTSTQ. Hoạt động
KTSTQ chỉ thực hiện một cách có hiệu quả khi có một hệ thống pháp luật hoàn
chỉnh từ Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp luật có liên quan điều chỉnh
đầy đủ các quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động KTSTQ. Theo đó, phải đề
cập được đầy đủ các yếu tố: mục đích, yêu cầu của KTSTQ; đối tượng, phạm vi
điều chỉnh; quyền và trách nhiệm của cơ quan Hải quan và đối tượng KTSTQ; quy
trình thủ tục KTSTQ; xử lý vi phạm và trình tự giải quyết khiếu nại về KTSTQ.
Những nội dung chủ yếu trên phải đặt trong tổng thể mối quan hệ với các quy định
của Luật Hải quan nói chung.
- Hệ thống pháp luật về thuế:
Nếu hệ thống pháp luật về thuế (Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; thuế tiêu thụ
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 30 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
đặc biệt; thuế giá trị gia tăng...) đối với hàng hóa XNK rõ ràng, minh bạch, thì sẽ
quản lý được nguồn thu của ngân sách nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp chủ động trong việc kê khai, tính thuế, nộp thuế thuận lợi, chính xác.
Ngược lại, nếu các nội dung quy định trong từng Luật thuế không rõ ràng, minh
bạch đảm bảo sự thống nhất, không quy định rõ quyền lợi, trách nhiệm của người
nộp thuế, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan kiểm tra về thuế, thì sẽ gây thất thu
cho ngân sách nhà nước.
- Hệ thống pháp luật có liên quan đến KTSTQ:
KTSTQ liên quan đến các đối tượng có hoạt động XNK. Vì vậy, ngoài các
quy định liên quan đến hoạt động thương mại như Luật thương mại còn có các quy
định về tập quán thương mại quốc tế và pháp luật có liên quan đến việc thành lập và
hoạt động của doanh nghiệp. Do KTSTQ trực tiếp liên quan đến kiểm tra chứng từ,
sổ kế toán, báo cáo tài chính, vì vậy, việc chấp hành nghiêm các quy định của pháp
luật về kế toán thống kê có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động KTSTQ.
Các quy định trong hệ thống thanh toán quốc gia, đảm bảo tỷ lệ thấp nhất
thanh toán bằng tiền mặt, đặc biệt trong quan hệ mua bán hàng hóa XNK phải được
thực hiện qua hệ thống ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ các nguồn thanh toán ngoài
hệ thống ngân hàng. Ở Việt Nam, cơ chế thanh toán bằng tiền mặt như hiện nay dẫn
đến tình trạng giá bán hàng ghi trên hóa đơn không phản ánh đúng giá thực tế.
Doanh nghiệp dễ dàng lập hồ sơ chứng từ giả để gian lận về giá nhập khẩu nhằm
trốn thuế.
- Cơ chế thực thi pháp luật Hải quan và pháp luật khác có liên quan:
Công tác kiểm tra, giám sát, quản lý của ngành Hải quan có liên quan đến rất
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; Ngành Hải quan bên cạnh việc chỉ đạo thực thi pháp
luật Hải quan còn phải chỉ đạo thực thi một khối lượng lớn văn bản pháp luật của
các ngành khác. Vì vậy, cần phải có cơ chế thích hợp và hữu hiệu để thực thi công
tác này. Điều này cũng chỉ ra rằng, chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước phải
phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với cơ quan Hải quan để đảm bảo mục tiêu chung của
quốc gia.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 31 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
1.2.2.2. Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực cho hoạt động KTSTQ
- Ảnh hưởng của tổ chức bộ máy đến hoạt động KTSTQ:
Tổ chức bộ máy cho hoạt động KTSTQ gồm hệ thống bộ máy từ trung ương
(Tổng Cục Hải quan) đến các địa phương (Cục Hải quan tỉnh, thành phố). Tùy theo
nguồn lực hiện có, khối lượng công việc, quy mô địa bàn quản lý để bố trí số lượng
công chức KTSTQ ở từng cấp cho hợp lý, ưu tiên cấp trực tiếp KTSTQ. Đối với cấp
Tổng Cục Hải quan: Chủ yếu làm chức năng tham mưu cho cấp có thẩm quyền ban
hành các văn bản pháp luật quy định về KTSTQ; xây dựng kế hoạch chiến lược về
KTSTQ; tổ chức và quản lý công tác KTSTQ trong toàn ngành, trực tiếp tiến hành
KTSTQ và thực hiện một số nhiệm vụ khác theo phân công, phân cấp của cấp có
thẩm quyền. Đối với cấp Cục Hải quan tỉnh, thành phố: Chủ yếu thực hiện KTSTQ
theo địa bàn quản lý; thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của cấp Tổng cục giao. Chức
năng chủ yếu của đơn vị này là hoạt động thu thập, phân tích xử lý thông tin và tiến
hành hoạt động KTSTQ tại trụ sở của đối tượng KTSTQ.
Nếu tổ chức bộ máy thống nhất, đồng bộ, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của mỗi cấp thì hoạt động sẽ thông suốt và mang lại hiệu quả như
mong muốn, đáp ứng được yêu cầu quản lý đề ra.
Ngược lại, nếu tổ chức bộ máy không đồng bộ và không thống nhất về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp thì hoạt động chồng chéo, gây ách tắc và
mang lại hiệu quả thấp, không đáp ứng được yêu cầu quản lý đề ra.
- Ảnh hưởng của nguồn nhân lực Hải quan đến hoạt động KTSTQ:
+ Chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt động KTSTQ có tính quyết định đến
hiệu quả hoạt động KTSTQ, bao gồm các vấn đề chủ yếu sau:
Xây dựng tiêu chuẩn công chức KTSTQ, bao gồm các tiêu chuẩn về phẩm
chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng kiểm tra cho
từng đối tượng (các cấp lãnh đạo, nhân viên...) trong toàn hệ thống KTSTQ.
Quy trình tuyển dụng, bố trí sắp xếp công chức ở từng khâu công việc cụ
thể, đặc biệt ở các khâu trọng yếu cần ưu tiên bố trí công chức có kinh nghiệm,
năng lực thực tế, phù hợp với chuyên môn được đào tạo.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 32 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Công tác đánh giá cán bộ để phục vụ cho việc phân loại, khen thưởng kịp thời
những nhân tố tích cực, đồng thời kỷ luật nghiêm những công chức có sai phạm.
Từ công tác đánh giá cán bộ cũng xác định được nhu cầu đào tạo trong
toàn hệ thống, qua đó xây dựng chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, xây dựng
đội ngũ giảng viên, tổ chức đào tạo và đánh giá công tác đào tạo.
+ Nếu chất lượng nguồn nhân lực cao, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi
sai phạm sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt động KTSTQ, tăng cường hiệu lực, hiệu
quả công tác quản lý Hải quan.
+ Ngược lại, nếu chất lượng nguồn nhân lực thấp không đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ sẽ dẫn đến công việc bị tồn đọng, hiệu quả của hoạt động KTSTQ
thấp, không đáp ứng được yêu cầu quản lý.
1.2.2.3. Trang thiết bị và công tác đảm bảo cho hoạt động KTSTQ
- Về trang thiết bị:
+ Để đáp ứng yêu cầu công việc, lực lượng KTSTQ cần được trang bị các
trang thiết bị phục vụ công việc gồm: Máy giám định tài liệu, máy tính nối mạng,
máy ảnh, máy ghi âm; Phương tiện đi lại như xe máy, ô tô phục vụ công tác điều
tra, xác minh… đồng thời công chức KTSTQ được phân quyền truy cập các chương
trình quản lý nghiệp vụ trong cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan để phục vụ công tác
thu thập thông tin của đối tượng kiểm tra.
+ Nếu được đáp ứng đầy đủ trang thiết bị, phương tiện và các nguồn thông
tin sẽ giúp cho hoạt động KTSTQ chủ động, kịp thời và mang lại hiệu quả cao.
Ngược lại, nếu không được đáp ứng, hoạt động KTSTQ luôn bị động, không phát
huy được vai trò của mình.
- Công tác đảm bảo:
+ Trong hoạt động của mình, lực lượng KTSTQ được đảm bảo các chi phí
để hoạt động gồm: sử dụng kinh phí để chi mua tin, thu thập thông tin trong và
ngoài ngành; được trích thưởng từ tiền phạt vi phạm hành chính thông qua công tác
KTSTQ; được hưởng phụ cấp đặc thù... Các hoạt động thường xuyên của lực lượng
KTSTQ được thực hiện theo cơ chế khoán chi.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 33 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
+ Nếu được đảm bảo các nguồn chi phí sẽ giúp cho hoạt động KTSTQ chủ
động, kịp thời; động viên công chức KTSTQ yên tâm công tác, phát huy nội lực,
sáng tạo, say mê trong thực thi nhiệm vụ. Ngược lại, nếu không đảm bảo các chi
phí, nguồn thông tin cung cấp cho lực lượng KTSTQ sẽ hạn chế; không tạo được sự
yên tâm công tác của đội ngũ công chức và không thu hút được nguồn nhân lực chất
lượng cao vào trong lực lượng KTSTQ.
1.2.2.4. Sự phối hợp hoạt động trong và ngoài ngành
- Phối hợp trong ngành:
+ Hoạt động phối hợp giữa lực lượng KTSTQ với các đơn vị nghiệp vụ trong
ngành như: Hải quan cửa khẩu; kiểm soát chống buôn lậu; thanh tra; quản lý thuế;
giám sát quản lý... được thực hiện thường xuyên; khi cần thiết lực lượng KTSTQ có
thể trưng dụng chuyên gia thuộc các lĩnh vực nghiệp vụ để phục vụ công tác
KTSTQ. Nguồn thông tin từ các đơn vị nghiệp vụ cung cấp cho lực lượng KTSTQ
rất quan trọng trong việc đánh giá phân loại và lựa chọn đối tượng kiểm tra.
+ Nếu sự phối hợp giữa lực lượng KTSTQ và các đơn vị nghiệp vụ trong
ngành Hải quan được thực hiện chặt chẽ và kịp thời sẽ giúp cho lực lượng KTSTQ
có cơ sở trong việc đánh giá phân loại và lựa chọn đối tượng kiểm tra; kịp thời kiểm
tra, phát hiện và ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm. Mặt khác, kết quả KTSTQ
được phản hồi sẽ giúp cho các đơn vị nghiệp vụ triển khai nhiệm vụ theo chức năng
của mình đạt hiệu quả cao hơn.
+ Ngược lại, nếu sự phối hợp giữa lực lượng KTSTQ và các đơn vị nghiệp
vụ trong ngành Hải quan thực hiện không tốt thì hiệu quả của hoạt động KTSTQ sẽ
bị ảnh hưởng đáng kể và không đáp ứng yêu cầu quản lý Hải quan.
- Phối hợp ngoài ngành:
+ Trong hoạt động KTSTQ, việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân
ngoài ngành được thực hiện thường xuyên theo yêu cầu nhiệm vụ, bao gồm: phối
hợp công tác giữa 3 ngành trực thuộc Bộ tài chính là Hải quan, Thuế, Kho bạc được
triển khai thực hiện ở cấp Trung ương và ở các địa phương, được kết nối qua mạng
và duy trì thường xuyên là một kênh thông tin quan trọng phục vụ công tác KTSTQ.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 34 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Ngoài ra, công tác phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin giữa lực lượng KTSTQ với
các cơ quan có liên quan khác như ngân hàng, vận tải, bảo hiểm, quản lý thị trường,
công an…
+ Nếu sự phối hợp giữa lực lượng KTSTQ với các tổ chức, cá nhân ngoài
ngành được thực hiện thường xuyên, kịp thời sẽ giúp cho lực lượng KTSTQ có cơ
sở trong việc củng cố chứng cứ, kết luận và xử lý hành vi vi phạm; tăng cường hiệu
lực, hiệu quả của công tác quản lý Hải quan. Ngược lại, nếu sự phối hợp giữa lực
lượng KTSTQ với các tổ chức, cá nhân ngoài ngành Hải quan thực hiện không tốt,
nhiều vụ việc sẽ bị kéo dài và đạt hiệu quả thấp.
1.2.2.5. Hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế về Hải quan
- Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở thành xu thế tất yếu cho quá trình
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, tiến trình hội nhập này có
những điểm đặc thù so với các nước trên thế giới, đó là trong bối cảnh nền kinh tế
chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đặc thù này đã chỉ ra mức độ cải cách của hệ thống pháp luật điều chỉnh
hoạt động Hải quan nói chung và hoạt động KTSTQ nói riêng.
- Hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế về Hải quan tạo
cho hoạt động KTSTQ cơ hội phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh Hải quan Việt
Nam đang từng bước cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan một cách
toàn diện, chuyển từ phương pháp quản lý thủ công hiện nay sang phương pháp
quản lý Hải quan hiện đại, trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp
quản lý rủi ro, áp dụng các chuẩn mực WTO và khu vực. Trọng tâm của phương
pháp này là cơ quan Hải quan sẽ chuyển hướng từ vai trò quản lý đối với hàng hóa
XNK tại thời điểm nhập khẩu (xuất khẩu) sang vai trò KTSTQ thông qua việc quản
lý trên cơ sở kiểm toán, bằng cách kéo dài thời gian kiểm tra, mở rộng phạm vi
kiểm tra, mở rộng đối tượng kiểm tra, mở rộng địa điểm kiểm tra, đổi mới phương
pháp kiểm tra. Vì vậy, hoạt động KTSTQ đã được khẳng định và mang tính tất yếu;
đây là một hoạt động nghiệp vụ tiên tiến và mang lại hiệu quả tuân thủ cao, ngày
càng nhận được nhiều sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự ủng
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 35 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
hộ từ phía cộng đồng doanh nghiệp. Cơ sở pháp lý về KTSTQ ngày càng được hoàn
thiện theo hướng tăng cường vai trò của hoạt động KTSTQ, đảm bảo lợi ích của
doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý chặt chẽ hoạt động xuất nhập
khẩu và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Đội ngũ công chức KTSTQ được quan
tâm lựa chọn theo các tiêu chuẩn thích hợp, được tạo điều kiện tham gia các hoạt
động đào tạo nâng cao trình độ. Việc trao đổi và học hỏi kinh nghiệm từ phía cộng
đồng Hải quan quốc tế gặp nhiều thuận lợi, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KTSTQ
đang được coi trọng trong việc liên kết đào tạo, phối hợp trao đổi thông tin, chia sẻ
kinh nghiệm...
- Hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế về Hải quan
cũng tạo ra những thách thức cho hoạt động KTSTQ, do khối lượng công việc tăng
đột biến đòi hỏi phải bổ sung nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời,
để thực hiện các cam kết quốc tế thì phương pháp, nghiệp vụ KTSTQ cũng phải có
những thay đổi phù hợp; cùng với đó các hành vi, thủ đoạn gian lận mới sẽ xuất
hiện đòi hỏi lực lượng KTSTQ phải có những giải pháp thích ứng trong hoạt động
của mình.
1.2.2.6. Nhận thức của các bên có liên quan đến hoạt động KTSTQ
- Nhận thức của CBCC trong ngành Hải quan: CBCC Hải quan là chủ thể
của hoạt động KTSTQ. Chính vì vậy, về nhận thức, trình độ, năng lực của CBCC
Hải quan trong toàn hệ thống có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả công tác. Điều đó
đòi hỏi cần sự quan tâm đúng mức về đầu tư mọi mặt cho hệ thống, cho con người,
đây là nhân tố quyết định sự thành công của hoạt động KTSTQ.
- Trình độ và ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng KTSTQ:
Ở nước ta, trong những năm qua cùng với việc gia tăng hoạt động XNK, các
doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong lĩnh vực này càng ngày càng tăng
về số lượng. Bên cạnh số đông các doanh nghiệp chấp hành pháp luật tốt, còn có
một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp không chấp hành nghiêm chỉnh chính sách
pháp luật nói chung và pháp luật Hải quan nói riêng, điều này ảnh hưởng đến hiệu
quả của hoạt động KTSTQ.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 36 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Để giải quyết vấn đề này, cần phải xét đến sự vận động khách quan của các
quy luật kinh tế; các doanh nghiệp luôn tìm mọi các để có lợi nhuận cao nhất, vì
vậy, trước hết phải không ngừng nâng cao trình độ cho các thương nhân Việt Nam.
Trong những năm gần đây cùng với tiến trình đổi mới kinh tế, mở ra nhiều triển
vọng cho người lao động, một bộ phận cán bộ quản lý doanh nghiệp đã được đào
tạo cơ bản các kiến thức kinh tế, kiến thức quản lý kinh doanh, song cũng còn một
bộ phận chưa được đào tạo bài bản hoặc do hậu quả của chế độ quản lý kinh tế cũ
mà một bộ phận cán bộ này có trình độ thấp, khả năng nhận thức hạn chế, trì trệ,
bảo thủ thiếu linh hoạt (bao gồm cả người quản lý, điều hành và nhân viên trực tiếp
thực hiện), dẫn đến hoạt động kém hiệu quả hoặc vi phạm pháp luật gây thiệt hại
cho Nhà nước cũng như cho chính mình.
Hiện nay thương nhân Việt Nam nhiều về số lượng nhưng chưa tương xứng
về chất lượng. Vì vậy, trước hết các doanh nghiệp phải tự mình nâng cao trình độ,
song song với việc giúp đỡ của các cơ quan chức năng Nhà nước trong đó có cả cơ
quan Hải quan.
1.3. KINH NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA
MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH
1.3.1. Kinh nghiệm trong hoạt động kiểm tra sau thông quan của một số địa
phương
1.3.1.1. Kinh nghiệm hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lạng Sơn
Lực lượng KTSTQ Cục Hải quan Lạng Sơn được thành lập và đi vào hoạt
động từ tháng 4/2004 với biên chế ban đầu chỉ có 03 công chức và dần được tăng
cường qua các năm nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý Hải
quan hiện đại. Đến ngày 31/12/2013, số lượng công chức KTSTQ của Cục Hải quan
Lạng Sơn là 19 người. Với đặc điểm là một tỉnh có biên giới đường bộ, hàng hoá
XNK chủ yếu theo loại hình XNK kinh doanh biên giới. Hoạt động KTSTQ tập trung
thực hiện phân loại, kiểm tra đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật đối với các doanh
nghiệp có hoạt động XNK thường xuyên qua địa bàn; một số mặt hàng trọng điểm
như: máy móc thiết bị, ô tô, linh kiện điện, điện tử, tạp hoá tiêu dùng, quặng, ...
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 37 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Kết quả hoạt động KTSTQ thể hiện ở số lượng doanh nghiệp được kiểm tra,
số vụ vi phạm được phát hiện, số tiền thuế truy thu… bên cạnh đó nhiều hành vi vi
phạm mới được phát hiện từ các cuộc kiểm tra như: doanh nghiệp giả mạo giấy
phép để xuất khẩu khoáng sản; doanh nghiệp khai báo trị giá tính thuế không đầy đủ
các khoản chi phí phải cộng trong trị giá tính thuế như: phí kỳ vụ, phí bản quyền,
phí THC… chuyển giá trong khai báo trị giá tính thuế trong việc nhập khẩu Bộ linh
kiện CKD xe ô tô; số liệu kết quả hoạt động KTSTQ đạt được trong 5 năm gần đây
thể hiện như sau:
Bảng 1.1: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lạng Sơn
Số DN được kiểm tra
Số tiền truy thu thuế (đồng)
Năm
2009
55
1.300.000.000
2010
36
4.319.030.889
2011
58
4.374.451.353
2012
64
5.165.454.127
2013
65
5.142.015.145
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Lạng Sơn
Kết quả KTSTQ của Cục Hải quan Lạng Sơn đạt được là nhờ có sự chỉ đạo
sát sao của Lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh và Cục KTSTQ; sự nỗ lực cố gắng của
công chức KTSTQ và sự phối hợp tốt với các cơ quan trong và ngoài ngành. Bên
cạnh đó, còn những khó khăn, tồn tại đối với hoạt động KTSTQ như sau:
- Về phía cơ quan Hải quan:
+ Số lượng công chức KTSTQ còn thiếu so với qui định (tỷ lệ công chức
KTSTQ chỉ đạt 6% so với tổng quân số toàn Cục trong khi yêu cầu của Tổng Cục
Hải quan là 10%). Chất lượng công chức KTSTQ còn yếu do mới được tuyển dụng
chưa được đào tạo chuyên sâu các chuyên đề kiểm tra, chưa có kỹ năng làm việc
với doanh nghiệp và chưa xử lý tốt các tình huống phát sinh.
+ KTSTQ là một nghiệp vụ mới và khó đòi hỏi công chức phải nắm chắc quy
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 38 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
trình thủ tục Hải quan đồng thời phải am hiểu việc hạch toán, kế toán doanh nghiệp
nên đa số công chức Hải quan đều ngại làm công tác KTSTQ dẫn đến hiệu quả hoạt
động KTSTQ còn thấp.
- Về phía doanh nghiệp:
+ Còn nhiều doanh nghiệp trây ỳ, không hợp tác trong hoạt động kiểm tra
dẫn đến vụ việc kiểm tra kéo dài.
+ Không đồng ý với kết luận của cơ quan Hải quan dẫn đến tranh chấp,
khiếu kiện [4].
1.3.1.2. Kinh nghiệm hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai
Cục Hải quan Lào Cai thực hiện quản lý nhà nước về Hải quan đối với hoạt
động XNK qua biên giới đường bộ và các khu công nghiệp bao gồm cả địa bàn tỉnh
Yên Bái. Lực lượng KTSTQ - Cục Hải quan Lào Cai được thành lập từ tháng
8/2006 với quân số ban đầu gồm 5 công chức, đến ngày 31/12/2013 là 16 người.
Hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai tập trung trọng tâm kiểm tra hồ sơ
đối với các lô hàng luồng xanh tại các Chi Cục Hải quan cửa khẩu để kịp thời phát
hiện sai phạm của các doanh nghiệp, đảm bảo 100% các tờ khai đã được thông quan
đều được rà soát, đánh giá về mức độ rủi ro.
Để làm tốt công tác này, Cục Hải quan Lào Cai định kỳ tiến hành kiểm tra
công tác phúc tập hồ sơ tại các Chi Cục Hải quan cửa khẩu trực thuộc nhằm kịp thời
phát hiện và xử lý, chấn chỉnh, khắc phục sai sót trong nội bộ; trên cơ sở đó rà soát,
phân loại doanh nghiệp để tiến hành KTSTQ. Các hình thức, thủ đoạn gian lận đã
được phát hiện và xử lý trong thời gian vừa qua tại Cục Hải quan Lào Cai phổ biến
là: doanh nghiệp mô tả và áp sai mã số, sai thuế suất đối với hàng hoá XNK dẫn đến
thiếu số tiền thuế phải nộp; doanh nghiệp khai báo không đầy đủ các khoản chi phí
phải cộng trong trị giá tính thuế như: chi phí vận tải, chi phí bốc xếp hàng xuất
khẩu… Cục Hải quan Lào Cai thường xuyên phối hợp tốt với các cơ quan liên quan
như: Ngân hàng, cơ quan thuế nội địa, công an... để thu thập thông tin doanh nghiệp
và phối hợp trong công tác quản lý, kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu của các
doanh nghiệp trên địa bàn. Số liệu kết quả hoạt động KTSTQ đạt được trong 5 năm
gần đây thể hiện như sau:
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 39 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bảng 1.2: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai
Số DN được kiểm tra
Số tiền truy thu thuế (đồng)
Năm
2009
20
863.960.123
2010
35
2.220.798.000
2011
50
3.122.965.000
2012
56
3.954.145.652
2013
58
4.128.654.000
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Lào Cai
Kết quả KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai mặc dù chưa cao nhưng đã thể
hiện sự nỗ lực cố gắng của hoạt động KTSTQ; một số nguyên nhân dẫn đến hiệu
quả hoạt động KTSTQ chưa cao, đó là:
+ Số lượng và chất lượng công chức KTSTQ chưa đáp ứng được yêu cầu (tỷ
lệ công chức KTSTQ chỉ đạt hơn 7 % so với tổng quân số toàn Cục; đa số công
chức mới tuyển dụng chưa có kinh nghiệm và kỹ năng kiểm tra).
+ Các doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn nhưng chủ yếu có trụ sở
nằm ngoài địa bàn (ở các địa phương như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Bắc Ninh…) dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm tra, cung cấp hồ
sơ phục vụ KTSTQ [5].
1.3.1.3. Kinh nghiệm hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hóa
Cục Hải quan Thanh Hóa thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hải quan
đối với hàng hóa XNK qua biên giới đường bộ, cửa khẩu cảng biển và địa bàn các
tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định. Lực lượng KTSTQ Cục Hải quan Thanh Hóa
được thành lập từ tháng 7/2006 với quân số khi mới thành lập gồm 8 công chức,
đến tháng 31/12/2013 quân số có 18 công chức.
Với đặc điểm là một tỉnh vừa có biên giới đường bộ vừa có cửa khẩu cảng
biển, đồng thời quản lý địa bàn các tỉnh lân cận, hàng hoá XNK chủ yếu theo loại
hình XNK kinh doanh. Hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hóa tập trung
thực hiện phân loại, kiểm tra đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật đối với các doanh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 40 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
nghiệp có hoạt động XNK thường xuyên qua địa bàn; một số mặt hàng trọng điểm
như: máy móc thiết bị, linh kiện điện, điện tử, hàng tiêu dùng,... nhập khẩu; quặng,
hàng nông sản xuất khẩu. Các hành vi gian lận được phát hiện trong thời gian vừa
qua chủ yếu là: doanh nghiệp không khai đúng các khoản phải cộng hoặc phải trừ ra
khỏi trị giá giao dịch; phương thức và thời gian thanh toán không đúng với khai Hải
quan; sử dụng không đúng mục đích hàng hóa nhập khẩu, gian lận để hưởng chế độ
miễn, giảm, hoàn thuế theo qui định của pháp luật; Giấy phép không hợp lệ đối với
hàng hóa XNK phải có giấy phép chuyên ngành…
Một số biện pháp nghiệp vụ đã được áp dụng trong hoạt động KTSTQ tại
Cục Hải quan Thanh Hóa:
- Thông qua hội nghị đối thoại doanh nghiệp và các hoạt động nghiệp vụ,
chủ động tuyên truyền các quy định của pháp luật, lợi ích cũng như quyền và nghĩa
vụ của doanh nghiệp khi được KTSTQ.
- Chủ động nắm bắt thông tin qua các chương trình quản lý nghiệp vụ của
ngành Hải quan như: Chương trình quản lý tờ khai Hải quan (SLXNK); quản lý giá
tính thuế (GTT01); Xử lý vi phạm (QLVP)… trong đó chú trọng đối với những mặt
hàng mới, doanh nghiệp mới hoạt động XNK có kim ngạch lớn...
- Tập trung chỉ đạo và tăng cường công tác kiểm tra, phúc tập hồ sơ tại các
Chi Cục Hải quan cửa khẩu; nâng cao chất lượng phúc tập nhằm phát hiện sớm, xử
lý kịp thời những sai sót tại khâu thông quan từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả
hoạt động quản lý Hải quan trên địa bàn.
Số liệu kết quả hoạt động KTSTQ trong 5 năm gần đây thể hiện như sau:
Bảng 1.3: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hoá
Số DN được kiểm tra
Số tiền truy thu thuế (đồng)
Năm
2009
20
1.376.234.000
2010
27
2.556.111.000
2011
35
3.880.379.875
2012
40
4.221.701.314
2013
45
4.147.957.200
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Thanh Hoá
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 41 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bên cạnh những kết quả đạt được, Cục Hải quan Thanh Hoá cũng gặp một số
khó khăn, vướng mắc trong hoạt động KTSTQ:
- Thực hiện KTSTQ đối với một số doanh nghiệp trên địa bàn quản lý của
Cục Hải quan Thanh Hoá có dấu hiệu vi phạm nhưng các doanh nghiệp lại trong
tình trạng ngừng hoạt động, đóng mã số thuế...
- Một số doanh nghiệp hoạt động bình thường, tuy nhiên khi cơ quan Hải
quan mời đến cung cấp hồ sơ, tài liệu để KTSTQ thì không cộng tác, tìm mọi cách
trì hoãn gây khó khăn cho hoạt động KTSTQ. Hiện nay, chưa có quy định chế tài để
xử lý hành vi này.
- Địa bàn quản lý của Cục Hải quan Thanh Hoá rộng, bao gồm nhiều tỉnh, do
đó hoạt động KTSTQ cũng phải triển khai trên toàn địa bàn. Tuy nhiên, trang thiết
bị chưa được đầu tư đúng mức; công chức KTSTQ khi đi kiểm tra tại trụ sở doanh
nghiệp chưa có máy tính sách tay, Chi cục KTSTQ chưa được trang cấp xe ô tô,
máy giám định tài liệu… phục vụ công việc [6].
1.3.2. Bài học rút ra cho Cục Hải quan Quảng Ninh
Trên cơ sở thực tiễn, kinh nghiệm về hoạt động KTSTQ tại một số Cục Hải
quan địa phương có điều kiện địa lý, loại hình xuất nhập khẩu tương đồng với Cục
Hải quan Quảng Ninh, từ đó rút ra những bài học cho hoạt động KTSTQ tại Cục
Hải quan Quảng Ninh như sau:
- Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo:
Trong công tác chỉ đạo điều hành, cần xác định rõ quyết tâm chính trị của tập
thể lãnh đạo Cục và công chức Hải quan trong việc chuyển đổi mạnh mẽ, tiến tới
chuyển đổi căn bản phương thức quản lý từ kiểm tra trong thông quan sang
KTSTQ; thống nhất nhận thức và xác định hoạt động KTSTQ là một khâu quan
trọng trong quá trình phát triển, hiện đại hoá Hải quan. Trong triển khai thực hiện
nhiệm vụ phải có kế hoạch cụ thể, xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân và lộ
trình thực hiện.
- Thực hiện quy trình thủ tục về KTSTQ:
+ Công tác phúc tập hồ sơ tại các Chi Cục Hải quan cửa khẩu là một phần
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 42 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
không thể tách rời khỏi hoạt động KTSTQ, để hoạt động KTSTQ đạt hiệu quả như
mong muốn, các Chi Cục Hải quan cửa khẩu tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng
công tác phúc tập hồ sơ nhằm kịp thời phát hiện các sai sót trong quá trình thông
quan hàng hóa, giảm thiểu các rủi ro và sai sót lặp đi lặp lại. Nếu công tác phúc tập
hồ sơ làm tốt sẽ giảm đi một khối lượng lớn công việc phải thực hiện tại khâu
KTSTQ, đồng thời đây là nguồn thông tin rất hữu ích cho hoạt động KTSTQ.
+ Với những hành vi, thủ đoạn gian lận của doanh nghiệp đã được phát hiện
trong các khâu nghiệp vụ khác như: thông quan; điều tra chống buôn lậu, thanh tra,
quản lý thuế…và kết quả KTSTQ của các địa phương khác, bộ phận quản lý rủi ro
kịp thời thiết lập các tiêu chí phân tích, cảnh báo cho lực lượng KTSTQ có biện
pháp phòng ngừa và phát hiện những vi phạm tương tự trong hoạt động KTSTQ.
+ Trong quá trình thực hiện qui trình KTSTQ, kịp thời phát hiện các quy
định bất cập, chồng chéo, chưa phù hợp… để kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp.
- Bố trí nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhận lực cho hoạt động KTSTQ:
+ Nguồn nhân lực có tính chất quyết định đến chất lượng và hiệu quả của
hoạt động KTSTQ. Công chức KTSTQ phải được trang bị kiến thức về pháp luật
Hải quan, nguyên tắc kế toán, kỹ thuật kiểm toán, ngân hàng, thương mại quốc tế,
công nghệ thông tin, ngoại ngữ, đặc biệt quan tâm đến liêm chính Hải quan. Vì vậy,
cần tiến hành rà soát, sắp xếp và bổ sung đội ngũ công chức KTSTQ phù hợp với
chuyên ngành đào tạo nhằm phát huy tối đa năng lực, sở trường của công chức
KTSTQ. Đảm bảo số lượng công chức KTSTQ đạt tỷ lệ chiếm 10% quân số toàn
Cục Hải quan tỉnh theo đúng quy định.
+ Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại các chuyên đề nghiệp vụ có
liên quan đến hoạt động KTSTQ như: kiểm tra chứng từ thương mại, chứng từ ngân
hàng, thanh toán quốc tế, kỹ năng thẩm vấn…; cử công chức đi đào tạo chuyên sâu
tại các tổ chức ngoài ngành để đào tạo ra những chuyên gia về một số lĩnh vực phục
vụ cho hoạt động KTSTQ. Bên cạnh đó, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho
công chức KTSTQ tự học để bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ về mọi mặt.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 43 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
- Bố trí trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cho hoạt động KTSTQ:
Quan tâm trang cấp đầy đủ trang thiết bị làm việc, phương tiện kỹ thuật cho
hoạt động KTSTQ như: máy tính, máy ghi âm, máy ảnh, ô tô, máy giám định tài
liệu… bố trí trụ sở của lực lượng KTSTQ riêng biệt, không bị ảnh hưởng bởi hoạt
động của các đơn vị khác như hiện nay.
- Trong việc phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài ngành:
Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài ngành;
hoạt động phối hợp phải đảm bảo phải được thực hiện bằng các qui chế phối hợp
với những quy định cụ thể về: nội dung, phạm vi, thẩm quyền cung cấp thông tin,
tài liệu; trách nhiệm bảo mật thông tin…. Định kỳ hàng năm phải tổ chức tổng kết,
đánh giá việc thực hiện các quy chế phối hợp.
- Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hoạt động KTSTQ:
+ Thực hiện niêm yết công khai các văn bản qui định về KTSTQ tại trụ sở cơ
quan Hải quan, nơi làm thủ tục Hải quan để cộng đồng các doanh nghiệp biết và
chủ động nghiên cứu.
+ Thông qua hoạt động KTSTQ và tại Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp
chủ động tuyên truyền về lợi ích cũng như các quy định của pháp luật về KTSTQ để
cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân hiểu và ủng hộ hoạt động KTSTQ.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 44 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU
THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH
2.1. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG
QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH
2.1.1. Giới thiệu khái quát về Cục Hải quan Quảng Ninh và hoạt động kiểm tra
sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh
2.1.1.1. Sự hình thành, phát triển Cục Hải quan Quảng Ninh
Quá trình ra đời và phát triển của Hải quan Quảng Ninh luôn gắn liền với
những điểm mốc lịch sử quan trọng của tỉnh Quảng Ninh và của Hải quan Việt Nam
qua các thời kỳ cách mạng.
Chỉ sau hơn một tuần kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn
độc lập, ngày 10/9/1945 Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở
thuế quan và thuế gián thu trực thuộc Bộ tài chính. Đến ngày 5/02/1946, Bộ tài
chính ra Nghị định số 192-TC về hệ thống tổ chức các cơ quan thuế quan và thuế
gián thu từ trung ương đến địa phương và khu vực; vùng Quảng Ninh ngày nay
thuộc về khu vực thứ nhất của Bắc bộ và có 4 chánh thu sở, 5 phụ thu sở. Tuy
nhiên, do tình hình chính trị lúc bấy giờ phức tạp nên các tổ chức này chưa hoạt
động được.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp (1946-1954), tổ chức Hải quan
trên đất mỏ đã phối hợp với các lực lượng thực hiện chủ trương bao vây kinh tế và
đấu tranh kinh tế với địch, kiểm soát hàng hoá XNK, đấu tranh chống buôn lậu giữa
vùng tự do và vùng tạm chiếm.
Phòng Hải quan Hải Ninh được thành lập năm 1954, làm nhiệm vụ quản lý
XNK trên địa bàn Hải Ninh; Chi sở Hải quan Hồng Quảng được thành lập năm
1955 làm nhiệm vụ quản lý, kiểm soát tàu thuyền qua lại trên địa phận Hồng Quảng
(Quảng Yên, Hòn Gai, Cẩm Phả); Năm 1964, khi có quyết định hợp nhất khu Hồng
Quảng và tỉnh Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh thì ngày 08/02/1964 Chi Cục Hải
quan Quảng Ninh cũng được thành lập trên cơ sở hợp nhất Chi sở Hải quan Hồng
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 45 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Quảng và Phòng Hải quan Hải Ninh. Từ ngày thành lập (08/02/1964) đến nay, Cục
Hải quan Quảng Ninh có những tên gọi sau:
- Chi Cục Hải quan Quảng Ninh thuộc Bộ ngoại thương theo Quyết định số
47/BNT-TCCB thành lập Chi Cục Hải quan Quảng Ninh trên cơ sở hợp nhất Chi sở
Hải quan Hồng Quảng và Phòng Hải quan Hải Ninh.
- Hải quan tỉnh Quảng Ninh thuộc Tổng Cục Hải quan theo Quyết định của
Tổng Cục Hải quan vào tháng 5/1985.
- Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh thuộc Tổng Cục Hải quan theo Quyết định
số 91/TCHQ-TCCB ngày 01/6/1994 của Tổng Cục Hải quan [8].
Cùng với sự phát triển đi lên của đất nước và của tỉnh Quảng Ninh, Hải quan
Quảng Ninh cũng từng bước đổi mới và phát triển vượt bậc về mọi mặt. Khi thành
lập (năm 1964) Chi Cục Hải quan Quảng Ninh lúc bấy giờ chỉ có 18 người, trụ sở
làm việc phải đóng nhờ, trang thiết bị, phương tiện vô cùng thiếu thốn. Đến nay, sau
hơn 50 năm xây dựng, củng cố và trưởng thành, Cục Hải quan Quảng Ninh đã có
đội ngũ trên 500 cán bộ công chức, gồm 21 đơn vị thuộc và trực thuộc (9 Phòng
tham mưu giúp việc, 7 Chi Cục Hải quan, 3 Đội kiểm soát, 01 Chi cục kiểm tra sau
thông quan và 01 đơn vị tương đương); cơ sở vật chất từ trụ sở làm việc đến các
phương tiện hoạt động đều được trang bị khang trang, hiện đại. Trong quá trình xây
dựng và phát triển, Cục Hải quan Quảng Ninh luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
chính trị được giao, không ngừng cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, đầu tư, du lịch phát triển, đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đại hoá Hải quan.
2.1.1.2. Sự hình thành và phát triển lực lượng kiểm tra sau thông quan Cục Hải
quan Quảng Ninh
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu với kinh tế khu
vực và thế giới, mở rộng các mối quan hệ song phương và đa phương. Toàn cầu hoá
và các hiệp định tự do thương mại làm cho kim ngạch XNK hàng hoá của mỗi quốc
gia tăng lên nhanh chóng. Bên cạnh việc hàng rào thuế quan được giảm dần theo lộ
trình cụ thể thì việc xuất hiện các hình thức bảo hộ mới như hàng rào kỹ thuật, vệ
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 46 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
sinh an toàn, môi trường, chống bán phá giá,… ngày càng gia tăng và mâu thuẫn
sâu sắc. Việc thực hiện cam kết quốc tế đặt ra yêu cầu Hải quan Việt Nam phải tiến
hành cải cách, hiện đại hoá nhằm đảm bảo sự phù hợp, tương thích với xu thế phát
triển và hoà nhập với Hải quan thế giới và khu vực. Cải cách, phát triển và hiện đại
hoá để nâng cao năng lực quản lý cả về chất lượng và hiệu quả nhằm giải quyết các
mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh của khối lượng hàng hoá XNK, phương tiện, hành
khách XNC, yêu cầu tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, du lịch trong điều kiện
nguồn lực còn hạn chế. KTSTQ là một trong những giải pháp của ngành Hải quan
nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách, phát triển và hiện đại hoá đã đề ra. Luật Hải quan
năm 2001 lần đầu tiên quy định về công tác KTSTQ, đây là cột mốc quan trọng, là
cơ sở pháp lý để hình thành và phát triển hoạt động KTSTQ sau này.
Tại Cục Hải quan Quảng Ninh, tháng 4/2003 Phòng KTSTQ được thành lập
theo Quyết định 37/2003/QĐ-BTC ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ tài
chính; thời gian đầu thành lập, Phòng KTSTQ được biên chế 8 công chức với cơ
cấu 02 Đồng chí lãnh đạo đơn vị, 06 công chức thừa hành. Chức năng, nhiệm vụ
của Phòng KTSTQ là tham mưu cho Cục trưởng về công tác phúc tập hồ sơ Hải
quan và KTSTQ trên địa bàn quản lý; trực tiếp KTSTQ theo quy định của pháp luật.
Qua hơn 3 năm thực hiện (từ 2003 đến 2006), hoạt động KTSTQ tại Cục Hải
quan Quảng Ninh đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc trong công tác kiểm tra,
hướng dẫn, phân loại doanh nghiệp XNK, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý
Hải quan trên địa bàn. Tuy nhiên, mô hình Phòng KTSTQ bộc lộ nhiều bất cập
trong triển khai thực hiện nhiệm vụ như: thiếu tính chủ động trong công tác kiểm
tra; là đơn vị tham mưu không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính…
Ngày 6/6/2006, Bộ tài chính ban hành Quyết định số 34/2006/QĐ-BTC khai
sinh tên gọi Chi cục KTSTQ, Tổng Cục Hải quan có Quyết định 1092/QĐ-TCHQ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục
KTSTQ. Đây là một sự kiện đánh dấu sự thay đổi quan trọng đồng thời đã tháo gỡ
được những khó khăn vướng mắc liên quan đến tính chủ động trong công việc,
thẩm quyền của lực lượng KTSTQ trong thực hiện nhiệm vụ. Chi cục KTSTQ chính
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 47 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
thức được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 21/07/2006 với mô hình 3 đội công
tác, gồm:
Đội nghiệp vụ 1: KTSTQ về trị giá Hải quan và thuế suất hàng hoá XNK
Đội nghiệp vụ 2: KTSTQ đối với hàng XNK theo các loại hình gia công, sản
xuất - xuất khẩu; kiểm tra thực hiện chính sách thương mại;
Đội tổng hợp: Thực hiện công tác tham mưu, tổng hợp.
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh
CỤC TRƯỞNG
P. CT PHỤ TRÁCH MẢNG…
P. CT PHỤ TRÁCH MẢNG…
P. CT PHỤ TRÁCH MẢNG KTSTQ
P. CT PHỤ TRÁCH MẢNG…
CHI CỤC TRƯỞNG
PHÓ CCT
ĐỘI TH
PHÓ CCT
ĐỘI NV 2
ĐỘI NV 1
ĐỘI TRƯỞNG
ĐỘI TRƯỞNG
ĐỘI TRƯỞNG
ĐỘI PHÓ
ĐỘI PHÓ
ĐỘI PHÓ
Nguồn: Chi cục kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Quảng Ninh
Tính đến tháng 12 năm 2013, lực lượng làm công tác KTSTQ tại Cục Hải
quan Quảng Ninh gồm 36 công chức; 100% công chức có trình độ đại học các
chuyên ngành luật, ngoại thương, tài chính, kế toán, kiểm toán.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 48 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
2.1.2. Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại
Cục Hải quan Quảng Ninh
2.1.2.1. Thuận lợi
Do yêu cầu cải cách, phát triển hiện đại hóa Hải quan và thực hiện các điều
ước, cam kết quốc tế của Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế như: WCO,
WTO, ASEAN, APEC,… cùng với yêu cầu tiếp cận và ứng dụng kỹ thuật nghiệp
vụ tiên tiến về Hải quan với mục tiêu chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”
thì KTSTQ là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình cải cách, phát triển hiện đại hóa
Hải quan Việt Nam nói chung và Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng; đặc biệt,
năm 2011 được Tổng Cục Hải quan chọn là “Năm KTSTQ”. Vì vậy, hoạt động
KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh thường xuyên nhận được sự quan tâm chỉ
đạo sâu sát của Tổng Cục Hải quan và cấp ủy, lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh trong
việc định hướng và triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Hệ thống văn bản pháp luật về KTSTQ tiếp tục hoàn thiện hoàn thiện, tạo
hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động KTSTQ (Luật Hải quan năm 2001,
Luật sửa đổi bổ sung Luật Hải quan năm 2005; Nghị định số 154/2005/NĐ-CP;
Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/04/2009; Thông tư số 194/2010/TT-BTC
ngày 06/12/2010; Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013; Quyết định số
621/2006/QĐ-TCHQ về Quy trình phúc tập hồ sơ và KTSTQ; Quyết định số
1383/2009/QĐ-TCHQ ngày 14/7/2009 về Quy trình KTSTQ, kiểm tra thuế đối với
hàng hoá xuất, nhập khẩu; Quyết định số 2579/QĐ-TCHQ ngày 5/12/2011 về sửa
đổi, bổ sung Quyết định số 1383); Quyết định số 3550/2013/QĐ-TCHQ ngày
01/11/2013 về Quy trình KTSTQ, kiểm tra thuế đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu
thay thế Quyết định số 1383/2009/QĐ-TCHQ.
Cơ cấu tổ chức bộ máy hợp lý, đội ngũ công chức KTSTQ tại Cục Hải quan
Quảng Ninh có tuổi đời bình quân còn trẻ, có nhiệt huyết công tác và được đào tạo
các chuyên ngành phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Công tác phối kết hợp với các đơn vị chức năng trong và ngoài ngành trên
địa bàn được duy trì và phục vụ có hiệu quả hoạt động KTSTQ. Cơ sở vật chất,
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 49 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
trang thiết bị cho lực lượng KTSTQ được quan tâm, đầu tư cơ bản đáp ứng yêu cầu;
các trang thiết bị hỗ trợ như: máy tính xách tay, camera, máy ảnh, máy ghi âm,..
được trang cấp đầy đủ theo nhu cầu; hệ thống máy tính được cài đặt và phân quyền
cho phép công chức KTSTQ được khai thác tất cả các chương trình quản lý nghiệp
vụ của ngành Hải quan.
2.1.2.2. Khó khăn
Khối lượng công việc phải giải quyết lớn, bình quân hàng năm có trên 1.200
doanh nghiệp hoạt động XNK qua địa bàn, số lượng hồ sơ phát sinh khoảng trên
40.000 bộ, trong đó số hồ sơ được miễn kiểm tra, thông quan luồng xanh chiếm trên
70% (đây là đối tượng chính của KTSTQ). Tuy nhiên, lực lượng công chức KTSTQ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh còn mỏng (năm 2006 có 8 công chức; năm 2007 có
14 công chức; năm 2008 có 16 công chức; năm 2009 có 22 công chức; năm 2010 có
24 công chức; năm 2011 có 36 công chức; năm 2012, 2013 có 36 công chức).
Công chức KTSTQ đa số còn trẻ cả về tuổi đời và tuổi nghề, có ít kinh
nghiệm thực tế và kỹ năng làm việc nên còn nhiều lúng túng trong thực hiện nhiệm
vụ, hiệu quả công việc còn nhiều hạn chế. Cá biệt có công chức có tư tưởng ngại
khó, trông chờ, ỷ lại, chọn chỗ, chọn việc.
Ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của một số doanh nghiệp không cao, có
doanh nghiệp do vô ý dẫn đến sai sót, vi phạm pháp luật; tuy nhiên cũng có doanh
nghiệp cố ý lợi dụng kẽ hở của chính sách để gian lận, trốn thuế. Khi bị KTSTQ thì
trây ỳ, né tránh, không hợp tác với cơ quan Hải quan; một số doanh nghiệp tạm
ngừng hoạt động hoặc làm thủ tục phá sản, giải thể… gây khó khăn cho hoạt động
KTSTQ.
Hoạt động KTSTQ nhằm thẩm định việc tuân thủ pháp luật của doanh
nghiệp trong hoạt động XNK hàng hóa, vì vậy phải thường xuyên thực hiện việc
xác minh, thu thập chứng cứ tại các cá nhân, tổ chức có liên quan như: Ngân hàng,
Thuế, Công an, Quản lý thị trường, các đơn vị và cá nhân sản xuất, tiêu thụ hàng
hóa XNK… Tuy nhiên, việc phối kết hợp với các tổ chức, cá nhân ngoài địa bàn
tỉnh Quảng Ninh chưa hiệu quả, việc cung cấp thông tin, tài liệu thường xuyên bị
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 50 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
kéo dài thời gian, hiệu quả thấp làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng KTSTQ.
Trang thiết bị, cơ sở vật chất mặc dù đã được Tổng Cục Hải quan và Cục Hải
quan tỉnh quan tâm, đáp ứng yêu cầu trước mắt nhưng về lâu dài cần có quy hoạch
định hướng dài hạn, xứng tầm với vị trí, vai trò của hoạt động KTSTQ trong quản lý
Hải quan hiện đại. Hiện tại trụ sở Chi cục KTSTQ vẫn nằm trong khối văn phòng
Cục, chưa có trụ sở riêng, chưa được đầu tư các trang thiết bị như: Máy giám định
tài liệu, ô tô…
Chế độ đãi ngộ đối với công chức KTSTQ chưa được quan tâm đúng mức,
công chức KTSTQ không được hưởng phụ cấp đặc thù (như lực lượng làm công tác
kiểm soát CBL, công tác tin học và công tác Quản lý rủi ro), chưa có cơ chế trích
thưởng từ kết quả KTSTQ (như lực lượng thanh tra, kiểm toán), vì vậy chưa động
viên công chức KTSTQ yên tâm công tác lâu dài, chưa thu hút được công chức vào
lực lượng KTSTQ làm việc.
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI
CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2008 - 2013 VÀ NHỮNG KẾT
QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
2.2.1. Thực trạng hoạt động thu thập, xử lý thông tin, xác định đối tượng phải
kiểm tra và những kết quả đạt được
2.2.1.1. Các nguồn thông tin và phương pháp phân tích , xử lý thông tin
Căn cứ các yêu cầu thu thập thông tin về các dấu hiệu vi phạm như đã nêu ở
Chương 1 (dấu hiệu gây thất thu thuế; khai sai trị giá hàng hóa góp vốn đầu tư;
xuất khẩu, nhập khẩu trái quy định, trái phép hàng hóa...), công chức KTSTQ được
phân công theo dõi các địa bàn có hoạt động XNK hàng hoá thường xuyên rà soát,
thu thập thông tin từ các nguồn cụ thể sau:
- Nguồn thông tin từ hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan được cập
nhật số liệu thường xuyên và dùng để tra cứu phục vụ các lĩnh vực nghiệp vụ, gồm
các chương trình:
+ Chương trình số liệu XNK: thống kê tất cả các doanh nghiệp có hoạt động
XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh với đầy đủ các tiêu chí (số tờ khai, tên hàng hoá,
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 51 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
mã số, giá, thuế suất, đối tác XK, đối tác NK....)
+ Chương trình quản lý giá tính thuế GTT22 (GTT01): đây là chương trình
thống kê và đưa ra cảnh báo đối với tất cả giá các mặt hàng XNK phát sinh trên
toàn quốc.
+ Chương trình kế toán thuế KT559: chương trình này theo dõi số thu thuế,
các khoản truy thu, truy hoàn thuế... phát sinh tại Cục Hải quan Quảng Ninh; theo
dõi các doanh nghiệp nợ thuế phát sinh trên toàn quốc.
+ Chương trình quản lý vi phạm: chương trình này thống kê tất cả các vi phạm
và mức độ xử lý doanh nghiệp trong hoạt động XNK trong phạm vi toàn quốc.
+ Chương trình quản lý quản lý rủi ro: chương trình phân loại doanh nghiệp
theo các tiêu chí và đánh giá mức độ rủi ro ở khâu thông quan trong phạm vi toàn quốc.
+ Chương trình quản lý C/O: thống kê tất cả các mẫu và chữ ký trên C/O làm
cơ sở đối chiếu, so sánh và áp dụng ưu đãi thuế quan.
+ Chương trình STQ01: cập nhật kết quả KTSTQ, phân loại doanh nghiệp
theo các tiêu chí và đánh giá mức độ rủi ro ở khâu sau thông quan trong phạm vi
toàn quốc.
- Nguồn thông tin từ các đơn vị trong ngành Hải quan:
+ Thông tin từ cấp trên: các văn bản chỉ đạo của cấp trên về thông tin doanh
nghiệp hoặc các hành vi vi phạm cần tập trung rà soát, theo dõi, kiểm tra trên địa bàn...
+ Thông tin từ các đơn vị Hải quan trên địa bàn: các thông tin ở khâu thông
quan hoặc do lực lượng chống buôn lậu, các đơn vị tham mưu cung cấp về các dấu
hiệu nghi vấn doanh nghiệp gian lận, trốn thuế cần tập trung kiểm tra tại doanh
nghiệp để làm rõ...
- Nguồn thông tin từ các đơn vị ngoài ngành Hải quan:
+ Thông tin từ Ban quản lý khu kinh tế, sở kế hoạch và đầu tư, Sở công
thương: thông tin về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi
đầu tư trên địa bàn; các hành vi vi phạm trong hoạt động SXKD...
+ Thông tin từ cơ quan thanh tra, kiểm toán: trên cơ sở các kiến nghị của cơ
quan thanh tra, kiểm toán về các sai sót, tồn tại của các doanh nghiệp, cơ quan quản
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 52 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
lý có liên quan đến lĩnh vực XNK để rà soát, thu thập thông tin...
+ Thông tin từ cơ quan thuế: các doanh nghiệp giải thể, bỏ trốn khỏi địa chỉ
kinh doanh, các doanh nghiệp vi phạm, nợ thuế trầy ỳ...
+ Thông tin từ cơ quan công an, quản lý thị trường: các doanh nghiệp vi
phạm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh...
- Các nguồn thông tin khác:
+ Thông tin từ đơn thư tố cáo, phản ánh của quần chúng: thông tin về các
hành vi vi phạm, gian lận trốn thuế có liên quan đến hoạt động XNK...
+ Thông tin từ thị trường: thông tin về giá cả chào hàng, chủng loại hàng hoá
đang được chào bán trên thị trường...
+ Thông tin do Cán bộ công chức tự tụ thập, suy luận, phân tích, đánh giá từ
nhiều nguồn.
Thông tin về dấu hiệu vi phạm thường chưa đầy đủ, cụ thể, chính xác nên
diện phải xem xét thường rất rộng, khó đánh giá phạm vi, mức độ rủi ro, nếu xem
xét tất cả sẽ lãng phí nguồn lực. Do vậy, cần có sự phân tích, nhận dạng tương đối
chính xác về dấu hiệu vi phạm làm cơ sở cho việc xác định đối tượng kiểm tra.
Thông tin thu thập được phải được quản lý, sử dụng đúng chế độ mật. Để thực hiện
khâu nghiệp vụ này, công chức KTSTQ làm công tác phân tích, xử lý thông tin căn
cứ các thông tin thu thập được tiến hành so sánh, phân tích và đánh giá mức độ rủi
ro trong việc thất thu thuế, vi phạm chính sách mặt hàng.... trong một khoảng thời
gian nhất định. Việc phân tích, đánh giá được thực hiện dưới các hình thức:
- Phân tích dấu hiệu nghi vấn: trong hoạt động XNK tất cả hàng hoá của một
doanh nghiệp cần phân tích, so sánh dấu hiệu nghi vấn đối với một mặt hàng cụ thể
của nhiều doanh nghiệp khác nhau có hoạt động XNK trên cùng địa bàn hoặc trên
phạm vi toàn quốc.
- Phương pháp phân tích thông tin đối với mỗi lĩnh vực khác nhau sẽ được
thực hiện khác nhau, cụ thể:
+ Lĩnh vực tên hàng, mã số hàng hoá:
Đối chiếu tên hàng, mã số hàng hóa doanh nghiệp khai với các quy định
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 53 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
hiện hành về phân loại hàng hóa và quy tắc phân loại hàng hóa của Tổ chức Hải
quan thế giới (WCO).
So sánh, đối chiếu tên hàng, mã số hàng hóa doanh nghiệp khai với tên
hàng, mã số hàng hóa đã được TCHQ hướng dẫn toàn ngành thực hiện hoặc Trung
tâm phân tích, phân loại đã xác định. Đồng thời, đối chiếu tên hàng, mã số hàng hóa
doanh nghiệp khai với tên hàng, mã số hàng hóa đa số các doanh nghiệp khác khai
và đã được Hải quan chấp nhận hoặc xác định lại cho doanh nghiệp khác.
So sánh tên hàng, mã số hàng hóa doanh nghiệp khai với tên hàng, mã số
hàng hóa của nhà sản xuất ghi ở các tài liệu thương mại hoặc công bố trên internet.
+ Lĩnh vực trị giá Hải quan:
So sánh, đối chiếu giá doanh nghiệp khai báo với dữ liệu giá GTT01
(GTT22) và với danh mục quản lý rủi ro về giá của TCHQ và của Cục Hải quan
Quảng Ninh.
So sánh, đối chiếu giá doanh nghiệp khai báo với giá do đa số các doanh
nghiệp khác khai, đã được Hải quan chấp nhận hoặc ấn định với doanh nghiệp khác.
So sánh, đối chiếu giá doanh nghiệp khai báo với giá bán trên thị trường
nội địa, sau khi trừ các chi phí nội địa, lãi hợp lý.
So sánh, đối chiếu giá doanh nghiệp khai báo trên tờ khai với giá ghi trên
các chứng từ khác (ví dụ: giá nhập khẩu khai là giá CIF, nhưng lại đúng bằng giá
FOB trên C/O; các trường hợp nhập khẩu theo giá FOB, C&F phải xem xét các yếu
tố cấu thành của trị giá hàng nhập khẩu C, I, F…)
Các trường hợp giá nhập khẩu có chiết khấu do có hợp đồng nguyên tắc
ghi nhận sẽ nhập khẩu lượng hàng lớn; các trường hợp giá nhập khẩu cao bất
thường đối với các mặt hàng có thuế suất thuế nhập khẩu 0%…; các khoản điều
chỉnh giá phát sinh sau khi hàng đã hoàn thành thủ tục nhập khẩu (phí bản quyền,
hàng nhập khẩu của các đại lý độc quyền tiêu thụ còn tồn kho tại thời điểm nhà
cung cấp ở nước ngoài điều chỉnh tăng giá bán ở thị trường nội địa…).
+ Lĩnh vực gia công, sản xuất - xuất khẩu:
So sánh lượng nguyên liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu với năng lực
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 54 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
sản xuất của doanh nghiệp.
So sánh với định mức, tỷ lệ hao hụt của doanh nghiệp khác, đã được Hải
quan chấp nhận.
So sánh trọng lượng với số lượng hàng chứa trong container.
So sánh tổng phí gia công của các sản phẩm gia công xuất khẩu khai trên
các tờ khai xuất khẩu với tổng phí gia công trên các chứng từ thanh toán.
+ Lĩnh vực xuất xứ hàng hoá:
Xem xét đối tượng là hàng hoá có xuất xứ từ các nước thuộc diện được
hưởng ưu đãi thuế quan với Việt Nam.
Kiểm tra hình thức của C/O theo qui định.
So sánh, đối chiếu chữ ký, con dấu trên C/O với chữ ký, con dấu mẫu.
So sánh nội dung C/O với nội dung các chứng từ khác thuộc hồ sơ Hải
quan như: tên hàng, lượng hàng, hàm lượng xuất xứ, phương tiện vận tải, số tham
chiếu C/O…
Kiểm tra cách ghi các nội dung trên C/O.
+ Lĩnh vực ưu đãi đầu tư:
So sánh nội dung giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư với quy định của pháp luật.
Đối chiếu thông tin chi tiết các tài liệu thuộc hồ sơ xin giấy phép đầu tư,
như luận chứng (hoặc giải trình) kinh tế kỹ thuật - một bộ phận không tách rời của
giấy chứng nhận đầu tư, điều lệ doanh nghiệp. Trong trường hợp cần thiết cần
nghiên cứu hồ sơ hoàn công công trình.
Phân tích thông tin về các loại hàng hóa có thể sử dụng cho tạo tài sản cố
định cũng được, sử dụng cho mục đích khác.
Sau khi nhận rõ dấu hiệu, nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm có thể
gây thất thu lớn (ví dụ chênh lệch lớn về mức thuế suất…), hoặc vi phạm lớn chính
sách quản lý XNK, hoặc đây là thủ đoạn mới, nếu không ngăn chặn thì sẽ lan rộng,
hoặc theo quy định của pháp luật sắp hết thời hạn KTSTQ… công chức KTSTQ xác
định cụ thể tên, địa chỉ các doanh nghiệp cần kiểm tra đề xuất lãnh đạo Chi cục phê
duyệt và tiến hành các bước tiếp theo. Nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm,
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 55 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
nhưng hậu quả nhỏ (ví dụ sai mã số hàng hóa, nhưng không thay đổi thuế suất…),
thì đề nghị tạm dừng, đưa vào diện theo dõi tiếp hoặc chuyển thông tin về đối tượng
cho các đơn vị Hải quan cửa khẩu xử lý, khắc phục.
Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin đối với trường hợp đã có dấu
hiệu vi phạm là việc xác định được doanh nghiệp phải được tiến hành KTSTQ.
2.2.1.2. Thực trạng hoạt động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng
phải kiểm tra
a/ Kết quả:
- Nguồn thông tin thu thập từ cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan [2]
Cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan là một nguồn thông tin quan trọng phục vụ
cho hoạt động KTSTQ. Các thông tin được khai thác là tình hình hoạt động XNK
của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định nhằm phục vụ cho công tác
phân loại xác định đối tượng KTSTQ. Các tiêu chí được thu thập như: số lượng,
loại hình doanh nghiệp; loại hình XNK, số tờ khai, hàng hoá XNK, kim ngạch
XNK, số thuế nộp ngân sách qua các năm, số lần vi phạm pháp luật, tình trạng hoạt
động, việc chấp hành pháp luật Hải quan… Dưới đây là một số thông tin thu thập
được từ cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan.
+ Về số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK hàng năm qua địa bàn
quản lý:
Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong
giai đoạn 2008-2013 không ổn định, phản ánh qua số liệu tại bảng 2.1 và biểu 2.1:
Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn
Đơn vị tính: Doanh nghiệp
tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
2008
Năm
2009
2010
2011
2012
2013
1.154
Số lượng doanh nghiệp
1.297
1.201
1.146
1.127
1.072
1.154
Số thông tin được xử lý
1.297
1.201
1.146
1.127
1.072
So với năm trước (tăng/giảm)
143
-96
-55
-19
-7
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
12,39
-7,40
-4,58
-1,66
-0,63
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 56 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nhìn vào bảng tổng hợp số liệu trên đây, nhận thấy số lượng các doanh
nghiệp hoạt động XNK qua địa bàn có xu hướng giảm, một trong những nguyên
nhân là do trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và
trên thế giới, các doanh nghiệp nhỏ, tiềm lực kinh tế và có sự hiểu biết thị trường
hạn chế không thể đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt của các tập đoàn kinh tế
lớn và các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, ngoài ra sự thay đổi về chính
sách nhằm quản lý hoạt động XNK chặt chẽ hơn… và sự đào thải là một tất yếu của
quá trình vận động.
Biểu 2.1: Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK
1297
1201
1400
1154
1146
1127
1072
1200
1000
800
600
400
200
0
qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số lượng doanh nghiệp
Số thông tin được xử lý
(Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
+ Về số lượng tờ khai hàng hóa XNK:
Do số lượng các doanh nghiệp XNK có sự thay đổi theo chiều hướng giảm,
tuy nhiên số lượng tờ khai hàng hoá XNK phản ánh hoạt động XNK có sự biến
động không hoàn toàn cùng chiều theo từng giai đoạn, số liệu cụ thể từng năm được
nêu tại bảng 2.2 và biểu 2.2:
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 57 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bảng 2.2: Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh
Đơn vị tính: Tờ khai
giai đoạn 2008-2013
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số tờ khai
52.389
49.127
43.697
45.614
45.754
45.915
Thông tin được xử lý
52.389
49.127
43.697
45.614
45.754
45.915
So với năm trước
-3.262
-5.430
1.917
140
161
(tăng/giảm)
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
-6,23
-11,05
4,38
3,06
3,71
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
Biểu 2.2: Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh
52389
54000
52000
49127
50000
45915
48000
45754
45614
46000
43697
44000
42000
40000
38000
giai đoạn 2008-2013
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số tờ khai
Thông tin được xử lý
(Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh)
+ Về kim ngạch XNK:
Mặc dù số lượng các doanh nghiệp XNK và tờ khai hàng hoá XNK có xu
hướng giảm nhưng kim ngạch XNK lại có xu hướng tăng lên. Điều này phản ánh
đúng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nhỏ tiềm lực kinh tế và sự
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 58 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
hiểu biết thị trường hạn chế không thể đứng vững và phải ngừng hoạt động hoặc sát
nhập trước sự cạnh tranh khốc liệt thì các hoạt động kinh tế lại được gia tăng tại các
tập đoàn kinh tế lớn và các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài; kết quả này
được phản ánh tại bảng 2.3 và biểu 2.3:
Bảng 2.3: Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh
Đơn vị tính: Triệu USD
giai đoạn 2008-2013
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Kim ngạch XNK
8.858,11
6.790,71
9.304,84
12.671,37 13.987,10 14.858,11
Số thông tin được xử lý
8.858,11
6.790,71
9.304,84
12.671,37 13.987,10 14.858,11
So với năm
trước
-2.067,40
2.514,13
3.366,53
1.315,73
871,01
(tăng/giảm)
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
-23,33
37,02
36,18
10,38
6,22
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
Biểu 2.3: Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh
14858
13987
16000
12671
14000
12000
9304
8858
10000
6790
8000
6000
4000
2000
0
giai đoạn 2008-2013
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Kim nghạch XNK
Số thông tin được xử lý
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 59 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Trên cơ sở danh bạ doanh nghiệp XNK và thông tin thu thập được từ các
nguồn cùng với các yêu cầu cần tăng cường quản lý trong từng lĩnh vực có khả
năng rủi ro cao, công chức KTSTQ thực hiện phân tích, đánh giá rủi ro, đề xuất
danh sách đối tượng kiểm tra và xây dựng kế hoạch KTSTQ hàng năm.
Theo yêu cầu của công tác quản lý, ngày 15/11 hàng năm Cục Hải quan
Quảng Ninh xây dựng hoàn chỉnh danh sách doanh nghiệp KTSTQ theo kế hoạch
của năm tiếp theo; chính vì vậy, hoạt động thu thập xử lý thông tin, xác định đối
tượng kiểm tra được thực hiện thường xuyên. Tuy nhiên, kết quả đạt được trong
những năm vừa qua số lượng doanh nghiệp được xác định và tiến hành KTSTQ đạt
tỷ lệ thấp (từ 5%-10% tổng số doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn).
- Nguồn thông tin thu thập được từ các đơn vị Hải quan cửa khẩu làm thủ
tục thông quan hàng hoá (khâu thông quan) [2]
Khâu sau thông quan và khâu thông quan là 2 lĩnh vực nghiệp vụ chuyên sâu
nằm trong quy trình hoạt động, quản lý theo chức năng, nhiệm vụ của Ngành Hải
quan. Điều này đã được quy định cụ thể tại Luật Hải quan, Luật quản lý thuế, các
văn bản dưới luật có liên quan và các quy trình nghiệp vụ Hải quan.
+ Để hoạt động phối hợp cung cấp thông tin có hiệu quả, Cục Hải quan
Quảng Ninh đã có Quyết định số 248/QĐ-HQQN ngày 31/5/2011 (thay thế Quyết
định 503/QĐ-HQQN ngày 21/6/2006) ban hành Quy chế phối hợp cung cấp thông
tin phục vụ KTSTQ, trong đó quy định cụ thể trách nhiệm về việc phối hợp cung
cấp thông tin giữa lực lượng KTSTQ với các Chi Cục Hải quan cửa khẩu và các
khâu nghiệp vụ khác theo nguyên tắc: (i) Quan hệ phối hợp phải dựa trên cơ sở thực
hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi đơn vị; (ii) Thông tin thu thập
phải được cập nhật, quản lý chặt chẽ; việc cung cấp thông tin trong nội bộ phải theo
đúng nguyên tắc bảo mật, cụ thể như sau:
Đối với lực lượng KTSTQ: tổng hợp, cập nhật thông tin thuộc hồ sơ Hải
quan thông qua hoạt động KTSTQ; cung cấp kịp thời cho các đơn vị Hải quan khi
có yên cầu và phục vụ công tác quản lý rủi ro. Kiến nghị các đơn vị Hải quan áp
dụng các biện pháp quản lý, kiểm tra, nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận, vi
phạm thủ tục trong quá trình làm thủ tục thông quan hàng hoá.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 60 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Đối với các Chi Cục Hải quan cửa khẩu (khâu thông quan): thu thập, cập
nhật đầy đủ thông tin thuộc hồ sơ Hải quan thông qua công tác phúc tập hồ sơ vào
hệ thống cơ sở dữ liệu. Kịp thời cung cấp thông tin về hồ sơ Hải quan và các tài liệu
có liên quan về dấu hiệu vi phạm, gian lận trốn thuế... của các doanh nghiệp trong
hoạt động XNK tại địa bàn quản lý cho lực lượng KTSTQ.
Đối với lực lượng kiểm soát chống buôn lậu: thông qua công tác sưu tra,
kịp thời trao đổi và cung cấp thông tin cho lực lượng KTSTQ về các hành vi gian
lận thương mại, việc chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân liên quan đến
XNK hàng hóa trên địa bàn.
Đối với các phòng tham mưu: Có trách nhiệm tổng hợp, cung cấp đầy đủ,
kịp thời thông tin các dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải quan, hành vi gian lận thương
mại; thông tin về các doanh nghiệp, mặt hàng có khả năng rủi ro cao… trong từng
lĩnh vực: quản lý thuế, giám sát quản lý, thanh tra… cho lực lượng KTSTQ.
+ Trong những năm qua, công tác phối hợp cung cấp thông tin từ khâu thông
quan cho lực lượng KTSTQ vẫn còn nhiều hạn chế, chủ yếu là báo cáo kết quả phúc
tập hồ sơ định kỳ, Phiếu chuyển nghiệp vụ nghi ngờ trị giá tính thuế khai báo thấp
hơn cơ sở dữ liệu của cơ quan Hải quan. Các báo cáo kết quả phúc tập thông tin còn
nghèo nàn, chỉ có các số liệu tờ khai phải phúc tập, đã phúc tập, còn tồn; không có
hoặc rất ít thông tin về các hành vi gian lận thuế, sai sót về thủ tục, chính sách được
phát hiện. Các phiếu chuyển nghiệp vụ nghi ngờ giá thấp cũng chỉ có những thông
tin về giá so sánh, do đó hiệu quả phục vụ cho công tác KTSTQ còn rất hạn chế. Số
lượng thông tin được phản ánh tại bảng 2.4:
Bảng 2.4: Thông tin do các Chi Cục Hải quan cửa khẩu cung cấp cho
hoạt động KTSTQ giai đoạn 2008-2013
Đơn vị tính: Thông tin
2008 75
2009 125
2010 63
2011 92
2012 100
2013 106
75
125
63
92
100
106
50
-62
30
8
6
Năm Số lượng thông tin Thông tin được xử lý So với năm trước (tăng/giảm)
66,67
-49,6
46,03
8,69
6,00
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 61 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Đối với các thông tin (phiếu chuyển nghiệp vụ, báo cáo phúc tập hồ sơ) do
các Chi Cục Hải quan cửa khẩu cung cấp sẽ được công chức KTSTQ cập nhật, xử
lý và kết hợp với các thông tin thu thập được từ các nguồn khác để đề xuất tiến
hành kiểm tra ngay hoặc tiếp tục theo dõi, thu thập bổ sung thông tin đưa vào kế
hoạch kiểm tra các năm tiếp theo.
- Nguồn thông tin thu thập được từ các cơ quan có liên quan (cơ quan thuế,
ngân hàng, công an, quản lý thị trường,...) [2].
Nguồn thông tin thu thập được từ các cơ quan liên quan phục vụ cho hoạt
động KTSTQ chủ yếu được thực hiện trên cơ sở quy định của các quy chế phối hợp
cung cấp, trao đổi thông tin giữa cơ quan Hải quan và các ngành có liên quan.
Thông tin do các cơ quan có liên quan cung cấp phục vụ cho hoạt động
KTSTQ như: việc chấp hành pháp luật thuế nội địa của doanh nghiệp; tình hình
hoạt động của các doanh nghiệp; thay đổi địa chỉ đăng ký; các doanh nghiệp mất
tích, bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh; số tài khoản và số dư tiền mặt trên tài khoản
mở tại các ngân hàng thương mại, số tiền trích nộp ngân sách; các quyết định khởi
tố, truy tố, bắt giữ người, hàng hoá đối với các đối tượng, tổ chức; thông tin về đăng
ký hoạt động kinh doanh, cấp phép đầu tư, xác nhận hàng hoá thuộc đối tượng miễn
thuế... cụ thể tại bảng 2.5:
Bảng 2.5: Nguồn thông tin nhận được từ các cơ quan liên quan
Đơn vị tính: lượt
giai đoạn 2008-2013
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Thông tin nhận được từ cơ
41
45
65
70
76
12
quan có liên quan
Số thông tin được xử lý
41
45
65
70
76
12
năm
trước
29
4
20
5
6
So với (tăng/giảm)
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
41,67
9,75
44,44
7,69
8,57
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
Nguồn thông tin do các cơ quan có liên quan cung cấp trong những năm vừa
qua phục vụ hữu ích cho hoạt động KTSTQ, đặc biệt là việc đánh giá tình trạng
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 62 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
hoạt động của doanh nghiệp và là cơ sở đề xuất cấp có thẩm quyền các vấn đề cần
xử lý, ban hành các quyết định hành chính.
- Số đối tượng xác định phải KTSTQ [2]
+ Kết quả của quá trình thu thập, xử lý thông tin là danh sách các được đối
tượng phải tiến hành KTSTQ, các đối tượng phải kiểm tra là các doanh nghiệp
XNK được xác định theo nguyên tắc quản lý rủi ro: doanh nghiệp có mức độ rủi ro
cao, hàng hoá có khả năng gian lận về trị giá, thuế suất, ưu đãi thuế quan... được ưu
tiên đưa vào diện kiểm tra trước trên cơ sở nguồn lực hiện có. Số lượng các doanh
nghiệp được xác định phải KTSTQ trong các năm thể hiện tại bảng 2.6 và biểu 2.4:
Đơn vị tính: doanh nghiệp
Bảng 2.6: Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số doanh nghiệp phải kiểm tra
55
61
125
130
130
57
Số doanh nghiệp được kiểm tra
55
61
125
130
130
57
So với năm trước (tăng/giảm)
4
64
5
0
2
4
0
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
3,63
7,02
104,92
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
Biểu 2.4: Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013
130
130
140
125
120
100
80
61
55
57
60
40
20
0
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số doanh nghiệp phải kiểm tra Số doanh nghiệp được kiểm tra
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 63 Khóa 2012 - 2014
+ Danh sách các được đối tượng phải tiến hành KTSTQ là cơ sở để xây dựng
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
kế hoạch KTSTQ chi tiết hàng năm; ngoài các doanh nghiệp đã xác định theo các
dấu hiệu nghi vấn, trong danh sách kế hoạch kiểm tra bao gồm cả các doanh nghiệp
được kiểm tra ngẫu nhiên nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh
nghiệp.
b/ Hạn chế:
- Thông tin từ các nguồn cung cấp cho hoạt động KTSTQ chưa đầy đủ và kịp thời:
+ Nguồn thông tin từ cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan: chủ yếu được khai
thác từ các chương trình phần mềm quản lý nghiệp vụ như: Số liệu XNK; GTT22
(GTT01); KT559; STQ01… tuy nhiên, các chương trình này đã được xây dựng từ
lâu, qua nhiều lần nâng cấp nhưng vẫn còn lạc hậu, chưa tích hợp thống nhất dữ liệu
và chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Ví dụ: Chương trình quản lý giá tính thuế
GTT22 (GTT01) sau một khoảng thời gian nhất định dữ liệu được chuyển vào kho
lưu trữ, đến khi KTSTQ không khai thác được dữ liệu liên quan để so sánh với dữ
liệu đang kiểm tra. Hạn chế này gây khó khăn, kéo dài thời gian khi KTSTQ đánh
giá tính trung thực trị giá khai báo của doanh nghiệp.
+ Nguồn thông tin từ khâu thông quan: Mặc dù Cục Hải quan Quảng Ninh đã
ban hành Quy chế phối hợp cung cấp thông tin giữa lực lượng KTSTQ và khâu
thông quan; tuy nhiên, việc phối hợp giữa lực lượng KTSTQ với các đơn vị Hải
quan ở khâu thông quan chưa được chặt chẽ, còn nặng tính hình thức. Ví dụ: Mặc
dù các tiêu chí yêu cầu báo cáo chi tiết nhưng nội dung kết quả phúc tập hồ sơ từ
các Chi Cục Hải quan cửa khẩu báo cáo cho lực lượng KTSTQ chủ yếu phản ánh số
liệu phúc tập, chưa đánh giá, phân tích tình hình về các dấu hiệu vi phạm thông qua
kết quả phúc tập hồ sơ từng giai đoạn. Đối với các Phiếu chuyển nghiệp vụ chỉ phản
ánh về giá của mặt hàng nghi vấn doanh nghiệp khai thấp so với hàng hoá tương tự,
giống hệt của các doanh nghiệp khác đã nhập khẩu; không có các thông tin liên
quan như: những đặc tính cơ bản của mặt hàng nghi vấn; giá tham khảo tại thị
trường;… dẫn đến việc phân tích và xử lý thông tin tại khâu sau thông quan gặp rất
nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và nhân lực, hiệu quả thấp.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 64 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
+ Nguồn thông tin từ các cơ quan có liên quan như cơ quan Thuế, Công an,
Quản lý thị trường, Sở kế hoạch và đầu tư, Ngân hàng: Chưa có sự ràng buộc trách
nhiệm cụ thể bằng các quy chế phối hợp với các đơn vị ở ngoài địa bàn tỉnh Quảng
Ninh nên việc phối hợp cung cấp thông tin doanh nghiệp từ các cơ quan này thường
bị kéo dài, gây khó khăn trong việc kết luận về mức độ tuân thủ pháp luật của doanh
nghiệp; làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng KTSTQ.
- Kỹ năng tổng hợp, phân tích, xử lý thông tin của công chức KTSTQ còn
hạn chế:
KTSTQ là nghiệp vụ khó đòi hỏi công chức KTSTQ vừa phải có kiến
thức tổng hợp, vừa phải chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực và phải có tâm huyết
với nghề. Các nguồn thông tin thu thập hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào các
chương trình phần mềm ứng dụng, do đó đòi hỏi công chức thu thập thông tin
phải là người có trình độ, đã qua thực tiễn công việc thì thông tin thu thập mới
đáng tin cậy phục vụ cho công tác xử lý và lựa chọn đối tượng kiểm tra được
chính xác. Mặc dù đã được đào tạo cơ bản trong các trường đại học, tuy nhiên
do đa số công chức KTSTQ còn trẻ, chưa có kinh nghiệm thực tiễn nên khả
năng nhận định, phân tích thông tin còn hạn chế dẫn đến kết quả đề xuất, lựa
chọn đối tượng KTSTQ chưa đạt hiệu quả cao.
- Cơ sở hạ tầng và các chương trình quản lý nghiệp vụ chưa đồng bộ:
Hiện nay, lực lượng KTSTQ đã có Chương trình quản lý doanh nghiệp, tuy
nhiên chương trình này chưa đáp ứng được nhu cầu thu thập thông tin như nhiều
thông tin còn thiếu, không đầy đủ dẫn đến để có thông tin hoàn chỉnh thì yêu cầu
phải thu thập từ các nguồn khác gây mất nhiều thời gian cho công tác thu thập, xử
lý thông tin. Các chương trình có nhiều chức năng trùng lặp nhưng lại không đủ
thông tin cần thu thập dẫn đến khi cần thu thập thông tin về một doanh nghiệp, một
đối tượng thì cùng lúc phải khai thác nhiều chương trình ứng dụng gây mất nhiều
thời gian và lãng phí nguồn lực.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 65 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
2.2.2. Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu và những kết quả đạt được
2.2.2.1. Khai quát quy trình kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh
Quảng Ninh
Trên cơ sở kế hoạch KTSTQ hàng năm, công chức KTSTQ phân loại đối
tượng, xác định phạm vi, nội dung kiểm tra và xây dựng kế hoạch kiểm tra chi tiết.
Yêu cầu các đơn vị Hải quan có liên quan cung cấp hồ sơ, tài liệu và giải thích các
vấn đề chưa rõ trên hồ sơ; tiến hành xác minh tại các tổ chức, cá nhân có liên quan
để làm rõ các thông tin, tài liệu có liên quan đến phạm vi và nội dung kiểm tra.
Trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện, tiến hành trưng cầu giám định đối với
các tài liệu, chứng từ và hàng hoá nghi vấn.
Kết quả kiểm tra hồ sơ đối chiếu với kết quả xác minh và giám định nếu còn
có nghi ngờ thì yêu cầu doanh nghiệp giải trình và cung cấp chứng từ, tài liệu để
chứng minh, thời hạn giải trình là 10 ngày. Nếu doanh nghiệp giải trình được rõ
ràng các vấn đề nêu ra thì công chức/nhóm công chức kiểm tra lập bản Kết luận
kiểm tra tại trụ sở Hải quan, đưa doanh nghiệp vào diện chấp hành tốt pháp luật.
Trường hợp doanh nghiệp không giải trình hoặc không giải trình được thì tiến hành
ban hành các quyết định xử lý (nếu đã có đủ cơ sở) và lập bản Kết luận kiểm tra tại
trụ sở Hải quan hoặc đề xuất KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp.
Như vậy, hoạt động KTSTQ tại trụ sở Hải quan thực tế nhằm hướng dẫn, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp phát hiện kịp thời và tự nguyện khắc phục các sai sót,
giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật, tránh sai sót kéo dài, để lại
hậu quả nặng nề.
Trên cơ sở Báo cáo tổng hợp và đề xuất KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp của
công chức/nhóm công chức KTSTQ, Cục trưởng Cục Hải quan Quảng Ninh ban
hành Quyết định KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp, trong đó quy định rõ: (i) thời hạn
kiểm tra; (ii) phạm vi kiểm tra; (iii) nội dung kiểm tra; (iiii) phân công trưởng đoàn
và các thành viên đoàn KTSTQ. Trưởng đoàn KTSTQ chịu trách nhiệm xây dựng
kế hoạch chi tiết và phân công các thành viên đoàn kiểm tra thực hiện, dự kiến các
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 66 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
tình huống phát sinh và biện pháp xử lý tình huống… Thực trạng hoạt động KTSTQ
tại trụ sở doanh nghiệp tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong những năm vừa qua đã
phản ánh tính chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả ngày càng cao trong hoạt động
kiểm tra của cơ quan Hải quan; giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân
thủ pháp luật đồng thời phát hiện, ngăn chặn các sai phạm trong hoạt động XNK,
chống thất thu cho ngân sách nhà nước.
Từ năm 2005 trở về trước, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp cũng như
của cơ quan Hải quan về hoạt động KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp còn rất mơ hồ;
mặt khác, do các quy định của pháp luật chưa rõ ràng, cơ cấu tổ chức bộ máy chưa
hợp lý, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của công chức KTSTQ hạn chế dẫn đến
hiệu quả công việc không cao. Nhiều cuộc KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp kéo dài,
không có trọng tâm… gây lãng phí nguồn lực, thậm chí còn làm ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ tháng 7/2006, với hàng loạt
thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy, quy trình nghiệp vụ và đặc biệt là sự thay đổi về
nhận thức, hoạt động KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp từng bước đi vào nề nếp. Số
lượng các cuộc kiểm tra và số thu qua hoạt động kiểm tra ngày càng tăng; và điều
quan trọng là thông qua hoạt động kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp, Cục Hải quan
Quảng Ninh là một trong số các đơn vị được ngành Hải quan và cộng đồng doanh
nghiệp đánh giá cao về tính chuyên nghiệp và minh bạch, có tác dụng to lớn giúp
các doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật đồng thời nâng cao hiệu lực,
hiệu quả của công tác quản lý Hải quan trên địa bàn.
2.2.2.2. Thực trạng hoạt động KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
giai đoạn 2008-2013
a/ Kết quả:
* Về số cuộc KTSTQ
- Trong giai đoạn từ 2008-2013 mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với sự
nỗ lực phấn đấu của lực lượng KTSTQ, hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng
Ninh đã đạt được kết quả ấn tượng. Số lượng các doanh nghiệp được KTSTQ trong
giai đoạn này có xu hướng tăng dần thể hiện tại biểu 2.5.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 67 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Biểu 2.5: Số lượng doanh nghiệp được KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh
130
140
130
125
120
100
80
61
57
55
60
40
20
0
giai đoạn 2008-2013
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số doanh nghiệp được kiểm tra
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
- Qua phân tích số liệu thống kê số lượng doanh nghiệp được KTSTQ tại
Cục Hải quan Quảng Ninh từ năm 2008-2013 cho thấy số lượng các cuộc KTSTQ
tăng lên qua các năm, năm sau tăng hơn năm trước, thể hiện sự nỗ lực cố gắng của
lực lượng KTSTQ, cụ thể:
+ Từ năm 2008-2010, cùng chung với hoạt động toàn ngành, hoạt động
KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh tương đối ổn định với số lượng doanh nghiệp
được kiểm tra trong các năm có sự gia tăng nhưng không có chênh lệch lớn ( năm
2008: 55 doanh nghiệp; năm 2009: 57 doanh nghiệp; năm 2010: 61 doanh nghiệp;
năm 2011: 125 doanh nghiệp; năm 2012, 2013: 130 doanh nghiệp). Trong giai đoạn
này, cùng với việc ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ của lực lượng
KTSTQ, các quy trình nghiệp vụ mới cũng được ban hành và triển khai, hoạt động
KTSTQ đang từng bước được cụ thể hoá từ quy trình đến thực tiễn. Ngành Hải
quan nói chung và Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng đang từng bước đào tạo,
hoàn thiện kỹ năng và phương pháp trong hoạt động KTSTQ.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 68 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
+ Năm 2011 là năm đặt dấu ấn quan trọng, mang tính đột phá với lực lượng
KTSTQ, Tổng Cục Hải quan ban hành Chỉ thị 568/CT-TCHQ ngày 09/02/2011 về
tăng cường công tác KTSTQ, lấy năm 2011 là “Năm KTSTQ”. Để thực hiện có
hiệu quả Chỉ thị của Tổng Cục Hải quan, Cục Hải quan Quảng Ninh đã tập trung
nguồn lực, xây dựng kế hoạch KTSTQ 125 doanh nghiệp, tăng hơn 100% so với
năm 2010.
* Về kết quả KTSTQ
- Kết quả KTSTQ trong lĩnh vực trị giá Hải quan:
+ Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan đã được phát hiện và
xử lý qua hoạt động KTSTQ tập trung vào một số hành vi: doanh nghiệp khai thiếu
các chi phí phải cộng trong trị giá tính thuế hàng hoá xuất khẩu như: chi phí vận tải,
chi phí bảo hiểm, chi phí xếp dỡ hàng hoá…; điều kiện giao hàng thực tế là FOB
cửa khẩu xuất, CFR hoặc C&F cảng đích… nhưng doanh nghiệp khai báo trị giá
tính thuế không đúng với số tiền thực thanh toán và chi phí thực tế dẫn đến làm
giảm số tiền thuế phải nộp. Số liệu về các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá
được phản ánh tại bảng 2.7 và biểu 2.6
Bảng 2.7: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan qua KTSTQ
Đơn vị tính: vụ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số vụ việc vi phạm
8
19
6
9
11
10
So với năm trước (tăng/giảm)
2
11
-13
3
2
-1
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
33,33
137,5
- 68,42
50
22,22
-9,01
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
+ Tổng số vụ việc vi phạm phát hiện qua kiểm tra trị giá Hải quan tại Cục
Hải quan Quảng Ninh trong giai đoạn 2008-2013 là 63 vụ, bao gồm cả loại hình
xuất khẩu và nhập khẩu; trong đó loại hình xuất khẩu chiếm tỷ lệ trên 70%.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 69 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Biểu 2.6: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan qua KTSTQ
19
11
10
8
9
6
tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
2
20 18 16 14 12 10 8 6 4 2 0
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
+ Vụ việc điển hình đã được kiểm tra, phát hiện và xử lý là chuyên đề kiểm
tra trị giá Hải quan mặt hàng Than mỏ xuất khẩu của 14 doanh nghiệp; vụ việc được
tiến hành kiểm tra trong 3 năm từ 2009-2011 với số lượng hồ sơ lên đến 12.600 bộ.
Kết quả kiểm tra đã phát hiện các doanh nghiệp có các hành vi vi phạm trong việc
khai báo trị giá Hải quan, số tiền thuế truy thu lên đến 120.239 triệu đồng, cụ thể:
Năm 2009: Doanh nghiệp khai báo thiếu chi phí vận tải và chi phí cẩu nổi
trong trị giá tính thuế, truy thu tiền thuế: 52.537 triệu đồng.
Năm 2010: Doanh nghiệp khai báo thiếu chi phí vận tải trong trị giá tính
thuế, truy thu tiền thuế: 9.685 triệu đồng;
Năm 2011: Doanh nghiệp khai báo thiếu chi phí cẩu tầu và chi phí chênh
lệch cước tầu trong trị giá tính thuế, truy thu tiền thuế: 58.170 triệu đồng.
- Kết quả KTSTQ trong lĩnh vực mã số hàng hoá:
+ Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá đã được phát hiện và
xử lý qua hoạt động KTSTQ chủ yếu là: doanh nghiệp mô tả hàng hoá không đúng
với thực tế hoặc mô tả chung chung, không đầy đủ các tiêu chí phân loại; doanh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 70 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
nghiệp áp sai mã số và thuế suất, làm giảm số tiền thuế phải nộp. Kết quả cụ thể về
các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá đã được phát hiện và xử lý phản ánh tại
bảng 2.8 và biểu 2.7
Bảng 2.8: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá qua KTSTQ
Đơn vị tính: vụ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
2010
2011
2012
2013
Năm
2008
2009
2
2
3
5
6
6
với
năm
trước
0
1
2
1
0
Số vụ việc vi phạm So (tăng/giảm) Tỷ lệ tăng, giảm (%)
0
50
66,66
20
0
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
+ Số vụ việc vi phạm phát hiện qua kiểm tra mã số hàng hoá tại Cục Hải
quan Quảng Ninh trong giai đoạn 2008-2013 là 24 vụ, chủ yếu là loại hình nhập
khẩu; tỷ lệ vụ việc vi phạm phát hiện qua kiểm tra mã số hàng hoá chiếm khoảng
10% trong tổng số các vụ việc đã phát hiện và xử lý.
Biểu 2.7: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá qua KTSTQ
6
6
6
5
5
4
3
3
2
2
2
1
0
tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008 - 2013
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hóa
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 71 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
+ Vụ việc điển hình đã được kiểm tra, phát hiện và xử lý là chuyên đề kiểm
tra việc phân loại, áp mã các mặt hàng nhập khẩu: Băng tải, Tổ máy phát điện, Cáp
điện, Máy bơm, Thiết bị mỏ... của 12 doanh nghiệp nhập khẩu trong các năm 2010,
2011; Kết quả kiểm tra đã phát hiện các doanh nghiệp có các hành vi vi phạm trong
việc phân loại, khai báo mã số và thuế suất thuế nhập khẩu, số tiền thuế truy thu 5,3
tỷ đồng, cụ thể:
Doanh nghiệp khai sai mã số hàng hoá nhập khẩu, truy thu tiền thuế: 5,2
tỷ đồng.
Doanh nghiệp khai sai tên hàng hoá nhập khẩu, truy thu tiền thuế: 93,19
triệu đồng.
- Kết quả KTSTQ trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư:
+ Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư đã được phát hiện và xử
lý qua hoạt động KTSTQ chủ yếu là: Doanh nghiệp khai báo các mặt hàng không
thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi miễn thuế như: khai sai công suất, quy cách,
chủng loại của thực tế hàng hoá so với danh mục miễn thuế đã đăng ký; hàng hoá
không phải là linh kiện, chi tiết của dây truyền máy móc đồng bộ nhưng lại khai báo
miễn thuế theo dây truyền, phụ tùng thay thế của máy móc thiết bị; sử dụng hàng
hoá được miễn thuế không đúng mục đích…
+ Số vụ việc vi phạm phát hiện qua lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại Cục Hải quan
Quảng Ninh trong giai đoạn 2008 - 2013 là 24 vụ, chiếm tỷ lệ khoảng 15% trong tổng số
các vụ việc đã phát hiện và xử lý. Kết quả cụ thể về các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực
ưu đãi đầu tư đã được phát hiện và xử lý phản ánh tại bảng 2.9 và biểu 2.8.
Bảng 2.9: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư qua KTSTQ
Đơn vị tính: vụ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số vụ việc vi phạm
3
2
5
5
5
4
So với năm trước (tăng/giảm)
-1
3
0
0
-1
0
0
-20
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
-33,3
150
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 72 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Biểu 2.8: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư qua KTSTQ
5
5
5
4
3
2
5 4.5 4 3.5 3 2.5 2 1.5 1 0.5 0
tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
+ Vụ việc điển hình đã được kiểm tra, phát hiện và xử lý là kiểm tra dự án đầu
tư các khu trung tâm vui chơi giải trí, dự án đầu tư tại các khu công nghiệp…; Kết
quả kiểm tra đã phát hiện các doanh nghiệp có các hành vi vi phạm trong việc nhập
khẩu và sử dụng hàng hoá được miễn thuế, số tiền thuế truy thu 4,5 tỷ đồng, cụ thể:
Công ty cổ phần giải trí quốc tế Lợi Lai: khai sai trị giá tính thuế, sai đối
tượng miễn thuế đối với mặt hàng đồng chip, đồng xèng; truy thu 877,26 triệu đồng.
Công ty cổ phần quốc tế Hoàng Gia: khai sai đối tượng được hưởng ưu
đãi miễn thuế nhập khẩu của các mặt hàng là vật tư lắp đặt điều hoà và đá nhân tạo
mặt bóng; truy thu 692,80 triệu đồng.
Công ty TNHH thiết bị đường ống đồng bộ Hoa Nguyên Việt Nam: khai
sai đối tượng được hưởng ưu đãi miễn thuế; khai báo sai chủng loại hàng hoá nhập
khẩu; truy thu 618,97 triệu đồng.
Công ty TNHH Thiết bị vệ sinh huynh đệ Việt Nam: khai sai đối tượng
được hưởng ưu đãi miễn thuế; truy thu 458 triệu đồng.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 73 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
- Kết quả KTSTQ trong các lĩnh vực khác:
+ Hành vi vi phạm trong các lĩnh vực khác như: hàng hoá TNTX; SXXK; gia
công; xuất xứ hàng hoá… đã được phát hiện và xử lý qua hoạt động KTSTQ chủ
yếu là: doanh nghiệp khai sai định mức sử dụng nguyên liệu đối với loại hình gia
công và SXXK để trốn thuế nhập khẩu nguyên liệu; doanh nghiệp sử dụng Giấy
chứng nhận xuất xứ không hợp lệ để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt; doanh
nghiệp sử dụng hồ sơ không hợp lệ để làm thủ tục TNTX hàng hoá. Kết quả cụ thể
phản ánh tại bảng 2.10 và biểu 2.9
Bảng 2.10: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK qua
Đơn vị tính: vụ
KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số vụ việc vi phạm
2
1
3
4
4
3
So với năm trước (tăng/giảm)
-1
2
1
0
0
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
-50
200
33,3
0
0
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
Biểu 2.9: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK
4
4
4
3.5
3
3
3
2
2.5
2
qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
1
1
1.5
1
0.5
0
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 74 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
+ Số vụ việc vi phạm phát hiện qua các lĩnh vực này tại Cục Hải quan Quảng
Ninh trong giai đoạn 2008-2013 là 17 vụ, tỷ lệ vụ việc vi phạm phát hiện qua kiểm
tra mã số hàng hoá chiếm khoảng 8% trong tổng số các vụ việc đã phát hiện và xử lý.
+ Vụ việc điển hình đã được kiểm tra, phát hiện và xử lý là kiểm tra các
doanh nghiệp kinh doanh theo loại hình TNTX; loại hình gia công; SXXK…; Kết
quả kiểm tra đã phát hiện các doanh nghiệp có các hành vi vi phạm, số tiền thuế
truy thu và xử lý vi phạm hành chính 1,5 tỷ đồng, cụ thể:
Doanh nghiệp may xuất khẩu Quảng Ninh: khai sai định mức của 5 mã
hàng gia công; nhập khẩu thừa nguyên liệu so với khai báo; truy thu tiền thuế 460,3
triệu đồng.
Doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng ô tô tải tự đổ tổng trọng tải trên 24 tấn
có xuất xứ Trung Quốc, sử dụng C/O cấp sau không hợp lệ; truy thu tiền thuế 592
triệu đồng.
Doanh nghiệp giả mạo hợp đồng để làm thủ tục TNTX hàng hoá; xử phạt
vi phạm hành chính 20 triệu đồng...
- Số thu từ hoạt động KTSTQ:
Cho thấy ngoài các yếu tố về kỹ năng kiểm tra thì cách thức lựa chọn doanh
nghiệp và phương pháp tiến hành KTSTQ có ảnh hưởng quyết định đến kết quả truy
thu thuế. Số tiền truy thu thuế từ kết quả KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh khá
lớn, nhất là các năm 2009 và 2011; kết quả truy thu thuế tại bảng 2.11
Bảng 2.11: Số tiền truy thu thuế từ kết quả KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Số tiền truy thu
1.132,3 52.994,8
10.733,6 67.699,8 67.636,2 67.004,4
So với năm trước (tăng/giảm)
51.862,5
-42.261,2 56.966,1
-63,53
-631,8
Tỷ lệ tăng, giảm (%)
4.680,07
- 79,74
630,73
- 0,1
0.94
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
Ninh giai đoạn 2008-2013
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 75 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
+ Năm 2008 số tiền thuế truy thu đạt thấp (1,1 tỷ đồng) là do đối tượng
KTSTQ tập trung vào các doanh nghiệp có hoạt động XNK qua các cửa khẩu
đường bộ thuộc tỉnh Quảng Ninh, các lô hàng XNK có kim ngạch XNK nhỏ. Mặc
dù số lượng tiền thuế truy thu không lớn nhưng qua hoạt động KTSTQ, đã phát hiện
được nhiều sai sót, vi phạm để kịp thời đưa ra biện pháp chấn chỉnh, khắc phục và
tăng cường công tác quản lý Hải quan.
+ Năm 2009, hoạt động KTSTQ chuyển hướng kiểm tra trọng điểm từ hàng
nhập khẩu sang hàng xuất khẩu là một hướng đi mới có tính đột phá về nghiệp vụ
KTSTQ, trong khi hàng hoá xuất khẩu luôn được hưởng chính sách ưu tiên về chính
sách thuế và thủ tục Hải quan. Riêng mặt hàng than mỏ, quặng sắt là các mặt hàng
xuất khẩu có điều kiện về nguồn gốc và phải chịu thuế xuất khẩu nhưng cũng là đối
tượng được hưởng sự ưu tiên phân luồng làm thủ tục Hải quan, phần lớn các lô
hàng này đều thuộc luồng xanh, miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra thực tế
hàng hóa. Mặt khác, hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật đề cập đến công tác
kiểm tra, xác định trị giá tính thuế đối với hàng xuất khẩu hầu hết chỉ mang tính
nguyên tắc, chưa cụ thể về phương pháp xác định cũng như kiểm tra phòng ngừa vi
phạm. Số tiền thuế truy thu qua hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Quảng Ninh
đạt 52,9 tỷ đồng cao nhất trong toàn lực lượng KTSTQ ngành Hải quan. Số tiền
thuế truy thu đạt được chủ yếu là kết quả KTSTQ đối với mặt hàng than mỏ xuất
khẩu của Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam, đây cũng là một
chuyên đề của Cục Hải quan Quảng Ninh báo cáo điển hình tại Hội nghị chuyên đề
KTSTQ toàn ngành Hải quan năm 2009.
+ Năm 2010 là năm tiếp theo thực hiện chuyên đề KTSTQ mặt hàng than mỏ
của các doanh nghiệp ngoài Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam, số
tiền thuế truy thu đạt 9.7 tỷ đồng.
+ Năm 2011 được Tổng Cục Hải quan lấy là “Năm KTSTQ”, phát huy kết
quả đã đạt được và với kỹ năng ngày càng hoàn thiện, tính chuyên nghiệp ngày
càng cao; trên cơ sở đối tượng kiểm tra đã được xác định, lực lượng KTSTQ Cục
Hải quan Quảng Ninh tập trung kiểm tra theo các chuyên đề chuyên sâu từng lĩnh
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 76 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
vực và đã đạt được thành tích xuất sắc, truy thu thuế 67,7 tỷ đồng = 600% so với
năm 2010.
+ Năm 2012 Chi cục KTSTQ tiếp tục là năm thành công của lực lượng
KTSTQ Quảng Ninh trong lĩnh vực thu thuế đạt trên 67 tỷ đồng
+ Năm 2013 là năm có sự thay đổi lớn về nhân sự cũng như cơ cấu tổ chức
tuy nhiên, do đã có sự chuẩn bị và làm tốt công tác tổ chức nên năm 2013 vẫn là
một năm thành công của lực lượng KTSTQ Cục Hải quan Quảng Ninh. Số thu thuế
năm 2013 đạt 67 tỷ đồng, số thủ chủ yếu thu được từ loại hình nhập đầu từ và có sự
tăng thêm của loại hình kinh doanh sản xuất xuất khẩu.
b/ Hạn chế:
- Hạn chế trong các quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động
KTSTQ:
Hệ thống văn bản pháp quy chưa quy định rõ một số hành vi vi phạm trong
lĩnh vực KTSTQ, các chế tài xử phạt và thẩm quyền xử lý các vi phạm đó, cụ thể ở
những hành vi: doanh nghiệp từ chối, trốn tránh, không cử người có đủ thẩm quyền
làm việc với lực lượng KTSTQ; doanh nghiệp có hành vi cản trở lực lượng KTSTQ
dưới các hình thức khác nhau; doanh nghiệp không cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp
thời chứng từ tài liệu theo yêu cầu; các tổ chức cá nhân chậm trễ trong việc cung
cấp thông tin xác minh doanh nghiệp….
- Hạn chế về số lượng công chức KTSTQ và năng lực, trình độ của công
chức KTSTQ:
+ Mặc dù ngành Hải quan đã xác định đẩy mạnh cải cách, hiện đại hoá Hải
quan, chuyển mạnh từ kiểm tra trong thông quan sang KTSTQ, dành tối thiểu 10%
quân số toàn ngành cho lực lượng KTSTQ; thực tế hiện nay, quân số làm công tác
KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh chỉ đạt khoảng 7,6% tổng số công chức trong
Cục.
+ Công chức Hải quan đã được đào tạo chuyên sâu một lĩnh vực nhất định
như: Tài chính, kế toán, ngoại thương, luật… trong khi đó hoạt động KTSTQ đòi
hỏi phải có kiến thức tổng hợp và kinh nghiệm thực tiễn. Vì vậy, công chức KTSTQ
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 77 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
hiện nay thiếu chuyên nghiệp, thiếu chuyên sâu, chất lượng còn yếu so với yêu cầu
thực tế, thiếu các kỹ năng cơ bản theo yêu cầu của lực lượng KTSTQ.
- Hạn chế về chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc:
+ Theo quy định hiện hành chưa có chế độ đãi ngộ thích đáng cho lực lượng
KTSTQ nhằm thu hút người tài và động viên, khuyến khích công chức KTSTQ chủ
động trong công việc; kinh phí thanh toán còn thấp, chi phí về ăn ở cho công chức
đi công tác còn nhiều bất cập không đáp ứng được với chi phí thực tế, nhất là tại các
thành phố lớn.
+ Phương tiện đi lại như xe máy, ô tô phục vụ công tác điều tra, xác minh
không có. Lực lượng KTSTQ chưa được trang bị phương tiện đi lại phục vụ công
tác, còn phụ thuộc vào phương tiện của văn phòng Cục.
2.2.3. Thực trạng công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong
lĩnh vực kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
2.2.3.1. Trình tự lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực
kiểm tra sau thông quan
Việc lập hồ sơ và ban hành các quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh được thực hiện thống nhất, đảm bảo chặt chẽ cả về
nội dung và hình thức theo đúng quy định của pháp luật. Hồ sơ được lập từ thời
điểm xác định được đối tượng chịu KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan cho đến khi
vụ việc được giải quyết xong. Hồ sơ thể hiện rõ được trách nhiệm của từng công
chức, từng khâu trong quá trình tham gia vụ việc. Mỗi công chức/nhóm công chức
KTSTQ được phân công kiểm tra đối với hồ sơ của các doanh nghiệp XNK đều
phải thực hiện thiết lập hồ sơ KTSTQ theo đúng trình tự quy định và báo cáo lãnh
đạo quản lý trực tiếp để phê duyệt và chỉ đạo thực hiện.
Việc ban hành các quyết định hành chính được thực hiện ngay sau khi có
Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở Hải quan hoặc sau khi có Bản kết luận KTSTQ tại
trụ sở doanh nghiệp. Các Quyết định hành chính phải do người có thẩm quyền ký
ban hành; trường hợp doanh nghiệp khiếu nại phải thực hiện giải quyết khiếu nại;
trường hợp doanh nghiệp không chấp hành các quyết định hành chính thì thực hiện
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 78 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
đôn đốc và cưỡng chế theo thẩm quyền. Trình tự thiết lập hồ sơ và ban hành quyết
định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ bao gồm 6 giai đoạn:
- Giai đoạn KTSTQ tại trụ sở Hải quan
(1) Lập báo cáo đề xuất; (2) Tài liệu xác minh; (3) Văn bản giải trình của
doanh nghiệp; (4) Biên bản làm việc giữa nhóm kiểm tra và đại diện doanh nghiệp;
(5) Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan/hoặc Báo cáo tổng hợp kết quả
kiểm tra và đề xuất KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp; (6) Biên bản vi phạm hành
chính trong lĩnh vực Hải quan (nếu có).
- Giai đoạn KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp
(7) Quyết định KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp; (8) Các biên bản làm việc
giữa đoàn kiểm tra với giám đốc doanh nghiệp được kiểm tra; (9) Văn bản giải trình
của doanh nghiệp; (10) Tài liệu xác minh trong quá trình kiểm tra; (11) Bản kết luận
KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp; (12) Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực
Hải quan (nếu có);
- Giai đoạn ban hành quyết định hành chính
(13) Quyết định ấn định thuế (nếu có);
(14) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (nếu có);
- Giai đoạn giải quyết khiếu nại
(15) Giải quyết khiếu nại lần đầu; (16) Giải quyết khiếu nại lần hai.
- Giai đoạn theo dõi, đôn đốc các doanh nghiệp nộp phạt, nộp thuế
(17) Các công văn đôn đốc trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Quyết định
hành chính có hiệu lực; (18) Tài liệu xác minh tài khoản và số dư tài khoản của
doanh nghiệp tại các Ngân hàng; (19) Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định
hành chính;
- Giai đoạn lưu trữ hồ sơ, cập nhật cơ sở dữ liệu KTSTQ, quản lý rủi ro và
xử lý vi phạm
(20) Bàn giao lưu trữ hồ sơ theo quy trình ISO - 9002; (21) Cập nhật cơ sở
dữ liệu KTSTQ - chương trình STQ01; (22) Cung cấp thông tin cho phòng QLRR
cập nhật chương trình QLRR của ngành Hải quan; (23) Cung cấp thông tin cho
phòng xử lý vi phạm cập nhật chương trình Quản lý vi phạm;
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 79 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
2.2.3.2. Thực trạng công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong
lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
a/ Kết quả:
Công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực
KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong
những năm vừa qua được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, hình thức, thời gian và
thẩm quyền. Các quyết định hành chính ban hành được các doanh nghiệp thực hiện
đầy đủ, kịp thời, không để xảy ra các tranh chấp khiếu kiện, không có nợ xấu phát
sinh. Kết quả hồ sơ và quyết định hành chính được ban hành trong lĩnh vực KTSTQ
giai đoạn 2008-2013 tại Cục Hải quan Quảng Ninh phản ánh tại bảng 2.12.
Bảng 2.12: Số quyết định hành chính được ban hành từ kết quả KTSTQ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh từ 2008-2013
2012
2013
Năm
2008
2009
2010
2011
QĐ
Số thu
Số thu
Số thu
Số thu
Số thu
QĐHC
QĐHC
QĐHC
Số thu từ
QĐHC
QĐHC
HC
từ QĐ
từ
từ
từ
từ
được
được
QĐHC
được
được
được
được
HC
QĐHC
QĐHC
QĐHC
QĐHC
ban
ban
(triệu
ban
ban
ban
ban
(triệu
(triệu
(triệu
(triệu
(triệu
hành
hành
đồng)
hành
hành
hành
Tiêu chí
hành
đồng)
đồng)
đồng)
đồng)
đồng)
03
15
05
988.83
06
67.42
21
717.68
22
750.25
19
748.91
So với năm
trước
2
973,83
1
-921,41
15
650,26
1
32.57
-3
-1.34
(tăng/giảm)
Tỷ lệ tăng
66,67 6.592,2
20
-93,18
350
1.064,50
4.7
4.53
15.78
-13.64
giảm (%)
Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh
Trong các năm từ 2008 đến 2013, số vụ vi phạm được phát hiện và các quyết
định xử phạt được ban hành đều tăng. Các hành vi vi phạm của doanh nghiệp tập
trung chủ yếu như: khai thiếu trị giá tính thuế; khai sai mã số dẫn đến sai thuế suất,
làm giảm số tiền thuế phải nộp; tự ý tiêu thụ hàng hoá trước khi thông quan; khai
báo hàng hoá không đúng đối tượng được miễn thuế; thất lạc hồ sơ; giả mạo giấy
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 80 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
tờ; chậm thanh khoản hồ sơ gia công…
Các năm 2008 và 2010 số tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính không
nhiều, với số vụ vi phạm ít, hành vi có nhiều tình tiết được giảm nhẹ. Các hành vi
tập trung chủ yếu là: thất lạc hồ sơ, giả mạo giấy tờ, chậm thanh khoản hồ sơ gia
công. Sau khi xử phạt vi phạm hành chính, các doanh nghiệp đều nhận thức được và
ý thức tuân thủ pháp luật Hải quan được nâng cao.
Năm 2009, số tiền thu phạt vi phạm hành chính của các doanh nghiệp tăng
cao (988,83 triệu đồng) là do trong các năm 2008 và 2009, Cục Hải quan Quảng
Ninh tập trung KTSTQ đối với mặt hàng Than mỏ xuất khẩu; qua kiểm tra phát
hiện các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn CN than - khoáng sản Việt Nam và các
doanh nghiệp ngoài Tập đoàn xuất khẩu than khai thiếu trị giá tính thuế hàng xuất
khẩu (khai thiếu cước phí vận tải nội địa vào trị giá tính thuế) dẫn đến thiếu số tiền
thuế phải nộp và bị xử phạt 10% số thuế còn thiếu.
Năm 2011 đến năm 2013, số tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính là
2.216,684 triệu đồng, tập trung chủ yếu ở các hành vi: khai sai mã số dẫn đến sai
thuế suất; tự ý tiêu thụ hàng hoá trước khi thông quan... nguyên nhân vi phạm chủ
yếu là do các doanh nghiệp chưa hiểu biết rõ về việc phân loại, áp mã, áp thuế dẫn
đến khai sai mã số và thuế suất Đối với hành vi tự ý tiêu thụ hàng hoá trước khi
thông quan xảy ra chủ yếu ở các cửa khẩu biên giới đường bộ; một số doanh nghiệp
tại biên giới làm dịch vụ nhập khẩu hàng hoá phải chờ giám định phân loại hàng
hoá, nhưng doanh nghiệp dịch vụ xuất hoá đơn bán ngay và hoàn tất việc làm dịch
vụ nhập khẩu mà không chờ kết quả giám định và quyết định thông quan hàng hoá
của cơ quan Hải quan… dẫn đến vi phạm.
Các doanh nghiệp đã bị xử phạt hành chính lần đầu với hành vi tự ý tiêu thụ
hàng hoá trước khi thông quan, các năm sau được kiểm tra với hàng hoá tương tự
thì hành vi trên đã không bị lặp lại. Như vậy, việc xử phạt của cơ quan Hải quan đạt
được hiệu quả khi hành vi vi phạm được ngăn chặn và hướng đến sự tuân thủ pháp
luật của doanh nghiệp.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 81 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
b/ Hạn chế:
- Qui định về mẫu ấn chỉ còn chưa phù hợp như: mẫu biên bản làm việc, mẫu
quyết định ấn định thuế, mẫu Quyết định xử phạt vi phạm hành chính…
- Khả năng tổng hợp, báo cáo và kỹ năng lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính
của công chức KTSTQ còn yếu, việc xử lý các tình huống khiếu nại, khiếu kiện của
doanh nghiệp còn hạn chế.
- Trong các chương trình đào tạo về KTSTQ do Tổng Cục Hải quan tổ chức,
các kỹ năng lập Biên bản làm việc, Biên bản vi phạm hành chính, Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính… ít được quan tâm hoặc được đào tạo chưa sâu nên công
tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ đối với
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu còn nhiều lúng túng.
- Việc quản lý, lưu trữ hồ sơ còn chưa khoa học khó khăn cho công tác tìm
kiếm, tra cứu.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA CỤC
HẢI QUAN QUẢNG NINH
2.3.1. Những mặt được trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải
quan Quảng Ninh
- Thu thập được nguồn thông tin chất lượng từ cơ sở dữ liệu nghành Hải
quan và từ các đơn vị Hải quan cửa khẩu;
- Số lượng doanh nghiệp được KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh từ
năm 2008 – 2013 tăng lên tỷ lệ thuận với số tiền truy thu thuế và xử lý vi phạm
hành chính ở lĩnh vực trị giá Hải quan, mã số hàng hóa, ưu đãi đầu tư và các lĩnh
vực khác qua các năm tăng lên, cho thấy sự nỗ lực và cống gắng của lực lượng
KTSTQ;
- Công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực
KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh
trong những năm qua được thực hiện đúng quy định hiện hành. Các quyết định hành
chính ban hành được các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, kịp thời, không để xảy ra
các tranh chấp khiếu kiện, không có nợ xấu phát sinh.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 82 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
2.3.2. Những tồn tại chính trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục
Hải quan Quảng Ninh
- Hạn chế trong thu thập, xử lý thông tin
- Hạn chế trong hoạt động KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gồm:
+ Việc nắm bắt, cập nhật các quy định còn hạn chế.
+ Số lượng Cán bộ công chức có năng lực và trình độ chuyên môn cao còn thiếu.
+ Chế độ đãi nghộ và điều kiện làm việc còn hạn chế.
- Hạn chế trong việc lập hồ sơ và ban hành Quyết định hành chính trong lĩnh
vực KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm tra sau thông
quan của Cục Hải quan Quảng Ninh
- Về hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách hoạt động kiểm tra sau
thông quan
Mặc dù hệ thống văn bản pháp quy về hoạt động KTSTQ đã được ban hành
tương đối đồng bộ, tuy nhiên chưa trao quyền đủ mạnh cho lực lượng KTSTQ; công
chức KTSTQ không được thẩm vấn doanh nghiệp... trong trường hợp doanh nghiệp
cố tình trây ỳ hoặc kéo dài thời gian cung cấp hồ sơ tài liệu, doanh nghiệp không
hợp tác… chưa có chế tài đủ mạnh bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện.
- Về nguồn nhân lực cho hoạt động kiểm tra sau thông quan
Theo yêu cầu của ngành Hải quan, số lượng công chức KTSTQ phải đạt 10%
trên tổng biên chế của Cục Hải quan tỉnh; tuy nhiên số lượng công chức KTSTQ tại
Cục Hải quan Quảng Ninh hiện nay chỉ đạt 7,6%. Vì vậy, số cuộc KTSTQ (đặc biệt
là kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp) tuy năm sau cao hơn năm trước nhưng vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu đề ra.
Nhiều công chức mới được tuyển dụng, tuy được đào tạo cơ bản nhưng chưa
có kỹ năng và kinh nghiệm trong công tác kiểm tra, tiếp xúc, làm việc với doanh
nghiệp. Mặt khác do yêu cầu trong việc luân chuyển công chức theo qui định của
ngành nên nhiều công chức mới phải có thời gian nghiên cứu, tiếp cận và làm quen
với công tác KTSTQ.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 83 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
- Về chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc
Công chức KTSTQ không được hưởng phụ cấp đặc thù (như lực lượng kiểm
soát CBL, tin học), hiện chưa có cơ chế trích thưởng từ kết quả KTSTQ (như lực
lượng thanh tra, kiểm toán), vì vậy chưa động viên CBCC yên tâm công tác lâu dài,
chưa thu hút được CBCC vào lực lượng KTSTQ làm việc.
Trang thiết bị, cơ sở vật chất mặc dù đã được Tổng Cục Hải quan và Cục Hải
quan tỉnh quan tâm, đáp ứng yêu cầu trước mắt nhưng về lâu dài cần có quy hoạch
định hướng dài hạn, xứng tầm với vị trí, vai trò của hoạt động KTSTQ trong quản lý
Hải quan hiện đại. Hiện tại trụ sở Chi cục KTSTQ vẫn nằm trong khối văn phòng
Cục, chưa có trụ sở riêng, chưa được đầu tư các trang thiết bị như: Máy giám định
tài liệu, ô tô…
- Về trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cho hoạt động kiểm tra sau thông
quan
Cơ sở vật chất, kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động chủ yếu do chưa có
kế hoạch đầu tư lâu dài cho hoạt động KTSTQ; nguyên nhân một phần do nhận
thức về tầm quan trọng của hoạt động KTSTQ chưa nhất quán, mặt khác do hoạt
động KTSTQ thời gian qua chưa đạt được những kết quả như yêu cầu đề ra.
Việc đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin còn manh mún, chưa đầu
tư đúng trọng tâm, yêu cầu hiện đại hóa ngành Hải quan; các chương trình phần
mềm quản lý nghiệp vụ Hải quan chủ yếu chỉ đáp ứng được 1 lĩnh vực cụ thể, chưa
tích hợp để ứng dụng có hiệu quả cho các lĩnh vực khác. Vì vậy, hệ thống thông tin,
cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa kết nối với các đơn
vị Bộ tài chính và các Bộ, Ngành có liên quan.
- Về nhận thức của các bên có liên quan và sự phối hợp trong hoạt động
kiểm tra sau thông quan
Nhận thức của một số lãnh đạo các cấp trong ngành Hải quan về vị trí, vai
trò, tầm quan trọng của KTSTQ chưa đúng và đầy đủ dẫn đến công tác tổ chức, chỉ
đạo thực hiện chưa sát sao, ngại va chạm, thậm chí không ủng hộ cho hoạt động
này. Nguyên nhân này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động KTSTQ.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 84 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Cũng do nhận thức chưa đúng nên tư tưởng của công chức làm công tác
KTSTQ chưa thực sự yên tâm công tác. Nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp
XNK, của các ngành chức năng có liên quan… về bản chất, vai trò, tầm quan trọng
của KTSTQ chưa đúng và đầy đủ nên chưa hợp tác chặt chẽ, ủng hộ và phối hợp
trong hoạt động KTSTQ. Một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp tham gia hoạt động
XNK, có ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, chạy theo lợi nhuận bất chấp việc vi
phạm pháp luật, nhất là pháp luật về Hải quan và pháp luật về kế toán.
Những nguyên nhân về nhận thức và tư tưởng nêu trên đã ảnh hưởng trực
tiếp và toàn diện đến các khâu trong hoạt động KTSTQ.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 85 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI
QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Ngành Hải quan trong việc phát
triển Hải quan hiện đại
3.1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển Hải quan hiện đại
Công cuộc đổi mới được Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam khởi
xướng đã mở đường cho sự chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Song
song với sự đổi mới về chiến lược kinh tế xã hội trong nước là sự chuyển hướng
chiến lược chính trị và kinh tế đối ngoại. Đặc biệt từ Đại hội VII, đường lối đa
phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế được
Đại hội VII khẳng định ở việc "gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới,
giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có chính sách
bảo vệ sản xuất nội địa". Đồng thời, triển khai thực hiện Nghị quyết trung ương 8 về
cải cách nền hành chính quốc gia, mục tiêu của cải cách được đặt ra với Ngành Hải
quan là: tạo thuận lợi, nhanh chóng cho hoạt động kinh doanh XNK, đầu tư và du
lịch… Cùng với sự phát triển của quá trình hội nhập nền kinh tế Việt Nam với kinh
tế khu vực và thế giới, chủ trương chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hội nhập ngày
càng rõ hơn, cụ thể hơn. Đại hội VIII của Đảng (1996) đã khẳng định nhiệm vụ đối
ngoại là "củng cố môi trường hòa bình vào tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để đẩy
mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", "đẩy
nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới". Nghị quyết trung ương 4
khóa XIII đã nêu nguyên tắc hội nhập quốc tế là "tích cực và chủ động thâm nhập
và mở rộng thị trường quốc tế" và nhấn mạnh nhiệm vụ "chủ động chuẩn bị các
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 86 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp, và nhất là các sản phẩm mà chúng ta có khả
năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và quốc tế". Đại hội còn khẳng định
và cụ thể hóa chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, đa phương hóa, đa dạng hóa
quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song
phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc
tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và cùng có lợi. Đại hội
Đảng IX, X và XI đã tiếp tục khẳng định đường lối hội nhập và đẩy mạnh phát triển
kinh tế phù hợp với xu thế toàn cầu hóa với mục tiêu "chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý
để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa".
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, phát
triển sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, cải cách thủ tục hành chính, đòi hỏi
Ngành Hải quan phải nâng cao năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của quản lý Hải
quan hiện đại, vừa đảm bảo hỗ trợ thông quan nhanh chóng, tạo thuận lợi thương
mại, đồng thời đảm bảo quản lý chặt chẽ hoạt động XNK; chống buôn lậu và gian
lận thương mại có hiệu quả; đảm bảo nguồn thu cho ngân sách; góp phần bảo vệ trật
tự an toàn xã hội, lợi ích người tiêu dùng, đảm bảo lợi ích và chủ quyền an ninh
quốc gia. Hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan phải đảm bảo tạo thuận lợi cho
hoạt động XNK, đầu tư, du lịch, dịch vụ; cụ thể: thủ tục Hải quan phải đơn giản,
minh bạch, tăng nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa trong giao dịch ngoại thương;
thông quan hàng nhanh, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp; cung cấp thông tin
nhanh chóng công khai.
3.1.1.2. Quan điểm của Ngành Hải quan về phát triển Hải quan hiện đại
Thực hiện mô hình quản lý Hải quan tập trung thống nhất trên nền tảng công
nghệ thông tin (mô hình thông quan điện tử): tập trung xử lý thông tin ở cấp Tổng
Cục Hải quan và các Cục Hải quan vùng; tự động hóa hoàn toàn việc quản lý thông
tin hàng hóa bằng việc hoàn thiện hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử với các cơ quan
có liên quan; quản lý toàn diện và tập trung bằng việc kiểm tra khối lượng hàng hóa
luân chuyển qua từng khâu; xử lý thông tin và quyết định hình thức kiểm tra theo kỹ
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 87 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
thuật quản lý rủi ro; áp dụng ở trình độ cao các tiến bộ của công nghệ thông tin vào
quản lý Hải quan đồng bộ giữa tin học hóa và tự động hóa thông qua các hệ thống
quản lý thống nhất và hoàn chỉnh phục vụ mọi khâu nghiệp vụ Hải quan đặc biệt là
KTSTQ.
Hoàn thành việc cải cách và chuyển đổi các hoạt động nghiệp vụ Hải quan
theo chuẩn mực Hải quan hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về Hải quan,
tạo tiền đề để tiếp tục thực hiện cải cách, hiện đại hóa Hải quan.
3.1.2. Xu hướng về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và khả năng xảy ra rủi ro
trong quản lý Hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
3.1.2.1. Xu hướng về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trên địa bàn
Quảng Ninh là tỉnh miền núi, biên giới, hải đảo; phía Bắc và phía Đông Bắc
giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc với biên giới dài 118,8 km, phía Tây Bắc giáp
tỉnh Lạng Sơn, phía Tây giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, thành phố
Hải Phòng, phía Đông và phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ. Với vị trị địa lý như vậy,
Quảng Ninh là tỉnh hội tụ nhiều lợi thế, tiềm lực phát triển kinh tế xã hội quan trọng
trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Ngày 2/3/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 34/2009/QĐ-TTg
phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đến năm
2020; với định hướng chiến lược:
Khai thác tối đa lợi thế so sánh của vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ để
phát triển thương mại với tốc độ cao, hướng mạnh vào xuất khẩu, từng bước hội
nhập vững chắc vào thị trường quốc tế, nhất là thị trường Trung Quốc, ASEAN.
Đầu tư xây dựng trung tâm thương mại Móng Cái, giữ vai trò cửa ngõ giao lưu
chính của vành đai kinh tế với Trung Quốc và giữa Việt Nam - Trung Quốc với
ASEAN…
Đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang Trung Quốc; đổi mới cơ cấu
hàng xuất khẩu, quy hoạch phát triển các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu phù hợp với
nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc và lợi thế của từng địa phương. Tăng cường
xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, hạn chế xuất khẩu thô, xuất khẩu nguyên liệu.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 88 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Hạn chế thấp nhất việc xuất khẩu các loại than có nhu cầu sử dụng trong nước. Xây
dựng hoàn chỉnh Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, nâng cấp các cửa khẩu Hoành
Mô, Bắc Phong Sinh để mở rộng giao thương hàng hóa giữa các địa phương của hai
nước trong vành đai kinh tế.
Phát triển đa dạng các hoạt động xuất khẩu tại chỗ như: tạm nhập, tái xuất,
chuyển tải, quá cảnh, uỷ thác, kho ngoại quan và các dịch vụ xuất, nhập khẩu khác...
Phấn đấu đạt tốc độ xuất khẩu bình quân trên 25% giai đoạn 2011- 2020. Đầu tư
xây dựng các khu phi thuế quan tại các khu vực cửa khẩu, các khu kinh tế và các
cửa hàng miễn thuế tại các thành phố, các trung tâm thương mại, trung tâm du lịch
lớn, các sân bay, cảng biển đầu mối... nhằm thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ.
Với những lợi thế từ vị trí địa lý và định hướng chiến lược của Chính phủ,
hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới được dự báo sẽ
tăng trưởng mạnh, phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Hàng hoá XNK chủ yếu
bao gồm:
- Hàng xuất khẩu: Than mỏ, Cao su, Ferro Wolfram, quặng Apatít, sản phẩm
gỗ, hàng nông sản thực phẩm, hàng thuỷ hải sản…
- Hàng nhập khẩu: Xăng dầu, dầu thực vật, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu
gia công sản xuất xuất khẩu, vật tư thiết bị đóng tàu, máy móc thiết bị tạo tài sản cố
định, sản phẩm may mặc, ôtô tải, sơmi rơ mooc, than cốc, phân bón…
- Hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất, kho ngoại quan: Dầu Diesel, thuốc lá,
nguyên liệu sản xuất thuốc lá, rượu, ôtô, thực phẩm đông lạnh, điện tử...
3.1.2.2. Khả năng xảy ra rủi ro trong quản lý Hải quan
Do thay đổi phương pháp quản lý trong bối cảnh các điều kiện đảm bảo chưa
sẵn sàng như: nhận thức, hiểu biết về phương pháp quản lý mới còn hạn chế;
chương trình quản lý còn thiếu, chương trình đã có thì chưa đáp ứng được yêu cầu,
dữ liệu có chưa đáng kể, phương tiện quản lý còn thiếu; kỹ năng thực hiện phương
pháp quản lý mới của phần đông công chức Hải quan còn yếu; một bộ phận đáng kể
chưa sẵn sàng thay đổi… nên khả năng xảy ra rủi ro là khá lớn, cụ thể:
+ Doanh nghiệp khai thấp giá hàng nhập khẩu để giảm số thuế phải nộp sẽ là
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 89 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
xu hướng phổ biến. Khả năng khai cao giá hàng hóa nhập khẩu để tăng phần góp
vốn trong các dự án đầu tư, khai cao giá hàng xuất khẩu để được hoàn thuế nhiều
hơn vẫn tiếp tục xảy ra.
+ Khai sai tên, mã số hàng hóa để trốn thuế hoặc hưởng thuế suất thấp chưa
có khả năng giảm do hệ thống thuế suất vẫn còn nhiều mức và chênh lệch giữa các
mức còn khá lớn.
+ Khai sai định mức sử dụng nguyên liệu đối với loại hình gia công và sản
xuất - xuất khẩu để trốn thuế tiêu thụ nội địa nguyên liệu nhập khẩu có thể là một
vấn đề lớn.
+ Lợi dụng cơ chế ưu đãi thuế như miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, và đầu
tư trong nước và nước ngoài để gian lận, trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế.
+ Gian lận, giả mạo hàng hóa có xuất xứ để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt
là một hiện tượng mới, có thể lan rộng nếu không có biện pháp quản lý hữu hiệu.
3.1.3. Phương hướng, mục tiêu hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải
quan Quảng Ninh đến năm 2017
Để đáp ứng yêu cầu quản lý Hải quan trong quá trình hội nhập kinh tế với
các nước trong khu vực và trên thế giới, Cục Hải quan Quảng Ninh chủ động triển
khai thực hiện:
- Kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại hoá giai đoạn 2012-2017 và các
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh, góp phần đảm bảo an ninh quốc
gia, an toàn xã hội.
- Thủ tục Hải quan chủ yếu thực hiện bằng phương thức điện tử trên nền tảng
ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương
thức quản lý rủi ro.
Mục tiêu đến năm 2017, hoạt động KTSTQ đạt trình độ chuyên nghiệp,
chuyên sâu, hiệu quả, dựa trên nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro; quy trình nghiệp
vụ KTSTQ được chuẩn hóa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin; phân loại
được các doanh nghiệp XNK; kiểm soát được các doanh nghiệp, loại hình, mặt
hàng XNK có rủi ro cao.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 90 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG
QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách về KTSTQ
3.2.1.1 Hoàn thiện pháp luật Hải quan
Cần sớm nghiên cứu một cách tổng thể để tạo ra một khuôn khổ pháp lý
vững chắc và ổn định đối với hoạt động Hải quan nói chung và hoạt động KTSTQ
nói riêng. Trong thời gian tới cần sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan mà nền tảng của
nó phải được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực của Tổ chức Hải quan thế giới và
các thông lệ quốc tế. Mặt khác, pháp luật Hải quan gắn rất chặt chẽ đến các Luật
khác mà cơ quan Hải quan phải tuân thủ và thực thi, nếu chỉ hoàn thiện Luật Hải
quan mà không hoàn thiện các luật khác có liên quan thì sẽ dẫn đến sự thiếu nhất
quán và thiếu minh bạch trong việc thực hiện. Bởi việc mâu thuẫn và thay đổi liên
tục sẽ không chỉ gây khó khăn cho doanh nghiệp mà còn cho cả công chức Hải
quan, dẫn đến rủi ro trong công tác quản lý. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện pháp
luật có liên quan (Luật thương mại, luật quản lý thuế, Luật đầu tư…) cần nghiên
cứu kinh nghiệm của một số quốc gia phát triển và đang phát triển để từng bước mở
rộng phạm vi trách nhiệm ngoài chức năng, nhiệm vụ truyền thống của mình.
Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về KTSTQ theo hướng phù hợp với các chuẩn
mực của WCO và các khuyến nghị của tổ chức Hải quan ASEAN; theo đó mở rộng
đối tượng, phạm vi KTSTQ và thời gian KTSTQ tại trụ sở của doanh nghiệp trên cơ
sở kế hoạch kiểm tra định kỳ và đột xuất của cơ quan Hải quan để đánh giá mức độ
tuân thủ của doanh nghiệp. Mở rộng thẩm quyền cho công chức KTSTQ đặc biệt là
quyền điều tra với các doanh nghiệp đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật về Hải quan;
quyền cưỡng chế không làm thủ tục Hải quan, truy thu thuế… Việc xác định đối
tượng KTSTQ, phạm vi KTSTQ phải được thực hiện trên nền tảng của hệ thống
quản lý rủi ro và quy trình KTSTQ theo chuẩn mực quốc tế…
Tất cả các quy định trên cần xem xét để luật hóa một cách có hệ thống trong
Luật Hải quan khi được sửa đổi một cách cơ bản trong thời gian tới.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 91 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
3.2.1.2. Hoàn thiện pháp luật thuế
Chính sách thuế của Nhà nước là một trong những công cụ quản lý hoạt động
XNK. Trong thời gian qua, Nhà nước đã không ngừng cải cách, sửa đổi, bổ sung
đảm bảo hợp lý, công khai, minh bạch và bình đẳng hơn. Tuy nhiên, ngay trong bản
thân chính sách thuế cũng tiềm ẩn một số yếu tố rủi ro.
Các luật thuế liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của nước ta hiện
nay còn bộc lộ những bất hợp lý, tạo ra nhiều sơ hở trong công tác quản lý, kiểm
tra, kiểm soát và giám sát Hải quan. Việc đánh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế
giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và một số khoản thu khác… có một số loại
hàng hóa phải chịu thuế rất cao, phát sinh một vấn đề là nếu trốn được thuế thì sẽ
thu được một khoản lợi nhuận rất lớn thay vì phải khai báo trung thực với cơ quan
Hải quan. Nhiều doanh nghiệp chấp nhận mạo hiểm, tính toán tìm cách trốn thuế
bằng cách khai báo không trung thực với cơ quan Hải quan; nói cách khác, thuế suất
cao chính là một trong những nguyên nhân hấp dẫn doanh nghiệp gian lận trốn thuế.
Vì vậy, cần nghiên cứu một cách khoa học để định mức thuế suất hợp lý vừa đảm
bảo mức thu hợp lý cho ngân sách nhà nước vừa thúc đẩy sản xuất trong nước cạnh
tranh lành mạnh nhưng đồng thời ngăn chặn gian lận trốn thuế.
Việc đánh thuế vừa theo tính chất mặt hàng vừa theo mục đích sử dụng dẫn
đến chênh lệch giữa đánh thuế theo tính chất mặt hàng với việc đánh thuế theo mục
đích sử dụng rất cao. Việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu cũng đang
là một vấn đề bức xúc bởi doanh nghiệp thường dùng thủ đoạn lập các chứng từ giả,
chứng từ khống hoặc chứng từ có nội dung phản ánh không trung thực nghiệp vụ
kinh tế phát sinh để được hoàn thuế. Một số mặt hàng có thuế suất cao kinh doanh
tại Việt Nam nhưng lại được phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp với nhau cũng
là một kẽ hở để lợi dụng.
Thời hạn nộp thuế được quy định tại các luật thuế hiện nay đang là vấn đề
tiềm ẩn yếu tố rủi ro rất cao, nhiều doanh nghiệp nợ đọng thuế trong hoạt động
XNK lên đến nhiều tỷ đồng nhưng không có khả năng thanh toán ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nguồn thu ngân sách và trong nhiều năm nay cơ quan Hải quan
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 92 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
thường xuyên phải đối mặt với việc “nợ đọng thuế”. Nhiều doanh nghiệp lợi dụng
sơ hở này để kinh doanh một thời gian ngắn chiếm dụng một lượng lớn tiền thuế rồi
bỏ trốn, không hoạt động XNK hoặc thành lập một doanh nghiệp khác để tiếp tục
hoạt động. Yếu tố rủi ro này chỉ có thể hạn chế khi cơ quan Hải quan kiểm soát
được khả năng tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, cần quy định phải nộp thuế ngay
trước khi thông quan hàng hóa hoặc phải ký quỹ như kinh nghiệm của một số nước
đang áp dụng.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự tính, tự nộp thuế nhằm nâng cao tính tự giác
chấp hành pháp luật của người khai Hải quan, đồng thời tăng cường trách nhiệm
của cơ quan Hải quan trong việc tư vấn pháp luật về Hải quan, về thuế. Hoàn thiện
cơ chế nộp thuế, tạo điều kiện cho người khai Hải quan nộp thuế nhanh nhất, thuận
lợi nhất, bằng việc kết nối thông tin, hình thành hệ thống thanh toán qua mạng giữa
các cơ quan Hải quan, ngân hàng, kho bạc và người khai Hải quan.
Mặt khác, chính sách thuế thường xuyên thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của
giao lưu và phát triển thương mại quốc tế và yêu cầu phát triển một số ngành công
nghiệp non trẻ trong nước nhưng việc này cũng tạo ra bất lợi trong việc thực hiện,
ảnh hưởng tới việc tính toán hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một trong
những nguyên tắc quản lý nói chung và chính sách thuế nói riêng là công khai, minh
bạch (bao gồm quyền được biết thông tin và có thể dự đoán trước được).
3.2.1.3. Xây dựng quy trình nghiệp vụ chuẩn
Cần tiếp tục hoàn chỉnh quy trình KTSTQ theo chuẩn mực quốc tế, bao gồm
các bước công việc được thực hiện một cách logic, có cấu trúc và tổ chức chặt chẽ.
KTSTQ áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong các bước về lựa chọn đối tượng
kiểm tra, khảo sát trước khi kiểm tra, kiểm tra tại doanh nghiệp và tập trung chủ yếu
vào nghiệp vụ kiểm tra và rà soát sổ sách, chứng từ của đối tượng KTSTQ.
Hiện nay đã có quy trình nghiệp vụ KTSTQ đối với các doanh nghiệp làm
thủ tục Hải quan theo phương pháp truyền thống, sử dụng hồ sơ giấy; cần tiếp tục
hoàn thiện quy trình và thống nhất áp dụng thực hiện KTSTQ đối với các doanh
nghiệp làm thủ tục thông quan hồ sơ điện tử. Để thực hiện được giải pháp này, Bộ
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 93 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
tài chính và Tổng Cục Hải quan cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới cộng đồng
doanh nghiệp để có sự vào cuộc đồng bộ của cả cơ quan quản lý và cộng đồng
doanh nghiệp trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kết nối thông tin giữa cơ
quan quản lý và doanh nghiệp. Trên cơ sở đó xây dựng quy trình nghiệp vụ chuẩn
thống nhất áp dụng trong hoạt động KTSTQ cũng như phục vụ yêu cầu quản lý Hải
quan trên địa bàn.
Cùng với việc chuẩn hoá quy trình KTSTQ, các chương trình quản lý nghiệp
vụ khác tại khâu thông quan cũng phải được hoàn thiện và kết nối với KTSTQ.
Hiện nay, Hải quan Việt Nam đang tiến hành chạy thử, thí điểm dự án
VNACCS/VCIS (Hệ thống thông quan tự động/dữ liệu thông tin tình báo) do Chính
phủ Nhật bản viện trợ không hoàn lại; theo kế hoạch đến 01/4/14 hệ thống thông
quan tự động chính thức đi vào thực hiện và với các thông tin, dữ liệu điện tử được
cung cấp từ khâu thông quan sẽ hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động KTSTQ.
3.2.1.4. Cơ chế đãi ngộ đối với lực lượng kiểm tra sau thông quan
KTSTQ là hoạt động nghiệp vụ khó và có tính chất phức tạp, phải tiếp xúc,
trao đổi với nhiều đơn vị, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xác minh, thu
thập thông tin các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Công chức KTSTQ hoạt
động trong môi trường khó khăn, nhưng đến nay các chế đãi ngộ vẫn chưa có quy
định cụ thể, khuyến khích động viên trong công việc.
Do vậy, trước mắt, để kịp thời động viên công chức làm công tác KTSTQ,
Tổng Cục Hải quan cần trình Bộ tài chính cho phép lực lượng KTSTQ được hưởng
nguồn kinh phí trích lập được từ kết quả truy thu số thuế ẩn lậu qua hoạt động
KTSTQ. Về lâu dài, Tổng Cục Hải quan cần báo cáo Bộ tài chính trình Chính phủ
cho phép Ngành Hải quan được trích thành lập quỹ “Hỗ trợ KTSTQ” từ nguồn thuế
truy thu được qua kết quả KTSTQ.
Chế độ ưu đãi, thăng thưởng cho công chức KTSTQ không chỉ được thực
hiện bằng vật chất. Các quy định cụ thể về việc thăng tiến trong công việc, cơ hội
được đào tạo trong nước và nước ngoài, chế độ thi đua khen thưởng cũng cần được
vận dụng triệt để, trong khuôn khổ luật pháp quy định. Khi công chức KTSTQ đạt
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 94 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
thành tích tốt, cần có các chế độ như: Thăng tiến, đề bạt; Thưởng tiền, bằng khen,
giấy khen, danh hiệu thi đua; Cơ hội được cử đi học tập nâng cao trình độ....
Cùng với việc quy định chế độ ưu đãi, khen thưởng cụ thể, Tổng Cục Hải
quan cũng phải có những quy định kỷ luật nghiêm khắc đối với những công chức
KTSTQ có hành vi trái pháp luật, gây tổn hại cho doanh nghiệp hoặc có hành vi tiêu
cực cấu kết với doanh nghiệp để làm sai lệch kết quả KTSTQ.
3.2.2. Tiếp tục hoàn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng lực lượng kiểm tra sau
thông quan theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu
3.2.2.1. Kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy kiểm tra sau thông quan phù hợp, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ
Cục Hải quan Quảng Ninh và lãnh đạo Hải quan các cấp cần xác định đúng
vai trò, vị trí của hoạt động KTSTQ trong nghiệp vụ Hải quan. Rà soát, chọn lựa bổ
sung những chuyên gia giỏi, những công chức có kinh nghiệm thực tiễn KTSTQ,
chú trọng về năng lực, trình độ tham mưu và khả năng tác chiến, kiểm tra độc lập
trong hoạt động KTSTQ, đặc biệt là trình độ kiểm toán và năng lực điều tra xác
minh. Trước mắt, cần điều động, tuyển chọn đủ số công chức làm công tác KTSTQ,
kể cả số công chức ngoài ngành có năng lực, trình độ theo quy định của Tổng Cục
Hải quan. Sắp xếp lại cơ cấu của Chi cục KTSTQ theo hướng chuyên sâu, chia
thành 2 nhóm: (i) nhóm điều tra xác minh, thu thập thông tin; (ii) nhóm tiến hành
kiểm tra sau thông quan trực tiếp. Cần sắp xếp quản lý kết hợp chuyên sâu với quản
lý theo địa bàn, do đặc thù của hoạt động KTSTQ, nên việc bố trí công chức
KTSTQ phải dựa trên một số nguyên tắc chủ yếu sau:
+ Việc sắp xếp phải đảm bảo chuyên môn hóa, tính chuyên nghiệp cao, về
lâu dài sẽ hình thành một số đội ngũ chuyên gia trong một số lĩnh vực nghiệp vụ
cơ bản.
+ Công chức KTSTQ cần phải kinh qua các công tác trong ngành đặc biệt là
các lĩnh vực chuyên môn có liên quan như: thủ tục Hải quan, quản lý thuế, điều tra
chống buôn lậu,…
+ Việc bố trí công chức KTSTQ vào một số vị trí cụ thể phải được qua
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 95 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
đào tạo về lĩnh vực đó, phù hợp với chuyên môn đào tạo, năng lực, sở trường của
công chức.
+ Kết hợp việc chuyên môn hóa với việc đào tạo cho công chức KTSTQ có
được những kiến thức tổng hợp; kết hợp với công chức có kinh nghiệm, công chức
từ các bộ phận khác luân chuyển sang và công chức mới.
Đối với các Chi Cục Hải quan cửa khẩu làm nhiệm vụ thông quan, thông qua
công tác phúc tập hồ sơ và quản lý Hải quan trên địa bàn để phát hiện và ngăn chặn
các vi phạm về Hải quan, đây là một trong những nguồn cung cấp thông tin quan
trọng để thực hiện các quyết định KTSTQ. Do vậy cần bố trí một đội ngũ công chức
có năng lực kiểm tra, và phát hiện các dấu hiệu vi phạm để phục vụ công tác
KTSTQ cũng như xử lý các vi phạm trong phạm vi thẩm quyền của cấp Chi cục.
3.2.2.2. Chuẩn hoá đội ngũ công chức kiểm tra sau thông quan, đổi mới công tác
đào tạo theo hướng chuyên sâu các lĩnh vực nghiệp vụ
- Để hoạt động KTSTQ đạt kết quả cao, đòi hỏi công chức KTSTQ cần được
đào tạo đầy đủ, đồng thời phải tự mình nâng cao năng lực, kiến thức và kỹ năng cơ
bản sau:
+ Nắm vững và thực hiện đúng pháp luật Hải quan, các quy định và quy trình
thủ tục Hải quan: Công chức KTSTQ phải nắm chắc Luật Hải quan, các Luật thuế
và các văn bản hướng dẫn, đặc biệt phải nắm chắc các quy định cụ thể về: nguyên
tắc xác định trị giá, quy tắc xuất xứ, phân loại và áp mã hàng hóa,… nhằm phát hiện
những gian lận và sai sót trong việc khai báo khi làm thủ tục Hải quan.
+ Hiểu biết quy trình tiến hành một hoạt động kinh doanh thương mại quốc
tế: Theo hiệp định trị giá GATT, trị giá Hải quan phải dựa trên những tiêu chí cơ
bản và hợp lý phù hợp với thông lệ thương mại. Do đó, công chức KTSTQ cần
thông thạo thông lệ trong kinh doanh thương mại quốc tế.
+ Vận dụng thành thạo kỹ thuật và nguyên tắc kế toán: Để tiến hành các
bước kiểm tra rà soát chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính, công chức KTSTQ
cần được trang bị đầy đủ kiến thức về kế toán.
+ Sử dụng các chuẩn mực và quy trình thủ tục kiểm toán: Vì KTSTQ thực
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 96 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
chất là sử dụng kỹ năng kiểm toán, vì vậy công chức KTSTQ phải thông thạo kỹ
năng kiểm toán.
+ Áp dụng các kỹ năng công nghệ thông tin: Hiện nay, các hoạt động trong
giao dịch quốc tế như hạch toán kế toán, kiểm kê, bán hàng, định giá,… đều được
thực hiện thông qua hệ thống máy tính. Vì vậy, công chức KTSTQ phải có đủ khả
năng kiểm tra trên hệ thống máy tính của doanh nghiệp.
+ Thành thạo ngoại ngữ: Vì ngôn ngữ chủ yếu trong thương mại quốc tế hiện
nay là tiếng Anh và một số ngoại ngữ thông dụng như tiếng Pháp, tiếng Trung
Quốc, một số tiếng của các nước láng giềng nên yêu cầu ngoại ngữ là không thể
thiếu được đối với mỗi công chức KTSTQ nhằm giúp họ hiểu được nội dung các
thư tín thương mại và các chứng từ khác liên quan đến giao dịch thương mại.
+ Công chức KTSTQ phải nhiệt tình, chịu khó và tâm huyết với nghề
nghiệp: KTSTQ là một trong những công việc khó khăn và vất vả, công chức
KTSTQ cần hiểu được tầm quan trọng của KTSTQ và phải có tâm huyết với công
việc này.
- Cùng với việc củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy, tăng cường biên chế
của lực lượng KTSTQ đạt 10% biên chế toàn Cục Hải quan Quảng Ninh; công tác
đào tạo và đào tạo lại cũng phải được đẩy mạnh và nâng cao hơn để phù hợp với
tiến trình hiện đại hóa ngành Hải quan. Các công việc cụ thể được tiến hành như
sau:
+ Tiếp tục mở các lớp đào tạo có chuyên gia hướng dẫn, cử công chức đi
nghiên cứu, học tập ở nước ngoài bằng nguồn tài trợ và nguồn ngân sách nhà nước.
+ Thông qua tài liệu KTSTQ, kinh nghiệm thực tiễn của các nước, kết hợp
với các quy định của pháp luật về KTSTQ và thực tiễn tiến hành công tác KTSTQ
trong thời gian vừa qua, cần xây dựng một bộ giáo trình chuẩn phục vụ công tác đào
tạo về KTSTQ.
+ Cử cán bộ đi thực tế tại các nước đã thực hiện tốt và có kinh nghiệm
KTSTQ.
- Về phương pháp cần kết hợp đào tạo tại chỗ và đào tạo tập trung:
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 97 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
+ Đào tạo tại chỗ là việc đào tạo do các công chức lâu năm, có kinh nghiệm
đào tạo cho cán bộ cấp dưới, cán bộ mới được tuyển dụng hoặc ít có kinh nghiệm;
việc đào tạo này được tổ chức ngay tại đơn vị.
+ Đào tạo tập trung là việc đào tạo được tổ chức trong một khoảng thời gian
nhất định tại một địa điểm nhất định do Tổng Cục Hải quan hoặc Cục Hải quan tỉnh
tiến hành đào tạo, việc đào tạo này tách ra khỏi công việc hàng ngày.
- Về nội dung đào tạo, cần ưu tiên cho việc đào tạo các kiến thức và kỹ năng
về chuyên môn như:
+ Kiến thức pháp luật về Hải quan, về thuế và pháp luật khác có liên quan
đến hoạt động thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế.
+ Kiến thức về kế toán, kiểm toán: trước mắt cần ưu tiên để phổ cập kiến
thức cơ bản về kế toán cho tất cả công chức KTSTQ, nâng cao kiến thức về kế toán,
một số chương trình kế toán cơ bản trên máy vi tính. Lựa chọn một số công chức có
kiến thức chuyên môn sâu về kế toán để đào tạo tiếp về kiểm toán, để hình thành
đội ngũ kiểm toán viên Hải quan trong tương lai.
+ Kiến thức về công nghệ tin học, ngoại ngữ: trước mắt cần ưu tiên cho số
công chức trực tiếp kiểm tra tại doanh nghiệp, về lâu dài phổ cập cho tất cả công
chức trong lực lượng KTSTQ.
+ Trong điều kiện hiện nay, khi mà chúng ta đang chuyển dần từ “tiền kiểm”
sang “hậu kiểm” cũng đồng nghĩa với việc giảm tiếp xúc giữa công chức Hải quan
ở khâu thông quan nhưng lại tăng cường tiếp xúc giữa công chức Hải quan ở khâu
KTSTQ với doanh nghiệp tại trụ sở doanh nghiệp, đây là môi trường dễ xảy ra tiêu
cực. Vì vậy, bên cạnh việc đào tạo kiến thức về chuyên môn cần quan tâm đúng
mức đến việc đào tạo cho công chức KTSTQ một số chuẩn mực về đạo đức: Tính
trung thực, liêm khiết; trang phục gọn gàng, tác phong nhanh nhẹn; thái độ tận tình,
nhận thức trách nhiệm cao trong công việc; tránh những hành vi tiêu cực mà xã hội
không cho phép. Kết quả của công tác đào tạo phải là một đội ngũ công chức có
trình độ cao, có kinh nghiệm thực tiễn, có lòng nhiệt tình công tác và đạo đức nghề
nghiệp cao. Việc đào tạo này không chỉ tập trung vào đội ngũ mới tuyển dụng mà
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 98 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
còn đào tạo lại, bổ sung, cập nhật kiến thức cho cả đội ngũ công chức đã có thâm
niên công tác.
3.2.3. Hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro
trong hoạt động kiểm tra sau thông quan
3.2.3.1. Hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật cho hoạt động kiểm tra sau thông
quan
Xây dựng mới trụ sở cho Chi cục KTSTQ đảm bảo điều kiện làm việc (bao
gồm cả nơi tiếp và làm việc với doanh nghiệp), nhất là trong bối cảnh biên chế đang
được tăng cường trong giai đoạn hiện nay.
Trang bị đầy đủ các phương tiện làm việc (bàn, ghế làm việc, tủ tài liệu, máy
vi tính… cho công chức KTSTQ), phương tiện đi lại (xe máy, xe ô tô…) phục vụ
công tác xác minh, điều tra. Đồng thời, đầu tư trang thiết bị trang thiết bị như: máy
ghi âm, máy ghi hình, máy tính xách tay, máy giám định tài liệu.
3.2.3.2. Đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra sau thông
quan
Quan tâm đầu tư và trang bị đúng mức đến hệ thống thông tin và cơ sở dữ
liệu phục vụ KTSTQ mà trọng tâm là thông tin liên quan đến các đối tượng
KTSTQ, thông tin liên quan đến hàng hóa XNK và các thông tin khác liên quan đến
hoạt động KTSTQ. Các thông tin này phải được cập nhật thường xuyên và có hệ
thống từ các đơn vị trong ngành Hải quan, trong ngành tài chính, từ các cơ quan
quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước và thông tin từ nước ngoài.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các phần mềm chương trình quản lý, phục
vụ cho yêu cầu quản lý và hoạt động KTSTQ. Tập trung đánh giá, phân loại mức độ
tuân thủ pháp luật doanh nghiệp; xác định và kiểm tra đối với những doanh nghiệp,
loại hình và mặt hàng trọng điểm (rủi ro cao), trong đó chú trọng kiểm tra về giá,
định mức hàng gia công và sản xuất - xuất khẩu, mã số hàng hoá, xuất xứ ASEAN,
các ưu đãi về thuế. Tiến tới xây dựng hệ thống lựa chọn đối tượng kiểm tra tự động,
dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu và công nghệ thông tin tiên tiến; tăng cường ứng
dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong mô hình nghiệp vụ KTSTQ.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 99 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Quản lý doanh nghiệp là một bước tiến mới trong công tác Hải quan, đó là
việc chuyển công tác quản lý tại một thời điểm sang quản lý một quá trình chấp
hành pháp luật Hải quan của doanh nghiệp. Về lâu dài, ngành Hải quan cần phải có
một hệ thống dữ liệu thông tin riêng, thống nhất, không những chỉ quản lý về nhân
thân doanh nghiệp XNK mà còn phải nắm bắt được đầy đủ các thông tin về hàng
hóa XNK (đối với hàng hóa nhập khẩu kể từ khi được đưa lên tàu, hành trình
chuyên chở cho đến khi cập cảng và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa đó, đối với hàng
hóa xuất khẩu từ trong quá trình sản xuất đến quá trình giao dịch, trao đổi mua bán
xuất qua cầu tầu ra nước ngoài). Để thực hiện được, khâu quan trọng nhất là cần
phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu với các đơn vị quản lý khác.
Kỹ thuật quản lý rủi ro được áp dụng trong cả quy trình nghiệp vụ KTSTQ
và cả trong việc quản lý, tổ chức thực hiện. Trong những năm gần đây, ngành Hải
quan nói chung và Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng đặc biệt quan tâm đến quản
lý nội bộ, việc sử dụng công chức KTSTQ có năng lực và được đào tạo sẽ thực sự
hiệu quả đối với quản lý rủi ro. Sự đào tạo và kinh nghiệm phù hợp sẽ cho phép
công chức KTSTQ xác định ra những rủi ro cố hữu trong những tình huống nhất
định và vạch ra những hành động khắc phục phù hợp nhất.
3.2.4. Xây dựng chương trình và tăng cường công tác phối hợp với các tổ chức,
cá nhân phục vụ kiểm tra sau thông quan
3.2.4.1. Tăng cường công tác phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành cả
chiều sâu và chiều rộng
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp phục vụ KTSTQ có ý nghĩa rất quan
trọng, quyết định hiệu quả hoạt động KTSTQ. Thực tế hiện nay tại Cục Hải quan
Quảng Ninh đã có quy chế phối hợp phục vụ hoạt động KTSTQ giữa các đơn vị
thuộc và trực thuộc Cục; tuy nhiên việc phối hợp phải được thực hiện thường
xuyên, với tinh thần trách nhiệm cao mới phát huy hết được hiệu quả của hoạt động
KTSTQ.
Trong những năm qua, mặc dù đã có quy chế phối hợp giữa ba ngành Thuế -
Hải quan - Kho bạc nhà nước, tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn có những
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 100 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
khó khăn bất cập tiếp tục cần có giải pháp tháo gỡ. Chủ yếu là những vẫn đề sau: (i)
Hình thành mạng thông tin trực tuyến giữa các cơ quan Thuế - Hải quan - Kho bạc
nhà nước; (ii) trang bị đủ máy móc thiết bị cho các cơ quan này để cung cấp, trao
đổi thông tin; (iii) chuẩn hóa các thông tin liên quan đến quản lý doanh nghiệp; (iiii)
hệ thống thông tin phải được cập nhật thường xuyên liên tục.
Cần chủ động trong việc phối hợp với các ngành có liên quan đến quản lý
hoạt động xuất nhập khẩu như: Công thương, Công an, Y tế, Giao thông vận tải…
Trước mắt, cần ban hành quy chế phối hợp cung cấp thông tin và phối hợp KTSTQ.
Mặt khác, phối hợp với các hiệp hội ngành, nghề để chủ động tuyên truyền cho
doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật nói chung và pháp luật Hải quan nói riêng tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.
Cùng với việc đẩy mạnh công tác xây dựng khung pháp lý phối hợp, ngành
Hải quan cần đầu tư cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, con người... phục vụ cho
công tác xây dựng hệ thống thông tin nối mạng dữ liệu cung cấp thông tin trực tiếp
với các cơ quan này như đã nói ở trên. Có như vậy, thông tin phục vụ cho hoạt động
KTSTQ mới được toàn diện, đầy đủ, khách quan, nhanh chóng và chính xác.
3.2.4.2. Tăng cường hợp tác quốc tế
Hoạt động XNK, đầu tư nhiều khi có liên quan trực tiếp đến yếu tố nước
ngoài. Nhiều lô hàng chỉ có thể xác minh làm rõ trên cơ sở tiến hành xác minh tại
nước ngoài nhờ vào sự trợ giúp của cơ quan Hải quan các nước trong khu vực và
trên thế giới đã có ký kết thoả thuận hợp tác với Hải quan Việt Nam. Công tác này
cần phải được triển khai nhanh chóng vừa phục vụ cho việc đấu tranh, kiểm tra các
trường hợp phải xác minh ở nước ngoài, vừa học hỏi kinh nghiệm của Hải quan các
nước theo định hướng sau:
+ Hợp tác về trao đổi thông tin.
+ Hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ về đào tạo nhân lực cho công chức KTSTQ,
đặc biệt là các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới đã có quá trình
và kinh nghiệm thực hiện biện pháp KTSTQ.
+ Hợp tác tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và công
nghệ trong hoạt động KTSTQ.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 101 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
3.2.5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kiểm tra sau
thông quan
3.2.5.1. Đối với trong ngành Hải quan
Hoạt động KTSTQ mới được đưa vào triển khai thực hiện trong ngành Hải
quan từ năm 2002. Thực tế, một số đơn vị trực thuộc Cục Hải quan Quảng Ninh nói
riêng và ngành Hải quan nói chung hiện nay cũng chưa hiểu hết ý nghĩa và vai trò
của công tác KTSTQ. Nhiều đơn vị có tâm lý e ngại, sợ ảnh hưởng đến chính cán
bộ, công chức của mình khi tiến hành KTSTQ phát hiện có sai phạm. Do vậy,
Ngành Hải quan cần phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng tuyên
truyền phổ biến, không những cho công chức làm công tác KTSTQ mà còn cho
công chức Hải quan thuộc các đơn vị chức năng khác để ủng hộ, triển khai được
đồng bộ và có hiệu quả.
3.2.5.2. Đối với cộng đồng doanh nghiệp
Việc triển khai áp dụng mô hình KTSTQ của Ngành Hải quan sẽ tạo thông
thoáng tối đa cho hoạt động XNK, giảm thiểu thời gian và chi phí đi lại cho các
doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo quản lý Hải quan chặt chẽ theo đúng quy định
của pháp luật. Do vậy, Ngành Hải quan cần phải có chiến lược tuyên truyền cho
cộng đồng doanh nghiệp để họ hiểu được những lợi ích khi áp dụng biện pháp
KTSTQ cũng như xây dựng được mối quan hệ cộng đồng trách nhiệm, khuyến
khích doanh nghiệp làm ăn chính đáng. Ngoài ra, cần tiếp tục tăng cường tuyên
truyền cả về nghiệp vụ và kết quả của hoạt động KTSTQ trên các phương tiện thông
tin đại chúng để cộng đồng doanh nghiệp có thêm thông tin, hiểu hoạt động
KTSTQ, ủng hộ hoạt động KTSTQ, góp phần nâng cao vị thế và vai trò của công
tác quản lý nhà nước về Hải quan.
Tuyên truyền là công tác mang tính lâu dài và cần được cập nhật liên tục
theo quá trình phát triển của Ngành Hải quan, do đó rất khó để đưa ra một thời hạn
hoàn thành cụ thể. Tuy nhiên, cũng có thể xác định việc xây dựng các văn bản và
tuyên truyền các văn bản theo từng thời kỳ để đảm bảo mục tiêu thực hiện nhiệm vụ
trong thời kỳ đó. Để đảm bảo công tác tuyên truyền, Cục Hải quan Quảng Ninh nói
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 102 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
riêng và ngành Hải quan nói chung cần tiến hành phổ biến tới các đơn vị thuộc
phạm vi đối tượng KTSTQ tại mọi thời điểm thích hợp trong quá trình tác nghiệp.
3.3. KIẾN NGHỊ
3.3.1. Kiến nghị chung
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả từ khi có chủ trương, đường lối đổi mới
của Đảng và Nhà nước về kinh tế và liên hệ với lĩnh vực Hải quan; đặc biệt kể từ
khi thực hiện Luật Hải quan năm 2001 và trong bối cảnh trước và sau khi Việt Nam
là thành viên của tổ chức thương mại Quốc tế WTO. Đề xuất Đảng và Nhà nước có
những quyết sách xác định mục tiêu của Hải quan Việt Nam đến năm 2020 đạt trình
độ ngang bằng với các nước phát triển trên thế giới; hoạt động Hải quan dựa trên
nền tảng các chuẩn mực tiên tiến trên thế giới, tạo ra các dịch vụ tốt nhất cho các
doanh nghiệp thúc đẩy hoạt động XNK, đầu tư và du lịch phát triển, đồng thời đảm
bảo an ninh quốc gia và giám sát việc tuân thủ pháp luật. Trong đó, hoạt động
KTSTQ phải đạt được các chuẩn mực thế giới theo hướng “Chuyên sâu, chuyên
nghiệp và hiệu quả”. Tạo sự nhất quán và thống nhất cao về chủ trương, đường lối
của Đảng và chính sách của Nhà nước trong công tác quản lý Hải quan. Cũng như
việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn
thể, từ trung ương đến địa phương đối với hoạt động Hải quan.
3.3.2. Kiến nghị Quốc hội
Xây dựng hệ thống pháp luật Hải quan hoàn chỉnh mà trọng tâm là Luật Hải
quan (hiện đang trong giai đoạn dự thảo sửa đổi). Kết cấu nội dung chi tiết phải phù
hợp và tuân thủ các yêu cầu của Công ước KYOTO sửa đổi, bổ sung và WTO.
Trong đó, các nội dung cơ bản của hoạt động KTSTQ phải được đề cập cụ thể trong
Luật này.
Tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật quản lý thuế, Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng: Xây dựng Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu; mức
thuế suất, thuế nhập khẩu; lộ trình giảm thuế phù hợp với tiến trình tham gia các tổ
chức kinh tế quốc tế và đặc biệt là quy định của WTO; tiếp tục nội luật hóa các quy
định của Hiệp định trị giá GATT; hạn chế và sử dụng có hiệu quả các chính sách
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 103 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
miễn thuế, giảm thuế và hoàn thuế phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời ngăn
chặn sơ hở dễ bị lợi dụng gây thất thu thuế cho ngân sách nhà nước; cơ chế khuyến
khích doanh nghiệp tự khai, tự tính, tự nộp, tự nguyện tuân thủ pháp luật về thuế.
Sửa đổi bổ sung Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính về một số nội dung quy
định còn thiếu, chưa phù hợp với thực tế của hoạt động Hải quan theo hướng đã
điều chỉnh, sửa đổi Luật Hải quan và Luật quản lý thuế:
- Cần quy định rõ ràng các hành vi sau: nhầm lẫn, sai sót; gian lận, trốn thuế;
hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trốn tránh, từ chối, cản trở hoạt động KTSTQ
hoặc không cung cấp thông tin tài liệu cần thiết cho việc kiểm tra của cơ quan Hải
quan.
- Tăng mức phạt của một số hành vi vi phạm hành chính về Hải quan để đảm
bảo nâng cao tính tuân thủ pháp luật.
3.3.3. Kiến nghị Chính phủ:
Chính phủ cần xây dựng cơ chế thực thi pháp luật Hải quan đồng bộ, hoàn
chỉnh. Tổng Cục Hải quan với vai trò là cơ quan đầu mối cùng với sự tham gia của
Bộ tài chính, các ngành có liên quan và cộng đồng doanh nghiệp theo cơ chế một
cửa quốc gia, tiến tới áp dụng cơ chế một cửa ASEAN. Theo đó, doanh nghiệp làm
thủ tục XNK chỉ cần đến cơ quan Hải quan để làm thủ tục và nhận quyết định thông
quan. Các công việc đó có liên quan đến các cơ quan khác được hệ thống này
chuyển đến các cơ quan có liên quan xử lý; cơ chế này thực hiện ở tầm khu vực thì
hàng hóa XNK khi hoàn tất thủ tục Hải quan tại một nước sẽ được các nước khác
chấp nhận mà không phải tiếp tục làm thủ tục như hiện nay. Đây cũng là điều kiện
thuận lợi cho hoạt động KTSTQ phát triển để tăng cường hiệu lực, hiệu quả công
tác quản lý Hải quan.
3.3.4. Kiến nghị Bộ Tài chính và Tổng Cục Hải quan:
- Kiến nghị Bộ Tài chính: Có sự đầu tư thích đáng để hoàn thiện hệ thống
thông tin sử dụng chung trong ngành tài chính; trước mắt là giữa các cơ quan tài
chính, kho bạc, thuế và Hải quan, đảm bảo thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác
tiến tới triển khai tới các ngành khác có liên quan.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 104 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
- Kiến nghị Tổng Cục Hải quan:
Tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy trình thủ tục về KTSTQ tại trụ sở doanh
nghiệp cho thống nhất với chuẩn mực của Hải quan ASEAN và phù hợp với Luật
Hải quan sửa đổi.
Phê duyệt kế hoạch biên chế cho hệ thống KTSTQ trong toàn ngành từ nay
đến năm 2020 để chủ động trong việc tuyển dụng, đào tạo công chức cho phù hợp
với tiêu chuẩn quy định. Cần đánh giá lại đội ngũ công chức và sắp xếp lại theo
hướng chuyên sâu, chuyên môn hóa cao; đẩy nhanh công tác đào tạo và đạo tạo lại
để có được những chuyên gia trong một số lĩnh vực chuyên môn chủ yếu: kiểm tra
trị giá Hải quan; kiểm tra mã số, thuế suất hàng hóa; kiểm tra đối với loại hình gia
công sản xuất xuất khẩu; kiểm tra về lĩnh vực chính sách thương mại và lĩnh vực
phân tích và xử lý thông tin.
Tiếp tục hoàn thiện chế độ doanh nghiệp ưu tiên; đồng thời, đổi mới về nội
dung, phương thức tuyên truyền phổ biến pháp luật về Hải quan, pháp luật về thuế
và pháp luật khác có liên quan đối với cộng đồng doanh nghiệp.
3.3.4. Kiến nghị UBND tỉnh Quảng Ninh:
Chỉ đạo các ngành và UBND các địa phương phối hợp chặt chẽ với Cục Hải
quan Quảng Ninh đảm bảo thực hiện đồng bộ chính sách của Nhà nước, của tỉnh để
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK, đầu tư, du lịch.... Đồng thời đề ra các
giải pháp tăng cường công tác quản lý của các ngành, các cấp; xây dựng cơ chế phối
hợp trong quản lý, chống thất thu cho NSNN trên địa bàn. Thành lập các đoàn công
tác liên ngành thu đòi nợ đọng thuế; đưa ra xét xử một số vụ án điểm liên quan đến
các đối tượng buôn lậu, trốn thuế, các doanh nghiệp trây ỳ nợ thuế…
3.3.5. Kiến nghị Cục Hải quan Quảng Ninh:
Rà soát, tăng cường biên chế đáp ứng các yêu cầu về năng lực, trình độ cho
lực lượng KTSTQ đạt tỷ lệ 10% tổng biên chế của Cục Hải quan tỉnh.
Ký quy chế phối hợp với các ngành trong khối nội chính để phối hợp cung
cấp thông tin, hỗ trợ lực lượng khi cần thiết trong hoạt động KTSTQ.
Chấn chỉnh, chỉ đạo các Chi Cục Hải quan cửa khẩu có biện pháp nâng cao
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 105 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
chất lượng công tác phúc tập hồ sơ Hải quan để kịp thời phát hiện, xử lý các sai sót
và cung cấp các thông tin phục vụ hoạt động KTSTQ.
Bổ sung trang thiết bị, cơ sở vật chất cho lực lượng KTSTQ, có kế hoạch đầu
tư xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động KTSTQ như: Máy
giám định tài liệu, ô tô, máy tính… Quan tâm chế độ đãi ngộ đối với công chức
KTSTQ, trước mắt đề nghị có phụ cấp đặc thù cho lực lượng KTSTQ như các lực
lượng làm công tác kiểm soát CBL, công tác tin học. Lâu dài, đề nghị các cấp có
thẩm quyền có cơ chế trích thưởng từ kết quả KTSTQ như lực lượng thanh tra,
kiểm toán.
Với những đề xuất của đề tài, vừa có tính trước mắt đồng thời cũng có tính
lâu dài, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc cải
cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan, từng bước nâng cao chất lượng và
hiệu quả hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh cũng như hoạt động
KTSTQ của Ngành Hải quan.
Trong quá trình phân tích các nội dung của đề tài, Luận văn đã được các thầy
cô và các bạn đồng nghiệp giúp đỡ và góp ý. Chắc chắn rằng, do khả năng và điều
kiện còn nhiều hạn chế, Luận văn không thể tránh được những khiếm khuyết. Tác
giả Luận văn rất mong nhận được các ý kiến đóng góp để nội dung đề tài được thiết
thực hơn.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 106 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
KẾT LUẬN
KTSTQ là một nghiệp vụ khó, mang tính tổng hợp cao và mới được đưa vào
thực hiện trong Ngành Hải quan, việc nghiên cứu để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
của công tác này trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa và phát triển Ngành Hải
quan là yêu cầu cấp bách và tất yếu trong giai đoạn hiện nay.
Việc nghiên cứu hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh với mục
đích phục vụ nghiên cứu, nhằm tìm ra những giải pháp tối ưu nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng và Ngành Hải
quan nói chung. Hiệu quả của hoạt động KTSTQ sẽ góp phần vào việc thay đổi
phương thức hoạt động, phương thức quản lý của Ngành Hải quan, chuyển từ
phương thức quản lý truyền thống sang phương thức quản lý hiện đại ứng dụng kỹ
thuật quản lý rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, góp phần vào thực hiện
thành công sự nghiệp cải cách và hiện đại hóa của ngành, đưa Hải quan Việt Nam
trở thành một cơ quan Hải quan mang chuẩn mực quốc tế. Với ý nghĩa như vậy,
bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học, Luận văn thạc sỹ kinh tế với đề tài
“Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan
tại Cục Hải quan Quảng Ninh” đã đạt được những kết quả như sau:
Một là, làm rõ được một số nội dung có liên quan đến khái niệm, đặc điểm
về KTSTQ, từ đó xác định vai trò và vị trí của KTSTQ đối với Ngành Hải quan; xác
định được tính tất yếu phải tăng cường hoạt động KTSTQ trong giai đoạn hiện nay.
Đồng thời, xem xét một số kinh nghiệm trong hoạt động KTSTQ của Hải quan các
địa phương có đặc thù tương đồng với Cục Hải quan Quảng Ninh để làm cơ sở thực
tiễn, bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động
KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh.
Hai là, đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh
từ năm 2007 đến nay; so sánh kết quả đạt được với các yêu cầu đặt ra đối với hoạt
động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh để tìm ra những tồn tại, hạn chế. Kết
hợp với việc phân tích, đánh giá các yếu tố bên trong, bên ngoài để tìm ra nguyên
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 107 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
nhân của những tồn tại, hạn chế đó.
Ba là, trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan
Quảng Ninh và kinh nghiệm hoạt động KTSTQ của Hải quan một số địa phương đã
đề xuất một số giải pháp cơ bản để từng bước hoàn thiện hoạt động KTSTQ tại Cục
Hải quan Quảng Ninh nói riêng và Ngành Hải quan nói chung. Những giải pháp chủ
yếu đó là:
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách về KTSTQ;
- Tiếp tục hoàn chỉnh bộ máy và xây dựng lực lượng KTSTQ theo hướng
chuyên nghiệp, chuyên sâu;
- Hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong
hoạt động KTSTQ;
- Xây dựng chương trình và tăng cường công tác phối hợp với các tổ chức, cá
nhân phục vụ KTSTQ;
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về KTSTQ.
Đồng thời, luận văn cũng đề xuất kiến nghị với Đảng, Quốc hội, Chính phủ,
Bộ tài chính, Tổng Cục Hải quan, UBND tỉnh Quảng Ninh và Cục Hải quan Quảng
Ninh một số nội dung chính.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 108 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Danh mục tài liệu tiếng Việt
Châu 1. Đậu Ngọc Châu, Nguyễn Viết Lợi (2006), Giáo trình lý thuyết kiểm toán, Nxb
Tài chính, Hà Nội.
Chi 14 2. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Quảng Ninh, Báo cáo tổng
kết các năm 2007, 2008, 2009, 2010, 2011.
Chi 15 3. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Quảng Ninh, Báo cáo chống
thất thu thuế trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan năm 2011.
Chi 6 4. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Lạng Sơn, Báo cáo tổng kết
các năm 2009, 2010, 2011.
Chi 7 5. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Lào Cai, Báo cáo tổng kết
các năm 2009, 2010, 2011.
Chi 8 6. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Thanh Hoá, Báo cáo tổng kết
các năm 2009, 2010, 2011.
Cục 1 7. Cục Kiểm tra sau thông quan (2006), Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông
quan của Hải quan Việt Nam, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 08-N2005.
Cục 9 8. Cục Hải quan Quảng Ninh (2005), Lịch sử Hải quan Quảng Ninh.
Dang 10 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Dang 11 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Dang 12 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Dang 13 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Học 3 13. Học viện Tài chính (2004), Giáo trình kiểm toán, Nxb Tài chính, Hà Nội.
Hồng 14. Ánh Hồng (2008), “Cán bộ kiểm tra sau thông quan: Tiêu chuẩn đi liền với
chất lượng”, Báo Hải quan, 86(339), tr.4.
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 109 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
Hồng 15. Ánh Hồng (2008), “Hải quan Đồng Nai: Kinh nghiệm trong phúc tập hồ sơ
phục vụ kiểm tra sau thông quan”, Báo Hải quan, 94(407), tr.4, 11.
Hồng 2 16. Nguyễn Viết Hồng (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra
sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cải cách, phát triển, hiện đại
hoá Hải quan, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Tổng Cục Hải
quan.
Hữu 17. Phạm Ngọc Hữu (2003), Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, Tổng Cục Hải
quan - Tài liệu nghiệp vụ lưu hành nội bộ.
Luật 5 18. Luật Hải quan (2005), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Minh 19. Trần Vũ Minh (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau
thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cải cách, phát triển và hiện đại
hóa Hải quan, Cục Kiểm tra sau thông quan, Đề tài NCKH cấp ngành mã
số 09-N2004.
Minh 20. Trần Vũ Minh (2005), Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải
quan Việt Nam, Cục Kiểm tra sau thông quan, Đề tài NCKH cấp ngành
mã số 08-N2005.
Thủ 16 21. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 34/2009/QĐ-TTg ngày 2/3/2009
về việc phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc
Bộ đến năm 2020.
Tinh 22. Chung Minh Tinh (2006), Phân tích rủi ro và quản lý rủi ro của Hải quan
Trung Quốc, Tài liệu tham khảo nội bộ - Tổng Cục Hải quan.
Tổng 4 23. Tổng Cục Hải quan (2009), Quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, kiểm
tra thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, Quyết định số 1383/QĐ-
TCHQ ngày 14/7/2009.
24. Bộ Tài Chính (2013), Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013của Bộ
Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 110 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------
25. Tổng Cục Hải quan (2013), Quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, kiểm
tra thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, Quyết định số 3550/QĐ-
TCHQ ngày 01/11/2013
26. Web site: www.customs.gov.vn
27. Web site: http://www.quangninhcustoms.gov.vn
28. Web site: www.lscustoms.gov.vn
29. Web site: http://www.wcoomd.org/en.aspx
* Danh mục tài liệu tiếng Anh
17 30. Association of Southeast Asian Nation (2004), ASEAN Post - Clearance Audit
Manual - The Final Draft 2004, Jakarta. (17)
----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 111 Khóa 2012 - 2014

