BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------------------------------------

Họ và tên tác giả luận văn LƯƠNG NGỌC THÀNH TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

PGS.TS. NGUYỄN BÁ NGỌC

Hà Nội – Năm 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

LỜI CAM ĐOAN

Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các đánh giá,

Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp tên đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh” là bản nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tế và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc. kiến nghị đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm

Tác giả

Lương Ngọc Thành

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 4 1. Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................................... 1 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................................... 3 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn .......................................................... 5 3.1. Mục đích .................................................................................................... 5 3.2. Nhiệm vụ .................................................................................................... 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................................... 5 4.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................. 5 4.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 5 5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn .......................................................................... 6 6. Những đóng góp về khoa học của luận văn .................................................................. 6 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ..................................................................... 6 7.1. Ý nghĩa lý luận ............................................................................................ 6 7.2. Ý nghĩa thực tiễn ......................................................................................... 6 8. Kết cấu của luận văn ........................................................................................................ 7 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN............................................................................... 8 1.1. HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN ...................................................................... 8 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và đối tượng của kiểm tra sau thông quan ... 8 1.1.2. Phân biệt kiểm tra sau thông quan với một số nghiệp vụ có liên quan ... 15 1.1.3. Phân loại nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan ........................................... 18 1.1.4. Vai trò của kiểm tra sau thông quan ........................................................ 20 1.2. NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN .............................................................................................. 21 1.2.1. Nội dung của hoạt động kiểm tra sau thông quan ..................................... 21 1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra sau thông quan ................ 30 1.3. KINH NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ... 37 1.3.1. Kinh nghiệm trong hoạt động kiểm tra sau thông quan của một số địa phương ... 37 1.3.2. Bài học rút ra cho Cục Hải quan Quảng Ninh .......................................... 42 Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ..................................................................... 45 2.1. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ........................................... 45 2.1.1. Giới thiệu khái quát về Cục Hải quan Quảng Ninh và hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh ......................................................... 45 2.1.2. Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh ...................................................................................... 49 2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2008-2013 VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC . 51 2.2.1. Thực trạng hoạt động thu thập, xử lý thông tin, xác định đối tượng phải

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

kiểm tra và những kết quả đạt được .................................................................. 51 2.2.2. Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và những kết quả đạt được ............................................................... 66 2.2.3. Thực trạng công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu .................. 78 2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ........................................................................ 82 2.3.1. Những mặt được trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh .................................................................................................... 82 2.3.2. Những tồn tại chính trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh ............................................................................................ 83 2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan Quảng Ninh ......................................................................... 83 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH ............................................................................................................. 86 3.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI .................................. 86 3.1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Ngành Hải quan trong việc phát triển Hải quan hiện đại ..................................................................................... 86 3.1.2. Xu hướng về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và khả năng xảy ra rủi ro trong quản lý Hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ........................................ 88 3.1.3. Phương hướng, mục tiêu hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh đến năm 2017 ...................................................................... 90 3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI . 91 3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách về KTSTQ ................ 91 3.2.2. Tiếp tục hoàn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng lực lượng kiểm tra sau thông quan theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu ........................................... 95 3.2.3. Hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra sau thông quan ................................................................... 99 3.2.4. Xây dựng chương trình và tăng cường công tác phối hợp với các tổ chức, cá nhân phục vụ kiểm tra sau thông quan ............................................................ 100 3.2.5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kiểm tra sau thông quan . 102 3.3. KIẾN NGHỊ ............................................................................................................... 103 3.3.1. Kiến nghị chung ................................................................................... 103 3.3.2. Kiến nghị Quốc hội ............................................................................. 103 3.3.3. Kiến nghị Chính phủ: ........................................................................... 104 3.3.4. Kiến nghị Bộ Tài chính và Tổng Cục Hải quan: .................................... 104 3.3.4. Kiến nghị UBND tỉnh Quảng Ninh: ...................................................... 105 3.3.5. Kiến nghị Cục Hải quan Quảng Ninh: .................................................. 105 KẾT LUẬN................................................................................................................. 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 109

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực Châu Á Thái Bình Dương

APEC

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

ASEAN

Vận tải đơn

B/L

Cán bộ công chức

CBCC

Chống buôn lậu

CBL

Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa

C/O

Hiệp định chung về thuế quan

GATT

Chương trình Quản lý giá tính thuế

GTT22, GTT01

Hệ thống mô tả hài hòa mã số hàng hóa

KTSTQ

Kiểm tra Sau thông quan

KT559

Chương trình Kế toán thuế

NSNN

Ngân sách Nhà nước

SLXNK

Chương trình Số liệu xuất nhập khẩu

QLRR

Web Quản lý rủi ro

QLVP

Chương trình Quản lý vi phạm

STQ01

Chương trình Quản lý doanh nghiệp phục vụ công tác kiểm tra Sau thông quan và quản lý rủi ro

Tổng cục Hải quan

TCHQ

Chi phí xếp dỡ hàng hóa

THC

Thông quan điện tử

TTHQĐT

Tổ chức Hải quan Thế giới

WCO

Tổ chức Thương Mại Thế giới

WTO

Xuất nhập khẩu

XNK

Xuất nhập cảnh

XNC

H/S

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Trang

Bảng 1.1: Kết quả KTSQ tại Cục Hải quan Lạng Sơn 38

Bảng 1.2: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai 40

Bảng 1.3: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hoá 41

Sơ đồ 2.1: 48 Sơ đồ tổ chức bộ máy KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh

Bảng 2.1: 56 Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

Bảng 2.2: 58 Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

Bảng 2.3: 59 Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

Bảng 2.4: 61 Thông tin do các Chi Cục Hải quan cửa khẩu cung cấp cho hoạt động KTSTQ giai đoạn 2008-2013

Bảng 2.5: 62 Nguồn thông tin nhận được từ các cơ quan liên quan giai đoạn 2008-2013

Bảng 2.6: Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013 63

Bảng 2.7: 69

Bảng 2.8: 71

Bảng 2.9: 72

Bảng 2.10: 74

Bảng 2.11: 75 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008- 2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008- 2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008- 2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số tiền truy thu thuế từ kết quả KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

Bảng 2.12: 80 Số quyết định hành chính được ban hành từ kết quả KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh từ 2008-2013

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

DANH MỤC CÁC BIỂU TRONG LUẬN VĂN

Biểu 2.1: Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 – 2013

Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh Biểu 2.2: giai đoạn 2008-2013

Biểu 2.3: Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013 Biểu 2.4:

Biểu 2.5:

Biểu 2.6:

Biểu 2.7:

Biểu 2.8:

Biểu 2.9: Số lượng doanh nghiệp được KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế xã hội cùng với việc nước ta trở

thành thành viên của nhiều tổ chức thương mại đã làm gia tăng nhanh chóng hoạt động

thương mại xuất nhập khẩu, đặt ra cho ngành Hải quan yêu cầu cấp thiết là phải tạo

điều kiện thông thoáng về thủ tục Hải quan, đồng thời quản lý chặt chẽ hoạt động xuất

nhập khẩu, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Trong bối cảnh đó, chuyển từ

phương pháp quản lý Hải quan truyền thống dựa trên hoạt động kiểm tra toàn bộ hàng

hóa để thông quan sang phương pháp quản lý tiên tiến dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro,

tức là trên cơ sở thu thập, phân tích, xử lý thông tin để quyết định thông quan, cùng với

việc sử dụng các giải pháp nghiệp vụ hỗ trợ như quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông

quan, kiểm soát, thu thập thông tin… đã trở thành yêu cầu tất yếu khách quan. Một

trong các mô hình nghiệp vụ hỗ trợ có hiệu quả nhất chính là nghiệp vụ kiểm tra sau

thông quan (KTSTQ).

Trên bình diện quốc tế, cơ quan Hải quan các nước tiến tiến đều coi KTSTQ là

một khâu nghiệp vụ trong công nghệ quản lý của Hải quan hiện đại. Hơn nữa, ứng

dụng mô hình KTSTQ là phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các cam kết của Việt

Nam trong quá trình hội nhập. KTSTQ đang được phổ biến và áp dụng rộng rãi trên

toàn thế giới.

Đối với Hải quan Việt Nam, mô hình KTSTQ mới chỉ được triển khai thực hiện

từ 01/01/2002, thời điểm Luật Hải quan có hiệu lực. Mặc dù đã đạt được những kết quả

đáng khích lệ ban đầu nhưng hoạt động KTSTQ của Hải quan Việt Nam vẫn còn rất

nhiều bất cập, thiếu sót cần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp. Trong quá trình triển khai

hoạt động KTSTQ, hiện tại Hải quan Việt Nam đang gặp phải một số khó khăn như

sau:

- Thứ nhất, là về nhận thức, bao gồm nhận thức trong nội bộ ngành Hải quan,

nhận thức của các doanh nghiệp, của xã hội và của một số cơ quan nhà nước hữu quan

về hoạt động KTSTQ chưa đầy đủ.

- Thứ hai, là khối lượng công việc tăng nhanh, tạo áp lực lớn. Với mức độ tăng

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 1 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

về số lượng các lô hàng XNK mỗi năm từ 20 đến 30%. Khối lượng khổng lồ như vậy

tạo sức ép công việc rất lớn đến thông quan và KTSTQ.

- Thứ ba, là về hệ thống pháp luật, còn có những quy định không đồng bộ, do đó

người thực thi gặp nhiều khó khăn.

- Thứ tư, là ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp

cố tình vi phạm pháp luật, gian lận trốn thuế gây khó khăn cho cơ quan Hải quan khi

KTSTQ.

- Thứ năm, mô hình KTSTQ chưa đồng bộ, đặc biệt là vấn đề tổ chức bộ máy,

phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong và ngoài ngành, và vấn đề ứng dụng công

nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ.

Là một đơn vị trực thuộc Tổng Cục Hải quan, được giao thực hiện nhiệm vụ

quản lý nhà nước về Hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, một địa bàn có vị trí chiến

lược cả về lĩnh vực kinh tế và an ninh quốc phòng ở vùng Đông bắc của Tổ quốc.

Trong những năm qua, cùng với toàn Ngành Hải quan, Cục Hải quan Quảng Ninh đã

tập trung và ưu tiên hàng đầu cho công tác cải cách, phát triển và hiện đại hoá với mục

tiêu liên tục nâng cao năng lực quản lý cả về chất lượng và hiệu quả các mặt công tác

nhằm giải quyết được sự mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh hàng năm của khối lượng hàng

hoá XNK, phương tiện vận tải và hành khách XNC với yêu cầu phải luôn đảm bảo và

nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về Hải quan.

KTSTQ nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, phát hiện

những gian lận, sai sót trong khai báo Hải quan và trong thực tế kinh doanh của doanh

nghiệp đối với hàng hoá XNK, chống thất thu cho NSNN; và điều quan trọng là thông

qua hoạt động KTSTQ quan để tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng doanh nghiệp và

nhân dân hiểu rõ hơn về các quy định của Nhà nước trong hoạt động XNK. Vì vậy,

hoạt động KTSTQ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giữ vị trí chủ đạo trong công tác

quản lý Hải quan hiện đại.

Để đáp ứng yêu cầu đó, Cục Hải quan Quảng Ninh là một trong những đơn vị đi

đầu trong toàn ngành Hải quan thành lập và triển khai hoạt động KTSTQ; thực tế sau

một thời gian thực hiện KTSTQ đã thu được những kết quả đáng khích lệ, phát hiện và

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 2 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

xử lý nhiều vi phạm, gian lận trốn thuế… truy thu về cho NSNN hàng trăm tỷ đồng.

Tuy nhiên, hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh cũng gặp những bất cập,

khó khăn như đã nêu ở trên.

Là một công chức Hải quan công tác tại Cục Hải quan Quảng Ninh, nhận thức

được tầm quan trọng với tính cấp thiết được nêu ở trên chính là lý do tác giả lựa chọn

đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông

quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh”.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở các quốc gia trên thế giới, đã có nhiều tác giả, nhiều tổ chức quốc tế tiến hành

phân tích đánh giá hoạt động KTSTQ thông qua các bài viết, công trình nghiên cứu, ví

dụ như:

- Association of Southeast Asian Nation (2004), ASEAN Post - Clearance Audit

Manual - The Final Draft 2004, Jakarta.

- Igarashi K., P.R. China Post - Clearance Audit, Seminar on Risk Management

and Post - Entry Audit Entry Audit, 7-10 June 2005 Shenzhen.

- Kitaura M. (2005), Outline of Valuation and PCA in Japan, Osaka Customs

- Tanaka M. (2006), Computer Assisted Audit, Asean PCA Training on Trainer

20 February 2006.

Các công trình này mới chỉ nghiên cứu về hoạt động KTSTQ ở nước ngoài,

hơn nữa, tập trung vào mô tả các kỹ thuật KTSTQ nói chung, chưa gắn với điều

kiện, đặc điểm của công tác quản lý Hải quan tại một quốc gia, một địa phương.

Ở trong nước, đã có một số công trình nghiên cứu về KTSTQ, cụ thể là:

- Cục kiểm tra sau thông quan (2006), Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông

quan của Hải quan Việt Nam, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 08-N2005.

- Cục kiểm tra sau thông quan (2005), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công

tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kế hoạch cải cách, phát triển và

hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2004 -2006, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 09 -

N2004.

- Cục Hải quan thành phố Hải Phòng - Cục kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 3 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

(2002), Cơ sở lý luận, thực tiễn, nội dung và tác nghiệp cụ thể nghiệp vụ kiểm tra sau

thông quan, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 10 - N2002.

- Thạc sỹ Nguyễn Viết Hồng, Tổng Cục Hải quan (2005), Các giải pháp nâng

cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của kế

hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hoá Hải quan giai đoạn 2004 - 2006, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp ngành, mã số 08 - N2005.

- Thạc sỹ Nguyễn Viết Hồng, Tổng Cục Hải quan (2006), Hoàn thiện mô hình

kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp

ngành, mã số 05 - N2006.

- Phạm Ngọc Hữu (2003), Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, Tổng Cục Hải

quan - Tài liệu nghiệp vụ lưu hành nội bộ.

Những bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên, ở góc độ này hay góc độ khác

mới chỉ đề cập đến chiến lược phát triển hoặc phân tích chi tiết nghiệp vụ KTSTQ. Đây

là những tài liệu tham khảo hết sức bổ ích, đóng góp về lý luận chung và các cơ sở

khoa học để đề tài này kế thừa và tiếp tục phân tích nhằm đề xuất các giải pháp hoàn

thiện mô hình và các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải

quan Quảng Ninh.

Ở cả trong nước và trên bình diện quốc tế, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ

thể về hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh. Đây là đề tài mang tính độc

lập, không bị trùng lặp và cần được tiếp tục nghiên cứu.

Đề tài được nghiên cứu trong tình hình có sự thay đổi của một loạt các văn bản

quy phạm pháp luật trong lĩnh vực Hải quan như: Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày

10/9/2013 mới được ban hành thay thế cho Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày

06/12/2010 Hướng dẫn về thủ tục Hải quan; kiểm tra, giám sát Hải quan; thuế xuất

khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Thông

tư số 205/2010/TT-BTC ngày 15/12/2010 mới được ban hành thay thế cho Thông tư số

40/2007/TT-BTC Hướng dẫn xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,

nhập khẩu; Đang rà soát bổ sung, sửa đổi Luật Hải quan, Luật quản lý thuế… Đây là

các văn bản rất quan trọng đối với ngành Hải quan về mặt thủ tục cũng như về mặt

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 4 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

quản lý thuế; nhằm đáp ứng đòi hỏi về một hệ thống văn bản thể hiện tính tập trung hoá

cao, không dàn trải, giải quyết sự chồng chéo của một số các văn bản liên quan,… đáp

ứng sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật tương

xứng với một Hải quan hiện đại mang tầm vóc khu vực và quốc tế.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1. Mục đích

Đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh hiện nay

và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải

quan Quảng Ninh trong thời gian tới.

3.2. Nhiệm vụ

- Hệ thống hóa, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt

động KTSTQ.

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ, chỉ rõ những tồn tại, yếu

kém của hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh từ năm 2002 đến nay.

- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt

động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong thời gian tới

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng

Ninh.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu ba hoạt động

sau:

+ Hoạt động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng phải kiểm tra;

+ Hoạt động KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

+ Hoạt động lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực

KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

- Về thời gian nghiên cứu: Luận văn giới hạn ở việc phân tích hoạt động

KTSTQ từ khi có Luật Hải quan năm 2001 đến 2013.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 5 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

- Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá hoạt động KTSTQ trên địa

bàn tỉnh Quảng Ninh.

5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện luận văn, tác giả sẽ áp dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

và các phương pháp mang tính trải nghiệm thực tế như: Phương pháp thu thập thông

tin, phương pháp so sánh, phương pháp lý luận khoa học, phương pháp biện chứng,

phương pháp suy luận, phương pháp logic,… Đồng thời có kế thừa những công trình

nghiên cứu liên quan đến hoạt động KTSTQ.

6. Những đóng góp về khoa học của luận văn

- Làm rõ những vấn đề lý luận chung về hoạt động KTSTQ của các nước trên

thế giới và Việt Nam.

- Phân tích hoạt động KTSTQ thông qua 3 lĩnh vực nghiệp vụ cơ bản là: Hoạt

động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng phải kiểm tra; Hoạt động

KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Hoạt động lập hồ sơ và ban hành

quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

Bài học về hoạt động KTSTQ của Hải quan một số địa phương có cùng đặc thù, từ đó

rút ra các bài học kinh nghiệm cho Cục Hải quan Quảng Ninh.

- Đánh giá khách quan thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng

Ninh. Phân tích rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động KTSTQ tại

Cục Hải quan Quảng Ninh.

- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt

động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong thời gian tới.

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1. Ý nghĩa lý luận

Khái quát một cách có hệ thống lý luận về hoạt động KTSTQ nói chung và hoạt

động KTSTQ có tính đặc thù tại Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng.

7.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã thực hiện được việc phân tích về thực trạng của hoạt động KTSTQ

tại Cục Hải quan Quảng Ninh và từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 6 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh, qua đó góp phần vào việc giúp cho

đơn vị sẽ luôn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Bộ tài chính, Tổng Cục Hải quan

và tỉnh Quảng Ninh giao cho.

Luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho Cục Hải quan Quảng Ninh trong hoạt

động KTSTQ trên địa bàn.

8. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được

kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động KTSTQ.

- Chương 2: Thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh.

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động

KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 7 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN

1.1. HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM

TRA SAU THÔNG QUAN

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và đối tượng của kiểm tra sau thông quan

1.1.1.1. Khái niệm kiểm tra sau thông quan

Nghiệp vụ KTSTQ được hình thành và hoàn thiện dần cùng với việc hình thành

và hoàn thiện khoa học về quản lý rủi ro trong hoạt động của các cơ quan Hải quan trên

thế giới. Cho đến nay, cơ quan Hải quan nhiều nước đã áp dụng biện pháp KTSTQ

trong công tác quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, xác định lịch sử và nguồn

gốc hình thành nghiệp vụ KTSTQ một cách chính xác là rất khó khăn. Từ những năm

60 của thế kỷ XIX, Hội đồng Hợp tác Hải quan thế giới (Customs Cooperation

Council) đã có những nghiên cứu đầu tiên về các biện pháp quản lý Hải quan hiện đại,

trong đó nhấn mạnh việc kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan. Cơ sở kiểm

tra là các chứng từ Hải quan, sổ sách kế toán và các loại giấy tờ khác còn lưu giữ tại cơ

quan Hải quan, tại doanh nghiệp và các bên có liên quan.

Công ước về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục Hải quan (Công ước Kyoto

1973, có hiệu lực từ 25/09/1974) cũng đã hình thành những quy định cơ sở về

KTSTQ. Nhưng, phải một vài năm sau, hoạt động KTSTQ mới được Tổ chức Hải

quan thế giới - WCO công nhận trong quá trình nghiên cứu, áp dụng các biện pháp

quản lý mới tại một số nước. Nội dung hoạt động nghiệp vụ này được quy định tại

Phần Phụ lục Tổng quát, Chương VI về kiểm tra Hải quan, Công ước Kyoto sửa

đổi, bổ sung năm 1999 [7].

Thực tế, trong quá trình cải cách về thủ tục Hải quan và hiện đại hóa các quy

trình thủ tục Hải quan, nhiều quốc gia đã tiến hành áp dụng và thực hiện biện pháp

KTSTQ. Cụ thể ở Nhật Bản, thực hiện thí điểm KTSTQ từ năm 1967 và chính thức

triển khai hệ thống nghiệp vụ này từ năm 1968; ở Indonesia hoạt động KTSTQ được

triển khai áp dụng từ năm 1998. Cho đến nay, Indonesia là quốc gia có nhiều kinh

nghiệm và áp dụng KTSTQ có hiệu quả nhất ASEAN. Hiện tại, Indonesia là điều phối

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 8 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

viên về KTSTQ của chương trình hợp tác Hải quan ASEAN. Ở Trung Quốc, bắt đầu

thực hiện thí điểm nghiệp vụ KTSTQ tại 03 địa phương có hoạt động xuất nhập khẩu

phức tạp từ tháng 04/1992. Điều lệ KTSTQ được Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân

dân Trung Hoa công bố ngày 01/03/1997. Ở khu vực ASEAN, hoạt động KTSTQ đã

có một khuôn mẫu chuẩn cho tất cả các thành viên thực hiện, tuy nhiên chưa được phê

duyệt chính thức. Hiện nay, ASEAN đã thống nhất xây dựng Sách hướng dẫn về

KTSTQ của ASEAN (được hội nghị Tổng cục trưởng Hải quan ASEAN lần 12 tại Hà

Nội phê chuẩn) nhằm định hướng chiến lược và phương pháp áp dụng chung ở trong

khối. Ở Việt Nam, hoạt động KTSTQ được chính thức triển khai thực hiện khi Luật

Hải quan có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2002.

Trên thế giới hiện đang tồn tại một số quan niệm về KTSTQ:

- Theo Công ước về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục Hải quan (Công ước

Kyoto sửa đổi, bổ sung vào tháng 9/1999) của Tổ chức Hải quan thế giới - WCO,

KTSTQ được định nghĩa như sau: "Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp

được cơ quan Hải quan tiến hành nhằm xác định tính chính xác và trung thực của

khai báo Hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế toán, hệ thống kinh

doanh và dữ liệu thương mại của các bên có liên quan" [7, tr.98].

- Theo Luật Hải quan Nhật Bản:

Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra có hệ thống nhằm thẩm định tính

chính xác và trung thực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế

toán, hệ thống kinh doanh, dữ liệu thương mại có liên quan được lưu giữ bởi các tổ

chức cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương mại quốc tế [7].

- Theo Luật Hải quan Indonesia năm 1995:

Kiểm tra sau thông quan là một biện pháp kiểm soát có tính hệ thống của cơ

quan Hải quan. Bằng biện pháp này, cơ quan Hải quan kiểm tra tính chính xác và trung

thực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra các sổ sách kế toán, ghi chép kế toán,

chứng từ thương mại và các dữ liệu kinh doanh có liên quan do các tổ chức, cá nhân

tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế lưu giữ [7].

- Theo Điều 2, Điều lệ KTSTQ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997:

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 9 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày hàng hóa xuất nhập khẩu được thông quan

hoặc trong thời hạn giám sát Hải quan của hàng hóa bảo thuế, hàng hóa miễn giảm

thuế nhập khẩu, cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ, đơn

chứng báo quan và các tài liệu liên quan khác cùng với hàng hóa xuất nhập khẩu

của đơn vị được kiểm tra để thẩm định tính hợp pháp và chân thực của hoạt động

xuất nhập khẩu [7].

- Theo Sách hướng dẫn về KTSTQ của Tổ chức Hải quan ASEAN (bản Final

Draft - 06/2004):

KTSTQ là một biện pháp kiểm soát Hải quan có hệ thống nhằm thẩm định tính

chính xác và trung thực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra chứng từ, sổ sách kế

toán, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại có liên quan được lưu giữ bởi các tổ

chức, cá nhân tham gia trực tiếp và gián tiếp vào thương mại quốc tế [24].

Kết hợp các định nghĩa được áp dụng trên thế giới, có xem xét đến đặc thù của

Việt Nam, Điều 32 Luật Hải quan sửa đổi bổ sung 2005 quy định về KTSTQ nêu rõ:

KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm: (i) Thẩm định tính

chính xác, trung thực của nội dung các chứng từ mà chủ hàng, người được chủ hàng ủy

quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ

quan Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan. (ii) Thẩm

định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất

khẩu, nhập khẩu [18].

Từ các quan niệm trên đây, ta có thể xây dựng một khái niệm chung về KTSTQ

như sau:

KTSTQ quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan, diễn ra sau khi hàng

hóa đã được thông quan, nhằm kiểm tra tính chính xác và trung thực các nội dung khai

báo Hải quan trong quá trình thông quan.

1.1.1.2. Đặc điểm kiểm tra sau thông quan

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về KTSTQ, nhưng các quan niệm này đều

thể hiện bảy đặc điểm cơ bản của hoạt động KTSTQ như sau:

- KTSTQ là một công đoạn trong hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan,

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 10 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

cùng thực hiện trách nhiệm quản lý về mặt Hải quan trong mối quan hệ phối hợp với

các đơn vị chức năng khác của Hải quan, ví dụ: đơn vị thông quan, đơn vị điều tra vi

phạm Hải quan và các đơn vị khác. KTSTQ không phải là một hệ thống độc lập mà là

một chức năng của tổ chức Hải quan, đóng góp vai trò trong phạm vi hoạt động chiến

lược tổng thể ngành Hải quan.

- KTSTQ là hoạt động kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan do cơ

quan Hải quan thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. KTSTQ sẽ có

hiệu quả đáng kể nếu được thực hiện đối với những cá nhân, doanh nghiệp tiến hành

khai báo Hải quan liên tục trong một thời gian nhất định, dựa trên cơ sở phân tích trước

hồ sơ lưu trữ của họ. Mặt khác, phương pháp này sẽ không đạt hiệu quả cao, nếu áp

dụng cho những đối tượng tiến hành XNK số lượng nhỏ hàng hóa hoặc có số thuế phải

nộp thấp.

- Kết quả KTSTQ có liên quan đến quy định của pháp luật về nghĩa vụ lưu giữ

hồ sơ và các chế tài có liên quan. Vì KTSTQ được thực hiện dựa trên việc kiểm tra sổ

sách giấy tờ là chủ yếu, nên để thực hiện có hiệu quả, cần quy định rõ nghĩa vụ và các

chế tài liên quan đến việc lưu giữ hồ sơ của đối tượng.

- KTSTQ được tiến hành nhằm xác định việc khai Hải quan có tuân thủ các yêu

cầu của Luật Hải quan và các qui định liên quan hay không; đặc điểm này đòi hỏi công

chức KTSTQ phải tinh thông về nghiệp vụ. Ngoài ra, đặc điểm này cũng gợi ý một

điểm quan trọng khác để tiến hành KTSTQ có hiệu quả, đó là khuyến khích các nhà

nhập khẩu, xuất khẩu hoặc bất kỳ đối tượng khai Hải quan nào tuân thủ các quy định

pháp luật Hải quan thông qua phần tự khai báo và tự chịu trách nhiệm về nội dung khai

báo của mình.

- KTSTQ được tiến hành với sự hỗ trợ từ các nguồn thông tin liên quan, gồm cả

các dữ liệu điện tử được các cá nhân/tổ chức liên quan cung cấp. Công chức KTSTQ

tập hợp các bằng chứng thu thập từ các nguồn thông tin, đánh giá chúng trên cơ sở quy

định pháp luật Hải quan và sau đó xác định tính chính xác và trung thực của khai báo

Hải quan.

- KTSTQ không chỉ áp dụng với đối tượng khai Hải quan trực tiếp mà còn áp

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 11 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

dụng với các cá nhân/tổ chức tham gia vào thương mại quốc tế. Hoạt động thương mại

quốc tế ngày nay có rất nhiều đối tượng tham gia và thông tin từ các đối tượng đó có

thể rất hữu ích cho cơ quan Hải quan trong việc xác định tính chính xác và trung thực

của khai báo Hải quan.

- KTSTQ được thực hiện với sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan và đối

tượng kiểm tra. Cần lưu ý là KTSTQ không phải là biện pháp điều tra vi phạm Hải

quan ngay cả khi Luật Hải quan cho phép công chức KTSTQ vào các cơ sở của cá

nhân, tổ chức để kiểm tra hồ sơ của họ và tiến hành xử phạt những ai chống đối hoặc

ngăn cản công tác kiểm tra. Thông qua quy trình KTSTQ, công chức KTSTQ tiếp cận,

hợp tác với các cá nhân, tổ chức đang bị kiểm tra và tiến hành KTSTQ với sự hợp tác

và đồng ý của họ.

Như vậy, các đặc điểm trên cho thấy, KTSTQ không phải là một lĩnh vực riêng

rẽ, mà là hoạt động nghiệp vụ bình thường gắn kết trong tổng thể mối quan hệ của toàn

bộ hoạt động kiểm tra giám sát Hải quan đối với hàng hóa XNK.

1.1.1.3. Mục tiêu và lợi ích của kiểm tra sau thông quan

- Mục tiêu của KTSTQ:

Như trên đã đề cập, KTSTQ là một giải pháp quản lý Hải quan mang tính hệ

thống. Theo đó, cơ quan Hải quan đánh giá sự chính xác và trung thực của việc khai

báo Hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ, hệ thống kinh doanh và các dữ

liệu do cá nhân/doanh nghiệp tham gia trực tiếp hay gián tiếp đến thương mại quốc tế

lưu giữ. Vì vậy, mục tiêu của KTSTQ sẽ là:

+ Xác minh tính chính xác và trung thực của việc khai báo Hải quan trong một

khoảng thời gian xác định;

+ Khuyến nghị đối tượng kiểm tra thực hiện bổ sung, điều chỉnh những vấn đề

chưa chính xác trong quá trình khai báo Hải quan;

+ Khuyến khích đối tượng kiểm tra nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật và quy

định về Hải quan [16].

- Lợi ích của KTSTQ:

+ Đối với cơ quan Hải quan, trong những thập kỷ gần đây cơ quan Hải quan

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 12 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

các nước mới bắt đầu nhận thức rõ ràng lợi ích của KTSTQ, và đặt KTSTQ nằm

trong chương trình phát triển, hiện đại hóa của Hải quan. Việc tiến hành hoạt động

KTSTQ một cách chuyên nghiệp, chuyên sâu đem lại cho cơ quan Hải quan rất

nhiều lợi ích như:

 Quản lý các hoạt động của doanh nghiệp XNK trong mối quan hệ tổng thể,

liên tục chứ không trên cơ sở từng lần làm thủ tục Hải quan. Điều này dẫn đến hiệu quả

cao trong đánh giá và phân loại đối tượng quản lý.

 Quản lý trên cơ sở lựa chọn, đánh giá từng doanh nghiệp XNK để tập trung

kiểm tra có trọng điểm trên cơ sở nghi vấn (nếu có) nhằm tạo thuận lợi cho doanh

nghiệp làm ăn chân chính, răn đe hạn chế thấp nhất các doanh nghiệp có khả năng

vi phạm pháp luật Hải quan, đồng thời tiết kiệm nguồn nhân lực, vật lực cho cơ

quan Hải quan.

 Khả năng đảm bảo nguồn thu thông qua việc thu nộp thuế đúng đủ, kịp thời

vào ngân sách. Đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với những nước đang phát triển

mà ở đó nguồn thu từ Hải quan chiếm phần lớn trong ngân sách.

+ Đối với cộng đồng doanh nghiệp, các lợi ích mà họ có được từ hoạt động

KTSTQ là:

 Giảm chi phí, hưởng thuận lợi trong quá trình thông quan nếu tuân thủ

pháp luật tốt. Cơ quan Hải quan các nước đều áp dụng cơ chế ưu tiên làm thủ tục

Hải quan, mà cụ thể là miễn kiểm tra hàng hóa cho các doanh nghiệp chấp hành tốt

pháp luật Hải quan. Điều này giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả

cao trong kinh doanh.

 Khi được áp dụng các ưu đãi, thời gian thông quan cho một lô hàng sẽ

giảm xuống. Đây cũng là một nội dung tạo thuận lợi quan trọng trong quá trình hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.1.4. Đối tượng kiểm tra sau thông quan

Trong quá trình tiến hành KTSTQ, việc xác định rõ ràng đối tượng của

KTSTQ là vô cùng quan trọng. Theo các quy định của pháp luật của các nước nói

chung và của Việt Nam nói riêng thì hoạt động KTSTQ hướng tới việc kiểm tra

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 13 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

xem xét các chứng từ thuộc hồ sơ Hải quan, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính,

các dữ liệu điện tử và các giấy tờ khác có liên quan đến hàng hoá XNK. Theo quan

niệm này, một số nước cho rằng, đối tượng KTSTQ chỉ là các sổ sách, giấy tờ có

liên quan đến giao dịch XNK cần kiểm tra. Tuy nhiên các chứng từ tài liệu này

được lưu giữ bởi các tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến giao

dịch thương mại và trong hầu hết các trường hợp, thông tin từ nhóm đối tượng này

lại có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình KTSTQ. Vì vậy, cần coi đối tượng

của KTSTQ bao gồm cả sổ sách giấy tờ cần kiểm tra và các tổ chức, cá nhân liên

quan đến hoạt động thương mại quốc tế.

- Trên quan điểm chung đó, các tổ chức/cá nhân bị kiểm tra bao gồm:

+ Người XNK (người khai Hải quan);

+ Người nhận ủy thác XNK;

+ Người chuyên chở hàng XNK;

+ Chủ sở hữu hàng hóa nhập khẩu;

+ Người mua hàng nhập khẩu;

+ Đại lý thông quan hàng nhập khẩu;

+ Các tổ chức/cá nhân khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến giao

dịch XNK.

Đối tượng đầu tiên cần hướng tới chính là người XNK (người khai Hải

quan), là đối tượng xuất trình tờ khai Hải quan cho cơ quan Hải quan để thực hiện

khai báo. Trong trường hợp cần thêm các bằng chứng bổ sung, cơ quan Hải quan có

thể tiến hành kiểm tra các đối tượng khác có liên quan.

- Các loại sổ sách, chứng từ, bản ghi cần kiểm tra bao gồm:

+ Các chứng từ, sổ sách có liên quan đến giao dịch thương mại, ví dụ hợp

đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng trợ giúp kỹ thuật, hợp đồng đại lý, đơn đặt hàng,

hướng dẫn sản xuất, báo cáo sản xuất, thư tín...

+ Chứng từ và sổ sách kế toán: các loại sổ kế toán và mọi chứng từ có liên

quan như L/C, bảng kê chi tiết, giấy yêu cầu chuyển tiền, sổ ghi nợ/có...;

+ Chứng từ có liên quan đến hồ sơ Hải quan (tờ khai Hải quan, hóa đơn

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 14 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

thương mại, C/O, B/L, đơn bảo hiểm...);

Việc xem xét cả hai nhóm đối tượng như trên có ý nghĩa thực tế quan trọng

khi tiến hành KTSTQ. Kiểm tra tổng thể các đối tượng và sự kiện sẽ đem lại hiệu

quả cao hơn là kiểm tra một đối tượng hoặc một giao dịch đơn lẻ.

1.1.2. Phân biệt kiểm tra sau thông quan với một số nghiệp vụ có liên quan

1.1.2.1. Phân biệt với nghiệp vụ kiểm toán

Nghiệp vụ kiểm toán ứng dụng khoa học về kiểm toán tài chính doanh

nghiệp. Ở một số nước, người ta đồng nhất khái niệm về KTSTQ với kiểm toán Hải

quan (Post Clearance Audit). Ở nước ta hai lĩnh vực này có những điểm giống nhau

và khác nhau. Nghiệp vụ kiểm toán rất đa dạng và phức tạp, trong phạm vi đề tài

này chỉ nêu một số nội dung cơ bản về kiểm toán. Tùy theo cách thức phân loại có

các loại kiểm toán sau:

- Theo chức năng kiểm toán, bao gồm có 3 loại: kiểm toán hoạt động, kiểm

toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính.

Kiểm toán hoạt động (Operationnal Audit): Là kiểm toán để xem xét và đánh

giá tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động của một đơn vị.

Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit): Là kiểm toán để xem xét bên được

kiểm toán có tuân thủ các thủ tục, các nguyên tắc, quy chế mà các cơ quan có thẩm

quyền cấp trên hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước đã đề ra hay không. Vì

thế, kiểm toán tuân thủ còn được gọi là kiểm toán tính quy tắc (Regularity Audit).

Kiểm toán báo cáo tài chính (Audit of Financial Statement): Là việc kiểm tra

và xác nhận tính trung thực và tính hợp lý của báo cáo tài chính cũng như xem xét

báo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và các yêu cầu

của pháp luật hay không. Ở Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, công việc

kiểm toán báo cáo tài chính do các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thực hiện để

phục vụ cho các nhà quản lý, chính phủ, các ngân hàng và chủ đầu tư, cho người

bán, khách hàng...

- Theo chủ thể kiểm toán, gồm có 3 loại: kiểm toán nội bộ, kiểm toán Nhà

nước và kiểm toán độc lập.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 15 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Kiểm toán nội bộ (Internal Audit): Là kiểm toán do các kiểm toán viên nội

bộ của đơn vị tiến hành. Phạm vi của kiểm toán nội bộ rất biến động và tùy thuộc

vào quy mô, cơ cấu của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của các nhà quản lý đơn vị.

Tuy nhiên, thông thường kiểm toán nội bộ hoạt động trong một hoặc vài lĩnh vực

sau: Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan, giám

sát sự hoạt động của các hệ thống này cũng như tham gia hoàn thiện chúng; kiểm

tra lại các thông tin tác nghiệp và thông tin tài chính bao gồm việc soát xét lại các

phương tiện đã sử dụng để xác định, để tính toán, phân loại và báo cáo những thông

tin này, thẩm định cụ thể các khoản mục cá biệt (kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các

số dư tài khoản...); kiểm tra tính hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả của các hoạt động

trong đơn vị.

Kiểm toán Nhà nước (State Audit): Là việc kiểm toán do các kiểm toán viên

của cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện; là cơ quan kiểm tra tài chính Nhà nước

độc lập. Kiểm toán Nhà nước thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ kết hợp

với kiểm toán báo cáo tài chính, xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ và

chế độ của Nhà nước tại các đơn vị có sử dụng vốn là kinh phí của Nhà nước. Ngoài

ra, Kiểm toán Nhà nước còn thực hiện kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế,

tính hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của các đơn vị nói trên.

Kiểm toán độc lập (Indepndent Audit): Là loại kiểm toán do các kiểm toán

viên độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp (thường gọi là doanh

nghiệp kiểm toán) tiến hành. Thực chất, kiểm toán độc lập là loại dịch vụ, tư vấn

được pháp luật thừa nhận và bảo hộ.

Xét ở góc độ chung nhất thì các phương pháp kiểm toán về cơ bản đều dựa

trên cơ sở quản lý rủi ro, lựa chọn mẫu, áp dụng các phương pháp phân tích, đánh

giá đặc biệt là dựa trên hệ thống kiểm soát nội bộ. Các nguyên tắc tiến hành kiểm

toán là đảm bảo chính trực, khách quan, độc lập, bí mật quy định rõ trách nhiệm của

kiểm toán viên, nêu dẫn bằng chứng tài liệu [13].

KTSTQ thực chất là quá trình ứng dụng những kiến thức và kỹ năng cơ bản

của kiểm toán để xem xét thẩm định tính chính xác, trung thực của các thông tin, tài

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 16 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

liệu mà chủ hàng, người được chủ hàng ủy quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất

khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan Hải quan. Tuy nhiên, giữa

kiểm tra sau thông quan và kiểm toán có những điểm khác nhau cơ bản, đó là:

Nguồn luật điều chỉnh: Kiểm toán được điều chỉnh bởi Luật Kiểm toán và

các văn bản hướng dẫn, trong khi KTSTQ được điều chỉnh bởi Luật Hải quan và

các văn bản hướng dẫn.

Thẩm quyền xử lý: Điều khác biệt là cơ quan Hải quan thực hiện việc

KTSTQ, đồng thời là cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật Hải quan

trong phạm vi quản lý của mình theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức kiểm

toán trong hoạt động nghiệp vụ của mình chỉ đưa ra nhận xét, kết luận, đánh giá

hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạm

pháp luật được phát hiện trong quá trình kiểm toán.

1.1.2.2. Phân biệt với hoạt động kiểm soát Hải quan

Kiểm soát Hải quan bao gồm các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết như:

- Cơ sở bí mật: Lực lượng kiểm soát Hải quan được tuyển chọn người không

thuộc biên chế ngành Hải quan, có khả năng, điều kiện tham gia thực hiện nhiệm vụ

kiểm soát Hải quan theo nguyên tắc bí mật.

- Biện pháp sưu tra: Lực lượng kiểm soát Hải quan tiến hành lập danh sách

các tổ chức, cá nhân, mặt hàng, tuyến đường có liên quan đến hoạt động buôn lậu,

vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới để chủ động áp dụng các biện pháp

phòng ngừa và quản lý theo trọng tâm, trọng điểm.

- Tổ chức đấu tranh chuyên án: Lực lượng kiểm soát Hải quan sử dụng tập

trung và tổng hợp lực lượng, phương tiện, các biện pháp nghiệp vụ để ngăn chặn

kịp thời, chính xác các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan; thu thập thông tin, tài

liệu, chứng cứ tạm giữ đối tượng vi phạm theo đúng nhiệm vụ và thẩm quyền mà

pháp luật đã quy định.

- Trinh sát nội tuyến, trinh sát ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật: Trong trường

hợp cần thiết lực lượng kiểm soát Hải quan được áp dụng các biện pháp nghiệp vụ

này để phát hiện hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 17 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Kiểm soát Hải quan thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu và gian lận thương

mại, có thể diễn ra trước, trong và sau thông quan, còn KTSTQ là chống gian lận

thương mại sau khi hàng hóa đã thông quan [16].

1.1.2.3. Phân biệt với hoạt động thanh tra Hải quan và thanh tra chuyên ngành

Hiện nay, tổ chức và hoạt động thanh tra được thực hiện theo Luật thanh tra

ngày 15/6/2004, với đối tượng và phạm vi điều chỉnh rộng.

Trong công tác quản lý nhà nước về Hải quan, nhiệm vụ của cơ quan Hải

quan trong công tác quản lý Hải quan đối với hàng hóa XNK rất lớn liên quan đến

nhiều loại hàng hóa, sản phẩm hoặc đối tượng quản lý chuyên ngành của nhiều bộ

ngành khác nhau. Do vậy, nghiệp vụ KTSTQ khi phát hiện ra vi phạm pháp luật Hải

quan có liên quan đến chức năng kiểm tra, thanh tra chuyên ngành của các bộ ngành

khác thì có sự phối hợp giải quyết xử lý. Đây là hoạt động trùng hợp với thanh tra

chuyên ngành, đặc biệt là thanh tra vi phạm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các

loại thuế khác:

- Đối tượng của thanh tra thuế XNK bao gồm việc chấp hành pháp luật về

thuế XNK của cả đối tượng nộp thuế và cơ quan được giao quyền thu thuế XNK.

- Đối tượng KTSTQ là nội dung các chứng từ của cá nhân, tổ chức tham gia

các hoạt động XNK đã khai, nộp, xuất trình cho cơ quan Hải quan.

1.1.3. Phân loại nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan

Việc phân loại KTSTQ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cách thức

tổ chức tiến hành, quy trình nghiệp vụ cụ thể để tiến hành KTSTQ đạt hiệu quả.

Trong phạm vi đề tài này chỉ giới thiệu một số tiêu chí phân loại cơ bản.

1.1.3.1. Phân loại theo đơn vị được kiểm tra

Theo cách này, người ta phân loại KTSTQ thành kiểm tra theo kế hoạch và

kiểm tra ngẫu nhiên:

- Kiểm tra theo kế hoạch: về cơ bản, kiểm tra theo kế hoạch được thực hiện

trong khoảng thời gian nhất định đối với một doanh nghiệp cụ thể, trên cơ sở phân

tích các thông tin về doanh nghiệp đó.

- Kiểm tra ngẫu nhiên: là việc kiểm tra đối với một mặt hàng XNK hoặc một

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 18 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

doanh nghiệp cụ thể một cách ngẫu nhiên mà không dựa vào việc phân tích thông

tin từ đầu.

1.1.3.2. Phân loại theo mục đích

KTSTQ để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật: Là việc kiểm tra nhằm xác

định đơn vị được kiểm tra có chấp hành đúng các quy định của pháp luật Hải quan,

pháp luật có liên quan đối với hàng hoá XNK hay không. Thông qua việc KTSTQ

đánh giá được mức độ và quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp để làm cơ

sở xem xét mức độ ưu tiên trong việc làm thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hải

quan và xử lý vi phạm (nếu có). Nếu làm tốt việc KTSTQ sẽ nâng cao ý thức chấp

hành pháp luật của doanh nghiệp. Điều này rất có ý nghĩa khi Việt Nam tham gia

vào WTO.

KTSTQ khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải quan hoặc xác định

có khả năng vi phạm pháp luật Hải quan dựa trên phân tích thông tin của cơ quan

Hải quan: Cơ quan Hải quan căn cứ vào hệ thống cơ sở dữ liệu phân tích đánh giá

để xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật và khả năng vi phạm để tiến hành KTSTQ

đối với các mặt hàng XNK có dấu hiệu vi phạm pháp luật của doanh nghiệp.

1.1.3.3. Phân loại theo địa điểm tiến hành kiểm tra

- Kiểm tra hồ sơ Hải quan tại trụ sở cơ quan Hải quan: là việc cơ quan Hải

quan tiến hành KTSTQ đối với hồ sơ Hải quan các lô hàng XNK đã được thông

quan, đây có thể được coi là bước tiền kiểm tra tại trụ sở của doanh nghiệp, được

tiến hành chủ yếu đối với hồ sơ Hải quan mà cơ quan Hải quan đang lưu giữ. Trong

một số trường hợp cụ thể có thể tiến hành xác minh một số thông tin tài liệu có liên

quan đến lô hàng XNK đã được thông quan tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên

quan hoặc yêu cầu doanh nghiệp bổ sung tài liệu hồ sơ, giải trình với cơ quan Hải

quan. Việc KTSTQ tại cơ quan Hải quan nhằm hạn chế tối đa sự phiền hà, gây ảnh

hưởng đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp khi tiến hành

KTSTQ.

- KTSTQ tại trụ sở của đơn vị được kiểm tra: là việc cơ quan Hải quan tiến

hành kiểm tra chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính, dữ liệu điện từ và các

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 19 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

hồ sơ tài liệu khác có liên quan đến hàng hóa XNK đã được thông quan, tại trụ sở

của doanh nghiệp hoặc những nơi lưu giữ các chứng từ, hồ sơ, tài liệu nêu trên.

Trong trường hợp cần thiết có thể kiểm tra dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị

có liên quan đến sản xuất, chế biến hàng hóa XNK hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa

nhập khẩu khi còn đủ điều kiện.

1.1.4. Vai trò của kiểm tra sau thông quan

1.1.4.1. Nâng cao năng lực quản lý Hải quan

KTSTQ là một trong những biện pháp nâng cao năng lực quản lý của cơ

quan Hải quan, chống gian lận thương mại có hiệu quả, tạo điều kiện cho thông

quan nhanh, góp phần tích cực phát triển giao lưu thương mại quốc tế, cải thiện môi

trường đầu tư, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng doanh nghiệp.

1.1.4.2. Đảm bảo tuân thủ pháp luật

Góp phần đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả pháp luật Hải

quan và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực XNK hàng hoá, đặc

biệt nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp.

1.1.4.3. Tăng thu thuế, giảm thiểu chi phí và rủi ro

Mặc dù thuế suất thuế nhập khẩu giảm dần theo tiến trình hội nhập kinh tế

quốc tế, song số thu thuế đối với hàng hoá XNK của ngành Hải quan hàng năm vẫn

tăng cao, KTSTQ đảm bảo ngăn chặn tình trạng thất thu cho ngân sách nhà nước,

giảm chi phí quản lý về Hải quan; giảm thiểu rủi ro cho các chủ thể tham gia vào

quan hệ pháp luật Hải quan.

1.1.4.4. Mở rộng phạm vi kiểm tra

Thông qua hoạt động KTSTQ có thể mở rộng phạm vi kiểm tra tiếp theo khi

cần thiết trong nhiều lĩnh vực khác, như kiểm tra chế độ giấy phép, về hạn ngạch, về

xuất xứ hàng hoá, về chống bán phá giá…

1.1.4.5. Là công cụ quản lý hiệu quả đối với công tác kiểm tra, giám sát của Hải quan

Thông tin qua nghiệp vụ này cơ quan Hải quan có được khá đầy đủ các

thông tin về giao dịch có liên quan được phản ánh trong hệ thống sổ sách kế toán và

báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Tác động tích cực trở lại với hệ thống quản lý

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 20 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

của cơ quan Hải quan thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn của hệ

thống.

1.1.4.6. Đơn giản hoá trong giám sát, quản lý Hải quan

Cho phép cơ quan Hải quan áp dụng đơn giản hoá các biện pháp giám sát,

quản lý trên cơ sở hiện đại hóa Hải quan nhưng vẫn đảm bảo chức năng quản lý nhà

nước về Hải quan.

1.2. NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU

THÔNG QUAN

1.2.1. Nội dung của hoạt động kiểm tra sau thông quan

1.2.1.1. Hoạt động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng phải kiểm tra

- Hoạt động thu thập thông tin về các đối tượng vi phạm:

Dấu hiệu vi phạm ở đây là dấu hiệu gây thất thu thuế hoặc khai sai trị giá

hàng hóa góp vốn đầu tư (nộp thiếu thuế, gian lận, trốn thuế, lợi dụng ưu đãi

miễn thuế, hoàn thuế, xuất xứ, khai tăng trị giá máy móc, thiết bị để tăng tỷ lệ

góp vốn đầu tư…) và dấu hiệu xuất khẩu, nhập khẩu trái quy định, trái phép

hàng hóa (xuất khẩu, nhập khẩu hàng cấm, hàng XNK có điều kiện nhưng chưa

có đủ điều kiện đó…).

Dấu hiệu vi phạm bao gồm dấu hiệu cụ thể của một đối tượng cụ thể, dấu

hiệu cụ thể của nhóm đối tượng nhưng chưa xác định được tên đối tượng cụ thể,

hoặc dấu hiệu mới chỉ là vấn đề đang nổi cộm (ví dụ: hiện tượng khai tỷ lệ chiết

khấu giá do mua lượng hàng lớn, nhưng thực hiện bằng nhiều hợp đồng...), chưa rõ

những doanh nghiệp nào có dấu hiệu này. Thông tin về dấu hiệu thường chưa đủ cụ

thể, chính xác nên diện phải xem xét thường rất rộng, khó đánh giá phạm vi, mức

độ rủi ro, xem xét tất cả sẽ lãng phí nguồn lực. Do vậy, cần nhận dạng tương đối

chính xác về dấu hiệu vi phạm làm cơ sở cho việc xác định quy mô của dấu hiệu.

Sau khi nhận rõ dấu hiệu, nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm có thể

gây thất thu đáng kể (ví dụ chênh lệch lớn về mức thuế suất…), hoặc vi phạm lớn

chính sách quản lý xuất nhập khẩu, hoặc đây là thủ đoạn mới, nếu không ngăn chặn

thì sẽ lan rộng, hoặc theo quy định của pháp luật sắp hết thời hạn KTSTQ… thì tiến

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 21 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

hành các bước tiếp theo; nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm, nhưng hậu

quả có thể nhỏ (ví dụ sai mã số hàng hóa, nhưng không thay đổi thuế suất…), trong

khi tại thời điểm hiện tại đơn vị có những nhiệm vụ khác cần ưu tiên nguồn lực hơn,

thì đề nghị tạm dừng, đưa vào diện theo dõi tiếp. Quá trình thu thập thông tin cho

thấy dấu hiệu vi phạm, quy mô vi phạm còn được thể hiện ở các nguồn thông tin

khác thì tiến hành thu thập thêm thông tin từ các nguồn đó nhằm nhận dạng rõ hơn

về dấu hiệu vi phạm.

Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin đối với trường hợp đã có dấu

hiệu vi phạm là việc xác định được doanh nghiệp phải được tiến hành KTSTQ.

+ Trường hợp đã xác định được tên doanh nghiệp cụ thể: Nếu dấu hiệu đã rõ,

quy mô dấu hiệu lớn đến mức phải ưu tiên kiểm tra thì đưa vào danh sách các doanh

nghiệp phải KTSTQ; Nếu dấu hiệu chưa thật rõ, hoặc dấu hiệu rõ nhưng quy mô

nhỏ thì đề nghị đưa vào diện theo dõi tiếp, khi đơn vị bố trí được nguồn lực thì thực

hiện kiểm tra.

+ Trường hợp dấu hiệu liên quan đến một nhóm doanh nghiệp: Tùy theo

nguồn lực mà quyết định số lượng doanh nghiệp sẽ được kiểm tra và thứ tự ưu tiên

kiểm tra trước. Nếu nguồn lực hạn chế thì chọn doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao

hơn so với các doanh nghiệp khác (dấu hiệu vi phạm rõ hơn, quy mô vi phạm lớn

hơn, kim ngạch lớn hơn,…) tiến hành kiểm tra trước.

- Hoạt động xử lý thông tin và xác định đối tượng phải KTSTQ:

Căn cứ xác định đối tượng thu thập thông tin là kế hoạch kiểm tra đã được

xác định, chỉ đạo của lãnh đạo các cấp và nguồn lực hiện tại. Đối tượng ở đây gồm

doanh nghiệp hoặc lĩnh vực cần thu thập thông tin. Nguồn thông tin thu thập từ cơ

sở dữ liệu của ngành Hải quan (số liệu QLRR XNK, GT01, QLVP, KT559...) và

thu thập thông tin từ các nguồn khác.

Một doanh nghiệp có thể kinh doanh XNK nhiều loại hàng, nhiều loại hình;

một lĩnh vực có thể có nhiều doanh nghiệp kinh doanh, nếu thu thập thông tin dàn

trải vào tất cả các mặt hàng, loại hình, lĩnh vực đó thì sẽ lãng phí nguồn lực, không

hiệu quả và không phù hợp nguyên tắc quản lý rủi ro. Vì vậy, việc thu thập thông

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 22 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

tin phải được tập trung vào những vấn đề nhất định. Phạm vi đó có thể là một doanh

nghiệp (trường hợp có nhiều doanh nghiệp cùng XNK một mặt hàng, loại hình, lĩnh

vực, có cùng một hiện tượng), có thể là một mặt hàng (trường hợp doanh nghiệp

XNK nhiều mặt hàng), có thể là một chi tiết về mặt hàng (mã số, giá…).

Xác định phạm vi thu thập thông tin:

+ Trường hợp đối tượng là một doanh nghiệp cụ thể: Thu thập thông tin

tổng hợp về hoạt động XNK (mặt hàng, lĩnh vực, kim ngạch XNK, tình hình chấp

hành pháp luật…) trong thời gian từ thời điểm đang thu thập thông tin trở về 5 năm

trước. Trong các hoạt động XNK trên thấy vấn đề gì nổi cộm, có dấu hiệu hoặc đối

chiếu với tình hình chung của các doanh nghiệp khác để nhận định khả năng rủi ro

cao nằm trong phạm vi nào, từ đó xác định phạm vi thu thập thông tin sâu (tập trung

vào mặt hàng nào? lĩnh vực nào?…).

+ Trường hợp đối tượng là một nhóm doanh nghiệp (xuất, nhập khẩu cùng

một mặt hàng, loại hình hoặc có cùng một hiện tượng): Tra cứu tìm tất cả các doanh

nghiệp đó; Sắp xếp thứ tự từ lớn đến nhỏ theo kim ngạch; Căn cứ vào nguồn lực

hiện tại để xác định thu thập thông tin theo thứ tự ưu tiên kim ngạch lớn kiểm tra

trước, kim ngạch nhỏ kiểm tra sau.

Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin là việc xác định được doanh

nghiệp đưa vào kế hoạch KTSTQ [23].

1.2.1.2. Hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập

khẩu

- KTSTQ tại trụ sở Hải quan:

Xác định đối tượng kiểm tra, phạm vi kiểm tra theo nguyên tắc quản lý rủi

ro, căn cứ vào kết quả thu thập, xử lý thông tin, kế hoạch đã được xác định, dấu

hiệu vi phạm mới phát hiện, tình hình nổi cộm từng thời gian hoặc chỉ đạo của cấp

trên. Phạm vi kiểm tra tùy thuộc vào hình thức cuộc kiểm tra:

+ Kiểm tra theo kế hoạch: Là kiểm tra đánh giá sự tuân thủ pháp luật của

doanh nghiệp, chưa có dấu hiệu vi phạm cụ thể. Do vậy, phạm vi kiểm tra rộng hơn,

thường là kiểm tra toàn diện hoạt động XNK của doanh nghiệp, trong một giai đoạn.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 23 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Kiểm tra chọn mẫu, kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm:

Là kiểm tra khi đã có những thông tin vi phạm pháp luật hoặc đã có những

nghi ngờ nhất định. Do vậy, phạm vi kiểm tra thường hẹp hơn, tập trung vào những

dấu hiệu, nghi ngờ đó (kiểm tra chuyên sâu).

Thực hiện rà soát, củng cố lại thông tin đã có bằng việc đối chiếu các thông

tin đó với các cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan (cơ sở dữ liệu quản lý tờ khai Hải

quan, cơ sở dữ liệu quản lý giá tính thuế, cơ sở dữ liệu về vi phạm hành chính về

Hải quan và cơ sở dữ liệu quản lý hàng gia công, sản xuất - xuất khẩu...). Đối chiếu

các thông tin đã được củng cố trên với hồ sơ Hải quan lưu tại đơn vị Hải quan làm

thủ tục thông quan cho các lô hàng liên quan và tiến hành các công việc sau:

 Đề nghị các đơn vị Hải quan làm thủ tục thông quan cung cấp bổ sung tài

liệu, thông tin, giải thích những vấn đề chưa rõ trên hồ sơ Hải quan.

 Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các tài liệu, chứng từ liên quan.

 Xác minh các vấn đề chưa rõ ở các tổ chức, cá nhân liên quan hoặc có khả

năng biết được vấn đề đó.

 Giám định các chứng từ nghi vấn, giám định hàng hóa nếu cần thiết và còn

điều kiện.

 Tổng hợp, hệ thống lại các thông tin trên, để làm rõ về đối tượng kiểm tra.

Báo cáo các công việc, biện pháp đã làm, các thông tin đã thu thập được, phân tích

về các thông tin đó, những vấn đề đã kết luận được, những vấn đề chưa rõ, những

việc cần làm tiếp, những đề xuất.

Trường hợp các thông tin về hoạt động XNK của doanh nghiệp là đầy đủ,

minh bạch, doanh nghiệp không vi phạm pháp luật thì đề nghị kết thúc kiểm tra, lập

“Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan”, đưa doanh nghiệp vào diện

chấp hành tốt pháp luật, tổ chức lưu trữ hồ sơ vụ việc theo quy định.

Trường hợp phát hiện doanh nghiệp có dấu hiệu nộp thiếu tiền thuế hoặc có

vi phạm pháp luật, nhưng chưa đủ căn cứ để kết luận doanh nghiệp có vi phạm pháp

luật không thì yêu cầu doanh nghiệp giải trình.

Trường hợp doanh nghiệp giải trình được rõ ràng các vấn đề nêu ra thì báo

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 24 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

cáo đề xuất kết thúc kiểm tra, lập “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải

quan”, đưa doanh nghiệp vào diện chấp hành tốt pháp luật, tổ chức lưu trữ hồ sơ vụ

việc theo quy định.

Trường hợp có nghi vấn về giải trình của doanh nghiệp liên quan đến các tổ

chức, cá nhân khác thì tiến hành xác minh làm rõ.

Trường hợp doanh nghiệp không giải trình hoặc không giải trình được thì:

 Nếu đã có đủ căn cứ để ấn định thuế, căn cứ để xử lý vi phạm hành chính

thì lập “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan”.

 Nếu chưa đủ căn cứ để ấn định thuế thì đề nghị tiếp tục KTSTQ tại trụ sở

doanh nghiệp.

- KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp:

+ Ban hành Quyết định thành lập đoàn KTSTQ tại doanh nghiệp, đoàn kiểm

tra xác định phạm vi kiểm tra và lập kế hoạch kiểm tra. Nội dung cơ bản của một

bản kế hoạch KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp bao gồm: Phạm vi kiểm tra; nội dung

kiểm tra; thời gian kiểm tra; dự kiến những công việc phải làm; phân công nhiệm vụ

cho các thành viên; dự kiến các tình huống và biện pháp xử lý tình huống; thông tin

liên lạc; kế hoạch hậu cần, đảm bảo… Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm tổ chức

gửi quyết định kiểm tra với doanh nghiệp được kiểm tra trong thời hạn 3 ngày (trừ

trường hợp kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm được thực hiện ngay sau khi ban hành

quyết định, không yêu cầu phải báo trước). Cùng với quyết định kiểm tra, Trưởng

đoàn kiểm tra gửi cho doanh nghiệp bản thông báo sơ bộ những công việc sẽ làm,

sổ kế toán, chứng từ, tài liệu doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn.

+ Thực hiện kiểm tra tại doanh nghiệp:

 Công bố quyết định kiểm tra: Trưởng đoàn kiểm tra công bố quyết định

kiểm tra, nói rõ lý do, mục đích, yêu cầu của cuộc kiểm tra; giải thích những vấn đề

doanh nghiệp chưa rõ; những công việc doanh nghiệp phải thực hiện; những sổ kế

toán, chứng từ, tài liệu, dữ liệu điện tử… doanh nghiệp phải chuẩn bị cung cấp;

quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; yêu cầu doanh

nghiệp cử lãnh đạo, kế toán và những người khác trực tiếp làm việc với đoàn và ký

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 25 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

các biên bản trong quá trình kiểm tra; những đề nghị doanh nghiệp hợp tác,… Đại

diện doanh nghiệp thông báo với đoàn về những người được ủy quyền đại diện

doanh nghiệp làm việc với đoàn trong quá trình kiểm tra, những người được ủy

quyền ký các biên bản. Thông báo này được ghi vào biên bản làm việc (hoặc doanh

nghiệp có văn bản chỉ định gửi đoàn kiểm tra. Trong trường hợp này, vẫn phải ghi

vào biên bản làm việc), có giá trị thực hiện. Ngoài ra, phía doanh nghiệp có thể yêu

cầu đoàn giải thích những vấn đề mà mình chưa rõ, những đề nghị…

 Thực hiện kiểm tra: Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện các tình tiết

mới cần phải xác minh thì Trưởng đoàn phân công thành viên của đoàn đi xác minh.

Nếu có những vấn đề cần doanh nghiệp phải giải trình bằng văn bản hoặc doanh

nghiệp đề nghị được giải trình bằng văn bản thì yêu cầu hoặc đồng ý doanh nghiệp

giải trình bằng văn bản. Văn bản giải trình được gắn liền với biên bản làm việc hàng

ngày ký giữa Trưởng đoàn và đại diện doanh nghiệp. Trong quá trình kiểm tra phát

hiện các chứng từ, sổ kế toán, tài liệu có nội dung phản ánh hành vi vi phạm pháp

luật của doanh nghiệp thì yêu cầu người có trách nhiệm của doanh nghiệp sao y bản

chính và ký xác nhận vào bản sao y để làm chứng cứ xử lý vi phạm sau này. Kết

thúc mỗi ngày làm việc hoặc từng nội dung kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra phải

cùng đại diện được ủy quyền của doanh nghiệp lập biên bản làm việc ghi nhận nội

dung công việc đã làm trong ngày hoặc lũy kế từ những ngày trước, kết luận những

nội dung đã kiểm tra xong, những yêu cầu, đề nghị của mỗi bên (nếu có).

 Kết luận kiểm tra: Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn

KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp, Trưởng đoàn kiểm tra phải ký “Bản kết luận

KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp”. Nội dung cơ bản của Bản kết luận phải thể hiện rõ

được các nhiệm vụ kiểm tra theo quyết định kiểm tra; những công việc đã làm, kết

quả, kết luận cụ thể về từng nội dung; những nội dung doanh nghiệp đã thực hiện

đúng, không sai phạm; những nội dung doanh nghiệp thực hiện chưa đúng hoặc có

sai phạm (ghi cụ thể hành vi vi phạm), vi phạm quy định nào của pháp luật; số thuế

nộp thiếu, nộp thừa (nếu có); trách nhiệm của doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân

khác có liên quan; những nội dung chưa thực hiện được hoặc chưa hoàn thành,

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 26 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

nguyên nhân; tinh thần, thái độ của doanh nghiệp trong quá trình kiểm tra; các kiến

nghị. Bản kết luận, các bản số liệu tính toán, các biên bản của đoàn và của thành

viên, nhóm thành viên đoàn kiểm tra, các bản giải trình, tham gia ý kiến của doanh

nghiệp, các bản xác minh tạo thành bộ hồ sơ KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp [23].

1.2.1.3. Hoạt động lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực

KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

- Hoạt động lập hồ sơ trong lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu,

nhập khẩu: Hoạt động này được thực hiện từ khi ban hành Quyết định KTSTQ tại

trụ sở doanh nghiệp tới khi ban hành “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở doanh

nghiệp” hoặc sau khi lập Biên bản vi phạm hành chính (nếu có).

Các hồ sơ được lập trong giai đoạn này gồm:

+ Biên bản làm việc giữa đoàn kiểm tra với giám đốc hoặc người được giám

đốc ủy quyền của doanh nghiệp được kiểm tra (doanh nghiệp): Biên bản này có vị

trí đặc biệt quan trọng, để xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp, xác định rõ

những người có trách nhiệm tham gia trong quá trình kiểm tra, xác định phương

pháp làm việc, cách thức phối hợp hai bên. Nội dung chính của biên bản là ghi lại

việc công bố quyết định KTSTQ, sự thống nhất giữa hai bên về các công việc mỗi

bên phải làm, cách thức phối hợp để thực hiện các công việc đó, những người có

trách nhiệm chung và trong từng phần việc.

+ Biên bản làm việc của thành viên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra với đại

diện doanh nghiệp: Ghi lại kết quả kiểm tra, nội dung làm việc giữa thành

viên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra với đại diện doanh nghiệp. Biên bản này phải

phản ánh được đầy đủ, cụ thể, chính xác nội dung và kết quả kiểm tra; phải có kết

luận rõ ràng về từng vấn đề.

+ Báo cáo kết quả kiểm tra hàng ngày của thành viên/nhóm thành viên với

Trưởng đoàn kiểm tra: Báo cáo này giúp cho Trưởng đoàn kiểm tra nắm chắc tình

hình, tiến độ công việc để có chỉ đạo, điều chỉnh phù hợp.

+ Biên bản làm việc giữa Trưởng đoàn kiểm tra với đại diện có thẩm quyền

của doanh nghiệp: Biên bản này là cơ sở để Trưởng đoàn lập “Bản kết luận KTSTQ

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 27 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

tại trụ sở doanh nghiệp”, là cơ sở lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý vi phạm

sau này.

+ Tài liệu xác minh trong quá trình kiểm tra (nếu có): Là một trong những

căn cứ để xem xét kết luận về vấn đề còn nghi vấn, chưa rõ, còn ý kiến khác nhau

giữa đoàn kiểm tra và doanh nghiệp. Tài liệu xác minh là bộ phận không tách rời

của Biên bản làm việc của thành viên/nhóm thành viên, Bản kết luận của Trưởng

đoàn kiểm tra; là hồ sơ xử lý sau này.

+ Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp (Bản kết luận): Là cơ sở để

người ban hành quyết định kiểm tra xem xét, kết luận vụ việc; là căn cứ để lập biên

bản vi phạm hành chính; là cơ sở để người có thẩm quyền ban hành các quyết định

hành chính. Bản kết luận được lập trên cơ sở Biên bản làm việc giữa Trưởng đoàn

kiểm tra với đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp; Các tài liệu xác minh; Các

bản giải trình của doanh nghiệp trong quá trình kiểm tra.

+ Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan: Biên bản này được

lập sau Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan hoặc tại trụ sở doanh

nghiệp; hoặc sau kết luận của người ban hành quyết định kiểm tra (nếu có). Căn cứ

để lập Biên bản vi phạm hành chính là Bản kết luận. Các loại biên bản làm việc của

thành viên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra, của trưởng đoàn kiểm tra ký với đại diện

doanh nghiệp cũng được xem xét khi lập biên bản vi phạm.

- Hoạt động ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ đối với

hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu:

+ Quyết định ấn định thuế:

Áp dụng trong trường hợp số thuế phải nộp do: người nộp thuế tự phát hiện

thiếu thuế, xin khai nộp bổ sung; cơ quan Hải quan xác định trên cơ sở kết quả

KTSTQ tại trụ sở Hải quan hoặc tại trụ sở doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp đã

giải trình hoặc doanh nghiệp không thực hiện quyền giải trình. Quyết định ấn định

thuế được ban hành trên cơ sở nội dung khai bổ sung của người nộp thuế sau khi cơ

quan Hải quan đã rà soát, đối chiếu với hồ sơ Hải quan; Kết quả KTSTQ tại trụ sở

Hải quan hoặc tại trụ sở doanh nghiệp đã đủ căn cứ để kết luận doanh nghiệp nộp

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 28 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

thiếu thuế và đã xác định được số thuế nộp thiếu. Thẩm quyền ký ban hành Quyết

định ấn định thuế là: Chi cục trưởng KTSTQ; Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thành

phố; Tổng cục trưởng Tổng Cục Hải quan hoặc người được ủy quyền.

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

Trong lĩnh vực KTSTQ các quyết định xử phạt vi phạm hành chính gồm:

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về Hải quan ngoài lĩnh vực thuế; Quyết

định xử phạt vi phạm hành chính về Hải quan trong lĩnh vực thuế; Quyết định xử

phạt VPHC trong lĩnh vực Hải quan bằng hình thức phạt cảnh cáo.

Khi ban hành quyết định hành chính, phải đặc biệt chú ý thực hiện đúng quy

định của pháp luật nói chung, hình thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền. Việc soạn

thảo các quyết định hành chính sử dụng theo mẫu ấn chỉ quy định. Phần căn cứ

pháp luật áp dụng để ban hành quyết định hành chính trước hết phải dẫn chiếu đến

văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, rồi đến các văn bản pháp

luật khác, về lĩnh vực đó, đang có hiệu lực thi hành. Phải trích dẫn cụ thể chương,

mục, điều, khoản, điểm cụ thể được áp dụng. Ngoài các văn bản pháp luật, có thể

dẫn chiếu thêm các văn bản cá biệt, các bản kết luận kiểm tra, các biên bản, nhưng

không ghi là căn cứ vào văn bản đó. Chú ý thực hiện đúng thẩm quyền của người

ban hành quyết định hoặc thủ tục ủy quyền cho người ban hành quyết định hành

chính; thời hiệu, thời hạn khi ban hành các quyết định hành chính.

+ Giải quyết khiếu nại (nếu có): Quyết định giải quyết khiếu nại phải gửi cho

người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trước đó (nếu là giải quyết lần hai),

người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan, người chuyển đơn đến trong

thời hạn 05 ngày kể từ ngày ký quyết định. Khi giải quyết khiếu nại về thuế, có

quyền yêu cầu người khiếu nại cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại;

nếu người khiếu nại từ chối cung cấp hồ sơ, tài liệu thì có quyền từ chối xem xét

giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại (bao gồm quyết định giải

quyết khiếu nại lần đầu và lần hai) có hiệu lực pháp luật, nếu trong thời hạn do pháp

luật quy định, người khiếu nại không khiếu nại tiếp, không khởi kiện vụ án hành

chính tại tòa án.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 29 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Tham gia tố tụng tại tòa án (nếu có): Sau khi nhận được thông báo thụ lý

vụ án hành chính của tòa án mà đơn vị KTSTQ là bên bị kiện, phải đọc kỹ nội dung

thông báo; đồng thời làm công văn giải trình gửi tòa án trong thời hạn 15 ngày tính

từ ngày nhận được thông báo của tòa; nếu không thể giải trình trong thời hạn trên

thì làm đơn xin gia hạn gửi tòa án, nêu rõ lý do. Cung cấp cho tòa án các tài liệu,

văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn đã được sử dụng làm căn cứ ban hành quyết

định hành chính bị khiếu kiện; lập bảng kê, ký tên, đóng dấu vào từng tài liệu cung

cấp. Sau khi có bản án, quyết định của tòa án, cần làm thủ tục xin cấp bản sao bản

án, quyết định của tòa án. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, nếu không đồng ý thì

có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tòa tuyên án hoặc ra quyết

định. Đơn kháng cáo được gửi đến tòa án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo phải nêu rõ:

Nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của tòa án sơ thẩm bị kháng cáo,

yêu cầu kháng cáo, lý do kháng cáo. Nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà

không có đương sự nào kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị thì bản án,

quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật [23].

1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra sau thông quan

1.2.2.1. Hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách về hoạt động KTSTQ

- Hệ thống pháp luật Hải quan về KTSTQ:

Hệ thống này có ý nghĩa quyết định đến hoạt động KTSTQ. Hoạt động

KTSTQ chỉ thực hiện một cách có hiệu quả khi có một hệ thống pháp luật hoàn

chỉnh từ Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp luật có liên quan điều chỉnh

đầy đủ các quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động KTSTQ. Theo đó, phải đề

cập được đầy đủ các yếu tố: mục đích, yêu cầu của KTSTQ; đối tượng, phạm vi

điều chỉnh; quyền và trách nhiệm của cơ quan Hải quan và đối tượng KTSTQ; quy

trình thủ tục KTSTQ; xử lý vi phạm và trình tự giải quyết khiếu nại về KTSTQ.

Những nội dung chủ yếu trên phải đặt trong tổng thể mối quan hệ với các quy định

của Luật Hải quan nói chung.

- Hệ thống pháp luật về thuế:

Nếu hệ thống pháp luật về thuế (Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; thuế tiêu thụ

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 30 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

đặc biệt; thuế giá trị gia tăng...) đối với hàng hóa XNK rõ ràng, minh bạch, thì sẽ

quản lý được nguồn thu của ngân sách nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho các

doanh nghiệp chủ động trong việc kê khai, tính thuế, nộp thuế thuận lợi, chính xác.

Ngược lại, nếu các nội dung quy định trong từng Luật thuế không rõ ràng, minh

bạch đảm bảo sự thống nhất, không quy định rõ quyền lợi, trách nhiệm của người

nộp thuế, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan kiểm tra về thuế, thì sẽ gây thất thu

cho ngân sách nhà nước.

- Hệ thống pháp luật có liên quan đến KTSTQ:

KTSTQ liên quan đến các đối tượng có hoạt động XNK. Vì vậy, ngoài các

quy định liên quan đến hoạt động thương mại như Luật thương mại còn có các quy

định về tập quán thương mại quốc tế và pháp luật có liên quan đến việc thành lập và

hoạt động của doanh nghiệp. Do KTSTQ trực tiếp liên quan đến kiểm tra chứng từ,

sổ kế toán, báo cáo tài chính, vì vậy, việc chấp hành nghiêm các quy định của pháp

luật về kế toán thống kê có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động KTSTQ.

Các quy định trong hệ thống thanh toán quốc gia, đảm bảo tỷ lệ thấp nhất

thanh toán bằng tiền mặt, đặc biệt trong quan hệ mua bán hàng hóa XNK phải được

thực hiện qua hệ thống ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ các nguồn thanh toán ngoài

hệ thống ngân hàng. Ở Việt Nam, cơ chế thanh toán bằng tiền mặt như hiện nay dẫn

đến tình trạng giá bán hàng ghi trên hóa đơn không phản ánh đúng giá thực tế.

Doanh nghiệp dễ dàng lập hồ sơ chứng từ giả để gian lận về giá nhập khẩu nhằm

trốn thuế.

- Cơ chế thực thi pháp luật Hải quan và pháp luật khác có liên quan:

Công tác kiểm tra, giám sát, quản lý của ngành Hải quan có liên quan đến rất

nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; Ngành Hải quan bên cạnh việc chỉ đạo thực thi pháp

luật Hải quan còn phải chỉ đạo thực thi một khối lượng lớn văn bản pháp luật của

các ngành khác. Vì vậy, cần phải có cơ chế thích hợp và hữu hiệu để thực thi công

tác này. Điều này cũng chỉ ra rằng, chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước phải

phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với cơ quan Hải quan để đảm bảo mục tiêu chung của

quốc gia.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 31 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

1.2.2.2. Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực cho hoạt động KTSTQ

- Ảnh hưởng của tổ chức bộ máy đến hoạt động KTSTQ:

Tổ chức bộ máy cho hoạt động KTSTQ gồm hệ thống bộ máy từ trung ương

(Tổng Cục Hải quan) đến các địa phương (Cục Hải quan tỉnh, thành phố). Tùy theo

nguồn lực hiện có, khối lượng công việc, quy mô địa bàn quản lý để bố trí số lượng

công chức KTSTQ ở từng cấp cho hợp lý, ưu tiên cấp trực tiếp KTSTQ. Đối với cấp

Tổng Cục Hải quan: Chủ yếu làm chức năng tham mưu cho cấp có thẩm quyền ban

hành các văn bản pháp luật quy định về KTSTQ; xây dựng kế hoạch chiến lược về

KTSTQ; tổ chức và quản lý công tác KTSTQ trong toàn ngành, trực tiếp tiến hành

KTSTQ và thực hiện một số nhiệm vụ khác theo phân công, phân cấp của cấp có

thẩm quyền. Đối với cấp Cục Hải quan tỉnh, thành phố: Chủ yếu thực hiện KTSTQ

theo địa bàn quản lý; thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của cấp Tổng cục giao. Chức

năng chủ yếu của đơn vị này là hoạt động thu thập, phân tích xử lý thông tin và tiến

hành hoạt động KTSTQ tại trụ sở của đối tượng KTSTQ.

Nếu tổ chức bộ máy thống nhất, đồng bộ, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ

và quyền hạn của mỗi cấp thì hoạt động sẽ thông suốt và mang lại hiệu quả như

mong muốn, đáp ứng được yêu cầu quản lý đề ra.

Ngược lại, nếu tổ chức bộ máy không đồng bộ và không thống nhất về chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp thì hoạt động chồng chéo, gây ách tắc và

mang lại hiệu quả thấp, không đáp ứng được yêu cầu quản lý đề ra.

- Ảnh hưởng của nguồn nhân lực Hải quan đến hoạt động KTSTQ:

+ Chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt động KTSTQ có tính quyết định đến

hiệu quả hoạt động KTSTQ, bao gồm các vấn đề chủ yếu sau:

 Xây dựng tiêu chuẩn công chức KTSTQ, bao gồm các tiêu chuẩn về phẩm

chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng kiểm tra cho

từng đối tượng (các cấp lãnh đạo, nhân viên...) trong toàn hệ thống KTSTQ.

 Quy trình tuyển dụng, bố trí sắp xếp công chức ở từng khâu công việc cụ

thể, đặc biệt ở các khâu trọng yếu cần ưu tiên bố trí công chức có kinh nghiệm,

năng lực thực tế, phù hợp với chuyên môn được đào tạo.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 32 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

 Công tác đánh giá cán bộ để phục vụ cho việc phân loại, khen thưởng kịp thời

những nhân tố tích cực, đồng thời kỷ luật nghiêm những công chức có sai phạm.

 Từ công tác đánh giá cán bộ cũng xác định được nhu cầu đào tạo trong

toàn hệ thống, qua đó xây dựng chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, xây dựng

đội ngũ giảng viên, tổ chức đào tạo và đánh giá công tác đào tạo.

+ Nếu chất lượng nguồn nhân lực cao, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi

sai phạm sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt động KTSTQ, tăng cường hiệu lực, hiệu

quả công tác quản lý Hải quan.

+ Ngược lại, nếu chất lượng nguồn nhân lực thấp không đáp ứng được yêu

cầu nhiệm vụ sẽ dẫn đến công việc bị tồn đọng, hiệu quả của hoạt động KTSTQ

thấp, không đáp ứng được yêu cầu quản lý.

1.2.2.3. Trang thiết bị và công tác đảm bảo cho hoạt động KTSTQ

- Về trang thiết bị:

+ Để đáp ứng yêu cầu công việc, lực lượng KTSTQ cần được trang bị các

trang thiết bị phục vụ công việc gồm: Máy giám định tài liệu, máy tính nối mạng,

máy ảnh, máy ghi âm; Phương tiện đi lại như xe máy, ô tô phục vụ công tác điều

tra, xác minh… đồng thời công chức KTSTQ được phân quyền truy cập các chương

trình quản lý nghiệp vụ trong cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan để phục vụ công tác

thu thập thông tin của đối tượng kiểm tra.

+ Nếu được đáp ứng đầy đủ trang thiết bị, phương tiện và các nguồn thông

tin sẽ giúp cho hoạt động KTSTQ chủ động, kịp thời và mang lại hiệu quả cao.

Ngược lại, nếu không được đáp ứng, hoạt động KTSTQ luôn bị động, không phát

huy được vai trò của mình.

- Công tác đảm bảo:

+ Trong hoạt động của mình, lực lượng KTSTQ được đảm bảo các chi phí

để hoạt động gồm: sử dụng kinh phí để chi mua tin, thu thập thông tin trong và

ngoài ngành; được trích thưởng từ tiền phạt vi phạm hành chính thông qua công tác

KTSTQ; được hưởng phụ cấp đặc thù... Các hoạt động thường xuyên của lực lượng

KTSTQ được thực hiện theo cơ chế khoán chi.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 33 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Nếu được đảm bảo các nguồn chi phí sẽ giúp cho hoạt động KTSTQ chủ

động, kịp thời; động viên công chức KTSTQ yên tâm công tác, phát huy nội lực,

sáng tạo, say mê trong thực thi nhiệm vụ. Ngược lại, nếu không đảm bảo các chi

phí, nguồn thông tin cung cấp cho lực lượng KTSTQ sẽ hạn chế; không tạo được sự

yên tâm công tác của đội ngũ công chức và không thu hút được nguồn nhân lực chất

lượng cao vào trong lực lượng KTSTQ.

1.2.2.4. Sự phối hợp hoạt động trong và ngoài ngành

- Phối hợp trong ngành:

+ Hoạt động phối hợp giữa lực lượng KTSTQ với các đơn vị nghiệp vụ trong

ngành như: Hải quan cửa khẩu; kiểm soát chống buôn lậu; thanh tra; quản lý thuế;

giám sát quản lý... được thực hiện thường xuyên; khi cần thiết lực lượng KTSTQ có

thể trưng dụng chuyên gia thuộc các lĩnh vực nghiệp vụ để phục vụ công tác

KTSTQ. Nguồn thông tin từ các đơn vị nghiệp vụ cung cấp cho lực lượng KTSTQ

rất quan trọng trong việc đánh giá phân loại và lựa chọn đối tượng kiểm tra.

+ Nếu sự phối hợp giữa lực lượng KTSTQ và các đơn vị nghiệp vụ trong

ngành Hải quan được thực hiện chặt chẽ và kịp thời sẽ giúp cho lực lượng KTSTQ

có cơ sở trong việc đánh giá phân loại và lựa chọn đối tượng kiểm tra; kịp thời kiểm

tra, phát hiện và ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm. Mặt khác, kết quả KTSTQ

được phản hồi sẽ giúp cho các đơn vị nghiệp vụ triển khai nhiệm vụ theo chức năng

của mình đạt hiệu quả cao hơn.

+ Ngược lại, nếu sự phối hợp giữa lực lượng KTSTQ và các đơn vị nghiệp

vụ trong ngành Hải quan thực hiện không tốt thì hiệu quả của hoạt động KTSTQ sẽ

bị ảnh hưởng đáng kể và không đáp ứng yêu cầu quản lý Hải quan.

- Phối hợp ngoài ngành:

+ Trong hoạt động KTSTQ, việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân

ngoài ngành được thực hiện thường xuyên theo yêu cầu nhiệm vụ, bao gồm: phối

hợp công tác giữa 3 ngành trực thuộc Bộ tài chính là Hải quan, Thuế, Kho bạc được

triển khai thực hiện ở cấp Trung ương và ở các địa phương, được kết nối qua mạng

và duy trì thường xuyên là một kênh thông tin quan trọng phục vụ công tác KTSTQ.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 34 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Ngoài ra, công tác phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin giữa lực lượng KTSTQ với

các cơ quan có liên quan khác như ngân hàng, vận tải, bảo hiểm, quản lý thị trường,

công an…

+ Nếu sự phối hợp giữa lực lượng KTSTQ với các tổ chức, cá nhân ngoài

ngành được thực hiện thường xuyên, kịp thời sẽ giúp cho lực lượng KTSTQ có cơ

sở trong việc củng cố chứng cứ, kết luận và xử lý hành vi vi phạm; tăng cường hiệu

lực, hiệu quả của công tác quản lý Hải quan. Ngược lại, nếu sự phối hợp giữa lực

lượng KTSTQ với các tổ chức, cá nhân ngoài ngành Hải quan thực hiện không tốt,

nhiều vụ việc sẽ bị kéo dài và đạt hiệu quả thấp.

1.2.2.5. Hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế về Hải quan

- Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở thành xu thế tất yếu cho quá trình

phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, tiến trình hội nhập này có

những điểm đặc thù so với các nước trên thế giới, đó là trong bối cảnh nền kinh tế

chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa. Đặc thù này đã chỉ ra mức độ cải cách của hệ thống pháp luật điều chỉnh

hoạt động Hải quan nói chung và hoạt động KTSTQ nói riêng.

- Hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế về Hải quan tạo

cho hoạt động KTSTQ cơ hội phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh Hải quan Việt

Nam đang từng bước cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan một cách

toàn diện, chuyển từ phương pháp quản lý thủ công hiện nay sang phương pháp

quản lý Hải quan hiện đại, trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp

quản lý rủi ro, áp dụng các chuẩn mực WTO và khu vực. Trọng tâm của phương

pháp này là cơ quan Hải quan sẽ chuyển hướng từ vai trò quản lý đối với hàng hóa

XNK tại thời điểm nhập khẩu (xuất khẩu) sang vai trò KTSTQ thông qua việc quản

lý trên cơ sở kiểm toán, bằng cách kéo dài thời gian kiểm tra, mở rộng phạm vi

kiểm tra, mở rộng đối tượng kiểm tra, mở rộng địa điểm kiểm tra, đổi mới phương

pháp kiểm tra. Vì vậy, hoạt động KTSTQ đã được khẳng định và mang tính tất yếu;

đây là một hoạt động nghiệp vụ tiên tiến và mang lại hiệu quả tuân thủ cao, ngày

càng nhận được nhiều sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự ủng

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 35 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

hộ từ phía cộng đồng doanh nghiệp. Cơ sở pháp lý về KTSTQ ngày càng được hoàn

thiện theo hướng tăng cường vai trò của hoạt động KTSTQ, đảm bảo lợi ích của

doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý chặt chẽ hoạt động xuất nhập

khẩu và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Đội ngũ công chức KTSTQ được quan

tâm lựa chọn theo các tiêu chuẩn thích hợp, được tạo điều kiện tham gia các hoạt

động đào tạo nâng cao trình độ. Việc trao đổi và học hỏi kinh nghiệm từ phía cộng

đồng Hải quan quốc tế gặp nhiều thuận lợi, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KTSTQ

đang được coi trọng trong việc liên kết đào tạo, phối hợp trao đổi thông tin, chia sẻ

kinh nghiệm...

- Hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế về Hải quan

cũng tạo ra những thách thức cho hoạt động KTSTQ, do khối lượng công việc tăng

đột biến đòi hỏi phải bổ sung nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời,

để thực hiện các cam kết quốc tế thì phương pháp, nghiệp vụ KTSTQ cũng phải có

những thay đổi phù hợp; cùng với đó các hành vi, thủ đoạn gian lận mới sẽ xuất

hiện đòi hỏi lực lượng KTSTQ phải có những giải pháp thích ứng trong hoạt động

của mình.

1.2.2.6. Nhận thức của các bên có liên quan đến hoạt động KTSTQ

- Nhận thức của CBCC trong ngành Hải quan: CBCC Hải quan là chủ thể

của hoạt động KTSTQ. Chính vì vậy, về nhận thức, trình độ, năng lực của CBCC

Hải quan trong toàn hệ thống có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả công tác. Điều đó

đòi hỏi cần sự quan tâm đúng mức về đầu tư mọi mặt cho hệ thống, cho con người,

đây là nhân tố quyết định sự thành công của hoạt động KTSTQ.

- Trình độ và ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng KTSTQ:

Ở nước ta, trong những năm qua cùng với việc gia tăng hoạt động XNK, các

doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong lĩnh vực này càng ngày càng tăng

về số lượng. Bên cạnh số đông các doanh nghiệp chấp hành pháp luật tốt, còn có

một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp không chấp hành nghiêm chỉnh chính sách

pháp luật nói chung và pháp luật Hải quan nói riêng, điều này ảnh hưởng đến hiệu

quả của hoạt động KTSTQ.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 36 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Để giải quyết vấn đề này, cần phải xét đến sự vận động khách quan của các

quy luật kinh tế; các doanh nghiệp luôn tìm mọi các để có lợi nhuận cao nhất, vì

vậy, trước hết phải không ngừng nâng cao trình độ cho các thương nhân Việt Nam.

Trong những năm gần đây cùng với tiến trình đổi mới kinh tế, mở ra nhiều triển

vọng cho người lao động, một bộ phận cán bộ quản lý doanh nghiệp đã được đào

tạo cơ bản các kiến thức kinh tế, kiến thức quản lý kinh doanh, song cũng còn một

bộ phận chưa được đào tạo bài bản hoặc do hậu quả của chế độ quản lý kinh tế cũ

mà một bộ phận cán bộ này có trình độ thấp, khả năng nhận thức hạn chế, trì trệ,

bảo thủ thiếu linh hoạt (bao gồm cả người quản lý, điều hành và nhân viên trực tiếp

thực hiện), dẫn đến hoạt động kém hiệu quả hoặc vi phạm pháp luật gây thiệt hại

cho Nhà nước cũng như cho chính mình.

Hiện nay thương nhân Việt Nam nhiều về số lượng nhưng chưa tương xứng

về chất lượng. Vì vậy, trước hết các doanh nghiệp phải tự mình nâng cao trình độ,

song song với việc giúp đỡ của các cơ quan chức năng Nhà nước trong đó có cả cơ

quan Hải quan.

1.3. KINH NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA

MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH

1.3.1. Kinh nghiệm trong hoạt động kiểm tra sau thông quan của một số địa

phương

1.3.1.1. Kinh nghiệm hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lạng Sơn

Lực lượng KTSTQ Cục Hải quan Lạng Sơn được thành lập và đi vào hoạt

động từ tháng 4/2004 với biên chế ban đầu chỉ có 03 công chức và dần được tăng

cường qua các năm nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý Hải

quan hiện đại. Đến ngày 31/12/2013, số lượng công chức KTSTQ của Cục Hải quan

Lạng Sơn là 19 người. Với đặc điểm là một tỉnh có biên giới đường bộ, hàng hoá

XNK chủ yếu theo loại hình XNK kinh doanh biên giới. Hoạt động KTSTQ tập trung

thực hiện phân loại, kiểm tra đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật đối với các doanh

nghiệp có hoạt động XNK thường xuyên qua địa bàn; một số mặt hàng trọng điểm

như: máy móc thiết bị, ô tô, linh kiện điện, điện tử, tạp hoá tiêu dùng, quặng, ...

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 37 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Kết quả hoạt động KTSTQ thể hiện ở số lượng doanh nghiệp được kiểm tra,

số vụ vi phạm được phát hiện, số tiền thuế truy thu… bên cạnh đó nhiều hành vi vi

phạm mới được phát hiện từ các cuộc kiểm tra như: doanh nghiệp giả mạo giấy

phép để xuất khẩu khoáng sản; doanh nghiệp khai báo trị giá tính thuế không đầy đủ

các khoản chi phí phải cộng trong trị giá tính thuế như: phí kỳ vụ, phí bản quyền,

phí THC… chuyển giá trong khai báo trị giá tính thuế trong việc nhập khẩu Bộ linh

kiện CKD xe ô tô; số liệu kết quả hoạt động KTSTQ đạt được trong 5 năm gần đây

thể hiện như sau:

Bảng 1.1: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lạng Sơn

Số DN được kiểm tra

Số tiền truy thu thuế (đồng)

Năm

2009

55

1.300.000.000

2010

36

4.319.030.889

2011

58

4.374.451.353

2012

64

5.165.454.127

2013

65

5.142.015.145

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Lạng Sơn

Kết quả KTSTQ của Cục Hải quan Lạng Sơn đạt được là nhờ có sự chỉ đạo

sát sao của Lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh và Cục KTSTQ; sự nỗ lực cố gắng của

công chức KTSTQ và sự phối hợp tốt với các cơ quan trong và ngoài ngành. Bên

cạnh đó, còn những khó khăn, tồn tại đối với hoạt động KTSTQ như sau:

- Về phía cơ quan Hải quan:

+ Số lượng công chức KTSTQ còn thiếu so với qui định (tỷ lệ công chức

KTSTQ chỉ đạt 6% so với tổng quân số toàn Cục trong khi yêu cầu của Tổng Cục

Hải quan là 10%). Chất lượng công chức KTSTQ còn yếu do mới được tuyển dụng

chưa được đào tạo chuyên sâu các chuyên đề kiểm tra, chưa có kỹ năng làm việc

với doanh nghiệp và chưa xử lý tốt các tình huống phát sinh.

+ KTSTQ là một nghiệp vụ mới và khó đòi hỏi công chức phải nắm chắc quy

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 38 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

trình thủ tục Hải quan đồng thời phải am hiểu việc hạch toán, kế toán doanh nghiệp

nên đa số công chức Hải quan đều ngại làm công tác KTSTQ dẫn đến hiệu quả hoạt

động KTSTQ còn thấp.

- Về phía doanh nghiệp:

+ Còn nhiều doanh nghiệp trây ỳ, không hợp tác trong hoạt động kiểm tra

dẫn đến vụ việc kiểm tra kéo dài.

+ Không đồng ý với kết luận của cơ quan Hải quan dẫn đến tranh chấp,

khiếu kiện [4].

1.3.1.2. Kinh nghiệm hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai

Cục Hải quan Lào Cai thực hiện quản lý nhà nước về Hải quan đối với hoạt

động XNK qua biên giới đường bộ và các khu công nghiệp bao gồm cả địa bàn tỉnh

Yên Bái. Lực lượng KTSTQ - Cục Hải quan Lào Cai được thành lập từ tháng

8/2006 với quân số ban đầu gồm 5 công chức, đến ngày 31/12/2013 là 16 người.

Hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai tập trung trọng tâm kiểm tra hồ sơ

đối với các lô hàng luồng xanh tại các Chi Cục Hải quan cửa khẩu để kịp thời phát

hiện sai phạm của các doanh nghiệp, đảm bảo 100% các tờ khai đã được thông quan

đều được rà soát, đánh giá về mức độ rủi ro.

Để làm tốt công tác này, Cục Hải quan Lào Cai định kỳ tiến hành kiểm tra

công tác phúc tập hồ sơ tại các Chi Cục Hải quan cửa khẩu trực thuộc nhằm kịp thời

phát hiện và xử lý, chấn chỉnh, khắc phục sai sót trong nội bộ; trên cơ sở đó rà soát,

phân loại doanh nghiệp để tiến hành KTSTQ. Các hình thức, thủ đoạn gian lận đã

được phát hiện và xử lý trong thời gian vừa qua tại Cục Hải quan Lào Cai phổ biến

là: doanh nghiệp mô tả và áp sai mã số, sai thuế suất đối với hàng hoá XNK dẫn đến

thiếu số tiền thuế phải nộp; doanh nghiệp khai báo không đầy đủ các khoản chi phí

phải cộng trong trị giá tính thuế như: chi phí vận tải, chi phí bốc xếp hàng xuất

khẩu… Cục Hải quan Lào Cai thường xuyên phối hợp tốt với các cơ quan liên quan

như: Ngân hàng, cơ quan thuế nội địa, công an... để thu thập thông tin doanh nghiệp

và phối hợp trong công tác quản lý, kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu của các

doanh nghiệp trên địa bàn. Số liệu kết quả hoạt động KTSTQ đạt được trong 5 năm

gần đây thể hiện như sau:

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 39 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Bảng 1.2: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai

Số DN được kiểm tra

Số tiền truy thu thuế (đồng)

Năm

2009

20

863.960.123

2010

35

2.220.798.000

2011

50

3.122.965.000

2012

56

3.954.145.652

2013

58

4.128.654.000

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Lào Cai

Kết quả KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai mặc dù chưa cao nhưng đã thể

hiện sự nỗ lực cố gắng của hoạt động KTSTQ; một số nguyên nhân dẫn đến hiệu

quả hoạt động KTSTQ chưa cao, đó là:

+ Số lượng và chất lượng công chức KTSTQ chưa đáp ứng được yêu cầu (tỷ

lệ công chức KTSTQ chỉ đạt hơn 7 % so với tổng quân số toàn Cục; đa số công

chức mới tuyển dụng chưa có kinh nghiệm và kỹ năng kiểm tra).

+ Các doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn nhưng chủ yếu có trụ sở

nằm ngoài địa bàn (ở các địa phương như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải

Phòng, Bắc Ninh…) dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm tra, cung cấp hồ

sơ phục vụ KTSTQ [5].

1.3.1.3. Kinh nghiệm hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hóa

Cục Hải quan Thanh Hóa thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hải quan

đối với hàng hóa XNK qua biên giới đường bộ, cửa khẩu cảng biển và địa bàn các

tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định. Lực lượng KTSTQ Cục Hải quan Thanh Hóa

được thành lập từ tháng 7/2006 với quân số khi mới thành lập gồm 8 công chức,

đến tháng 31/12/2013 quân số có 18 công chức.

Với đặc điểm là một tỉnh vừa có biên giới đường bộ vừa có cửa khẩu cảng

biển, đồng thời quản lý địa bàn các tỉnh lân cận, hàng hoá XNK chủ yếu theo loại

hình XNK kinh doanh. Hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hóa tập trung

thực hiện phân loại, kiểm tra đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật đối với các doanh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 40 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

nghiệp có hoạt động XNK thường xuyên qua địa bàn; một số mặt hàng trọng điểm

như: máy móc thiết bị, linh kiện điện, điện tử, hàng tiêu dùng,... nhập khẩu; quặng,

hàng nông sản xuất khẩu. Các hành vi gian lận được phát hiện trong thời gian vừa

qua chủ yếu là: doanh nghiệp không khai đúng các khoản phải cộng hoặc phải trừ ra

khỏi trị giá giao dịch; phương thức và thời gian thanh toán không đúng với khai Hải

quan; sử dụng không đúng mục đích hàng hóa nhập khẩu, gian lận để hưởng chế độ

miễn, giảm, hoàn thuế theo qui định của pháp luật; Giấy phép không hợp lệ đối với

hàng hóa XNK phải có giấy phép chuyên ngành…

Một số biện pháp nghiệp vụ đã được áp dụng trong hoạt động KTSTQ tại

Cục Hải quan Thanh Hóa:

- Thông qua hội nghị đối thoại doanh nghiệp và các hoạt động nghiệp vụ,

chủ động tuyên truyền các quy định của pháp luật, lợi ích cũng như quyền và nghĩa

vụ của doanh nghiệp khi được KTSTQ.

- Chủ động nắm bắt thông tin qua các chương trình quản lý nghiệp vụ của

ngành Hải quan như: Chương trình quản lý tờ khai Hải quan (SLXNK); quản lý giá

tính thuế (GTT01); Xử lý vi phạm (QLVP)… trong đó chú trọng đối với những mặt

hàng mới, doanh nghiệp mới hoạt động XNK có kim ngạch lớn...

- Tập trung chỉ đạo và tăng cường công tác kiểm tra, phúc tập hồ sơ tại các

Chi Cục Hải quan cửa khẩu; nâng cao chất lượng phúc tập nhằm phát hiện sớm, xử

lý kịp thời những sai sót tại khâu thông quan từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả

hoạt động quản lý Hải quan trên địa bàn.

Số liệu kết quả hoạt động KTSTQ trong 5 năm gần đây thể hiện như sau:

Bảng 1.3: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hoá

Số DN được kiểm tra

Số tiền truy thu thuế (đồng)

Năm

2009

20

1.376.234.000

2010

27

2.556.111.000

2011

35

3.880.379.875

2012

40

4.221.701.314

2013

45

4.147.957.200

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Thanh Hoá

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 41 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Bên cạnh những kết quả đạt được, Cục Hải quan Thanh Hoá cũng gặp một số

khó khăn, vướng mắc trong hoạt động KTSTQ:

- Thực hiện KTSTQ đối với một số doanh nghiệp trên địa bàn quản lý của

Cục Hải quan Thanh Hoá có dấu hiệu vi phạm nhưng các doanh nghiệp lại trong

tình trạng ngừng hoạt động, đóng mã số thuế...

- Một số doanh nghiệp hoạt động bình thường, tuy nhiên khi cơ quan Hải

quan mời đến cung cấp hồ sơ, tài liệu để KTSTQ thì không cộng tác, tìm mọi cách

trì hoãn gây khó khăn cho hoạt động KTSTQ. Hiện nay, chưa có quy định chế tài để

xử lý hành vi này.

- Địa bàn quản lý của Cục Hải quan Thanh Hoá rộng, bao gồm nhiều tỉnh, do

đó hoạt động KTSTQ cũng phải triển khai trên toàn địa bàn. Tuy nhiên, trang thiết

bị chưa được đầu tư đúng mức; công chức KTSTQ khi đi kiểm tra tại trụ sở doanh

nghiệp chưa có máy tính sách tay, Chi cục KTSTQ chưa được trang cấp xe ô tô,

máy giám định tài liệu… phục vụ công việc [6].

1.3.2. Bài học rút ra cho Cục Hải quan Quảng Ninh

Trên cơ sở thực tiễn, kinh nghiệm về hoạt động KTSTQ tại một số Cục Hải

quan địa phương có điều kiện địa lý, loại hình xuất nhập khẩu tương đồng với Cục

Hải quan Quảng Ninh, từ đó rút ra những bài học cho hoạt động KTSTQ tại Cục

Hải quan Quảng Ninh như sau:

- Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo:

Trong công tác chỉ đạo điều hành, cần xác định rõ quyết tâm chính trị của tập

thể lãnh đạo Cục và công chức Hải quan trong việc chuyển đổi mạnh mẽ, tiến tới

chuyển đổi căn bản phương thức quản lý từ kiểm tra trong thông quan sang

KTSTQ; thống nhất nhận thức và xác định hoạt động KTSTQ là một khâu quan

trọng trong quá trình phát triển, hiện đại hoá Hải quan. Trong triển khai thực hiện

nhiệm vụ phải có kế hoạch cụ thể, xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân và lộ

trình thực hiện.

- Thực hiện quy trình thủ tục về KTSTQ:

+ Công tác phúc tập hồ sơ tại các Chi Cục Hải quan cửa khẩu là một phần

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 42 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

không thể tách rời khỏi hoạt động KTSTQ, để hoạt động KTSTQ đạt hiệu quả như

mong muốn, các Chi Cục Hải quan cửa khẩu tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng

công tác phúc tập hồ sơ nhằm kịp thời phát hiện các sai sót trong quá trình thông

quan hàng hóa, giảm thiểu các rủi ro và sai sót lặp đi lặp lại. Nếu công tác phúc tập

hồ sơ làm tốt sẽ giảm đi một khối lượng lớn công việc phải thực hiện tại khâu

KTSTQ, đồng thời đây là nguồn thông tin rất hữu ích cho hoạt động KTSTQ.

+ Với những hành vi, thủ đoạn gian lận của doanh nghiệp đã được phát hiện

trong các khâu nghiệp vụ khác như: thông quan; điều tra chống buôn lậu, thanh tra,

quản lý thuế…và kết quả KTSTQ của các địa phương khác, bộ phận quản lý rủi ro

kịp thời thiết lập các tiêu chí phân tích, cảnh báo cho lực lượng KTSTQ có biện

pháp phòng ngừa và phát hiện những vi phạm tương tự trong hoạt động KTSTQ.

+ Trong quá trình thực hiện qui trình KTSTQ, kịp thời phát hiện các quy

định bất cập, chồng chéo, chưa phù hợp… để kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi,

bổ sung cho phù hợp.

- Bố trí nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhận lực cho hoạt động KTSTQ:

+ Nguồn nhân lực có tính chất quyết định đến chất lượng và hiệu quả của

hoạt động KTSTQ. Công chức KTSTQ phải được trang bị kiến thức về pháp luật

Hải quan, nguyên tắc kế toán, kỹ thuật kiểm toán, ngân hàng, thương mại quốc tế,

công nghệ thông tin, ngoại ngữ, đặc biệt quan tâm đến liêm chính Hải quan. Vì vậy,

cần tiến hành rà soát, sắp xếp và bổ sung đội ngũ công chức KTSTQ phù hợp với

chuyên ngành đào tạo nhằm phát huy tối đa năng lực, sở trường của công chức

KTSTQ. Đảm bảo số lượng công chức KTSTQ đạt tỷ lệ chiếm 10% quân số toàn

Cục Hải quan tỉnh theo đúng quy định.

+ Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại các chuyên đề nghiệp vụ có

liên quan đến hoạt động KTSTQ như: kiểm tra chứng từ thương mại, chứng từ ngân

hàng, thanh toán quốc tế, kỹ năng thẩm vấn…; cử công chức đi đào tạo chuyên sâu

tại các tổ chức ngoài ngành để đào tạo ra những chuyên gia về một số lĩnh vực phục

vụ cho hoạt động KTSTQ. Bên cạnh đó, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho

công chức KTSTQ tự học để bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ về mọi mặt.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 43 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

- Bố trí trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cho hoạt động KTSTQ:

Quan tâm trang cấp đầy đủ trang thiết bị làm việc, phương tiện kỹ thuật cho

hoạt động KTSTQ như: máy tính, máy ghi âm, máy ảnh, ô tô, máy giám định tài

liệu… bố trí trụ sở của lực lượng KTSTQ riêng biệt, không bị ảnh hưởng bởi hoạt

động của các đơn vị khác như hiện nay.

- Trong việc phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài ngành:

Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài ngành;

hoạt động phối hợp phải đảm bảo phải được thực hiện bằng các qui chế phối hợp

với những quy định cụ thể về: nội dung, phạm vi, thẩm quyền cung cấp thông tin,

tài liệu; trách nhiệm bảo mật thông tin…. Định kỳ hàng năm phải tổ chức tổng kết,

đánh giá việc thực hiện các quy chế phối hợp.

- Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hoạt động KTSTQ:

+ Thực hiện niêm yết công khai các văn bản qui định về KTSTQ tại trụ sở cơ

quan Hải quan, nơi làm thủ tục Hải quan để cộng đồng các doanh nghiệp biết và

chủ động nghiên cứu.

+ Thông qua hoạt động KTSTQ và tại Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp

chủ động tuyên truyền về lợi ích cũng như các quy định của pháp luật về KTSTQ để

cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân hiểu và ủng hộ hoạt động KTSTQ.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 44 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU

THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH

2.1. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG

QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH

2.1.1. Giới thiệu khái quát về Cục Hải quan Quảng Ninh và hoạt động kiểm tra

sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh

2.1.1.1. Sự hình thành, phát triển Cục Hải quan Quảng Ninh

Quá trình ra đời và phát triển của Hải quan Quảng Ninh luôn gắn liền với

những điểm mốc lịch sử quan trọng của tỉnh Quảng Ninh và của Hải quan Việt Nam

qua các thời kỳ cách mạng.

Chỉ sau hơn một tuần kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn

độc lập, ngày 10/9/1945 Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở

thuế quan và thuế gián thu trực thuộc Bộ tài chính. Đến ngày 5/02/1946, Bộ tài

chính ra Nghị định số 192-TC về hệ thống tổ chức các cơ quan thuế quan và thuế

gián thu từ trung ương đến địa phương và khu vực; vùng Quảng Ninh ngày nay

thuộc về khu vực thứ nhất của Bắc bộ và có 4 chánh thu sở, 5 phụ thu sở. Tuy

nhiên, do tình hình chính trị lúc bấy giờ phức tạp nên các tổ chức này chưa hoạt

động được.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp (1946-1954), tổ chức Hải quan

trên đất mỏ đã phối hợp với các lực lượng thực hiện chủ trương bao vây kinh tế và

đấu tranh kinh tế với địch, kiểm soát hàng hoá XNK, đấu tranh chống buôn lậu giữa

vùng tự do và vùng tạm chiếm.

Phòng Hải quan Hải Ninh được thành lập năm 1954, làm nhiệm vụ quản lý

XNK trên địa bàn Hải Ninh; Chi sở Hải quan Hồng Quảng được thành lập năm

1955 làm nhiệm vụ quản lý, kiểm soát tàu thuyền qua lại trên địa phận Hồng Quảng

(Quảng Yên, Hòn Gai, Cẩm Phả); Năm 1964, khi có quyết định hợp nhất khu Hồng

Quảng và tỉnh Hải Ninh thành tỉnh Quảng Ninh thì ngày 08/02/1964 Chi Cục Hải

quan Quảng Ninh cũng được thành lập trên cơ sở hợp nhất Chi sở Hải quan Hồng

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 45 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Quảng và Phòng Hải quan Hải Ninh. Từ ngày thành lập (08/02/1964) đến nay, Cục

Hải quan Quảng Ninh có những tên gọi sau:

- Chi Cục Hải quan Quảng Ninh thuộc Bộ ngoại thương theo Quyết định số

47/BNT-TCCB thành lập Chi Cục Hải quan Quảng Ninh trên cơ sở hợp nhất Chi sở

Hải quan Hồng Quảng và Phòng Hải quan Hải Ninh.

- Hải quan tỉnh Quảng Ninh thuộc Tổng Cục Hải quan theo Quyết định của

Tổng Cục Hải quan vào tháng 5/1985.

- Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh thuộc Tổng Cục Hải quan theo Quyết định

số 91/TCHQ-TCCB ngày 01/6/1994 của Tổng Cục Hải quan [8].

Cùng với sự phát triển đi lên của đất nước và của tỉnh Quảng Ninh, Hải quan

Quảng Ninh cũng từng bước đổi mới và phát triển vượt bậc về mọi mặt. Khi thành

lập (năm 1964) Chi Cục Hải quan Quảng Ninh lúc bấy giờ chỉ có 18 người, trụ sở

làm việc phải đóng nhờ, trang thiết bị, phương tiện vô cùng thiếu thốn. Đến nay, sau

hơn 50 năm xây dựng, củng cố và trưởng thành, Cục Hải quan Quảng Ninh đã có

đội ngũ trên 500 cán bộ công chức, gồm 21 đơn vị thuộc và trực thuộc (9 Phòng

tham mưu giúp việc, 7 Chi Cục Hải quan, 3 Đội kiểm soát, 01 Chi cục kiểm tra sau

thông quan và 01 đơn vị tương đương); cơ sở vật chất từ trụ sở làm việc đến các

phương tiện hoạt động đều được trang bị khang trang, hiện đại. Trong quá trình xây

dựng và phát triển, Cục Hải quan Quảng Ninh luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

chính trị được giao, không ngừng cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận

lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, đầu tư, du lịch phát triển, đáp

ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đại hoá Hải quan.

2.1.1.2. Sự hình thành và phát triển lực lượng kiểm tra sau thông quan Cục Hải

quan Quảng Ninh

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu với kinh tế khu

vực và thế giới, mở rộng các mối quan hệ song phương và đa phương. Toàn cầu hoá

và các hiệp định tự do thương mại làm cho kim ngạch XNK hàng hoá của mỗi quốc

gia tăng lên nhanh chóng. Bên cạnh việc hàng rào thuế quan được giảm dần theo lộ

trình cụ thể thì việc xuất hiện các hình thức bảo hộ mới như hàng rào kỹ thuật, vệ

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 46 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

sinh an toàn, môi trường, chống bán phá giá,… ngày càng gia tăng và mâu thuẫn

sâu sắc. Việc thực hiện cam kết quốc tế đặt ra yêu cầu Hải quan Việt Nam phải tiến

hành cải cách, hiện đại hoá nhằm đảm bảo sự phù hợp, tương thích với xu thế phát

triển và hoà nhập với Hải quan thế giới và khu vực. Cải cách, phát triển và hiện đại

hoá để nâng cao năng lực quản lý cả về chất lượng và hiệu quả nhằm giải quyết các

mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh của khối lượng hàng hoá XNK, phương tiện, hành

khách XNC, yêu cầu tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, du lịch trong điều kiện

nguồn lực còn hạn chế. KTSTQ là một trong những giải pháp của ngành Hải quan

nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách, phát triển và hiện đại hoá đã đề ra. Luật Hải quan

năm 2001 lần đầu tiên quy định về công tác KTSTQ, đây là cột mốc quan trọng, là

cơ sở pháp lý để hình thành và phát triển hoạt động KTSTQ sau này.

Tại Cục Hải quan Quảng Ninh, tháng 4/2003 Phòng KTSTQ được thành lập

theo Quyết định 37/2003/QĐ-BTC ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ tài

chính; thời gian đầu thành lập, Phòng KTSTQ được biên chế 8 công chức với cơ

cấu 02 Đồng chí lãnh đạo đơn vị, 06 công chức thừa hành. Chức năng, nhiệm vụ

của Phòng KTSTQ là tham mưu cho Cục trưởng về công tác phúc tập hồ sơ Hải

quan và KTSTQ trên địa bàn quản lý; trực tiếp KTSTQ theo quy định của pháp luật.

Qua hơn 3 năm thực hiện (từ 2003 đến 2006), hoạt động KTSTQ tại Cục Hải

quan Quảng Ninh đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc trong công tác kiểm tra,

hướng dẫn, phân loại doanh nghiệp XNK, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý

Hải quan trên địa bàn. Tuy nhiên, mô hình Phòng KTSTQ bộc lộ nhiều bất cập

trong triển khai thực hiện nhiệm vụ như: thiếu tính chủ động trong công tác kiểm

tra; là đơn vị tham mưu không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính…

Ngày 6/6/2006, Bộ tài chính ban hành Quyết định số 34/2006/QĐ-BTC khai

sinh tên gọi Chi cục KTSTQ, Tổng Cục Hải quan có Quyết định 1092/QĐ-TCHQ

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục

KTSTQ. Đây là một sự kiện đánh dấu sự thay đổi quan trọng đồng thời đã tháo gỡ

được những khó khăn vướng mắc liên quan đến tính chủ động trong công việc,

thẩm quyền của lực lượng KTSTQ trong thực hiện nhiệm vụ. Chi cục KTSTQ chính

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 47 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

thức được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 21/07/2006 với mô hình 3 đội công

tác, gồm:

Đội nghiệp vụ 1: KTSTQ về trị giá Hải quan và thuế suất hàng hoá XNK

Đội nghiệp vụ 2: KTSTQ đối với hàng XNK theo các loại hình gia công, sản

xuất - xuất khẩu; kiểm tra thực hiện chính sách thương mại;

Đội tổng hợp: Thực hiện công tác tham mưu, tổng hợp.

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh

CỤC TRƯỞNG

P. CT PHỤ TRÁCH MẢNG…

P. CT PHỤ TRÁCH MẢNG…

P. CT PHỤ TRÁCH MẢNG KTSTQ

P. CT PHỤ TRÁCH MẢNG…

CHI CỤC TRƯỞNG

PHÓ CCT

ĐỘI TH

PHÓ CCT

ĐỘI NV 2

ĐỘI NV 1

ĐỘI TRƯỞNG

ĐỘI TRƯỞNG

ĐỘI TRƯỞNG

ĐỘI PHÓ

ĐỘI PHÓ

ĐỘI PHÓ

Nguồn: Chi cục kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Quảng Ninh

Tính đến tháng 12 năm 2013, lực lượng làm công tác KTSTQ tại Cục Hải

quan Quảng Ninh gồm 36 công chức; 100% công chức có trình độ đại học các

chuyên ngành luật, ngoại thương, tài chính, kế toán, kiểm toán.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 48 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

2.1.2. Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại

Cục Hải quan Quảng Ninh

2.1.2.1. Thuận lợi

Do yêu cầu cải cách, phát triển hiện đại hóa Hải quan và thực hiện các điều

ước, cam kết quốc tế của Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế như: WCO,

WTO, ASEAN, APEC,… cùng với yêu cầu tiếp cận và ứng dụng kỹ thuật nghiệp

vụ tiên tiến về Hải quan với mục tiêu chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”

thì KTSTQ là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình cải cách, phát triển hiện đại hóa

Hải quan Việt Nam nói chung và Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng; đặc biệt,

năm 2011 được Tổng Cục Hải quan chọn là “Năm KTSTQ”. Vì vậy, hoạt động

KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh thường xuyên nhận được sự quan tâm chỉ

đạo sâu sát của Tổng Cục Hải quan và cấp ủy, lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh trong

việc định hướng và triển khai thực hiện nhiệm vụ.

Hệ thống văn bản pháp luật về KTSTQ tiếp tục hoàn thiện hoàn thiện, tạo

hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động KTSTQ (Luật Hải quan năm 2001,

Luật sửa đổi bổ sung Luật Hải quan năm 2005; Nghị định số 154/2005/NĐ-CP;

Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/04/2009; Thông tư số 194/2010/TT-BTC

ngày 06/12/2010; Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013; Quyết định số

621/2006/QĐ-TCHQ về Quy trình phúc tập hồ sơ và KTSTQ; Quyết định số

1383/2009/QĐ-TCHQ ngày 14/7/2009 về Quy trình KTSTQ, kiểm tra thuế đối với

hàng hoá xuất, nhập khẩu; Quyết định số 2579/QĐ-TCHQ ngày 5/12/2011 về sửa

đổi, bổ sung Quyết định số 1383); Quyết định số 3550/2013/QĐ-TCHQ ngày

01/11/2013 về Quy trình KTSTQ, kiểm tra thuế đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu

thay thế Quyết định số 1383/2009/QĐ-TCHQ.

Cơ cấu tổ chức bộ máy hợp lý, đội ngũ công chức KTSTQ tại Cục Hải quan

Quảng Ninh có tuổi đời bình quân còn trẻ, có nhiệt huyết công tác và được đào tạo

các chuyên ngành phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

Công tác phối kết hợp với các đơn vị chức năng trong và ngoài ngành trên

địa bàn được duy trì và phục vụ có hiệu quả hoạt động KTSTQ. Cơ sở vật chất,

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 49 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

trang thiết bị cho lực lượng KTSTQ được quan tâm, đầu tư cơ bản đáp ứng yêu cầu;

các trang thiết bị hỗ trợ như: máy tính xách tay, camera, máy ảnh, máy ghi âm,..

được trang cấp đầy đủ theo nhu cầu; hệ thống máy tính được cài đặt và phân quyền

cho phép công chức KTSTQ được khai thác tất cả các chương trình quản lý nghiệp

vụ của ngành Hải quan.

2.1.2.2. Khó khăn

Khối lượng công việc phải giải quyết lớn, bình quân hàng năm có trên 1.200

doanh nghiệp hoạt động XNK qua địa bàn, số lượng hồ sơ phát sinh khoảng trên

40.000 bộ, trong đó số hồ sơ được miễn kiểm tra, thông quan luồng xanh chiếm trên

70% (đây là đối tượng chính của KTSTQ). Tuy nhiên, lực lượng công chức KTSTQ

tại Cục Hải quan Quảng Ninh còn mỏng (năm 2006 có 8 công chức; năm 2007 có

14 công chức; năm 2008 có 16 công chức; năm 2009 có 22 công chức; năm 2010 có

24 công chức; năm 2011 có 36 công chức; năm 2012, 2013 có 36 công chức).

Công chức KTSTQ đa số còn trẻ cả về tuổi đời và tuổi nghề, có ít kinh

nghiệm thực tế và kỹ năng làm việc nên còn nhiều lúng túng trong thực hiện nhiệm

vụ, hiệu quả công việc còn nhiều hạn chế. Cá biệt có công chức có tư tưởng ngại

khó, trông chờ, ỷ lại, chọn chỗ, chọn việc.

Ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của một số doanh nghiệp không cao, có

doanh nghiệp do vô ý dẫn đến sai sót, vi phạm pháp luật; tuy nhiên cũng có doanh

nghiệp cố ý lợi dụng kẽ hở của chính sách để gian lận, trốn thuế. Khi bị KTSTQ thì

trây ỳ, né tránh, không hợp tác với cơ quan Hải quan; một số doanh nghiệp tạm

ngừng hoạt động hoặc làm thủ tục phá sản, giải thể… gây khó khăn cho hoạt động

KTSTQ.

Hoạt động KTSTQ nhằm thẩm định việc tuân thủ pháp luật của doanh

nghiệp trong hoạt động XNK hàng hóa, vì vậy phải thường xuyên thực hiện việc

xác minh, thu thập chứng cứ tại các cá nhân, tổ chức có liên quan như: Ngân hàng,

Thuế, Công an, Quản lý thị trường, các đơn vị và cá nhân sản xuất, tiêu thụ hàng

hóa XNK… Tuy nhiên, việc phối kết hợp với các tổ chức, cá nhân ngoài địa bàn

tỉnh Quảng Ninh chưa hiệu quả, việc cung cấp thông tin, tài liệu thường xuyên bị

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 50 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

kéo dài thời gian, hiệu quả thấp làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng KTSTQ.

Trang thiết bị, cơ sở vật chất mặc dù đã được Tổng Cục Hải quan và Cục Hải

quan tỉnh quan tâm, đáp ứng yêu cầu trước mắt nhưng về lâu dài cần có quy hoạch

định hướng dài hạn, xứng tầm với vị trí, vai trò của hoạt động KTSTQ trong quản lý

Hải quan hiện đại. Hiện tại trụ sở Chi cục KTSTQ vẫn nằm trong khối văn phòng

Cục, chưa có trụ sở riêng, chưa được đầu tư các trang thiết bị như: Máy giám định

tài liệu, ô tô…

Chế độ đãi ngộ đối với công chức KTSTQ chưa được quan tâm đúng mức,

công chức KTSTQ không được hưởng phụ cấp đặc thù (như lực lượng làm công tác

kiểm soát CBL, công tác tin học và công tác Quản lý rủi ro), chưa có cơ chế trích

thưởng từ kết quả KTSTQ (như lực lượng thanh tra, kiểm toán), vì vậy chưa động

viên công chức KTSTQ yên tâm công tác lâu dài, chưa thu hút được công chức vào

lực lượng KTSTQ làm việc.

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI

CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2008 - 2013 VÀ NHỮNG KẾT

QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

2.2.1. Thực trạng hoạt động thu thập, xử lý thông tin, xác định đối tượng phải

kiểm tra và những kết quả đạt được

2.2.1.1. Các nguồn thông tin và phương pháp phân tích , xử lý thông tin

Căn cứ các yêu cầu thu thập thông tin về các dấu hiệu vi phạm như đã nêu ở

Chương 1 (dấu hiệu gây thất thu thuế; khai sai trị giá hàng hóa góp vốn đầu tư;

xuất khẩu, nhập khẩu trái quy định, trái phép hàng hóa...), công chức KTSTQ được

phân công theo dõi các địa bàn có hoạt động XNK hàng hoá thường xuyên rà soát,

thu thập thông tin từ các nguồn cụ thể sau:

- Nguồn thông tin từ hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan được cập

nhật số liệu thường xuyên và dùng để tra cứu phục vụ các lĩnh vực nghiệp vụ, gồm

các chương trình:

+ Chương trình số liệu XNK: thống kê tất cả các doanh nghiệp có hoạt động

XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh với đầy đủ các tiêu chí (số tờ khai, tên hàng hoá,

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 51 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

mã số, giá, thuế suất, đối tác XK, đối tác NK....)

+ Chương trình quản lý giá tính thuế GTT22 (GTT01): đây là chương trình

thống kê và đưa ra cảnh báo đối với tất cả giá các mặt hàng XNK phát sinh trên

toàn quốc.

+ Chương trình kế toán thuế KT559: chương trình này theo dõi số thu thuế,

các khoản truy thu, truy hoàn thuế... phát sinh tại Cục Hải quan Quảng Ninh; theo

dõi các doanh nghiệp nợ thuế phát sinh trên toàn quốc.

+ Chương trình quản lý vi phạm: chương trình này thống kê tất cả các vi phạm

và mức độ xử lý doanh nghiệp trong hoạt động XNK trong phạm vi toàn quốc.

+ Chương trình quản lý quản lý rủi ro: chương trình phân loại doanh nghiệp

theo các tiêu chí và đánh giá mức độ rủi ro ở khâu thông quan trong phạm vi toàn quốc.

+ Chương trình quản lý C/O: thống kê tất cả các mẫu và chữ ký trên C/O làm

cơ sở đối chiếu, so sánh và áp dụng ưu đãi thuế quan.

+ Chương trình STQ01: cập nhật kết quả KTSTQ, phân loại doanh nghiệp

theo các tiêu chí và đánh giá mức độ rủi ro ở khâu sau thông quan trong phạm vi

toàn quốc.

- Nguồn thông tin từ các đơn vị trong ngành Hải quan:

+ Thông tin từ cấp trên: các văn bản chỉ đạo của cấp trên về thông tin doanh

nghiệp hoặc các hành vi vi phạm cần tập trung rà soát, theo dõi, kiểm tra trên địa bàn...

+ Thông tin từ các đơn vị Hải quan trên địa bàn: các thông tin ở khâu thông

quan hoặc do lực lượng chống buôn lậu, các đơn vị tham mưu cung cấp về các dấu

hiệu nghi vấn doanh nghiệp gian lận, trốn thuế cần tập trung kiểm tra tại doanh

nghiệp để làm rõ...

- Nguồn thông tin từ các đơn vị ngoài ngành Hải quan:

+ Thông tin từ Ban quản lý khu kinh tế, sở kế hoạch và đầu tư, Sở công

thương: thông tin về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi

đầu tư trên địa bàn; các hành vi vi phạm trong hoạt động SXKD...

+ Thông tin từ cơ quan thanh tra, kiểm toán: trên cơ sở các kiến nghị của cơ

quan thanh tra, kiểm toán về các sai sót, tồn tại của các doanh nghiệp, cơ quan quản

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 52 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

lý có liên quan đến lĩnh vực XNK để rà soát, thu thập thông tin...

+ Thông tin từ cơ quan thuế: các doanh nghiệp giải thể, bỏ trốn khỏi địa chỉ

kinh doanh, các doanh nghiệp vi phạm, nợ thuế trầy ỳ...

+ Thông tin từ cơ quan công an, quản lý thị trường: các doanh nghiệp vi

phạm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh...

- Các nguồn thông tin khác:

+ Thông tin từ đơn thư tố cáo, phản ánh của quần chúng: thông tin về các

hành vi vi phạm, gian lận trốn thuế có liên quan đến hoạt động XNK...

+ Thông tin từ thị trường: thông tin về giá cả chào hàng, chủng loại hàng hoá

đang được chào bán trên thị trường...

+ Thông tin do Cán bộ công chức tự tụ thập, suy luận, phân tích, đánh giá từ

nhiều nguồn.

Thông tin về dấu hiệu vi phạm thường chưa đầy đủ, cụ thể, chính xác nên

diện phải xem xét thường rất rộng, khó đánh giá phạm vi, mức độ rủi ro, nếu xem

xét tất cả sẽ lãng phí nguồn lực. Do vậy, cần có sự phân tích, nhận dạng tương đối

chính xác về dấu hiệu vi phạm làm cơ sở cho việc xác định đối tượng kiểm tra.

Thông tin thu thập được phải được quản lý, sử dụng đúng chế độ mật. Để thực hiện

khâu nghiệp vụ này, công chức KTSTQ làm công tác phân tích, xử lý thông tin căn

cứ các thông tin thu thập được tiến hành so sánh, phân tích và đánh giá mức độ rủi

ro trong việc thất thu thuế, vi phạm chính sách mặt hàng.... trong một khoảng thời

gian nhất định. Việc phân tích, đánh giá được thực hiện dưới các hình thức:

- Phân tích dấu hiệu nghi vấn: trong hoạt động XNK tất cả hàng hoá của một

doanh nghiệp cần phân tích, so sánh dấu hiệu nghi vấn đối với một mặt hàng cụ thể

của nhiều doanh nghiệp khác nhau có hoạt động XNK trên cùng địa bàn hoặc trên

phạm vi toàn quốc.

- Phương pháp phân tích thông tin đối với mỗi lĩnh vực khác nhau sẽ được

thực hiện khác nhau, cụ thể:

+ Lĩnh vực tên hàng, mã số hàng hoá:

 Đối chiếu tên hàng, mã số hàng hóa doanh nghiệp khai với các quy định

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 53 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

hiện hành về phân loại hàng hóa và quy tắc phân loại hàng hóa của Tổ chức Hải

quan thế giới (WCO).

 So sánh, đối chiếu tên hàng, mã số hàng hóa doanh nghiệp khai với tên

hàng, mã số hàng hóa đã được TCHQ hướng dẫn toàn ngành thực hiện hoặc Trung

tâm phân tích, phân loại đã xác định. Đồng thời, đối chiếu tên hàng, mã số hàng hóa

doanh nghiệp khai với tên hàng, mã số hàng hóa đa số các doanh nghiệp khác khai

và đã được Hải quan chấp nhận hoặc xác định lại cho doanh nghiệp khác.

 So sánh tên hàng, mã số hàng hóa doanh nghiệp khai với tên hàng, mã số

hàng hóa của nhà sản xuất ghi ở các tài liệu thương mại hoặc công bố trên internet.

+ Lĩnh vực trị giá Hải quan:

 So sánh, đối chiếu giá doanh nghiệp khai báo với dữ liệu giá GTT01

(GTT22) và với danh mục quản lý rủi ro về giá của TCHQ và của Cục Hải quan

Quảng Ninh.

 So sánh, đối chiếu giá doanh nghiệp khai báo với giá do đa số các doanh

nghiệp khác khai, đã được Hải quan chấp nhận hoặc ấn định với doanh nghiệp khác.

 So sánh, đối chiếu giá doanh nghiệp khai báo với giá bán trên thị trường

nội địa, sau khi trừ các chi phí nội địa, lãi hợp lý.

 So sánh, đối chiếu giá doanh nghiệp khai báo trên tờ khai với giá ghi trên

các chứng từ khác (ví dụ: giá nhập khẩu khai là giá CIF, nhưng lại đúng bằng giá

FOB trên C/O; các trường hợp nhập khẩu theo giá FOB, C&F phải xem xét các yếu

tố cấu thành của trị giá hàng nhập khẩu C, I, F…)

 Các trường hợp giá nhập khẩu có chiết khấu do có hợp đồng nguyên tắc

ghi nhận sẽ nhập khẩu lượng hàng lớn; các trường hợp giá nhập khẩu cao bất

thường đối với các mặt hàng có thuế suất thuế nhập khẩu 0%…; các khoản điều

chỉnh giá phát sinh sau khi hàng đã hoàn thành thủ tục nhập khẩu (phí bản quyền,

hàng nhập khẩu của các đại lý độc quyền tiêu thụ còn tồn kho tại thời điểm nhà

cung cấp ở nước ngoài điều chỉnh tăng giá bán ở thị trường nội địa…).

+ Lĩnh vực gia công, sản xuất - xuất khẩu:

 So sánh lượng nguyên liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu với năng lực

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 54 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

sản xuất của doanh nghiệp.

 So sánh với định mức, tỷ lệ hao hụt của doanh nghiệp khác, đã được Hải

quan chấp nhận.

 So sánh trọng lượng với số lượng hàng chứa trong container.

 So sánh tổng phí gia công của các sản phẩm gia công xuất khẩu khai trên

các tờ khai xuất khẩu với tổng phí gia công trên các chứng từ thanh toán.

+ Lĩnh vực xuất xứ hàng hoá:

 Xem xét đối tượng là hàng hoá có xuất xứ từ các nước thuộc diện được

hưởng ưu đãi thuế quan với Việt Nam.

 Kiểm tra hình thức của C/O theo qui định.

 So sánh, đối chiếu chữ ký, con dấu trên C/O với chữ ký, con dấu mẫu.

 So sánh nội dung C/O với nội dung các chứng từ khác thuộc hồ sơ Hải

quan như: tên hàng, lượng hàng, hàm lượng xuất xứ, phương tiện vận tải, số tham

chiếu C/O…

 Kiểm tra cách ghi các nội dung trên C/O.

+ Lĩnh vực ưu đãi đầu tư:

 So sánh nội dung giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư với quy định của pháp luật.

 Đối chiếu thông tin chi tiết các tài liệu thuộc hồ sơ xin giấy phép đầu tư,

như luận chứng (hoặc giải trình) kinh tế kỹ thuật - một bộ phận không tách rời của

giấy chứng nhận đầu tư, điều lệ doanh nghiệp. Trong trường hợp cần thiết cần

nghiên cứu hồ sơ hoàn công công trình.

 Phân tích thông tin về các loại hàng hóa có thể sử dụng cho tạo tài sản cố

định cũng được, sử dụng cho mục đích khác.

Sau khi nhận rõ dấu hiệu, nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm có thể

gây thất thu lớn (ví dụ chênh lệch lớn về mức thuế suất…), hoặc vi phạm lớn chính

sách quản lý XNK, hoặc đây là thủ đoạn mới, nếu không ngăn chặn thì sẽ lan rộng,

hoặc theo quy định của pháp luật sắp hết thời hạn KTSTQ… công chức KTSTQ xác

định cụ thể tên, địa chỉ các doanh nghiệp cần kiểm tra đề xuất lãnh đạo Chi cục phê

duyệt và tiến hành các bước tiếp theo. Nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm,

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 55 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

nhưng hậu quả nhỏ (ví dụ sai mã số hàng hóa, nhưng không thay đổi thuế suất…),

thì đề nghị tạm dừng, đưa vào diện theo dõi tiếp hoặc chuyển thông tin về đối tượng

cho các đơn vị Hải quan cửa khẩu xử lý, khắc phục.

Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin đối với trường hợp đã có dấu

hiệu vi phạm là việc xác định được doanh nghiệp phải được tiến hành KTSTQ.

2.2.1.2. Thực trạng hoạt động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng

phải kiểm tra

a/ Kết quả:

- Nguồn thông tin thu thập từ cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan [2]

Cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan là một nguồn thông tin quan trọng phục vụ

cho hoạt động KTSTQ. Các thông tin được khai thác là tình hình hoạt động XNK

của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định nhằm phục vụ cho công tác

phân loại xác định đối tượng KTSTQ. Các tiêu chí được thu thập như: số lượng,

loại hình doanh nghiệp; loại hình XNK, số tờ khai, hàng hoá XNK, kim ngạch

XNK, số thuế nộp ngân sách qua các năm, số lần vi phạm pháp luật, tình trạng hoạt

động, việc chấp hành pháp luật Hải quan… Dưới đây là một số thông tin thu thập

được từ cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan.

+ Về số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK hàng năm qua địa bàn

quản lý:

Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong

giai đoạn 2008-2013 không ổn định, phản ánh qua số liệu tại bảng 2.1 và biểu 2.1:

Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn

Đơn vị tính: Doanh nghiệp

tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

2008

Năm

2009

2010

2011

2012

2013

1.154

Số lượng doanh nghiệp

1.297

1.201

1.146

1.127

1.072

1.154

Số thông tin được xử lý

1.297

1.201

1.146

1.127

1.072

So với năm trước (tăng/giảm)

143

-96

-55

-19

-7

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

12,39

-7,40

-4,58

-1,66

-0,63

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 56 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Nhìn vào bảng tổng hợp số liệu trên đây, nhận thấy số lượng các doanh

nghiệp hoạt động XNK qua địa bàn có xu hướng giảm, một trong những nguyên

nhân là do trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và

trên thế giới, các doanh nghiệp nhỏ, tiềm lực kinh tế và có sự hiểu biết thị trường

hạn chế không thể đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt của các tập đoàn kinh tế

lớn và các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, ngoài ra sự thay đổi về chính

sách nhằm quản lý hoạt động XNK chặt chẽ hơn… và sự đào thải là một tất yếu của

quá trình vận động.

Biểu 2.1: Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK

1297

1201

1400

1154

1146

1127

1072

1200

1000

800

600

400

200

0

qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số lượng doanh nghiệp

Số thông tin được xử lý

(Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

+ Về số lượng tờ khai hàng hóa XNK:

Do số lượng các doanh nghiệp XNK có sự thay đổi theo chiều hướng giảm,

tuy nhiên số lượng tờ khai hàng hoá XNK phản ánh hoạt động XNK có sự biến

động không hoàn toàn cùng chiều theo từng giai đoạn, số liệu cụ thể từng năm được

nêu tại bảng 2.2 và biểu 2.2:

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 57 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Bảng 2.2: Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh

Đơn vị tính: Tờ khai

giai đoạn 2008-2013

Năm

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số tờ khai

52.389

49.127

43.697

45.614

45.754

45.915

Thông tin được xử lý

52.389

49.127

43.697

45.614

45.754

45.915

So với năm trước

-3.262

-5.430

1.917

140

161

(tăng/giảm)

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

-6,23

-11,05

4,38

3,06

3,71

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

Biểu 2.2: Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh

52389

54000

52000

49127

50000

45915

48000

45754

45614

46000

43697

44000

42000

40000

38000

giai đoạn 2008-2013

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số tờ khai

Thông tin được xử lý

(Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh)

+ Về kim ngạch XNK:

Mặc dù số lượng các doanh nghiệp XNK và tờ khai hàng hoá XNK có xu

hướng giảm nhưng kim ngạch XNK lại có xu hướng tăng lên. Điều này phản ánh

đúng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nhỏ tiềm lực kinh tế và sự

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 58 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

hiểu biết thị trường hạn chế không thể đứng vững và phải ngừng hoạt động hoặc sát

nhập trước sự cạnh tranh khốc liệt thì các hoạt động kinh tế lại được gia tăng tại các

tập đoàn kinh tế lớn và các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài; kết quả này

được phản ánh tại bảng 2.3 và biểu 2.3:

Bảng 2.3: Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh

Đơn vị tính: Triệu USD

giai đoạn 2008-2013

Năm

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Kim ngạch XNK

8.858,11

6.790,71

9.304,84

12.671,37 13.987,10 14.858,11

Số thông tin được xử lý

8.858,11

6.790,71

9.304,84

12.671,37 13.987,10 14.858,11

So với năm

trước

-2.067,40

2.514,13

3.366,53

1.315,73

871,01

(tăng/giảm)

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

-23,33

37,02

36,18

10,38

6,22

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

Biểu 2.3: Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh

14858

13987

16000

12671

14000

12000

9304

8858

10000

6790

8000

6000

4000

2000

0

giai đoạn 2008-2013

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Kim nghạch XNK

Số thông tin được xử lý

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 59 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Trên cơ sở danh bạ doanh nghiệp XNK và thông tin thu thập được từ các

nguồn cùng với các yêu cầu cần tăng cường quản lý trong từng lĩnh vực có khả

năng rủi ro cao, công chức KTSTQ thực hiện phân tích, đánh giá rủi ro, đề xuất

danh sách đối tượng kiểm tra và xây dựng kế hoạch KTSTQ hàng năm.

Theo yêu cầu của công tác quản lý, ngày 15/11 hàng năm Cục Hải quan

Quảng Ninh xây dựng hoàn chỉnh danh sách doanh nghiệp KTSTQ theo kế hoạch

của năm tiếp theo; chính vì vậy, hoạt động thu thập xử lý thông tin, xác định đối

tượng kiểm tra được thực hiện thường xuyên. Tuy nhiên, kết quả đạt được trong

những năm vừa qua số lượng doanh nghiệp được xác định và tiến hành KTSTQ đạt

tỷ lệ thấp (từ 5%-10% tổng số doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn).

- Nguồn thông tin thu thập được từ các đơn vị Hải quan cửa khẩu làm thủ

tục thông quan hàng hoá (khâu thông quan) [2]

Khâu sau thông quan và khâu thông quan là 2 lĩnh vực nghiệp vụ chuyên sâu

nằm trong quy trình hoạt động, quản lý theo chức năng, nhiệm vụ của Ngành Hải

quan. Điều này đã được quy định cụ thể tại Luật Hải quan, Luật quản lý thuế, các

văn bản dưới luật có liên quan và các quy trình nghiệp vụ Hải quan.

+ Để hoạt động phối hợp cung cấp thông tin có hiệu quả, Cục Hải quan

Quảng Ninh đã có Quyết định số 248/QĐ-HQQN ngày 31/5/2011 (thay thế Quyết

định 503/QĐ-HQQN ngày 21/6/2006) ban hành Quy chế phối hợp cung cấp thông

tin phục vụ KTSTQ, trong đó quy định cụ thể trách nhiệm về việc phối hợp cung

cấp thông tin giữa lực lượng KTSTQ với các Chi Cục Hải quan cửa khẩu và các

khâu nghiệp vụ khác theo nguyên tắc: (i) Quan hệ phối hợp phải dựa trên cơ sở thực

hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi đơn vị; (ii) Thông tin thu thập

phải được cập nhật, quản lý chặt chẽ; việc cung cấp thông tin trong nội bộ phải theo

đúng nguyên tắc bảo mật, cụ thể như sau:

 Đối với lực lượng KTSTQ: tổng hợp, cập nhật thông tin thuộc hồ sơ Hải

quan thông qua hoạt động KTSTQ; cung cấp kịp thời cho các đơn vị Hải quan khi

có yên cầu và phục vụ công tác quản lý rủi ro. Kiến nghị các đơn vị Hải quan áp

dụng các biện pháp quản lý, kiểm tra, nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận, vi

phạm thủ tục trong quá trình làm thủ tục thông quan hàng hoá.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 60 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

 Đối với các Chi Cục Hải quan cửa khẩu (khâu thông quan): thu thập, cập

nhật đầy đủ thông tin thuộc hồ sơ Hải quan thông qua công tác phúc tập hồ sơ vào

hệ thống cơ sở dữ liệu. Kịp thời cung cấp thông tin về hồ sơ Hải quan và các tài liệu

có liên quan về dấu hiệu vi phạm, gian lận trốn thuế... của các doanh nghiệp trong

hoạt động XNK tại địa bàn quản lý cho lực lượng KTSTQ.

 Đối với lực lượng kiểm soát chống buôn lậu: thông qua công tác sưu tra,

kịp thời trao đổi và cung cấp thông tin cho lực lượng KTSTQ về các hành vi gian

lận thương mại, việc chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân liên quan đến

XNK hàng hóa trên địa bàn.

 Đối với các phòng tham mưu: Có trách nhiệm tổng hợp, cung cấp đầy đủ,

kịp thời thông tin các dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải quan, hành vi gian lận thương

mại; thông tin về các doanh nghiệp, mặt hàng có khả năng rủi ro cao… trong từng

lĩnh vực: quản lý thuế, giám sát quản lý, thanh tra… cho lực lượng KTSTQ.

+ Trong những năm qua, công tác phối hợp cung cấp thông tin từ khâu thông

quan cho lực lượng KTSTQ vẫn còn nhiều hạn chế, chủ yếu là báo cáo kết quả phúc

tập hồ sơ định kỳ, Phiếu chuyển nghiệp vụ nghi ngờ trị giá tính thuế khai báo thấp

hơn cơ sở dữ liệu của cơ quan Hải quan. Các báo cáo kết quả phúc tập thông tin còn

nghèo nàn, chỉ có các số liệu tờ khai phải phúc tập, đã phúc tập, còn tồn; không có

hoặc rất ít thông tin về các hành vi gian lận thuế, sai sót về thủ tục, chính sách được

phát hiện. Các phiếu chuyển nghiệp vụ nghi ngờ giá thấp cũng chỉ có những thông

tin về giá so sánh, do đó hiệu quả phục vụ cho công tác KTSTQ còn rất hạn chế. Số

lượng thông tin được phản ánh tại bảng 2.4:

Bảng 2.4: Thông tin do các Chi Cục Hải quan cửa khẩu cung cấp cho

hoạt động KTSTQ giai đoạn 2008-2013

Đơn vị tính: Thông tin

2008 75

2009 125

2010 63

2011 92

2012 100

2013 106

75

125

63

92

100

106

50

-62

30

8

6

Năm Số lượng thông tin Thông tin được xử lý So với năm trước (tăng/giảm)

66,67

-49,6

46,03

8,69

6,00

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 61 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Đối với các thông tin (phiếu chuyển nghiệp vụ, báo cáo phúc tập hồ sơ) do

các Chi Cục Hải quan cửa khẩu cung cấp sẽ được công chức KTSTQ cập nhật, xử

lý và kết hợp với các thông tin thu thập được từ các nguồn khác để đề xuất tiến

hành kiểm tra ngay hoặc tiếp tục theo dõi, thu thập bổ sung thông tin đưa vào kế

hoạch kiểm tra các năm tiếp theo.

- Nguồn thông tin thu thập được từ các cơ quan có liên quan (cơ quan thuế,

ngân hàng, công an, quản lý thị trường,...) [2].

Nguồn thông tin thu thập được từ các cơ quan liên quan phục vụ cho hoạt

động KTSTQ chủ yếu được thực hiện trên cơ sở quy định của các quy chế phối hợp

cung cấp, trao đổi thông tin giữa cơ quan Hải quan và các ngành có liên quan.

Thông tin do các cơ quan có liên quan cung cấp phục vụ cho hoạt động

KTSTQ như: việc chấp hành pháp luật thuế nội địa của doanh nghiệp; tình hình

hoạt động của các doanh nghiệp; thay đổi địa chỉ đăng ký; các doanh nghiệp mất

tích, bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh; số tài khoản và số dư tiền mặt trên tài khoản

mở tại các ngân hàng thương mại, số tiền trích nộp ngân sách; các quyết định khởi

tố, truy tố, bắt giữ người, hàng hoá đối với các đối tượng, tổ chức; thông tin về đăng

ký hoạt động kinh doanh, cấp phép đầu tư, xác nhận hàng hoá thuộc đối tượng miễn

thuế... cụ thể tại bảng 2.5:

Bảng 2.5: Nguồn thông tin nhận được từ các cơ quan liên quan

Đơn vị tính: lượt

giai đoạn 2008-2013

Năm

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Thông tin nhận được từ cơ

41

45

65

70

76

12

quan có liên quan

Số thông tin được xử lý

41

45

65

70

76

12

năm

trước

29

4

20

5

6

So với (tăng/giảm)

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

41,67

9,75

44,44

7,69

8,57

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

Nguồn thông tin do các cơ quan có liên quan cung cấp trong những năm vừa

qua phục vụ hữu ích cho hoạt động KTSTQ, đặc biệt là việc đánh giá tình trạng

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 62 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

hoạt động của doanh nghiệp và là cơ sở đề xuất cấp có thẩm quyền các vấn đề cần

xử lý, ban hành các quyết định hành chính.

- Số đối tượng xác định phải KTSTQ [2]

+ Kết quả của quá trình thu thập, xử lý thông tin là danh sách các được đối

tượng phải tiến hành KTSTQ, các đối tượng phải kiểm tra là các doanh nghiệp

XNK được xác định theo nguyên tắc quản lý rủi ro: doanh nghiệp có mức độ rủi ro

cao, hàng hoá có khả năng gian lận về trị giá, thuế suất, ưu đãi thuế quan... được ưu

tiên đưa vào diện kiểm tra trước trên cơ sở nguồn lực hiện có. Số lượng các doanh

nghiệp được xác định phải KTSTQ trong các năm thể hiện tại bảng 2.6 và biểu 2.4:

Đơn vị tính: doanh nghiệp

Bảng 2.6: Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013

Năm

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số doanh nghiệp phải kiểm tra

55

61

125

130

130

57

Số doanh nghiệp được kiểm tra

55

61

125

130

130

57

So với năm trước (tăng/giảm)

4

64

5

0

2

4

0

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

3,63

7,02

104,92

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

Biểu 2.4: Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013

130

130

140

125

120

100

80

61

55

57

60

40

20

0

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số doanh nghiệp phải kiểm tra Số doanh nghiệp được kiểm tra

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 63 Khóa 2012 - 2014

+ Danh sách các được đối tượng phải tiến hành KTSTQ là cơ sở để xây dựng

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

kế hoạch KTSTQ chi tiết hàng năm; ngoài các doanh nghiệp đã xác định theo các

dấu hiệu nghi vấn, trong danh sách kế hoạch kiểm tra bao gồm cả các doanh nghiệp

được kiểm tra ngẫu nhiên nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh

nghiệp.

b/ Hạn chế:

- Thông tin từ các nguồn cung cấp cho hoạt động KTSTQ chưa đầy đủ và kịp thời:

+ Nguồn thông tin từ cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan: chủ yếu được khai

thác từ các chương trình phần mềm quản lý nghiệp vụ như: Số liệu XNK; GTT22

(GTT01); KT559; STQ01… tuy nhiên, các chương trình này đã được xây dựng từ

lâu, qua nhiều lần nâng cấp nhưng vẫn còn lạc hậu, chưa tích hợp thống nhất dữ liệu

và chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Ví dụ: Chương trình quản lý giá tính thuế

GTT22 (GTT01) sau một khoảng thời gian nhất định dữ liệu được chuyển vào kho

lưu trữ, đến khi KTSTQ không khai thác được dữ liệu liên quan để so sánh với dữ

liệu đang kiểm tra. Hạn chế này gây khó khăn, kéo dài thời gian khi KTSTQ đánh

giá tính trung thực trị giá khai báo của doanh nghiệp.

+ Nguồn thông tin từ khâu thông quan: Mặc dù Cục Hải quan Quảng Ninh đã

ban hành Quy chế phối hợp cung cấp thông tin giữa lực lượng KTSTQ và khâu

thông quan; tuy nhiên, việc phối hợp giữa lực lượng KTSTQ với các đơn vị Hải

quan ở khâu thông quan chưa được chặt chẽ, còn nặng tính hình thức. Ví dụ: Mặc

dù các tiêu chí yêu cầu báo cáo chi tiết nhưng nội dung kết quả phúc tập hồ sơ từ

các Chi Cục Hải quan cửa khẩu báo cáo cho lực lượng KTSTQ chủ yếu phản ánh số

liệu phúc tập, chưa đánh giá, phân tích tình hình về các dấu hiệu vi phạm thông qua

kết quả phúc tập hồ sơ từng giai đoạn. Đối với các Phiếu chuyển nghiệp vụ chỉ phản

ánh về giá của mặt hàng nghi vấn doanh nghiệp khai thấp so với hàng hoá tương tự,

giống hệt của các doanh nghiệp khác đã nhập khẩu; không có các thông tin liên

quan như: những đặc tính cơ bản của mặt hàng nghi vấn; giá tham khảo tại thị

trường;… dẫn đến việc phân tích và xử lý thông tin tại khâu sau thông quan gặp rất

nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và nhân lực, hiệu quả thấp.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 64 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Nguồn thông tin từ các cơ quan có liên quan như cơ quan Thuế, Công an,

Quản lý thị trường, Sở kế hoạch và đầu tư, Ngân hàng: Chưa có sự ràng buộc trách

nhiệm cụ thể bằng các quy chế phối hợp với các đơn vị ở ngoài địa bàn tỉnh Quảng

Ninh nên việc phối hợp cung cấp thông tin doanh nghiệp từ các cơ quan này thường

bị kéo dài, gây khó khăn trong việc kết luận về mức độ tuân thủ pháp luật của doanh

nghiệp; làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng KTSTQ.

- Kỹ năng tổng hợp, phân tích, xử lý thông tin của công chức KTSTQ còn

hạn chế:

KTSTQ là nghiệp vụ khó đòi hỏi công chức KTSTQ vừa phải có kiến

thức tổng hợp, vừa phải chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực và phải có tâm huyết

với nghề. Các nguồn thông tin thu thập hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào các

chương trình phần mềm ứng dụng, do đó đòi hỏi công chức thu thập thông tin

phải là người có trình độ, đã qua thực tiễn công việc thì thông tin thu thập mới

đáng tin cậy phục vụ cho công tác xử lý và lựa chọn đối tượng kiểm tra được

chính xác. Mặc dù đã được đào tạo cơ bản trong các trường đại học, tuy nhiên

do đa số công chức KTSTQ còn trẻ, chưa có kinh nghiệm thực tiễn nên khả

năng nhận định, phân tích thông tin còn hạn chế dẫn đến kết quả đề xuất, lựa

chọn đối tượng KTSTQ chưa đạt hiệu quả cao.

- Cơ sở hạ tầng và các chương trình quản lý nghiệp vụ chưa đồng bộ:

Hiện nay, lực lượng KTSTQ đã có Chương trình quản lý doanh nghiệp, tuy

nhiên chương trình này chưa đáp ứng được nhu cầu thu thập thông tin như nhiều

thông tin còn thiếu, không đầy đủ dẫn đến để có thông tin hoàn chỉnh thì yêu cầu

phải thu thập từ các nguồn khác gây mất nhiều thời gian cho công tác thu thập, xử

lý thông tin. Các chương trình có nhiều chức năng trùng lặp nhưng lại không đủ

thông tin cần thu thập dẫn đến khi cần thu thập thông tin về một doanh nghiệp, một

đối tượng thì cùng lúc phải khai thác nhiều chương trình ứng dụng gây mất nhiều

thời gian và lãng phí nguồn lực.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 65 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

2.2.2. Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất

khẩu, nhập khẩu và những kết quả đạt được

2.2.2.1. Khai quát quy trình kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh

Quảng Ninh

Trên cơ sở kế hoạch KTSTQ hàng năm, công chức KTSTQ phân loại đối

tượng, xác định phạm vi, nội dung kiểm tra và xây dựng kế hoạch kiểm tra chi tiết.

Yêu cầu các đơn vị Hải quan có liên quan cung cấp hồ sơ, tài liệu và giải thích các

vấn đề chưa rõ trên hồ sơ; tiến hành xác minh tại các tổ chức, cá nhân có liên quan

để làm rõ các thông tin, tài liệu có liên quan đến phạm vi và nội dung kiểm tra.

Trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện, tiến hành trưng cầu giám định đối với

các tài liệu, chứng từ và hàng hoá nghi vấn.

Kết quả kiểm tra hồ sơ đối chiếu với kết quả xác minh và giám định nếu còn

có nghi ngờ thì yêu cầu doanh nghiệp giải trình và cung cấp chứng từ, tài liệu để

chứng minh, thời hạn giải trình là 10 ngày. Nếu doanh nghiệp giải trình được rõ

ràng các vấn đề nêu ra thì công chức/nhóm công chức kiểm tra lập bản Kết luận

kiểm tra tại trụ sở Hải quan, đưa doanh nghiệp vào diện chấp hành tốt pháp luật.

Trường hợp doanh nghiệp không giải trình hoặc không giải trình được thì tiến hành

ban hành các quyết định xử lý (nếu đã có đủ cơ sở) và lập bản Kết luận kiểm tra tại

trụ sở Hải quan hoặc đề xuất KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp.

Như vậy, hoạt động KTSTQ tại trụ sở Hải quan thực tế nhằm hướng dẫn, tạo

điều kiện cho doanh nghiệp phát hiện kịp thời và tự nguyện khắc phục các sai sót,

giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật, tránh sai sót kéo dài, để lại

hậu quả nặng nề.

Trên cơ sở Báo cáo tổng hợp và đề xuất KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp của

công chức/nhóm công chức KTSTQ, Cục trưởng Cục Hải quan Quảng Ninh ban

hành Quyết định KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp, trong đó quy định rõ: (i) thời hạn

kiểm tra; (ii) phạm vi kiểm tra; (iii) nội dung kiểm tra; (iiii) phân công trưởng đoàn

và các thành viên đoàn KTSTQ. Trưởng đoàn KTSTQ chịu trách nhiệm xây dựng

kế hoạch chi tiết và phân công các thành viên đoàn kiểm tra thực hiện, dự kiến các

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 66 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

tình huống phát sinh và biện pháp xử lý tình huống… Thực trạng hoạt động KTSTQ

tại trụ sở doanh nghiệp tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong những năm vừa qua đã

phản ánh tính chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả ngày càng cao trong hoạt động

kiểm tra của cơ quan Hải quan; giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân

thủ pháp luật đồng thời phát hiện, ngăn chặn các sai phạm trong hoạt động XNK,

chống thất thu cho ngân sách nhà nước.

Từ năm 2005 trở về trước, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp cũng như

của cơ quan Hải quan về hoạt động KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp còn rất mơ hồ;

mặt khác, do các quy định của pháp luật chưa rõ ràng, cơ cấu tổ chức bộ máy chưa

hợp lý, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của công chức KTSTQ hạn chế dẫn đến

hiệu quả công việc không cao. Nhiều cuộc KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp kéo dài,

không có trọng tâm… gây lãng phí nguồn lực, thậm chí còn làm ảnh hưởng đến

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ tháng 7/2006, với hàng loạt

thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy, quy trình nghiệp vụ và đặc biệt là sự thay đổi về

nhận thức, hoạt động KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp từng bước đi vào nề nếp. Số

lượng các cuộc kiểm tra và số thu qua hoạt động kiểm tra ngày càng tăng; và điều

quan trọng là thông qua hoạt động kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp, Cục Hải quan

Quảng Ninh là một trong số các đơn vị được ngành Hải quan và cộng đồng doanh

nghiệp đánh giá cao về tính chuyên nghiệp và minh bạch, có tác dụng to lớn giúp

các doanh nghiệp nâng cao năng lực tuân thủ pháp luật đồng thời nâng cao hiệu lực,

hiệu quả của công tác quản lý Hải quan trên địa bàn.

2.2.2.2. Thực trạng hoạt động KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

giai đoạn 2008-2013

a/ Kết quả:

* Về số cuộc KTSTQ

- Trong giai đoạn từ 2008-2013 mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với sự

nỗ lực phấn đấu của lực lượng KTSTQ, hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng

Ninh đã đạt được kết quả ấn tượng. Số lượng các doanh nghiệp được KTSTQ trong

giai đoạn này có xu hướng tăng dần thể hiện tại biểu 2.5.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 67 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Biểu 2.5: Số lượng doanh nghiệp được KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh

130

140

130

125

120

100

80

61

57

55

60

40

20

0

giai đoạn 2008-2013

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số doanh nghiệp được kiểm tra

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

- Qua phân tích số liệu thống kê số lượng doanh nghiệp được KTSTQ tại

Cục Hải quan Quảng Ninh từ năm 2008-2013 cho thấy số lượng các cuộc KTSTQ

tăng lên qua các năm, năm sau tăng hơn năm trước, thể hiện sự nỗ lực cố gắng của

lực lượng KTSTQ, cụ thể:

+ Từ năm 2008-2010, cùng chung với hoạt động toàn ngành, hoạt động

KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh tương đối ổn định với số lượng doanh nghiệp

được kiểm tra trong các năm có sự gia tăng nhưng không có chênh lệch lớn ( năm

2008: 55 doanh nghiệp; năm 2009: 57 doanh nghiệp; năm 2010: 61 doanh nghiệp;

năm 2011: 125 doanh nghiệp; năm 2012, 2013: 130 doanh nghiệp). Trong giai đoạn

này, cùng với việc ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ của lực lượng

KTSTQ, các quy trình nghiệp vụ mới cũng được ban hành và triển khai, hoạt động

KTSTQ đang từng bước được cụ thể hoá từ quy trình đến thực tiễn. Ngành Hải

quan nói chung và Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng đang từng bước đào tạo,

hoàn thiện kỹ năng và phương pháp trong hoạt động KTSTQ.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 68 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Năm 2011 là năm đặt dấu ấn quan trọng, mang tính đột phá với lực lượng

KTSTQ, Tổng Cục Hải quan ban hành Chỉ thị 568/CT-TCHQ ngày 09/02/2011 về

tăng cường công tác KTSTQ, lấy năm 2011 là “Năm KTSTQ”. Để thực hiện có

hiệu quả Chỉ thị của Tổng Cục Hải quan, Cục Hải quan Quảng Ninh đã tập trung

nguồn lực, xây dựng kế hoạch KTSTQ 125 doanh nghiệp, tăng hơn 100% so với

năm 2010.

* Về kết quả KTSTQ

- Kết quả KTSTQ trong lĩnh vực trị giá Hải quan:

+ Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan đã được phát hiện và

xử lý qua hoạt động KTSTQ tập trung vào một số hành vi: doanh nghiệp khai thiếu

các chi phí phải cộng trong trị giá tính thuế hàng hoá xuất khẩu như: chi phí vận tải,

chi phí bảo hiểm, chi phí xếp dỡ hàng hoá…; điều kiện giao hàng thực tế là FOB

cửa khẩu xuất, CFR hoặc C&F cảng đích… nhưng doanh nghiệp khai báo trị giá

tính thuế không đúng với số tiền thực thanh toán và chi phí thực tế dẫn đến làm

giảm số tiền thuế phải nộp. Số liệu về các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá

được phản ánh tại bảng 2.7 và biểu 2.6

Bảng 2.7: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan qua KTSTQ

Đơn vị tính: vụ

tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

Năm

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số vụ việc vi phạm

8

19

6

9

11

10

So với năm trước (tăng/giảm)

2

11

-13

3

2

-1

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

33,33

137,5

- 68,42

50

22,22

-9,01

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

+ Tổng số vụ việc vi phạm phát hiện qua kiểm tra trị giá Hải quan tại Cục

Hải quan Quảng Ninh trong giai đoạn 2008-2013 là 63 vụ, bao gồm cả loại hình

xuất khẩu và nhập khẩu; trong đó loại hình xuất khẩu chiếm tỷ lệ trên 70%.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 69 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Biểu 2.6: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan qua KTSTQ

19

11

10

8

9

6

tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

2

20 18 16 14 12 10 8 6 4 2 0

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

+ Vụ việc điển hình đã được kiểm tra, phát hiện và xử lý là chuyên đề kiểm

tra trị giá Hải quan mặt hàng Than mỏ xuất khẩu của 14 doanh nghiệp; vụ việc được

tiến hành kiểm tra trong 3 năm từ 2009-2011 với số lượng hồ sơ lên đến 12.600 bộ.

Kết quả kiểm tra đã phát hiện các doanh nghiệp có các hành vi vi phạm trong việc

khai báo trị giá Hải quan, số tiền thuế truy thu lên đến 120.239 triệu đồng, cụ thể:

 Năm 2009: Doanh nghiệp khai báo thiếu chi phí vận tải và chi phí cẩu nổi

trong trị giá tính thuế, truy thu tiền thuế: 52.537 triệu đồng.

 Năm 2010: Doanh nghiệp khai báo thiếu chi phí vận tải trong trị giá tính

thuế, truy thu tiền thuế: 9.685 triệu đồng;

 Năm 2011: Doanh nghiệp khai báo thiếu chi phí cẩu tầu và chi phí chênh

lệch cước tầu trong trị giá tính thuế, truy thu tiền thuế: 58.170 triệu đồng.

- Kết quả KTSTQ trong lĩnh vực mã số hàng hoá:

+ Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá đã được phát hiện và

xử lý qua hoạt động KTSTQ chủ yếu là: doanh nghiệp mô tả hàng hoá không đúng

với thực tế hoặc mô tả chung chung, không đầy đủ các tiêu chí phân loại; doanh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 70 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

nghiệp áp sai mã số và thuế suất, làm giảm số tiền thuế phải nộp. Kết quả cụ thể về

các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá đã được phát hiện và xử lý phản ánh tại

bảng 2.8 và biểu 2.7

Bảng 2.8: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá qua KTSTQ

Đơn vị tính: vụ

tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

2010

2011

2012

2013

Năm

2008

2009

2

2

3

5

6

6

với

năm

trước

0

1

2

1

0

Số vụ việc vi phạm So (tăng/giảm) Tỷ lệ tăng, giảm (%)

0

50

66,66

20

0

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

+ Số vụ việc vi phạm phát hiện qua kiểm tra mã số hàng hoá tại Cục Hải

quan Quảng Ninh trong giai đoạn 2008-2013 là 24 vụ, chủ yếu là loại hình nhập

khẩu; tỷ lệ vụ việc vi phạm phát hiện qua kiểm tra mã số hàng hoá chiếm khoảng

10% trong tổng số các vụ việc đã phát hiện và xử lý.

Biểu 2.7: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá qua KTSTQ

6

6

6

5

5

4

3

3

2

2

2

1

0

tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008 - 2013

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hóa

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 71 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Vụ việc điển hình đã được kiểm tra, phát hiện và xử lý là chuyên đề kiểm

tra việc phân loại, áp mã các mặt hàng nhập khẩu: Băng tải, Tổ máy phát điện, Cáp

điện, Máy bơm, Thiết bị mỏ... của 12 doanh nghiệp nhập khẩu trong các năm 2010,

2011; Kết quả kiểm tra đã phát hiện các doanh nghiệp có các hành vi vi phạm trong

việc phân loại, khai báo mã số và thuế suất thuế nhập khẩu, số tiền thuế truy thu 5,3

tỷ đồng, cụ thể:

 Doanh nghiệp khai sai mã số hàng hoá nhập khẩu, truy thu tiền thuế: 5,2

tỷ đồng.

 Doanh nghiệp khai sai tên hàng hoá nhập khẩu, truy thu tiền thuế: 93,19

triệu đồng.

- Kết quả KTSTQ trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư:

+ Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư đã được phát hiện và xử

lý qua hoạt động KTSTQ chủ yếu là: Doanh nghiệp khai báo các mặt hàng không

thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi miễn thuế như: khai sai công suất, quy cách,

chủng loại của thực tế hàng hoá so với danh mục miễn thuế đã đăng ký; hàng hoá

không phải là linh kiện, chi tiết của dây truyền máy móc đồng bộ nhưng lại khai báo

miễn thuế theo dây truyền, phụ tùng thay thế của máy móc thiết bị; sử dụng hàng

hoá được miễn thuế không đúng mục đích…

+ Số vụ việc vi phạm phát hiện qua lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại Cục Hải quan

Quảng Ninh trong giai đoạn 2008 - 2013 là 24 vụ, chiếm tỷ lệ khoảng 15% trong tổng số

các vụ việc đã phát hiện và xử lý. Kết quả cụ thể về các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực

ưu đãi đầu tư đã được phát hiện và xử lý phản ánh tại bảng 2.9 và biểu 2.8.

Bảng 2.9: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư qua KTSTQ

Đơn vị tính: vụ

tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

Năm

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số vụ việc vi phạm

3

2

5

5

5

4

So với năm trước (tăng/giảm)

-1

3

0

0

-1

0

0

-20

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

-33,3

150

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 72 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Biểu 2.8: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư qua KTSTQ

5

5

5

4

3

2

5 4.5 4 3.5 3 2.5 2 1.5 1 0.5 0

tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

+ Vụ việc điển hình đã được kiểm tra, phát hiện và xử lý là kiểm tra dự án đầu

tư các khu trung tâm vui chơi giải trí, dự án đầu tư tại các khu công nghiệp…; Kết

quả kiểm tra đã phát hiện các doanh nghiệp có các hành vi vi phạm trong việc nhập

khẩu và sử dụng hàng hoá được miễn thuế, số tiền thuế truy thu 4,5 tỷ đồng, cụ thể:

 Công ty cổ phần giải trí quốc tế Lợi Lai: khai sai trị giá tính thuế, sai đối

tượng miễn thuế đối với mặt hàng đồng chip, đồng xèng; truy thu 877,26 triệu đồng.

 Công ty cổ phần quốc tế Hoàng Gia: khai sai đối tượng được hưởng ưu

đãi miễn thuế nhập khẩu của các mặt hàng là vật tư lắp đặt điều hoà và đá nhân tạo

mặt bóng; truy thu 692,80 triệu đồng.

 Công ty TNHH thiết bị đường ống đồng bộ Hoa Nguyên Việt Nam: khai

sai đối tượng được hưởng ưu đãi miễn thuế; khai báo sai chủng loại hàng hoá nhập

khẩu; truy thu 618,97 triệu đồng.

 Công ty TNHH Thiết bị vệ sinh huynh đệ Việt Nam: khai sai đối tượng

được hưởng ưu đãi miễn thuế; truy thu 458 triệu đồng.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 73 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

- Kết quả KTSTQ trong các lĩnh vực khác:

+ Hành vi vi phạm trong các lĩnh vực khác như: hàng hoá TNTX; SXXK; gia

công; xuất xứ hàng hoá… đã được phát hiện và xử lý qua hoạt động KTSTQ chủ

yếu là: doanh nghiệp khai sai định mức sử dụng nguyên liệu đối với loại hình gia

công và SXXK để trốn thuế nhập khẩu nguyên liệu; doanh nghiệp sử dụng Giấy

chứng nhận xuất xứ không hợp lệ để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt; doanh

nghiệp sử dụng hồ sơ không hợp lệ để làm thủ tục TNTX hàng hoá. Kết quả cụ thể

phản ánh tại bảng 2.10 và biểu 2.9

Bảng 2.10: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK qua

Đơn vị tính: vụ

KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

Năm

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số vụ việc vi phạm

2

1

3

4

4

3

So với năm trước (tăng/giảm)

-1

2

1

0

0

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

-50

200

33,3

0

0

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

Biểu 2.9: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK

4

4

4

3.5

3

3

3

2

2.5

2

qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013

1

1

1.5

1

0.5

0

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 74 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Số vụ việc vi phạm phát hiện qua các lĩnh vực này tại Cục Hải quan Quảng

Ninh trong giai đoạn 2008-2013 là 17 vụ, tỷ lệ vụ việc vi phạm phát hiện qua kiểm

tra mã số hàng hoá chiếm khoảng 8% trong tổng số các vụ việc đã phát hiện và xử lý.

+ Vụ việc điển hình đã được kiểm tra, phát hiện và xử lý là kiểm tra các

doanh nghiệp kinh doanh theo loại hình TNTX; loại hình gia công; SXXK…; Kết

quả kiểm tra đã phát hiện các doanh nghiệp có các hành vi vi phạm, số tiền thuế

truy thu và xử lý vi phạm hành chính 1,5 tỷ đồng, cụ thể:

 Doanh nghiệp may xuất khẩu Quảng Ninh: khai sai định mức của 5 mã

hàng gia công; nhập khẩu thừa nguyên liệu so với khai báo; truy thu tiền thuế 460,3

triệu đồng.

 Doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng ô tô tải tự đổ tổng trọng tải trên 24 tấn

có xuất xứ Trung Quốc, sử dụng C/O cấp sau không hợp lệ; truy thu tiền thuế 592

triệu đồng.

 Doanh nghiệp giả mạo hợp đồng để làm thủ tục TNTX hàng hoá; xử phạt

vi phạm hành chính 20 triệu đồng...

- Số thu từ hoạt động KTSTQ:

Cho thấy ngoài các yếu tố về kỹ năng kiểm tra thì cách thức lựa chọn doanh

nghiệp và phương pháp tiến hành KTSTQ có ảnh hưởng quyết định đến kết quả truy

thu thuế. Số tiền truy thu thuế từ kết quả KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh khá

lớn, nhất là các năm 2009 và 2011; kết quả truy thu thuế tại bảng 2.11

Bảng 2.11: Số tiền truy thu thuế từ kết quả KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng

Đơn vị tính: triệu đồng

Năm

2008

2009

2010

2011

2012

2013

Số tiền truy thu

1.132,3 52.994,8

10.733,6 67.699,8 67.636,2 67.004,4

So với năm trước (tăng/giảm)

51.862,5

-42.261,2 56.966,1

-63,53

-631,8

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

4.680,07

- 79,74

630,73

- 0,1

0.94

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

Ninh giai đoạn 2008-2013

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 75 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Năm 2008 số tiền thuế truy thu đạt thấp (1,1 tỷ đồng) là do đối tượng

KTSTQ tập trung vào các doanh nghiệp có hoạt động XNK qua các cửa khẩu

đường bộ thuộc tỉnh Quảng Ninh, các lô hàng XNK có kim ngạch XNK nhỏ. Mặc

dù số lượng tiền thuế truy thu không lớn nhưng qua hoạt động KTSTQ, đã phát hiện

được nhiều sai sót, vi phạm để kịp thời đưa ra biện pháp chấn chỉnh, khắc phục và

tăng cường công tác quản lý Hải quan.

+ Năm 2009, hoạt động KTSTQ chuyển hướng kiểm tra trọng điểm từ hàng

nhập khẩu sang hàng xuất khẩu là một hướng đi mới có tính đột phá về nghiệp vụ

KTSTQ, trong khi hàng hoá xuất khẩu luôn được hưởng chính sách ưu tiên về chính

sách thuế và thủ tục Hải quan. Riêng mặt hàng than mỏ, quặng sắt là các mặt hàng

xuất khẩu có điều kiện về nguồn gốc và phải chịu thuế xuất khẩu nhưng cũng là đối

tượng được hưởng sự ưu tiên phân luồng làm thủ tục Hải quan, phần lớn các lô

hàng này đều thuộc luồng xanh, miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra thực tế

hàng hóa. Mặt khác, hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật đề cập đến công tác

kiểm tra, xác định trị giá tính thuế đối với hàng xuất khẩu hầu hết chỉ mang tính

nguyên tắc, chưa cụ thể về phương pháp xác định cũng như kiểm tra phòng ngừa vi

phạm. Số tiền thuế truy thu qua hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Quảng Ninh

đạt 52,9 tỷ đồng cao nhất trong toàn lực lượng KTSTQ ngành Hải quan. Số tiền

thuế truy thu đạt được chủ yếu là kết quả KTSTQ đối với mặt hàng than mỏ xuất

khẩu của Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam, đây cũng là một

chuyên đề của Cục Hải quan Quảng Ninh báo cáo điển hình tại Hội nghị chuyên đề

KTSTQ toàn ngành Hải quan năm 2009.

+ Năm 2010 là năm tiếp theo thực hiện chuyên đề KTSTQ mặt hàng than mỏ

của các doanh nghiệp ngoài Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam, số

tiền thuế truy thu đạt 9.7 tỷ đồng.

+ Năm 2011 được Tổng Cục Hải quan lấy là “Năm KTSTQ”, phát huy kết

quả đã đạt được và với kỹ năng ngày càng hoàn thiện, tính chuyên nghiệp ngày

càng cao; trên cơ sở đối tượng kiểm tra đã được xác định, lực lượng KTSTQ Cục

Hải quan Quảng Ninh tập trung kiểm tra theo các chuyên đề chuyên sâu từng lĩnh

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 76 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

vực và đã đạt được thành tích xuất sắc, truy thu thuế 67,7 tỷ đồng = 600% so với

năm 2010.

+ Năm 2012 Chi cục KTSTQ tiếp tục là năm thành công của lực lượng

KTSTQ Quảng Ninh trong lĩnh vực thu thuế đạt trên 67 tỷ đồng

+ Năm 2013 là năm có sự thay đổi lớn về nhân sự cũng như cơ cấu tổ chức

tuy nhiên, do đã có sự chuẩn bị và làm tốt công tác tổ chức nên năm 2013 vẫn là

một năm thành công của lực lượng KTSTQ Cục Hải quan Quảng Ninh. Số thu thuế

năm 2013 đạt 67 tỷ đồng, số thủ chủ yếu thu được từ loại hình nhập đầu từ và có sự

tăng thêm của loại hình kinh doanh sản xuất xuất khẩu.

b/ Hạn chế:

- Hạn chế trong các quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động

KTSTQ:

Hệ thống văn bản pháp quy chưa quy định rõ một số hành vi vi phạm trong

lĩnh vực KTSTQ, các chế tài xử phạt và thẩm quyền xử lý các vi phạm đó, cụ thể ở

những hành vi: doanh nghiệp từ chối, trốn tránh, không cử người có đủ thẩm quyền

làm việc với lực lượng KTSTQ; doanh nghiệp có hành vi cản trở lực lượng KTSTQ

dưới các hình thức khác nhau; doanh nghiệp không cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp

thời chứng từ tài liệu theo yêu cầu; các tổ chức cá nhân chậm trễ trong việc cung

cấp thông tin xác minh doanh nghiệp….

- Hạn chế về số lượng công chức KTSTQ và năng lực, trình độ của công

chức KTSTQ:

+ Mặc dù ngành Hải quan đã xác định đẩy mạnh cải cách, hiện đại hoá Hải

quan, chuyển mạnh từ kiểm tra trong thông quan sang KTSTQ, dành tối thiểu 10%

quân số toàn ngành cho lực lượng KTSTQ; thực tế hiện nay, quân số làm công tác

KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh chỉ đạt khoảng 7,6% tổng số công chức trong

Cục.

+ Công chức Hải quan đã được đào tạo chuyên sâu một lĩnh vực nhất định

như: Tài chính, kế toán, ngoại thương, luật… trong khi đó hoạt động KTSTQ đòi

hỏi phải có kiến thức tổng hợp và kinh nghiệm thực tiễn. Vì vậy, công chức KTSTQ

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 77 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

hiện nay thiếu chuyên nghiệp, thiếu chuyên sâu, chất lượng còn yếu so với yêu cầu

thực tế, thiếu các kỹ năng cơ bản theo yêu cầu của lực lượng KTSTQ.

- Hạn chế về chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc:

+ Theo quy định hiện hành chưa có chế độ đãi ngộ thích đáng cho lực lượng

KTSTQ nhằm thu hút người tài và động viên, khuyến khích công chức KTSTQ chủ

động trong công việc; kinh phí thanh toán còn thấp, chi phí về ăn ở cho công chức

đi công tác còn nhiều bất cập không đáp ứng được với chi phí thực tế, nhất là tại các

thành phố lớn.

+ Phương tiện đi lại như xe máy, ô tô phục vụ công tác điều tra, xác minh

không có. Lực lượng KTSTQ chưa được trang bị phương tiện đi lại phục vụ công

tác, còn phụ thuộc vào phương tiện của văn phòng Cục.

2.2.3. Thực trạng công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong

lĩnh vực kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

2.2.3.1. Trình tự lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực

kiểm tra sau thông quan

Việc lập hồ sơ và ban hành các quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ

tại Cục Hải quan Quảng Ninh được thực hiện thống nhất, đảm bảo chặt chẽ cả về

nội dung và hình thức theo đúng quy định của pháp luật. Hồ sơ được lập từ thời

điểm xác định được đối tượng chịu KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan cho đến khi

vụ việc được giải quyết xong. Hồ sơ thể hiện rõ được trách nhiệm của từng công

chức, từng khâu trong quá trình tham gia vụ việc. Mỗi công chức/nhóm công chức

KTSTQ được phân công kiểm tra đối với hồ sơ của các doanh nghiệp XNK đều

phải thực hiện thiết lập hồ sơ KTSTQ theo đúng trình tự quy định và báo cáo lãnh

đạo quản lý trực tiếp để phê duyệt và chỉ đạo thực hiện.

Việc ban hành các quyết định hành chính được thực hiện ngay sau khi có

Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở Hải quan hoặc sau khi có Bản kết luận KTSTQ tại

trụ sở doanh nghiệp. Các Quyết định hành chính phải do người có thẩm quyền ký

ban hành; trường hợp doanh nghiệp khiếu nại phải thực hiện giải quyết khiếu nại;

trường hợp doanh nghiệp không chấp hành các quyết định hành chính thì thực hiện

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 78 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

đôn đốc và cưỡng chế theo thẩm quyền. Trình tự thiết lập hồ sơ và ban hành quyết

định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ bao gồm 6 giai đoạn:

- Giai đoạn KTSTQ tại trụ sở Hải quan

(1) Lập báo cáo đề xuất; (2) Tài liệu xác minh; (3) Văn bản giải trình của

doanh nghiệp; (4) Biên bản làm việc giữa nhóm kiểm tra và đại diện doanh nghiệp;

(5) Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan/hoặc Báo cáo tổng hợp kết quả

kiểm tra và đề xuất KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp; (6) Biên bản vi phạm hành

chính trong lĩnh vực Hải quan (nếu có).

- Giai đoạn KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp

(7) Quyết định KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp; (8) Các biên bản làm việc

giữa đoàn kiểm tra với giám đốc doanh nghiệp được kiểm tra; (9) Văn bản giải trình

của doanh nghiệp; (10) Tài liệu xác minh trong quá trình kiểm tra; (11) Bản kết luận

KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp; (12) Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực

Hải quan (nếu có);

- Giai đoạn ban hành quyết định hành chính

(13) Quyết định ấn định thuế (nếu có);

(14) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (nếu có);

- Giai đoạn giải quyết khiếu nại

(15) Giải quyết khiếu nại lần đầu; (16) Giải quyết khiếu nại lần hai.

- Giai đoạn theo dõi, đôn đốc các doanh nghiệp nộp phạt, nộp thuế

(17) Các công văn đôn đốc trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Quyết định

hành chính có hiệu lực; (18) Tài liệu xác minh tài khoản và số dư tài khoản của

doanh nghiệp tại các Ngân hàng; (19) Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định

hành chính;

- Giai đoạn lưu trữ hồ sơ, cập nhật cơ sở dữ liệu KTSTQ, quản lý rủi ro và

xử lý vi phạm

(20) Bàn giao lưu trữ hồ sơ theo quy trình ISO - 9002; (21) Cập nhật cơ sở

dữ liệu KTSTQ - chương trình STQ01; (22) Cung cấp thông tin cho phòng QLRR

cập nhật chương trình QLRR của ngành Hải quan; (23) Cung cấp thông tin cho

phòng xử lý vi phạm cập nhật chương trình Quản lý vi phạm;

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 79 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

2.2.3.2. Thực trạng công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong

lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

a/ Kết quả:

Công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực

KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong

những năm vừa qua được thực hiện đảm bảo đúng trình tự, hình thức, thời gian và

thẩm quyền. Các quyết định hành chính ban hành được các doanh nghiệp thực hiện

đầy đủ, kịp thời, không để xảy ra các tranh chấp khiếu kiện, không có nợ xấu phát

sinh. Kết quả hồ sơ và quyết định hành chính được ban hành trong lĩnh vực KTSTQ

giai đoạn 2008-2013 tại Cục Hải quan Quảng Ninh phản ánh tại bảng 2.12.

Bảng 2.12: Số quyết định hành chính được ban hành từ kết quả KTSTQ

tại Cục Hải quan Quảng Ninh từ 2008-2013

2012

2013

Năm

2008

2009

2010

2011

Số thu

Số thu

Số thu

Số thu

Số thu

QĐHC

QĐHC

QĐHC

Số thu từ

QĐHC

QĐHC

HC

từ QĐ

từ

từ

từ

từ

được

được

QĐHC

được

được

được

được

HC

QĐHC

QĐHC

QĐHC

QĐHC

ban

ban

(triệu

ban

ban

ban

ban

(triệu

(triệu

(triệu

(triệu

(triệu

hành

hành

đồng)

hành

hành

hành

Tiêu chí

hành

đồng)

đồng)

đồng)

đồng)

đồng)

03

15

05

988.83

06

67.42

21

717.68

22

750.25

19

748.91

So với năm

trước

2

973,83

1

-921,41

15

650,26

1

32.57

-3

-1.34

(tăng/giảm)

Tỷ lệ tăng

66,67 6.592,2

20

-93,18

350

1.064,50

4.7

4.53

15.78

-13.64

giảm (%)

Nguồn: Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan Quảng Ninh

Trong các năm từ 2008 đến 2013, số vụ vi phạm được phát hiện và các quyết

định xử phạt được ban hành đều tăng. Các hành vi vi phạm của doanh nghiệp tập

trung chủ yếu như: khai thiếu trị giá tính thuế; khai sai mã số dẫn đến sai thuế suất,

làm giảm số tiền thuế phải nộp; tự ý tiêu thụ hàng hoá trước khi thông quan; khai

báo hàng hoá không đúng đối tượng được miễn thuế; thất lạc hồ sơ; giả mạo giấy

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 80 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

tờ; chậm thanh khoản hồ sơ gia công…

Các năm 2008 và 2010 số tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính không

nhiều, với số vụ vi phạm ít, hành vi có nhiều tình tiết được giảm nhẹ. Các hành vi

tập trung chủ yếu là: thất lạc hồ sơ, giả mạo giấy tờ, chậm thanh khoản hồ sơ gia

công. Sau khi xử phạt vi phạm hành chính, các doanh nghiệp đều nhận thức được và

ý thức tuân thủ pháp luật Hải quan được nâng cao.

Năm 2009, số tiền thu phạt vi phạm hành chính của các doanh nghiệp tăng

cao (988,83 triệu đồng) là do trong các năm 2008 và 2009, Cục Hải quan Quảng

Ninh tập trung KTSTQ đối với mặt hàng Than mỏ xuất khẩu; qua kiểm tra phát

hiện các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn CN than - khoáng sản Việt Nam và các

doanh nghiệp ngoài Tập đoàn xuất khẩu than khai thiếu trị giá tính thuế hàng xuất

khẩu (khai thiếu cước phí vận tải nội địa vào trị giá tính thuế) dẫn đến thiếu số tiền

thuế phải nộp và bị xử phạt 10% số thuế còn thiếu.

Năm 2011 đến năm 2013, số tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính là

2.216,684 triệu đồng, tập trung chủ yếu ở các hành vi: khai sai mã số dẫn đến sai

thuế suất; tự ý tiêu thụ hàng hoá trước khi thông quan... nguyên nhân vi phạm chủ

yếu là do các doanh nghiệp chưa hiểu biết rõ về việc phân loại, áp mã, áp thuế dẫn

đến khai sai mã số và thuế suất Đối với hành vi tự ý tiêu thụ hàng hoá trước khi

thông quan xảy ra chủ yếu ở các cửa khẩu biên giới đường bộ; một số doanh nghiệp

tại biên giới làm dịch vụ nhập khẩu hàng hoá phải chờ giám định phân loại hàng

hoá, nhưng doanh nghiệp dịch vụ xuất hoá đơn bán ngay và hoàn tất việc làm dịch

vụ nhập khẩu mà không chờ kết quả giám định và quyết định thông quan hàng hoá

của cơ quan Hải quan… dẫn đến vi phạm.

Các doanh nghiệp đã bị xử phạt hành chính lần đầu với hành vi tự ý tiêu thụ

hàng hoá trước khi thông quan, các năm sau được kiểm tra với hàng hoá tương tự

thì hành vi trên đã không bị lặp lại. Như vậy, việc xử phạt của cơ quan Hải quan đạt

được hiệu quả khi hành vi vi phạm được ngăn chặn và hướng đến sự tuân thủ pháp

luật của doanh nghiệp.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 81 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

b/ Hạn chế:

- Qui định về mẫu ấn chỉ còn chưa phù hợp như: mẫu biên bản làm việc, mẫu

quyết định ấn định thuế, mẫu Quyết định xử phạt vi phạm hành chính…

- Khả năng tổng hợp, báo cáo và kỹ năng lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính

của công chức KTSTQ còn yếu, việc xử lý các tình huống khiếu nại, khiếu kiện của

doanh nghiệp còn hạn chế.

- Trong các chương trình đào tạo về KTSTQ do Tổng Cục Hải quan tổ chức,

các kỹ năng lập Biên bản làm việc, Biên bản vi phạm hành chính, Quyết định xử

phạt vi phạm hành chính… ít được quan tâm hoặc được đào tạo chưa sâu nên công

tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ đối với

hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu còn nhiều lúng túng.

- Việc quản lý, lưu trữ hồ sơ còn chưa khoa học khó khăn cho công tác tìm

kiếm, tra cứu.

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA CỤC

HẢI QUAN QUẢNG NINH

2.3.1. Những mặt được trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải

quan Quảng Ninh

- Thu thập được nguồn thông tin chất lượng từ cơ sở dữ liệu nghành Hải

quan và từ các đơn vị Hải quan cửa khẩu;

- Số lượng doanh nghiệp được KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh từ

năm 2008 – 2013 tăng lên tỷ lệ thuận với số tiền truy thu thuế và xử lý vi phạm

hành chính ở lĩnh vực trị giá Hải quan, mã số hàng hóa, ưu đãi đầu tư và các lĩnh

vực khác qua các năm tăng lên, cho thấy sự nỗ lực và cống gắng của lực lượng

KTSTQ;

- Công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực

KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh

trong những năm qua được thực hiện đúng quy định hiện hành. Các quyết định hành

chính ban hành được các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ, kịp thời, không để xảy ra

các tranh chấp khiếu kiện, không có nợ xấu phát sinh.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 82 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

2.3.2. Những tồn tại chính trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục

Hải quan Quảng Ninh

- Hạn chế trong thu thập, xử lý thông tin

- Hạn chế trong hoạt động KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gồm:

+ Việc nắm bắt, cập nhật các quy định còn hạn chế.

+ Số lượng Cán bộ công chức có năng lực và trình độ chuyên môn cao còn thiếu.

+ Chế độ đãi nghộ và điều kiện làm việc còn hạn chế.

- Hạn chế trong việc lập hồ sơ và ban hành Quyết định hành chính trong lĩnh

vực KTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm tra sau thông

quan của Cục Hải quan Quảng Ninh

- Về hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách hoạt động kiểm tra sau

thông quan

Mặc dù hệ thống văn bản pháp quy về hoạt động KTSTQ đã được ban hành

tương đối đồng bộ, tuy nhiên chưa trao quyền đủ mạnh cho lực lượng KTSTQ; công

chức KTSTQ không được thẩm vấn doanh nghiệp... trong trường hợp doanh nghiệp

cố tình trây ỳ hoặc kéo dài thời gian cung cấp hồ sơ tài liệu, doanh nghiệp không

hợp tác… chưa có chế tài đủ mạnh bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện.

- Về nguồn nhân lực cho hoạt động kiểm tra sau thông quan

Theo yêu cầu của ngành Hải quan, số lượng công chức KTSTQ phải đạt 10%

trên tổng biên chế của Cục Hải quan tỉnh; tuy nhiên số lượng công chức KTSTQ tại

Cục Hải quan Quảng Ninh hiện nay chỉ đạt 7,6%. Vì vậy, số cuộc KTSTQ (đặc biệt

là kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp) tuy năm sau cao hơn năm trước nhưng vẫn chưa

đáp ứng được yêu cầu đề ra.

Nhiều công chức mới được tuyển dụng, tuy được đào tạo cơ bản nhưng chưa

có kỹ năng và kinh nghiệm trong công tác kiểm tra, tiếp xúc, làm việc với doanh

nghiệp. Mặt khác do yêu cầu trong việc luân chuyển công chức theo qui định của

ngành nên nhiều công chức mới phải có thời gian nghiên cứu, tiếp cận và làm quen

với công tác KTSTQ.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 83 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

- Về chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc

Công chức KTSTQ không được hưởng phụ cấp đặc thù (như lực lượng kiểm

soát CBL, tin học), hiện chưa có cơ chế trích thưởng từ kết quả KTSTQ (như lực

lượng thanh tra, kiểm toán), vì vậy chưa động viên CBCC yên tâm công tác lâu dài,

chưa thu hút được CBCC vào lực lượng KTSTQ làm việc.

Trang thiết bị, cơ sở vật chất mặc dù đã được Tổng Cục Hải quan và Cục Hải

quan tỉnh quan tâm, đáp ứng yêu cầu trước mắt nhưng về lâu dài cần có quy hoạch

định hướng dài hạn, xứng tầm với vị trí, vai trò của hoạt động KTSTQ trong quản lý

Hải quan hiện đại. Hiện tại trụ sở Chi cục KTSTQ vẫn nằm trong khối văn phòng

Cục, chưa có trụ sở riêng, chưa được đầu tư các trang thiết bị như: Máy giám định

tài liệu, ô tô…

- Về trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cho hoạt động kiểm tra sau thông

quan

Cơ sở vật chất, kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động chủ yếu do chưa có

kế hoạch đầu tư lâu dài cho hoạt động KTSTQ; nguyên nhân một phần do nhận

thức về tầm quan trọng của hoạt động KTSTQ chưa nhất quán, mặt khác do hoạt

động KTSTQ thời gian qua chưa đạt được những kết quả như yêu cầu đề ra.

Việc đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin còn manh mún, chưa đầu

tư đúng trọng tâm, yêu cầu hiện đại hóa ngành Hải quan; các chương trình phần

mềm quản lý nghiệp vụ Hải quan chủ yếu chỉ đáp ứng được 1 lĩnh vực cụ thể, chưa

tích hợp để ứng dụng có hiệu quả cho các lĩnh vực khác. Vì vậy, hệ thống thông tin,

cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa kết nối với các đơn

vị Bộ tài chính và các Bộ, Ngành có liên quan.

- Về nhận thức của các bên có liên quan và sự phối hợp trong hoạt động

kiểm tra sau thông quan

Nhận thức của một số lãnh đạo các cấp trong ngành Hải quan về vị trí, vai

trò, tầm quan trọng của KTSTQ chưa đúng và đầy đủ dẫn đến công tác tổ chức, chỉ

đạo thực hiện chưa sát sao, ngại va chạm, thậm chí không ủng hộ cho hoạt động

này. Nguyên nhân này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động KTSTQ.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 84 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Cũng do nhận thức chưa đúng nên tư tưởng của công chức làm công tác

KTSTQ chưa thực sự yên tâm công tác. Nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp

XNK, của các ngành chức năng có liên quan… về bản chất, vai trò, tầm quan trọng

của KTSTQ chưa đúng và đầy đủ nên chưa hợp tác chặt chẽ, ủng hộ và phối hợp

trong hoạt động KTSTQ. Một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp tham gia hoạt động

XNK, có ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, chạy theo lợi nhuận bất chấp việc vi

phạm pháp luật, nhất là pháp luật về Hải quan và pháp luật về kế toán.

Những nguyên nhân về nhận thức và tư tưởng nêu trên đã ảnh hưởng trực

tiếp và toàn diện đến các khâu trong hoạt động KTSTQ.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 85 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN

TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH

3.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI

QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Ngành Hải quan trong việc phát

triển Hải quan hiện đại

3.1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển Hải quan hiện đại

Công cuộc đổi mới được Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam khởi

xướng đã mở đường cho sự chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế kế

hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành

theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Song

song với sự đổi mới về chiến lược kinh tế xã hội trong nước là sự chuyển hướng

chiến lược chính trị và kinh tế đối ngoại. Đặc biệt từ Đại hội VII, đường lối đa

phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế được

Đại hội VII khẳng định ở việc "gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới,

giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có chính sách

bảo vệ sản xuất nội địa". Đồng thời, triển khai thực hiện Nghị quyết trung ương 8 về

cải cách nền hành chính quốc gia, mục tiêu của cải cách được đặt ra với Ngành Hải

quan là: tạo thuận lợi, nhanh chóng cho hoạt động kinh doanh XNK, đầu tư và du

lịch… Cùng với sự phát triển của quá trình hội nhập nền kinh tế Việt Nam với kinh

tế khu vực và thế giới, chủ trương chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hội nhập ngày

càng rõ hơn, cụ thể hơn. Đại hội VIII của Đảng (1996) đã khẳng định nhiệm vụ đối

ngoại là "củng cố môi trường hòa bình vào tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để đẩy

mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", "đẩy

nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới". Nghị quyết trung ương 4

khóa XIII đã nêu nguyên tắc hội nhập quốc tế là "tích cực và chủ động thâm nhập

và mở rộng thị trường quốc tế" và nhấn mạnh nhiệm vụ "chủ động chuẩn bị các

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 86 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp, và nhất là các sản phẩm mà chúng ta có khả

năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và quốc tế". Đại hội còn khẳng định

và cụ thể hóa chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, đa phương hóa, đa dạng hóa

quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song

phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc

tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và cùng có lợi. Đại hội

Đảng IX, X và XI đã tiếp tục khẳng định đường lối hội nhập và đẩy mạnh phát triển

kinh tế phù hợp với xu thế toàn cầu hóa với mục tiêu "chủ động hội nhập kinh tế

quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý

để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa".

Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, phát

triển sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, cải cách thủ tục hành chính, đòi hỏi

Ngành Hải quan phải nâng cao năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của quản lý Hải

quan hiện đại, vừa đảm bảo hỗ trợ thông quan nhanh chóng, tạo thuận lợi thương

mại, đồng thời đảm bảo quản lý chặt chẽ hoạt động XNK; chống buôn lậu và gian

lận thương mại có hiệu quả; đảm bảo nguồn thu cho ngân sách; góp phần bảo vệ trật

tự an toàn xã hội, lợi ích người tiêu dùng, đảm bảo lợi ích và chủ quyền an ninh

quốc gia. Hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan phải đảm bảo tạo thuận lợi cho

hoạt động XNK, đầu tư, du lịch, dịch vụ; cụ thể: thủ tục Hải quan phải đơn giản,

minh bạch, tăng nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa trong giao dịch ngoại thương;

thông quan hàng nhanh, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp; cung cấp thông tin

nhanh chóng công khai.

3.1.1.2. Quan điểm của Ngành Hải quan về phát triển Hải quan hiện đại

Thực hiện mô hình quản lý Hải quan tập trung thống nhất trên nền tảng công

nghệ thông tin (mô hình thông quan điện tử): tập trung xử lý thông tin ở cấp Tổng

Cục Hải quan và các Cục Hải quan vùng; tự động hóa hoàn toàn việc quản lý thông

tin hàng hóa bằng việc hoàn thiện hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử với các cơ quan

có liên quan; quản lý toàn diện và tập trung bằng việc kiểm tra khối lượng hàng hóa

luân chuyển qua từng khâu; xử lý thông tin và quyết định hình thức kiểm tra theo kỹ

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 87 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

thuật quản lý rủi ro; áp dụng ở trình độ cao các tiến bộ của công nghệ thông tin vào

quản lý Hải quan đồng bộ giữa tin học hóa và tự động hóa thông qua các hệ thống

quản lý thống nhất và hoàn chỉnh phục vụ mọi khâu nghiệp vụ Hải quan đặc biệt là

KTSTQ.

Hoàn thành việc cải cách và chuyển đổi các hoạt động nghiệp vụ Hải quan

theo chuẩn mực Hải quan hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về Hải quan,

tạo tiền đề để tiếp tục thực hiện cải cách, hiện đại hóa Hải quan.

3.1.2. Xu hướng về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và khả năng xảy ra rủi ro

trong quản lý Hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

3.1.2.1. Xu hướng về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trên địa bàn

Quảng Ninh là tỉnh miền núi, biên giới, hải đảo; phía Bắc và phía Đông Bắc

giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc với biên giới dài 118,8 km, phía Tây Bắc giáp

tỉnh Lạng Sơn, phía Tây giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, thành phố

Hải Phòng, phía Đông và phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ. Với vị trị địa lý như vậy,

Quảng Ninh là tỉnh hội tụ nhiều lợi thế, tiềm lực phát triển kinh tế xã hội quan trọng

trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Ngày 2/3/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 34/2009/QĐ-TTg

phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đến năm

2020; với định hướng chiến lược:

Khai thác tối đa lợi thế so sánh của vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ để

phát triển thương mại với tốc độ cao, hướng mạnh vào xuất khẩu, từng bước hội

nhập vững chắc vào thị trường quốc tế, nhất là thị trường Trung Quốc, ASEAN.

Đầu tư xây dựng trung tâm thương mại Móng Cái, giữ vai trò cửa ngõ giao lưu

chính của vành đai kinh tế với Trung Quốc và giữa Việt Nam - Trung Quốc với

ASEAN…

Đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang Trung Quốc; đổi mới cơ cấu

hàng xuất khẩu, quy hoạch phát triển các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu phù hợp với

nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc và lợi thế của từng địa phương. Tăng cường

xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, hạn chế xuất khẩu thô, xuất khẩu nguyên liệu.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 88 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Hạn chế thấp nhất việc xuất khẩu các loại than có nhu cầu sử dụng trong nước. Xây

dựng hoàn chỉnh Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, nâng cấp các cửa khẩu Hoành

Mô, Bắc Phong Sinh để mở rộng giao thương hàng hóa giữa các địa phương của hai

nước trong vành đai kinh tế.

Phát triển đa dạng các hoạt động xuất khẩu tại chỗ như: tạm nhập, tái xuất,

chuyển tải, quá cảnh, uỷ thác, kho ngoại quan và các dịch vụ xuất, nhập khẩu khác...

Phấn đấu đạt tốc độ xuất khẩu bình quân trên 25% giai đoạn 2011- 2020. Đầu tư

xây dựng các khu phi thuế quan tại các khu vực cửa khẩu, các khu kinh tế và các

cửa hàng miễn thuế tại các thành phố, các trung tâm thương mại, trung tâm du lịch

lớn, các sân bay, cảng biển đầu mối... nhằm thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ.

Với những lợi thế từ vị trí địa lý và định hướng chiến lược của Chính phủ,

hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới được dự báo sẽ

tăng trưởng mạnh, phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Hàng hoá XNK chủ yếu

bao gồm:

- Hàng xuất khẩu: Than mỏ, Cao su, Ferro Wolfram, quặng Apatít, sản phẩm

gỗ, hàng nông sản thực phẩm, hàng thuỷ hải sản…

- Hàng nhập khẩu: Xăng dầu, dầu thực vật, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu

gia công sản xuất xuất khẩu, vật tư thiết bị đóng tàu, máy móc thiết bị tạo tài sản cố

định, sản phẩm may mặc, ôtô tải, sơmi rơ mooc, than cốc, phân bón…

- Hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất, kho ngoại quan: Dầu Diesel, thuốc lá,

nguyên liệu sản xuất thuốc lá, rượu, ôtô, thực phẩm đông lạnh, điện tử...

3.1.2.2. Khả năng xảy ra rủi ro trong quản lý Hải quan

Do thay đổi phương pháp quản lý trong bối cảnh các điều kiện đảm bảo chưa

sẵn sàng như: nhận thức, hiểu biết về phương pháp quản lý mới còn hạn chế;

chương trình quản lý còn thiếu, chương trình đã có thì chưa đáp ứng được yêu cầu,

dữ liệu có chưa đáng kể, phương tiện quản lý còn thiếu; kỹ năng thực hiện phương

pháp quản lý mới của phần đông công chức Hải quan còn yếu; một bộ phận đáng kể

chưa sẵn sàng thay đổi… nên khả năng xảy ra rủi ro là khá lớn, cụ thể:

+ Doanh nghiệp khai thấp giá hàng nhập khẩu để giảm số thuế phải nộp sẽ là

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 89 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

xu hướng phổ biến. Khả năng khai cao giá hàng hóa nhập khẩu để tăng phần góp

vốn trong các dự án đầu tư, khai cao giá hàng xuất khẩu để được hoàn thuế nhiều

hơn vẫn tiếp tục xảy ra.

+ Khai sai tên, mã số hàng hóa để trốn thuế hoặc hưởng thuế suất thấp chưa

có khả năng giảm do hệ thống thuế suất vẫn còn nhiều mức và chênh lệch giữa các

mức còn khá lớn.

+ Khai sai định mức sử dụng nguyên liệu đối với loại hình gia công và sản

xuất - xuất khẩu để trốn thuế tiêu thụ nội địa nguyên liệu nhập khẩu có thể là một

vấn đề lớn.

+ Lợi dụng cơ chế ưu đãi thuế như miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, và đầu

tư trong nước và nước ngoài để gian lận, trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế.

+ Gian lận, giả mạo hàng hóa có xuất xứ để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt

là một hiện tượng mới, có thể lan rộng nếu không có biện pháp quản lý hữu hiệu.

3.1.3. Phương hướng, mục tiêu hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải

quan Quảng Ninh đến năm 2017

Để đáp ứng yêu cầu quản lý Hải quan trong quá trình hội nhập kinh tế với

các nước trong khu vực và trên thế giới, Cục Hải quan Quảng Ninh chủ động triển

khai thực hiện:

- Kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại hoá giai đoạn 2012-2017 và các

mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh, góp phần đảm bảo an ninh quốc

gia, an toàn xã hội.

- Thủ tục Hải quan chủ yếu thực hiện bằng phương thức điện tử trên nền tảng

ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương

thức quản lý rủi ro.

Mục tiêu đến năm 2017, hoạt động KTSTQ đạt trình độ chuyên nghiệp,

chuyên sâu, hiệu quả, dựa trên nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro; quy trình nghiệp

vụ KTSTQ được chuẩn hóa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin; phân loại

được các doanh nghiệp XNK; kiểm soát được các doanh nghiệp, loại hình, mặt

hàng XNK có rủi ro cao.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 90 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG

QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI

3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách về KTSTQ

3.2.1.1 Hoàn thiện pháp luật Hải quan

Cần sớm nghiên cứu một cách tổng thể để tạo ra một khuôn khổ pháp lý

vững chắc và ổn định đối với hoạt động Hải quan nói chung và hoạt động KTSTQ

nói riêng. Trong thời gian tới cần sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan mà nền tảng của

nó phải được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực của Tổ chức Hải quan thế giới và

các thông lệ quốc tế. Mặt khác, pháp luật Hải quan gắn rất chặt chẽ đến các Luật

khác mà cơ quan Hải quan phải tuân thủ và thực thi, nếu chỉ hoàn thiện Luật Hải

quan mà không hoàn thiện các luật khác có liên quan thì sẽ dẫn đến sự thiếu nhất

quán và thiếu minh bạch trong việc thực hiện. Bởi việc mâu thuẫn và thay đổi liên

tục sẽ không chỉ gây khó khăn cho doanh nghiệp mà còn cho cả công chức Hải

quan, dẫn đến rủi ro trong công tác quản lý. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện pháp

luật có liên quan (Luật thương mại, luật quản lý thuế, Luật đầu tư…) cần nghiên

cứu kinh nghiệm của một số quốc gia phát triển và đang phát triển để từng bước mở

rộng phạm vi trách nhiệm ngoài chức năng, nhiệm vụ truyền thống của mình.

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về KTSTQ theo hướng phù hợp với các chuẩn

mực của WCO và các khuyến nghị của tổ chức Hải quan ASEAN; theo đó mở rộng

đối tượng, phạm vi KTSTQ và thời gian KTSTQ tại trụ sở của doanh nghiệp trên cơ

sở kế hoạch kiểm tra định kỳ và đột xuất của cơ quan Hải quan để đánh giá mức độ

tuân thủ của doanh nghiệp. Mở rộng thẩm quyền cho công chức KTSTQ đặc biệt là

quyền điều tra với các doanh nghiệp đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật về Hải quan;

quyền cưỡng chế không làm thủ tục Hải quan, truy thu thuế… Việc xác định đối

tượng KTSTQ, phạm vi KTSTQ phải được thực hiện trên nền tảng của hệ thống

quản lý rủi ro và quy trình KTSTQ theo chuẩn mực quốc tế…

Tất cả các quy định trên cần xem xét để luật hóa một cách có hệ thống trong

Luật Hải quan khi được sửa đổi một cách cơ bản trong thời gian tới.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 91 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

3.2.1.2. Hoàn thiện pháp luật thuế

Chính sách thuế của Nhà nước là một trong những công cụ quản lý hoạt động

XNK. Trong thời gian qua, Nhà nước đã không ngừng cải cách, sửa đổi, bổ sung

đảm bảo hợp lý, công khai, minh bạch và bình đẳng hơn. Tuy nhiên, ngay trong bản

thân chính sách thuế cũng tiềm ẩn một số yếu tố rủi ro.

Các luật thuế liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của nước ta hiện

nay còn bộc lộ những bất hợp lý, tạo ra nhiều sơ hở trong công tác quản lý, kiểm

tra, kiểm soát và giám sát Hải quan. Việc đánh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế

giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và một số khoản thu khác… có một số loại

hàng hóa phải chịu thuế rất cao, phát sinh một vấn đề là nếu trốn được thuế thì sẽ

thu được một khoản lợi nhuận rất lớn thay vì phải khai báo trung thực với cơ quan

Hải quan. Nhiều doanh nghiệp chấp nhận mạo hiểm, tính toán tìm cách trốn thuế

bằng cách khai báo không trung thực với cơ quan Hải quan; nói cách khác, thuế suất

cao chính là một trong những nguyên nhân hấp dẫn doanh nghiệp gian lận trốn thuế.

Vì vậy, cần nghiên cứu một cách khoa học để định mức thuế suất hợp lý vừa đảm

bảo mức thu hợp lý cho ngân sách nhà nước vừa thúc đẩy sản xuất trong nước cạnh

tranh lành mạnh nhưng đồng thời ngăn chặn gian lận trốn thuế.

Việc đánh thuế vừa theo tính chất mặt hàng vừa theo mục đích sử dụng dẫn

đến chênh lệch giữa đánh thuế theo tính chất mặt hàng với việc đánh thuế theo mục

đích sử dụng rất cao. Việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu cũng đang

là một vấn đề bức xúc bởi doanh nghiệp thường dùng thủ đoạn lập các chứng từ giả,

chứng từ khống hoặc chứng từ có nội dung phản ánh không trung thực nghiệp vụ

kinh tế phát sinh để được hoàn thuế. Một số mặt hàng có thuế suất cao kinh doanh

tại Việt Nam nhưng lại được phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp với nhau cũng

là một kẽ hở để lợi dụng.

Thời hạn nộp thuế được quy định tại các luật thuế hiện nay đang là vấn đề

tiềm ẩn yếu tố rủi ro rất cao, nhiều doanh nghiệp nợ đọng thuế trong hoạt động

XNK lên đến nhiều tỷ đồng nhưng không có khả năng thanh toán ảnh hưởng

nghiêm trọng đến nguồn thu ngân sách và trong nhiều năm nay cơ quan Hải quan

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 92 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

thường xuyên phải đối mặt với việc “nợ đọng thuế”. Nhiều doanh nghiệp lợi dụng

sơ hở này để kinh doanh một thời gian ngắn chiếm dụng một lượng lớn tiền thuế rồi

bỏ trốn, không hoạt động XNK hoặc thành lập một doanh nghiệp khác để tiếp tục

hoạt động. Yếu tố rủi ro này chỉ có thể hạn chế khi cơ quan Hải quan kiểm soát

được khả năng tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, cần quy định phải nộp thuế ngay

trước khi thông quan hàng hóa hoặc phải ký quỹ như kinh nghiệm của một số nước

đang áp dụng.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tự tính, tự nộp thuế nhằm nâng cao tính tự giác

chấp hành pháp luật của người khai Hải quan, đồng thời tăng cường trách nhiệm

của cơ quan Hải quan trong việc tư vấn pháp luật về Hải quan, về thuế. Hoàn thiện

cơ chế nộp thuế, tạo điều kiện cho người khai Hải quan nộp thuế nhanh nhất, thuận

lợi nhất, bằng việc kết nối thông tin, hình thành hệ thống thanh toán qua mạng giữa

các cơ quan Hải quan, ngân hàng, kho bạc và người khai Hải quan.

Mặt khác, chính sách thuế thường xuyên thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của

giao lưu và phát triển thương mại quốc tế và yêu cầu phát triển một số ngành công

nghiệp non trẻ trong nước nhưng việc này cũng tạo ra bất lợi trong việc thực hiện,

ảnh hưởng tới việc tính toán hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một trong

những nguyên tắc quản lý nói chung và chính sách thuế nói riêng là công khai, minh

bạch (bao gồm quyền được biết thông tin và có thể dự đoán trước được).

3.2.1.3. Xây dựng quy trình nghiệp vụ chuẩn

Cần tiếp tục hoàn chỉnh quy trình KTSTQ theo chuẩn mực quốc tế, bao gồm

các bước công việc được thực hiện một cách logic, có cấu trúc và tổ chức chặt chẽ.

KTSTQ áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong các bước về lựa chọn đối tượng

kiểm tra, khảo sát trước khi kiểm tra, kiểm tra tại doanh nghiệp và tập trung chủ yếu

vào nghiệp vụ kiểm tra và rà soát sổ sách, chứng từ của đối tượng KTSTQ.

Hiện nay đã có quy trình nghiệp vụ KTSTQ đối với các doanh nghiệp làm

thủ tục Hải quan theo phương pháp truyền thống, sử dụng hồ sơ giấy; cần tiếp tục

hoàn thiện quy trình và thống nhất áp dụng thực hiện KTSTQ đối với các doanh

nghiệp làm thủ tục thông quan hồ sơ điện tử. Để thực hiện được giải pháp này, Bộ

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 93 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

tài chính và Tổng Cục Hải quan cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới cộng đồng

doanh nghiệp để có sự vào cuộc đồng bộ của cả cơ quan quản lý và cộng đồng

doanh nghiệp trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kết nối thông tin giữa cơ

quan quản lý và doanh nghiệp. Trên cơ sở đó xây dựng quy trình nghiệp vụ chuẩn

thống nhất áp dụng trong hoạt động KTSTQ cũng như phục vụ yêu cầu quản lý Hải

quan trên địa bàn.

Cùng với việc chuẩn hoá quy trình KTSTQ, các chương trình quản lý nghiệp

vụ khác tại khâu thông quan cũng phải được hoàn thiện và kết nối với KTSTQ.

Hiện nay, Hải quan Việt Nam đang tiến hành chạy thử, thí điểm dự án

VNACCS/VCIS (Hệ thống thông quan tự động/dữ liệu thông tin tình báo) do Chính

phủ Nhật bản viện trợ không hoàn lại; theo kế hoạch đến 01/4/14 hệ thống thông

quan tự động chính thức đi vào thực hiện và với các thông tin, dữ liệu điện tử được

cung cấp từ khâu thông quan sẽ hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động KTSTQ.

3.2.1.4. Cơ chế đãi ngộ đối với lực lượng kiểm tra sau thông quan

KTSTQ là hoạt động nghiệp vụ khó và có tính chất phức tạp, phải tiếp xúc,

trao đổi với nhiều đơn vị, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xác minh, thu

thập thông tin các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Công chức KTSTQ hoạt

động trong môi trường khó khăn, nhưng đến nay các chế đãi ngộ vẫn chưa có quy

định cụ thể, khuyến khích động viên trong công việc.

Do vậy, trước mắt, để kịp thời động viên công chức làm công tác KTSTQ,

Tổng Cục Hải quan cần trình Bộ tài chính cho phép lực lượng KTSTQ được hưởng

nguồn kinh phí trích lập được từ kết quả truy thu số thuế ẩn lậu qua hoạt động

KTSTQ. Về lâu dài, Tổng Cục Hải quan cần báo cáo Bộ tài chính trình Chính phủ

cho phép Ngành Hải quan được trích thành lập quỹ “Hỗ trợ KTSTQ” từ nguồn thuế

truy thu được qua kết quả KTSTQ.

Chế độ ưu đãi, thăng thưởng cho công chức KTSTQ không chỉ được thực

hiện bằng vật chất. Các quy định cụ thể về việc thăng tiến trong công việc, cơ hội

được đào tạo trong nước và nước ngoài, chế độ thi đua khen thưởng cũng cần được

vận dụng triệt để, trong khuôn khổ luật pháp quy định. Khi công chức KTSTQ đạt

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 94 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

thành tích tốt, cần có các chế độ như: Thăng tiến, đề bạt; Thưởng tiền, bằng khen,

giấy khen, danh hiệu thi đua; Cơ hội được cử đi học tập nâng cao trình độ....

Cùng với việc quy định chế độ ưu đãi, khen thưởng cụ thể, Tổng Cục Hải

quan cũng phải có những quy định kỷ luật nghiêm khắc đối với những công chức

KTSTQ có hành vi trái pháp luật, gây tổn hại cho doanh nghiệp hoặc có hành vi tiêu

cực cấu kết với doanh nghiệp để làm sai lệch kết quả KTSTQ.

3.2.2. Tiếp tục hoàn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng lực lượng kiểm tra sau

thông quan theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu

3.2.2.1. Kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy kiểm tra sau thông quan phù hợp, đáp

ứng yêu cầu nhiệm vụ

Cục Hải quan Quảng Ninh và lãnh đạo Hải quan các cấp cần xác định đúng

vai trò, vị trí của hoạt động KTSTQ trong nghiệp vụ Hải quan. Rà soát, chọn lựa bổ

sung những chuyên gia giỏi, những công chức có kinh nghiệm thực tiễn KTSTQ,

chú trọng về năng lực, trình độ tham mưu và khả năng tác chiến, kiểm tra độc lập

trong hoạt động KTSTQ, đặc biệt là trình độ kiểm toán và năng lực điều tra xác

minh. Trước mắt, cần điều động, tuyển chọn đủ số công chức làm công tác KTSTQ,

kể cả số công chức ngoài ngành có năng lực, trình độ theo quy định của Tổng Cục

Hải quan. Sắp xếp lại cơ cấu của Chi cục KTSTQ theo hướng chuyên sâu, chia

thành 2 nhóm: (i) nhóm điều tra xác minh, thu thập thông tin; (ii) nhóm tiến hành

kiểm tra sau thông quan trực tiếp. Cần sắp xếp quản lý kết hợp chuyên sâu với quản

lý theo địa bàn, do đặc thù của hoạt động KTSTQ, nên việc bố trí công chức

KTSTQ phải dựa trên một số nguyên tắc chủ yếu sau:

+ Việc sắp xếp phải đảm bảo chuyên môn hóa, tính chuyên nghiệp cao, về

lâu dài sẽ hình thành một số đội ngũ chuyên gia trong một số lĩnh vực nghiệp vụ

cơ bản.

+ Công chức KTSTQ cần phải kinh qua các công tác trong ngành đặc biệt là

các lĩnh vực chuyên môn có liên quan như: thủ tục Hải quan, quản lý thuế, điều tra

chống buôn lậu,…

+ Việc bố trí công chức KTSTQ vào một số vị trí cụ thể phải được qua

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 95 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

đào tạo về lĩnh vực đó, phù hợp với chuyên môn đào tạo, năng lực, sở trường của

công chức.

+ Kết hợp việc chuyên môn hóa với việc đào tạo cho công chức KTSTQ có

được những kiến thức tổng hợp; kết hợp với công chức có kinh nghiệm, công chức

từ các bộ phận khác luân chuyển sang và công chức mới.

Đối với các Chi Cục Hải quan cửa khẩu làm nhiệm vụ thông quan, thông qua

công tác phúc tập hồ sơ và quản lý Hải quan trên địa bàn để phát hiện và ngăn chặn

các vi phạm về Hải quan, đây là một trong những nguồn cung cấp thông tin quan

trọng để thực hiện các quyết định KTSTQ. Do vậy cần bố trí một đội ngũ công chức

có năng lực kiểm tra, và phát hiện các dấu hiệu vi phạm để phục vụ công tác

KTSTQ cũng như xử lý các vi phạm trong phạm vi thẩm quyền của cấp Chi cục.

3.2.2.2. Chuẩn hoá đội ngũ công chức kiểm tra sau thông quan, đổi mới công tác

đào tạo theo hướng chuyên sâu các lĩnh vực nghiệp vụ

- Để hoạt động KTSTQ đạt kết quả cao, đòi hỏi công chức KTSTQ cần được

đào tạo đầy đủ, đồng thời phải tự mình nâng cao năng lực, kiến thức và kỹ năng cơ

bản sau:

+ Nắm vững và thực hiện đúng pháp luật Hải quan, các quy định và quy trình

thủ tục Hải quan: Công chức KTSTQ phải nắm chắc Luật Hải quan, các Luật thuế

và các văn bản hướng dẫn, đặc biệt phải nắm chắc các quy định cụ thể về: nguyên

tắc xác định trị giá, quy tắc xuất xứ, phân loại và áp mã hàng hóa,… nhằm phát hiện

những gian lận và sai sót trong việc khai báo khi làm thủ tục Hải quan.

+ Hiểu biết quy trình tiến hành một hoạt động kinh doanh thương mại quốc

tế: Theo hiệp định trị giá GATT, trị giá Hải quan phải dựa trên những tiêu chí cơ

bản và hợp lý phù hợp với thông lệ thương mại. Do đó, công chức KTSTQ cần

thông thạo thông lệ trong kinh doanh thương mại quốc tế.

+ Vận dụng thành thạo kỹ thuật và nguyên tắc kế toán: Để tiến hành các

bước kiểm tra rà soát chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính, công chức KTSTQ

cần được trang bị đầy đủ kiến thức về kế toán.

+ Sử dụng các chuẩn mực và quy trình thủ tục kiểm toán: Vì KTSTQ thực

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 96 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

chất là sử dụng kỹ năng kiểm toán, vì vậy công chức KTSTQ phải thông thạo kỹ

năng kiểm toán.

+ Áp dụng các kỹ năng công nghệ thông tin: Hiện nay, các hoạt động trong

giao dịch quốc tế như hạch toán kế toán, kiểm kê, bán hàng, định giá,… đều được

thực hiện thông qua hệ thống máy tính. Vì vậy, công chức KTSTQ phải có đủ khả

năng kiểm tra trên hệ thống máy tính của doanh nghiệp.

+ Thành thạo ngoại ngữ: Vì ngôn ngữ chủ yếu trong thương mại quốc tế hiện

nay là tiếng Anh và một số ngoại ngữ thông dụng như tiếng Pháp, tiếng Trung

Quốc, một số tiếng của các nước láng giềng nên yêu cầu ngoại ngữ là không thể

thiếu được đối với mỗi công chức KTSTQ nhằm giúp họ hiểu được nội dung các

thư tín thương mại và các chứng từ khác liên quan đến giao dịch thương mại.

+ Công chức KTSTQ phải nhiệt tình, chịu khó và tâm huyết với nghề

nghiệp: KTSTQ là một trong những công việc khó khăn và vất vả, công chức

KTSTQ cần hiểu được tầm quan trọng của KTSTQ và phải có tâm huyết với công

việc này.

- Cùng với việc củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy, tăng cường biên chế

của lực lượng KTSTQ đạt 10% biên chế toàn Cục Hải quan Quảng Ninh; công tác

đào tạo và đào tạo lại cũng phải được đẩy mạnh và nâng cao hơn để phù hợp với

tiến trình hiện đại hóa ngành Hải quan. Các công việc cụ thể được tiến hành như

sau:

+ Tiếp tục mở các lớp đào tạo có chuyên gia hướng dẫn, cử công chức đi

nghiên cứu, học tập ở nước ngoài bằng nguồn tài trợ và nguồn ngân sách nhà nước.

+ Thông qua tài liệu KTSTQ, kinh nghiệm thực tiễn của các nước, kết hợp

với các quy định của pháp luật về KTSTQ và thực tiễn tiến hành công tác KTSTQ

trong thời gian vừa qua, cần xây dựng một bộ giáo trình chuẩn phục vụ công tác đào

tạo về KTSTQ.

+ Cử cán bộ đi thực tế tại các nước đã thực hiện tốt và có kinh nghiệm

KTSTQ.

- Về phương pháp cần kết hợp đào tạo tại chỗ và đào tạo tập trung:

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 97 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

+ Đào tạo tại chỗ là việc đào tạo do các công chức lâu năm, có kinh nghiệm

đào tạo cho cán bộ cấp dưới, cán bộ mới được tuyển dụng hoặc ít có kinh nghiệm;

việc đào tạo này được tổ chức ngay tại đơn vị.

+ Đào tạo tập trung là việc đào tạo được tổ chức trong một khoảng thời gian

nhất định tại một địa điểm nhất định do Tổng Cục Hải quan hoặc Cục Hải quan tỉnh

tiến hành đào tạo, việc đào tạo này tách ra khỏi công việc hàng ngày.

- Về nội dung đào tạo, cần ưu tiên cho việc đào tạo các kiến thức và kỹ năng

về chuyên môn như:

+ Kiến thức pháp luật về Hải quan, về thuế và pháp luật khác có liên quan

đến hoạt động thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế.

+ Kiến thức về kế toán, kiểm toán: trước mắt cần ưu tiên để phổ cập kiến

thức cơ bản về kế toán cho tất cả công chức KTSTQ, nâng cao kiến thức về kế toán,

một số chương trình kế toán cơ bản trên máy vi tính. Lựa chọn một số công chức có

kiến thức chuyên môn sâu về kế toán để đào tạo tiếp về kiểm toán, để hình thành

đội ngũ kiểm toán viên Hải quan trong tương lai.

+ Kiến thức về công nghệ tin học, ngoại ngữ: trước mắt cần ưu tiên cho số

công chức trực tiếp kiểm tra tại doanh nghiệp, về lâu dài phổ cập cho tất cả công

chức trong lực lượng KTSTQ.

+ Trong điều kiện hiện nay, khi mà chúng ta đang chuyển dần từ “tiền kiểm”

sang “hậu kiểm” cũng đồng nghĩa với việc giảm tiếp xúc giữa công chức Hải quan

ở khâu thông quan nhưng lại tăng cường tiếp xúc giữa công chức Hải quan ở khâu

KTSTQ với doanh nghiệp tại trụ sở doanh nghiệp, đây là môi trường dễ xảy ra tiêu

cực. Vì vậy, bên cạnh việc đào tạo kiến thức về chuyên môn cần quan tâm đúng

mức đến việc đào tạo cho công chức KTSTQ một số chuẩn mực về đạo đức: Tính

trung thực, liêm khiết; trang phục gọn gàng, tác phong nhanh nhẹn; thái độ tận tình,

nhận thức trách nhiệm cao trong công việc; tránh những hành vi tiêu cực mà xã hội

không cho phép. Kết quả của công tác đào tạo phải là một đội ngũ công chức có

trình độ cao, có kinh nghiệm thực tiễn, có lòng nhiệt tình công tác và đạo đức nghề

nghiệp cao. Việc đào tạo này không chỉ tập trung vào đội ngũ mới tuyển dụng mà

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 98 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

còn đào tạo lại, bổ sung, cập nhật kiến thức cho cả đội ngũ công chức đã có thâm

niên công tác.

3.2.3. Hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro

trong hoạt động kiểm tra sau thông quan

3.2.3.1. Hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật cho hoạt động kiểm tra sau thông

quan

Xây dựng mới trụ sở cho Chi cục KTSTQ đảm bảo điều kiện làm việc (bao

gồm cả nơi tiếp và làm việc với doanh nghiệp), nhất là trong bối cảnh biên chế đang

được tăng cường trong giai đoạn hiện nay.

Trang bị đầy đủ các phương tiện làm việc (bàn, ghế làm việc, tủ tài liệu, máy

vi tính… cho công chức KTSTQ), phương tiện đi lại (xe máy, xe ô tô…) phục vụ

công tác xác minh, điều tra. Đồng thời, đầu tư trang thiết bị trang thiết bị như: máy

ghi âm, máy ghi hình, máy tính xách tay, máy giám định tài liệu.

3.2.3.2. Đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra sau thông

quan

Quan tâm đầu tư và trang bị đúng mức đến hệ thống thông tin và cơ sở dữ

liệu phục vụ KTSTQ mà trọng tâm là thông tin liên quan đến các đối tượng

KTSTQ, thông tin liên quan đến hàng hóa XNK và các thông tin khác liên quan đến

hoạt động KTSTQ. Các thông tin này phải được cập nhật thường xuyên và có hệ

thống từ các đơn vị trong ngành Hải quan, trong ngành tài chính, từ các cơ quan

quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước và thông tin từ nước ngoài.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các phần mềm chương trình quản lý, phục

vụ cho yêu cầu quản lý và hoạt động KTSTQ. Tập trung đánh giá, phân loại mức độ

tuân thủ pháp luật doanh nghiệp; xác định và kiểm tra đối với những doanh nghiệp,

loại hình và mặt hàng trọng điểm (rủi ro cao), trong đó chú trọng kiểm tra về giá,

định mức hàng gia công và sản xuất - xuất khẩu, mã số hàng hoá, xuất xứ ASEAN,

các ưu đãi về thuế. Tiến tới xây dựng hệ thống lựa chọn đối tượng kiểm tra tự động,

dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu và công nghệ thông tin tiên tiến; tăng cường ứng

dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong mô hình nghiệp vụ KTSTQ.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 99 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Quản lý doanh nghiệp là một bước tiến mới trong công tác Hải quan, đó là

việc chuyển công tác quản lý tại một thời điểm sang quản lý một quá trình chấp

hành pháp luật Hải quan của doanh nghiệp. Về lâu dài, ngành Hải quan cần phải có

một hệ thống dữ liệu thông tin riêng, thống nhất, không những chỉ quản lý về nhân

thân doanh nghiệp XNK mà còn phải nắm bắt được đầy đủ các thông tin về hàng

hóa XNK (đối với hàng hóa nhập khẩu kể từ khi được đưa lên tàu, hành trình

chuyên chở cho đến khi cập cảng và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa đó, đối với hàng

hóa xuất khẩu từ trong quá trình sản xuất đến quá trình giao dịch, trao đổi mua bán

xuất qua cầu tầu ra nước ngoài). Để thực hiện được, khâu quan trọng nhất là cần

phối hợp xây dựng cơ sở dữ liệu với các đơn vị quản lý khác.

Kỹ thuật quản lý rủi ro được áp dụng trong cả quy trình nghiệp vụ KTSTQ

và cả trong việc quản lý, tổ chức thực hiện. Trong những năm gần đây, ngành Hải

quan nói chung và Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng đặc biệt quan tâm đến quản

lý nội bộ, việc sử dụng công chức KTSTQ có năng lực và được đào tạo sẽ thực sự

hiệu quả đối với quản lý rủi ro. Sự đào tạo và kinh nghiệm phù hợp sẽ cho phép

công chức KTSTQ xác định ra những rủi ro cố hữu trong những tình huống nhất

định và vạch ra những hành động khắc phục phù hợp nhất.

3.2.4. Xây dựng chương trình và tăng cường công tác phối hợp với các tổ chức,

cá nhân phục vụ kiểm tra sau thông quan

3.2.4.1. Tăng cường công tác phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành cả

chiều sâu và chiều rộng

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp phục vụ KTSTQ có ý nghĩa rất quan

trọng, quyết định hiệu quả hoạt động KTSTQ. Thực tế hiện nay tại Cục Hải quan

Quảng Ninh đã có quy chế phối hợp phục vụ hoạt động KTSTQ giữa các đơn vị

thuộc và trực thuộc Cục; tuy nhiên việc phối hợp phải được thực hiện thường

xuyên, với tinh thần trách nhiệm cao mới phát huy hết được hiệu quả của hoạt động

KTSTQ.

Trong những năm qua, mặc dù đã có quy chế phối hợp giữa ba ngành Thuế -

Hải quan - Kho bạc nhà nước, tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn có những

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 100 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

khó khăn bất cập tiếp tục cần có giải pháp tháo gỡ. Chủ yếu là những vẫn đề sau: (i)

Hình thành mạng thông tin trực tuyến giữa các cơ quan Thuế - Hải quan - Kho bạc

nhà nước; (ii) trang bị đủ máy móc thiết bị cho các cơ quan này để cung cấp, trao

đổi thông tin; (iii) chuẩn hóa các thông tin liên quan đến quản lý doanh nghiệp; (iiii)

hệ thống thông tin phải được cập nhật thường xuyên liên tục.

Cần chủ động trong việc phối hợp với các ngành có liên quan đến quản lý

hoạt động xuất nhập khẩu như: Công thương, Công an, Y tế, Giao thông vận tải…

Trước mắt, cần ban hành quy chế phối hợp cung cấp thông tin và phối hợp KTSTQ.

Mặt khác, phối hợp với các hiệp hội ngành, nghề để chủ động tuyên truyền cho

doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật nói chung và pháp luật Hải quan nói riêng tạo

điều kiện cho các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.

Cùng với việc đẩy mạnh công tác xây dựng khung pháp lý phối hợp, ngành

Hải quan cần đầu tư cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, con người... phục vụ cho

công tác xây dựng hệ thống thông tin nối mạng dữ liệu cung cấp thông tin trực tiếp

với các cơ quan này như đã nói ở trên. Có như vậy, thông tin phục vụ cho hoạt động

KTSTQ mới được toàn diện, đầy đủ, khách quan, nhanh chóng và chính xác.

3.2.4.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Hoạt động XNK, đầu tư nhiều khi có liên quan trực tiếp đến yếu tố nước

ngoài. Nhiều lô hàng chỉ có thể xác minh làm rõ trên cơ sở tiến hành xác minh tại

nước ngoài nhờ vào sự trợ giúp của cơ quan Hải quan các nước trong khu vực và

trên thế giới đã có ký kết thoả thuận hợp tác với Hải quan Việt Nam. Công tác này

cần phải được triển khai nhanh chóng vừa phục vụ cho việc đấu tranh, kiểm tra các

trường hợp phải xác minh ở nước ngoài, vừa học hỏi kinh nghiệm của Hải quan các

nước theo định hướng sau:

+ Hợp tác về trao đổi thông tin.

+ Hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ về đào tạo nhân lực cho công chức KTSTQ,

đặc biệt là các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới đã có quá trình

và kinh nghiệm thực hiện biện pháp KTSTQ.

+ Hợp tác tranh thủ sự trợ giúp về kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và công

nghệ trong hoạt động KTSTQ.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 101 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

3.2.5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kiểm tra sau

thông quan

3.2.5.1. Đối với trong ngành Hải quan

Hoạt động KTSTQ mới được đưa vào triển khai thực hiện trong ngành Hải

quan từ năm 2002. Thực tế, một số đơn vị trực thuộc Cục Hải quan Quảng Ninh nói

riêng và ngành Hải quan nói chung hiện nay cũng chưa hiểu hết ý nghĩa và vai trò

của công tác KTSTQ. Nhiều đơn vị có tâm lý e ngại, sợ ảnh hưởng đến chính cán

bộ, công chức của mình khi tiến hành KTSTQ phát hiện có sai phạm. Do vậy,

Ngành Hải quan cần phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng tuyên

truyền phổ biến, không những cho công chức làm công tác KTSTQ mà còn cho

công chức Hải quan thuộc các đơn vị chức năng khác để ủng hộ, triển khai được

đồng bộ và có hiệu quả.

3.2.5.2. Đối với cộng đồng doanh nghiệp

Việc triển khai áp dụng mô hình KTSTQ của Ngành Hải quan sẽ tạo thông

thoáng tối đa cho hoạt động XNK, giảm thiểu thời gian và chi phí đi lại cho các

doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo quản lý Hải quan chặt chẽ theo đúng quy định

của pháp luật. Do vậy, Ngành Hải quan cần phải có chiến lược tuyên truyền cho

cộng đồng doanh nghiệp để họ hiểu được những lợi ích khi áp dụng biện pháp

KTSTQ cũng như xây dựng được mối quan hệ cộng đồng trách nhiệm, khuyến

khích doanh nghiệp làm ăn chính đáng. Ngoài ra, cần tiếp tục tăng cường tuyên

truyền cả về nghiệp vụ và kết quả của hoạt động KTSTQ trên các phương tiện thông

tin đại chúng để cộng đồng doanh nghiệp có thêm thông tin, hiểu hoạt động

KTSTQ, ủng hộ hoạt động KTSTQ, góp phần nâng cao vị thế và vai trò của công

tác quản lý nhà nước về Hải quan.

Tuyên truyền là công tác mang tính lâu dài và cần được cập nhật liên tục

theo quá trình phát triển của Ngành Hải quan, do đó rất khó để đưa ra một thời hạn

hoàn thành cụ thể. Tuy nhiên, cũng có thể xác định việc xây dựng các văn bản và

tuyên truyền các văn bản theo từng thời kỳ để đảm bảo mục tiêu thực hiện nhiệm vụ

trong thời kỳ đó. Để đảm bảo công tác tuyên truyền, Cục Hải quan Quảng Ninh nói

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 102 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

riêng và ngành Hải quan nói chung cần tiến hành phổ biến tới các đơn vị thuộc

phạm vi đối tượng KTSTQ tại mọi thời điểm thích hợp trong quá trình tác nghiệp.

3.3. KIẾN NGHỊ

3.3.1. Kiến nghị chung

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả từ khi có chủ trương, đường lối đổi mới

của Đảng và Nhà nước về kinh tế và liên hệ với lĩnh vực Hải quan; đặc biệt kể từ

khi thực hiện Luật Hải quan năm 2001 và trong bối cảnh trước và sau khi Việt Nam

là thành viên của tổ chức thương mại Quốc tế WTO. Đề xuất Đảng và Nhà nước có

những quyết sách xác định mục tiêu của Hải quan Việt Nam đến năm 2020 đạt trình

độ ngang bằng với các nước phát triển trên thế giới; hoạt động Hải quan dựa trên

nền tảng các chuẩn mực tiên tiến trên thế giới, tạo ra các dịch vụ tốt nhất cho các

doanh nghiệp thúc đẩy hoạt động XNK, đầu tư và du lịch phát triển, đồng thời đảm

bảo an ninh quốc gia và giám sát việc tuân thủ pháp luật. Trong đó, hoạt động

KTSTQ phải đạt được các chuẩn mực thế giới theo hướng “Chuyên sâu, chuyên

nghiệp và hiệu quả”. Tạo sự nhất quán và thống nhất cao về chủ trương, đường lối

của Đảng và chính sách của Nhà nước trong công tác quản lý Hải quan. Cũng như

việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn

thể, từ trung ương đến địa phương đối với hoạt động Hải quan.

3.3.2. Kiến nghị Quốc hội

Xây dựng hệ thống pháp luật Hải quan hoàn chỉnh mà trọng tâm là Luật Hải

quan (hiện đang trong giai đoạn dự thảo sửa đổi). Kết cấu nội dung chi tiết phải phù

hợp và tuân thủ các yêu cầu của Công ước KYOTO sửa đổi, bổ sung và WTO.

Trong đó, các nội dung cơ bản của hoạt động KTSTQ phải được đề cập cụ thể trong

Luật này.

Tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật quản lý thuế, Luật thuế xuất

khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng: Xây dựng Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu; mức

thuế suất, thuế nhập khẩu; lộ trình giảm thuế phù hợp với tiến trình tham gia các tổ

chức kinh tế quốc tế và đặc biệt là quy định của WTO; tiếp tục nội luật hóa các quy

định của Hiệp định trị giá GATT; hạn chế và sử dụng có hiệu quả các chính sách

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 103 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

miễn thuế, giảm thuế và hoàn thuế phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời ngăn

chặn sơ hở dễ bị lợi dụng gây thất thu thuế cho ngân sách nhà nước; cơ chế khuyến

khích doanh nghiệp tự khai, tự tính, tự nộp, tự nguyện tuân thủ pháp luật về thuế.

Sửa đổi bổ sung Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính về một số nội dung quy

định còn thiếu, chưa phù hợp với thực tế của hoạt động Hải quan theo hướng đã

điều chỉnh, sửa đổi Luật Hải quan và Luật quản lý thuế:

- Cần quy định rõ ràng các hành vi sau: nhầm lẫn, sai sót; gian lận, trốn thuế;

hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trốn tránh, từ chối, cản trở hoạt động KTSTQ

hoặc không cung cấp thông tin tài liệu cần thiết cho việc kiểm tra của cơ quan Hải

quan.

- Tăng mức phạt của một số hành vi vi phạm hành chính về Hải quan để đảm

bảo nâng cao tính tuân thủ pháp luật.

3.3.3. Kiến nghị Chính phủ:

Chính phủ cần xây dựng cơ chế thực thi pháp luật Hải quan đồng bộ, hoàn

chỉnh. Tổng Cục Hải quan với vai trò là cơ quan đầu mối cùng với sự tham gia của

Bộ tài chính, các ngành có liên quan và cộng đồng doanh nghiệp theo cơ chế một

cửa quốc gia, tiến tới áp dụng cơ chế một cửa ASEAN. Theo đó, doanh nghiệp làm

thủ tục XNK chỉ cần đến cơ quan Hải quan để làm thủ tục và nhận quyết định thông

quan. Các công việc đó có liên quan đến các cơ quan khác được hệ thống này

chuyển đến các cơ quan có liên quan xử lý; cơ chế này thực hiện ở tầm khu vực thì

hàng hóa XNK khi hoàn tất thủ tục Hải quan tại một nước sẽ được các nước khác

chấp nhận mà không phải tiếp tục làm thủ tục như hiện nay. Đây cũng là điều kiện

thuận lợi cho hoạt động KTSTQ phát triển để tăng cường hiệu lực, hiệu quả công

tác quản lý Hải quan.

3.3.4. Kiến nghị Bộ Tài chính và Tổng Cục Hải quan:

- Kiến nghị Bộ Tài chính: Có sự đầu tư thích đáng để hoàn thiện hệ thống

thông tin sử dụng chung trong ngành tài chính; trước mắt là giữa các cơ quan tài

chính, kho bạc, thuế và Hải quan, đảm bảo thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác

tiến tới triển khai tới các ngành khác có liên quan.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 104 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

- Kiến nghị Tổng Cục Hải quan:

Tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy trình thủ tục về KTSTQ tại trụ sở doanh

nghiệp cho thống nhất với chuẩn mực của Hải quan ASEAN và phù hợp với Luật

Hải quan sửa đổi.

Phê duyệt kế hoạch biên chế cho hệ thống KTSTQ trong toàn ngành từ nay

đến năm 2020 để chủ động trong việc tuyển dụng, đào tạo công chức cho phù hợp

với tiêu chuẩn quy định. Cần đánh giá lại đội ngũ công chức và sắp xếp lại theo

hướng chuyên sâu, chuyên môn hóa cao; đẩy nhanh công tác đào tạo và đạo tạo lại

để có được những chuyên gia trong một số lĩnh vực chuyên môn chủ yếu: kiểm tra

trị giá Hải quan; kiểm tra mã số, thuế suất hàng hóa; kiểm tra đối với loại hình gia

công sản xuất xuất khẩu; kiểm tra về lĩnh vực chính sách thương mại và lĩnh vực

phân tích và xử lý thông tin.

Tiếp tục hoàn thiện chế độ doanh nghiệp ưu tiên; đồng thời, đổi mới về nội

dung, phương thức tuyên truyền phổ biến pháp luật về Hải quan, pháp luật về thuế

và pháp luật khác có liên quan đối với cộng đồng doanh nghiệp.

3.3.4. Kiến nghị UBND tỉnh Quảng Ninh:

Chỉ đạo các ngành và UBND các địa phương phối hợp chặt chẽ với Cục Hải

quan Quảng Ninh đảm bảo thực hiện đồng bộ chính sách của Nhà nước, của tỉnh để

tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK, đầu tư, du lịch.... Đồng thời đề ra các

giải pháp tăng cường công tác quản lý của các ngành, các cấp; xây dựng cơ chế phối

hợp trong quản lý, chống thất thu cho NSNN trên địa bàn. Thành lập các đoàn công

tác liên ngành thu đòi nợ đọng thuế; đưa ra xét xử một số vụ án điểm liên quan đến

các đối tượng buôn lậu, trốn thuế, các doanh nghiệp trây ỳ nợ thuế…

3.3.5. Kiến nghị Cục Hải quan Quảng Ninh:

Rà soát, tăng cường biên chế đáp ứng các yêu cầu về năng lực, trình độ cho

lực lượng KTSTQ đạt tỷ lệ 10% tổng biên chế của Cục Hải quan tỉnh.

Ký quy chế phối hợp với các ngành trong khối nội chính để phối hợp cung

cấp thông tin, hỗ trợ lực lượng khi cần thiết trong hoạt động KTSTQ.

Chấn chỉnh, chỉ đạo các Chi Cục Hải quan cửa khẩu có biện pháp nâng cao

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 105 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

chất lượng công tác phúc tập hồ sơ Hải quan để kịp thời phát hiện, xử lý các sai sót

và cung cấp các thông tin phục vụ hoạt động KTSTQ.

Bổ sung trang thiết bị, cơ sở vật chất cho lực lượng KTSTQ, có kế hoạch đầu

tư xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động KTSTQ như: Máy

giám định tài liệu, ô tô, máy tính… Quan tâm chế độ đãi ngộ đối với công chức

KTSTQ, trước mắt đề nghị có phụ cấp đặc thù cho lực lượng KTSTQ như các lực

lượng làm công tác kiểm soát CBL, công tác tin học. Lâu dài, đề nghị các cấp có

thẩm quyền có cơ chế trích thưởng từ kết quả KTSTQ như lực lượng thanh tra,

kiểm toán.

Với những đề xuất của đề tài, vừa có tính trước mắt đồng thời cũng có tính

lâu dài, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc cải

cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan, từng bước nâng cao chất lượng và

hiệu quả hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh cũng như hoạt động

KTSTQ của Ngành Hải quan.

Trong quá trình phân tích các nội dung của đề tài, Luận văn đã được các thầy

cô và các bạn đồng nghiệp giúp đỡ và góp ý. Chắc chắn rằng, do khả năng và điều

kiện còn nhiều hạn chế, Luận văn không thể tránh được những khiếm khuyết. Tác

giả Luận văn rất mong nhận được các ý kiến đóng góp để nội dung đề tài được thiết

thực hơn.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 106 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

KẾT LUẬN

KTSTQ là một nghiệp vụ khó, mang tính tổng hợp cao và mới được đưa vào

thực hiện trong Ngành Hải quan, việc nghiên cứu để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả

của công tác này trong tiến trình cải cách, hiện đại hóa và phát triển Ngành Hải

quan là yêu cầu cấp bách và tất yếu trong giai đoạn hiện nay.

Việc nghiên cứu hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh với mục

đích phục vụ nghiên cứu, nhằm tìm ra những giải pháp tối ưu nâng cao chất lượng,

hiệu quả hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng và Ngành Hải

quan nói chung. Hiệu quả của hoạt động KTSTQ sẽ góp phần vào việc thay đổi

phương thức hoạt động, phương thức quản lý của Ngành Hải quan, chuyển từ

phương thức quản lý truyền thống sang phương thức quản lý hiện đại ứng dụng kỹ

thuật quản lý rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, góp phần vào thực hiện

thành công sự nghiệp cải cách và hiện đại hóa của ngành, đưa Hải quan Việt Nam

trở thành một cơ quan Hải quan mang chuẩn mực quốc tế. Với ý nghĩa như vậy,

bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học, Luận văn thạc sỹ kinh tế với đề tài

“Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan

tại Cục Hải quan Quảng Ninh” đã đạt được những kết quả như sau:

Một là, làm rõ được một số nội dung có liên quan đến khái niệm, đặc điểm

về KTSTQ, từ đó xác định vai trò và vị trí của KTSTQ đối với Ngành Hải quan; xác

định được tính tất yếu phải tăng cường hoạt động KTSTQ trong giai đoạn hiện nay.

Đồng thời, xem xét một số kinh nghiệm trong hoạt động KTSTQ của Hải quan các

địa phương có đặc thù tương đồng với Cục Hải quan Quảng Ninh để làm cơ sở thực

tiễn, bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động

KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh.

Hai là, đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh

từ năm 2007 đến nay; so sánh kết quả đạt được với các yêu cầu đặt ra đối với hoạt

động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh để tìm ra những tồn tại, hạn chế. Kết

hợp với việc phân tích, đánh giá các yếu tố bên trong, bên ngoài để tìm ra nguyên

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 107 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

nhân của những tồn tại, hạn chế đó.

Ba là, trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan

Quảng Ninh và kinh nghiệm hoạt động KTSTQ của Hải quan một số địa phương đã

đề xuất một số giải pháp cơ bản để từng bước hoàn thiện hoạt động KTSTQ tại Cục

Hải quan Quảng Ninh nói riêng và Ngành Hải quan nói chung. Những giải pháp chủ

yếu đó là:

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách về KTSTQ;

- Tiếp tục hoàn chỉnh bộ máy và xây dựng lực lượng KTSTQ theo hướng

chuyên nghiệp, chuyên sâu;

- Hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong

hoạt động KTSTQ;

- Xây dựng chương trình và tăng cường công tác phối hợp với các tổ chức, cá

nhân phục vụ KTSTQ;

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về KTSTQ.

Đồng thời, luận văn cũng đề xuất kiến nghị với Đảng, Quốc hội, Chính phủ,

Bộ tài chính, Tổng Cục Hải quan, UBND tỉnh Quảng Ninh và Cục Hải quan Quảng

Ninh một số nội dung chính.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 108 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

* Danh mục tài liệu tiếng Việt

Châu 1. Đậu Ngọc Châu, Nguyễn Viết Lợi (2006), Giáo trình lý thuyết kiểm toán, Nxb

Tài chính, Hà Nội.

Chi 14 2. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Quảng Ninh, Báo cáo tổng

kết các năm 2007, 2008, 2009, 2010, 2011.

Chi 15 3. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Quảng Ninh, Báo cáo chống

thất thu thuế trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan năm 2011.

Chi 6 4. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Lạng Sơn, Báo cáo tổng kết

các năm 2009, 2010, 2011.

Chi 7 5. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Lào Cai, Báo cáo tổng kết

các năm 2009, 2010, 2011.

Chi 8 6. Chi cục Kiểm tra sau thông quan - Cục Hải quan Thanh Hoá, Báo cáo tổng kết

các năm 2009, 2010, 2011.

Cục 1 7. Cục Kiểm tra sau thông quan (2006), Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông

quan của Hải quan Việt Nam, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 08-N2005.

Cục 9 8. Cục Hải quan Quảng Ninh (2005), Lịch sử Hải quan Quảng Ninh.

Dang 10 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Dang 11 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Dang 12 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Dang 13 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Học 3 13. Học viện Tài chính (2004), Giáo trình kiểm toán, Nxb Tài chính, Hà Nội.

Hồng 14. Ánh Hồng (2008), “Cán bộ kiểm tra sau thông quan: Tiêu chuẩn đi liền với

chất lượng”, Báo Hải quan, 86(339), tr.4.

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 109 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

Hồng 15. Ánh Hồng (2008), “Hải quan Đồng Nai: Kinh nghiệm trong phúc tập hồ sơ

phục vụ kiểm tra sau thông quan”, Báo Hải quan, 94(407), tr.4, 11.

Hồng 2 16. Nguyễn Viết Hồng (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra

sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cải cách, phát triển, hiện đại

hoá Hải quan, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Tổng Cục Hải

quan.

Hữu 17. Phạm Ngọc Hữu (2003), Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, Tổng Cục Hải

quan - Tài liệu nghiệp vụ lưu hành nội bộ.

Luật 5 18. Luật Hải quan (2005), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Minh 19. Trần Vũ Minh (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau

thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cải cách, phát triển và hiện đại

hóa Hải quan, Cục Kiểm tra sau thông quan, Đề tài NCKH cấp ngành mã

số 09-N2004.

Minh 20. Trần Vũ Minh (2005), Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải

quan Việt Nam, Cục Kiểm tra sau thông quan, Đề tài NCKH cấp ngành

mã số 08-N2005.

Thủ 16 21. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 34/2009/QĐ-TTg ngày 2/3/2009

về việc phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc

Bộ đến năm 2020.

Tinh 22. Chung Minh Tinh (2006), Phân tích rủi ro và quản lý rủi ro của Hải quan

Trung Quốc, Tài liệu tham khảo nội bộ - Tổng Cục Hải quan.

Tổng 4 23. Tổng Cục Hải quan (2009), Quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, kiểm

tra thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, Quyết định số 1383/QĐ-

TCHQ ngày 14/7/2009.

24. Bộ Tài Chính (2013), Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013của Bộ

Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế

xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu,

nhập khẩu

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 110 Khóa 2012 - 2014

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ QTKD -----------------------------------------------------------------------------------------------------

25. Tổng Cục Hải quan (2013), Quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, kiểm

tra thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, Quyết định số 3550/QĐ-

TCHQ ngày 01/11/2013

26. Web site: www.customs.gov.vn

27. Web site: http://www.quangninhcustoms.gov.vn

28. Web site: www.lscustoms.gov.vn

29. Web site: http://www.wcoomd.org/en.aspx

* Danh mục tài liệu tiếng Anh

17 30. Association of Southeast Asian Nation (2004), ASEAN Post - Clearance Audit

Manual - The Final Draft 2004, Jakarta. (17)

----------------------------------------------------------------------------------------------------- Lương Ngọc Thành 111 Khóa 2012 - 2014