311
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
THIẾT KẾ SẢN PHẨM DU LỊCH - NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
Đoàn Tuấn Phong1, Bùi Văn Trịnh2
1. Tờng Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau; 2. Trường Đại học Cửu Long
Email: phongcamau2003@gmail.com
TÓM TẮT
Du lịch được đánh giá một ngành kinh tế tổng hợp, bên cạnh việc phát triển các loại
hình du lịch hiện như: du lịch rừng, du lịch biển, du lịch sinh thái du lịch văn hóa... thì
việc kết hợp du lịch với ngành nông nghiệp là một xu hướng có nhiều tiềm năng đối với ngành
du lịch Việt Nam. Bài tham luận tập trung đánh giá các sản phẩm du lịch - nông nghiệp đối với
điểm đến du lịch. Kết quả chyếu các vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu định tính
được sử dụng để tìm sở, làm căn cứ, đề xuất giải pháp thiết kế sản phẩm du lịch - nông
nghiệp bền vững tại các điểm đến, cụ thể như sau: (1) Định hướng phát triển sản phẩm du lịch
(loại hình du lịch - nông nghiệp); (2) Hoạt động đầu tư hạ tầng du lịch - nông nghiệp và cơ sở
kinh doanh; và (3) Hoạt động hậu cần - cung ứng sản phẩm (phục vụ du lịch - nông nghiệp).
Từ khóa: Sản phẩm du lịch, liên kết du lịch - nông nghiệp, phát triển bền vững
Abstract
DESIGN SUSTAINABLE TOURISM - AGRICULTURAL PRODUCTS
IN DESTINATIONS
Abstract
Tourism is considered as an integrated economic sector, besides developing existing types
of tourism such as forest tourism, sea tourism, eco - tourism and cultural tourism… the
combination of tourism with agriculture is a potential trend for Vietnam's tourism industry. This
study focuses on looking at tourism - agricultural products for a tourist destination to discuss
and propose the design of sustainable tourism - agricultural products in general. This article is
mainly theoretical issues without detailed analysis for a specific locality. Qualitative research
method is carried out to apply "sustainable design framework theory" to propose some solutions
to design sustainable tourism - agricultural products in destinations, specifically as follows: (1)
Orientation to develop tourism products (type of tourism- agriculture); (2) Investment in
tourism - agricultural infrastructure and business establishments; and (3) Logistics and product
supply activities (for tourism and agriculture). This is also the basis for the authors to
recommend to stakeholders in the design of tourism products for tourism - agriculture activities.
Keywords: Tourism products, tourism - agriculture linkages, sustainable development
1. GIỚI THIỆU
Du lịch nông nghiệp đã bắt đầu từ thập niên 30 của thế kỷ trước các ớc châu Âu
bắt đầu lan tỏa, phát triển mạnh mẽ tại châu Á từ những năm 1980. Tại Việt Nam, du lịch nông
nghiệp mới phát triển nhỏ, lẻ ở một số vùng như đồng bằng sông Cửu Long, Hội An, TP. HCM,
312
Nội… Nhưng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam (Số: 201/QĐ-TTg) nhận
định tầm quan trọng của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội và vạch ra phạm vi, đối tượng
phát triển du lịch một cách rộng rãi bao gồm cả thành phố đến khu vực nông thôn.
Tốc độ tăng trưởng nhu cầu du khách tham quan, trải nghiệm khu nông trại miệt vườn
mỗi năm đều mức 20 - 30%. Vì vậy, không ít ý kiến cho rằng, du lịch ng nghiệp một "mảnh
đất vàng" chờ khai phá. Đặc biệt, nếu so với nhiều quc gia phát triển trên thế giới, Việt Nam có
nguồn tài nguyên nông nghiệp dồi dào với đặc thù của một quốc gia nhiệt đới vùng Đông Nam
Á và hơn 70% nhân lực làm việc trong nh vực nông nghiệp (Báo điện tử Nhịp cầu đầu tư, 2018).
Nội dung trong tham luận này xem xét các sản phẩm du lịch - nông nghiệp bền vững tại
các điểm đến du lịch và một số giải pháp thiết kế sản phẩm du lịch - nông nghiệp bền vững đối
với một điểm đến du lịch bằng cách vận dụng “lý thuyết khung thiết kế bền vững” được đề xuất.
2. PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu phát triển loại hình du lịch - nông nghiệp một phạm trù rộng, chủ
đề nghiên cứu rất đa dạng phong phú, nhưng do hạn chế về thời gian tính chuyên sâu của
chđề hội thảo nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về mặt luận đối với vấn đề liên kết
hoạt động giữa ngành du lịch và nông nghiệp.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Định tính là phương pháp thích hợp để thực hiện trong nghiên cứu này, thông tin trong bài
tham luận là dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ các tài liệu chính thức đã công bố trên các phương
tiện truyền thông chính thống, số liệu được nhóm tác giả tng hợp, xử lý và din dịch nhằm phát
hin vn đthực tin, làm cơ sở cho việc thảo luận đóng góp ý kiến của các chuyên gia.
3. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN TRONG BÀI VIẾT
3.1 Điểm đến và sản phẩm du lịch
Hoạt động du lịch tính hướng về không gian, người đi du lịch rời khỏi i trú
hàng ngày để đến một địa điểm mới lạ để tri nghiệm hoặc nghỉ dưỡng. Điểm đến du lịch theo
Van Raaij (1986) một sản phẩm gồm hai phần “có sẵn“nhân tạo”. Trong đó phần “có
sẵn” như khí hậu, cảnh quan, bãi biển, núi… là các tính năng tự nhiên của điểm đến và phần
“nhân tạo” đề cập đến các tính năng như khách sạn, phương tiện vận tải sở vật chất
cho thể thao và vui chơi giải trí... Điểm đến du lịch vùng địa những thuộc tính, nh
năng, shấp dẫn dịch vụ để thu hút khách du lịch tiềm năng, chẳng hạn như: một châu
lục, một quốc gia, một n đảo hay một thành ph.
Có thể nói sự kết hợp của việc khai thác các yếu ttự nhiên, hội với việc sử dụng
các nguồn lực (nhân lực, phương tiện, kỹ năng) tại một tổ chức, doanh nghiệp để cung cấp một
sản phẩm hay dịch vụ cho người đi du lịch thì có thể xem đó là sản phẩm du lịch. Do đó, điểm
đến du lịch va được xem là một tập hợp các nguồn lực (tự nhiên, văn hóa, nghệ thuật…) vừa
được xem là một sản phẩm tổng thể hấp dẫn (hoặc phức tạp) nhằm mang đến sự thoải mái, mới
lạ cho knghỉ ca du khách (Cracolici và Nijkamp, 2008).
3.2 Bền vững và phát triển du lịch theo hướng bền vững
Để tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia không chỉ ổn định về chính trị - hội, an ninh, quc
phòng… mà còn phải tập trung phát triển nền kinh tế đảm bảo mang tính bền vững, hiệu quả cao.
313
Để đạt được mục tu này, yêu cầu đặt ra trong chiến lược pt triển kinh tế phi p hợp vi tng
giai đoạn phát triển của quốc gia. Khái niệm phổ biến nhất đối với phát triển bền vững đó
nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại nhưng không tổn hại đến các thế htương lai nhằm đáp
ứng mục tiêu của sự phát triển. Theo LJ Lickorish cộng s(1991), phát triển bền vững
quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, cụ
thể là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Có thể nói, phát triển du lịch
bền vững là hoạt động du lịch giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên, cộng
đồng địa phương các chủ thliên quan khác, đặc biệt khả năng thực hiện lâu dài
không ảnh hưởng xấu đến tương lai.
3.3 Du lịch nông nghiệp và sự phát triển bền vững
Du lịch nông nghiệp một loại hình du lịch, tạo ra sản phẩm du lịch để phục vụ du khách
chủ yếu dựa vào nền tảng của hoạt động sản xuất nông nghiệp. Do vậy tài nguyên của loại hình
du lịch này tất cả những phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Thuật ngữ du lịch
kết hợp với nông nghiệp đã được một số học giả gọi là “du lịch nông trại” hay “du lịch liên kết
nông nghiệp”. Davis Gilbert (1992) xác định du lịch trang trại là “hoạt động du lịch tại các
trang trại từ ít nhất là bán nông sản đến du khách”. Bowler, Clark, Crockett và Shaw (1998) đã
nghiên cứu bốn loại du lịch trang trại được c định “tự phục vụ, cắm trại, đi bộ xuyên
rừng/ngựa, và thể thao/giải trí”. Các nhà nghiên cứu cho rằng liên kết du lịch-nông nghiệp làm
tăng sự đa dạng hóa kinh tế cho nông dân nông thôn bằng cách tạo ra thu nhập bổ sung, ngoài
sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, liên kết du lịch - nông nghiệp sẽ giảm thiểu sự di cư ở khu vực
nông thôn ra thành thị: hỗ trợ dịch vụ địa phương (Bowler, Clark, Crockett, và Shaw, 1998) và
giúp duy trì cảnh quan trang trại hay “làm đẹp cộng đồng” (Scheneider, 1993). Về tổng thể, các
sản phẩm du lịch thực hiện chức năng cho phép mọi người đi du lịch và tham gia vào các hoạt
động bên ngoài môi trường sống thông thường của họ. Du lịch có thể được chia thành các sản
phẩm du lịch chính đthu hút thúc đẩy du khách đến thăm điểm đến, và các sản phẩm du
lịch thứ cấp ít có khả năng thu hút cụ thể như lưu trú hoặc ăn uống...
Từ góc độ phát triển bền vững, sản phẩm du lịch phải được xây dựng phù hợp với môi
trường, cộng đồng, các nền văn hóa theo cách để cung cấp những lợi ích nhất định chứ không
phải mối đe dọa đối với phát triển du lịch. Về vấn đnày, Eckert Pechlaner (2019) cũng
đề xuất chiến lược phát triển sản phẩm vượt ra khỏi các phương pháp tiếp cận dựa trên nguồn
lực truyền thống bằng cách kết hợp các giá trị cụ thcủa điểm đến năng lực cốt lõi đđạt
được sự bền vững tại điểm đến du lịch.
3.4 Chủ thể tham gia và thiết kế sản phẩm du lịch - nông nghiệp bền vững
3.4.1 Chủ thể tham gia du lịch nông nghiệp
Du lịch - nông nghiệp nền tảng của du lịch nông thôn. Trong hoạt động du lịch nông
thôn, du khách đã vượt ra ngoài không gian của du lịch - nông nghiệp vì du khách đã sử dụng
tài nguyên cả vùng nông thôn tại địa phương đó để phục vụ cho mục đích du lịch của mình hoặc
các sở kinh doanh du lịch nông nghiệp đã sử dụng tài nguyên vùng nông thôn của địa
phương để làm phong phú hơn, hấp dẫn hơn điểm đến của mình. Còn trong hoạt động du lịch -
nông nghiệp, là một không gian cụ thnhư: một hộ gia đình, một trang trại, một hợp tác xã hay
là một doanh nghiệp nông nghiệp… Do đó, chủ thể chính và chủ yếu tham gia tổ chức du lịch
- nông nghiệp có thể là chủ hộ, nhà vườn, chủ rừng, chủ trang trại, chủ cơ sở, hợp tác xã nông
nghiệp mà nguồn thu chủ yếu đến từ hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Việc tham gia trải nghiệm cùng với các chủ thể du lịch - nông nghiệp để nghiên cứu, học
hỏi, thu hoạch, gieo trồng, chăm c cây trồng... là dịp để du khách mở rộng kiến thức về địa
phương thông qua hoạt động nông nghiệp. Còn chủ thnông nghiệp cũng sẽ mua bán, quảng
314
bá được sản phẩm nông nghiệp của mình, điều này cũng góp phần tạo thêm thu nhập ngoài sản
phẩm nông nghiệp, từ hoạt động du lịch. Một số tua điển hình đã trở thành thương hiệu thu
hút du khách như: tua du lịch mùa lúa chín ở làng cổ Ðường Lâm (Hà Nội), thăm mô hình làng
quê Yên Ðức (Quảng Ninh), thăm quan làng tranh dân gian Ðông Hồ (Bắc Ninh), nông trường
Mộc Châu (Sơn La), làng rau Trà Quế (Hội An, Quảng Nam), hay du lịch miệt vườn, chợ nổi
đồng bằng sông Cửu Long; hoặc thời gian gần đây là nông trường nông nghiệp công nghệ cao
VinEco Nam Hội An (thuộc quần thể Vinpearl Nam Hội An). (Việt Anh, 2018).
3.4.2 Thiết kế sản phẩm bền vững
Các khái niệm thiết kế cho các sản phẩm bền vững về cơ bản đã mở rộng phạm vi và tiêu
điểm theo thời gian. Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng quan điểm của Ceschin cộng sự
(2016) về quan điểm thiết kế vì sự bền vững, được phân loại theo bốn cấp độ đổi mới khác nhau
(xem Hình):
Hình1: Sự phát triển của thiết kế vì sự bền vững
(The evolution of Design for Sustainability - DfS)
Nguồn: Ceschin cộng sự (2016)
- Mức độ đổi mới sản phẩm: cách tiếp cận thiết kế tập trung vào việc cải thiện hoặc phát
triển các sản phẩm hoàn toàn mới.
- Mức độ đổi mới của hệ thống sản phẩm - dịch vụ: trọng tâm vượt ra ngoài phạm vi
nhân sản phẩm, hướng tới sự kết hợp giữa các sản phẩm và dịch vụ, chẳng hạn như: phát triển
các mô hình kinh doanh mới.
- Mức độ đổi mới về không gian - xã hi: ở đây bi cảnh đổi mới là ở con người tại khu
dân cư và các điều kiện không gian - xã hội của các cộng đồng của họ, được giải quyết trên các
quy mô khác nhau, từ vùng lân cận đến thành phố.
- Mức độ đổi mới hệ thống kỹ thuật - hội: đây các phương pháp thiết kế tập trung
vào việc thúc đẩy những thay đổi căn bản về nhu cầu của hội, chẳng hạn như: dinh dưỡng
và vận chuyển/di chuyển, do đó hỗ trợ chuyển đổi sang các hệ thống kỹ thuật xã hội mới.
315
3.5 Nghiên cứu có liên quan
Một số nhà nghiên cứu ủng hộ liên kết nông - du lịch như Belisle (1984); Cox, Fox
Bowen (1994); Telfer (1996); Telfer Wall (2000); Torres (2000); Nickerson McCool
(2001); Torres và Momsen (2004) vì du lịch - nông nghiệp giúp tạo ra các liên kết về phát triển
kinh tế. Lợi ích quan trọng nhất là: giảm yếu kém kinh tế, tạo thị trường lương thực thực phẩm
cho địa phương và các hoạt động tạo thu nhập cho nông dân địa phương. Mối liên hệ giữa nông
nghiệp du lịch hứa hẹn đa dạng hóa nông nghiệp nông thôn của nền kinh tế (Torres, R;
2003). Do đó, thiết kế sản phẩm du lịch - nông nghiệp bền vững nhiều ý nghĩa quan trọng
trong phát triển du lịch nói chung. Nghiên cứu của Haid cộng sự (2021) đã đề xuất một
khuôn khổ cho sản phẩm du lịch bền vững trên cơ sở đã điều chỉnh “khung thiết kế bền vững”
hiện có để xác định các thành phần bền vững đối với một điểm đến (xem Bảng).
Bảng1: Các thành phần bền vững đối với một điểm đến du lịch
6 Chủ đề cho sản phẩm du lịch bền vững
13 Đặc điểm của sản phẩm du lịch bền vững
1. Vùng/Khu vc (chủ đề trọng tâm trong phát trin
sản phm)
2. Tính di động (phương tiện sử dụng)
3. Kết nối cộng đồng/hợp tác (người n địa phương
là chủ thể chính)
4. Số hóa (tiếp thị và liên lc)
5. Thể thao (liên quan đến du lịch)
6. Sự hài ng của nhân viên (thách thức bởi lương
thấp, tính thời vụ…)
1. Chất lượng sản phẩm, dịch vụ
2. Giá cả - giá trị
3. Vòng đời sản phẩm lâu dài
4. Không ảnh hưởng đến tương lai (môi trường, hội)
5. Cân bằng sử dụng (sức chứa điểm đến)
6. Sự hợp tác (thu hút người dân địa phương tham gia)
7. Hài hòa với thiên nhiên
8. Giáo dục du khách và người dân địa phương (tuyên
truyền nhận thức, hành vi tích cực)
9. Tiết kiệm tài nguyên
10. Tính chân thực
11. Thúc đẩy tính khu vực (sản phẩm địa phương)
12. Hấp dẫn du khách
13. Chiến lược phát triển
Nguồn: Tổng hợp và bổ sung từ Haid và cộng sự (2021)
4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THIẾT KẾ SẢN PHẨM DU LỊCH - NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
Qua nghiên cứu định tính, chúng tôi xin được tổng hợp lại kết quả nghiên cứu của Haid
và cộng sự (2021) và vận dụng kết quả này phân ch trường hợp du lịch - nông nghiệp, trên cơ
sở đó chúng tôi đề xuất một số nhóm giải pháp chính sau đây:
4.1 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch - nông nghiệp
Hoạt động du lịch tính hướng về không gian, người đi du lịch rời khỏi nơi trú
hàng ngày để đến một địa điểm mới lạ để trải nghiệm hoặc nghỉ dưỡng. Như vậy, bất kmột
địa điểm nào cũng có thể có được sức hút đối với du khách đến thăm quan, trải nghiệm vì đó là
nơi mới lạ đối với họ. Trong loại hình du lịch - nông nghiệp, có rất nhiều mô hình có thể tạo ra
được sự khác biệt giữa các vùng, chẳng hạn: vùng chuyên về nuôi cua, vùng chuyên nuôi tôm,
nuôi (cá cũng thể nhiều loại khác nhau), vùng chuyên trồng lúa, ng cây ăn trái, vùng
chăn nuôi, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, vùng có tài nguyên thiên nhiên đẹp, vùng
sản xuất thủ công, vùng có truyền thống… mà đặc biệt là ở khu vực nông thôn.
Định hướng sản xuất nông nghiệp địa phương không phù hợp hoặc sản phẩm nông nghiệp
kém chất lượng, giá trị sản phẩm thấp cũng sẽ ảnh hưởng đến vấn đề liên kết du lịch. Điều này
thểdo sản xuất quy mô nhỏ, lẻ dẫn đến không có khnăng phục vụ hoạt động du lịch một
cách chuyên nghiệp.