190
GIÁO DỤC VĂN HÓA GIA ĐÌNH QUA TỤC NG Ê ĐÊ
ThS. Rơ Lan A Nhi
44
, ThS. Y Cuôr Bkrông
45
, ThS. H Wen Aliô
46
TÓM TT
Tc ng nhng câu nói ngn gọn, c tích được đúc kết qua thực hành văn hóa
kinh nghim trong thc tin. Nó là mt th loại văn học tiêu biu, có vai trò quan trng trong
kho tàng văn hc dân gian Vit Nam. Tc ng kho tàng văn học dân gian, phương tiện
hu hiệu để giáo dc kinh nghim sng cho thế h tr; còn nguồn liệu cung cp nhng
tri thc v lao đng sn xut, thiết lp quan h trong thc tin xã hi. Tc ng Êđê có vai trò
quan trng trong vic hình thanh giáo dc ý thc ca nhân trong các mi quan h gia
đình, cộng đng hi. Trong khuôn kh ca bài tham lun, thông qua nhng kho sát,
phân tích và đánh giá các ngun tài liệu đã thu thập, chúng tôi đưa ra các cơ sở và nhng lp
lun trong tc ng Êđê về tính giáo dc nhm định hướng tưởng, giáo dc ý thc văn
hóa ca người Êđê thông quan thể loi đc đáo này.
T khoá: Tc ng, Tc ng Êđê, giáo dục, văn hóa.
1. Khái nim v tc ng
Tc ng mt th loại văn học tiêu biu vai trò quan trng trong kho tàng văn
hc dân gian Vit Nam thế gii. Tc ng kho kinh nghim tri thc dân gian được lưu
truyn qua nhiu thế h. Theo T điển Tiếng Vit do Hoàng Phê ch biên (2003) ‘’Tục ng
là câu ngn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thc, kinh nghim sống và đạo đức thc tin
của nhân dân’’ (3, 930). Theo thut ng ngôn ng hc, tc ng mt câu hoàn chnh, din
đạt trn vn mt ý, có ni dung thưng là mt nhn xét v kinh nghiệm đời sng.
th hiu rng tc ng nhng câu nói, ngôn bản đặc bit, biu th nhng phán
đoán một cách ngh thut. Tc ng câu nhưng ta thể xem nó là loại câu đặc bit bi
nó còn s tn ti với tư cách văn bản mang tính ngh thut. Xét theo bình din v hình
thc, tc ng thường ngn gọn, mang nghĩa hàm súc vi kết cu bn vững thưng gn lin
vi các yếu t vần điệu như ca kết cu thơ, những bin pháp tu t cách vn dng ngôn
ng dân tộc trong luôn độc đáo. Xét về phong cách diễn đạt thì tc ng cũng lựa chn
nhng lối nói đầy hình nh trc quan và gn lin với tư duy hình tượng.
Qua đó ta th hiểu được, tc ng kho lưu tr trí tu được lưu truyền t đời y
sang đời khác. phn ánh nét s hình thành nhng thói quen, phong tc, tp quán, li
suy nghĩ hành động của người lao đng. Tc ng cũng góp phần lưu giữ th hin bn
sc văn hóa tc người, trong đó có văn hóa cộng đồng người Êđê.
44
.Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Tây Nguyên
45
. Khoa Ngoi ng, Trường Đại hc Tây Nguyên
46
. Trung tâm KHXH&NV Tây Nguyên, Trường Đại hc Tây Nguyên
191
2. Những quan điểm và nhn đnh v tc ng Êđê
Tc ng Êđê một trong nhng th loại văn học đc biệt trong kho tàng văn hóa dân
gian. Nó va th hin hin thc v cuc sng, tri thc n gian va nhng bài ca, nét đẹp
v tình yêu lao động, yêu con người, yêu buôn làng và núi rừng. Để th hiện được nhng bc
tranh sinh động, nhng hình nh rõ nét của con người thiên nhiên trong tc ngữ, người Êđê
thưng s dng klei duê (li nói vần), đây hình thức ngôn t đặc bit ph biến trong n
hc dân gian ca người Êđê, nhất là trong tc ng.
Trong tc ng Êđê, lời nói vần (klei duê) được xem s tạo nên tính đa dng, phong
phú ca câu. Ngôn ng trong tc ng của người Êđê ngôn ng giàu hình nh, c th sinh
động, nhng hình nh y vừa cô đọng, mang ý nghĩa sâu sc li va gin d, d nh, d lưu
truyền. Người đọc, người nghe th hình dung mt cách d dàng bng trc giác mà không
cn phi s dụng đến mt s gii thích nào. Tc ng Êđê đã phần nào phản ánh được thế gii
t nhiên và đời sng ca con ngưi mt cách c thể, đồng thời nó đưc cộng đồng tiếp nhn
và lưu giữ mt cách t nhiên và d dàng. [10, 62]
Theo quan điểm ca Nguyn Hu Nghĩa – Trường Đại học Sư phạm TP. H Chí Minh
v tc ng Êđê trong bài “Vn dng lý thuyết bi cnh vào nghiên cu tc ng Êđê”. Tác gi
cho rng, tc ng Êđê phác hoạ không gian khoáng đạt và linh thiêng của đại ngàn th hin rõ
nhng hình ảnh đặc trưng của văn hóa vùng Tây Nguyên nói chung môi trưng sng ca
cộng đồng tộc người Êđê nói riêng, với nhng hình nh núi cao, núi thp, rng rm, rừng thưa,
nhng dòng sông, con sui, những bãi tre, bãi đá.v.v.. Ngưi Êđê đã kết ni không gian thiên
to y vi khu vc trú của mình bi nhng đường ly ci, li gùi nước. Quan trọng n,
h đã ci tạo chúng thành không gian lao động vi nhng chòi ry trên núi ry dưi thác,
nhng ch đất trũng và ch đất cao không gian sinh hot t mái nhà đến sân làng... Tc
ng Êđê mô tả mt h sinh thái t nhiên hoang dã bao quanh con ngưi: t loài thú d và nguy
hiểm như hổ, rắn đến nhng loài d mến như voi, hoẵn, nga, nhím, trâu, bò; t các loài n
trùng như mối, ong, ve, muỗi đến những loài chim như vẹt, ngói, két, mling, mlang; t nhng
loài cây cao bóng c vng chãi, linh thiêng như cây Tông Lông, cây đa, y sung đến nhng
loài mnh khảnh nhưng vươn thẳng, dẻo dai như y tre, y l ô, cây trúc; t nhng loài c
di chuyn chuyn, mm mại như cây lau, cây sậy, cây le, c tranh, cây êjung đến các loài hoa
như Kđing, Kđrô, ktu, êmăm và những loài rau như blê, băl, mdơk...[5, 23],
Cùng quan đim trên, ông H Quc Hùng [4,17 21] cũng cho rằng, đặc điểm v văn
hoá xã hi truyn thng ca cộng đồng Êđê là cơ sở ban đầu hình thành những đặc điểm đặc
trưng của tc ng Êđê.
Theo tác gi lp ngôn t trong cu trúc tc ng Êđê chứa đựng hình nh sinh thái t
nhiên rng là biu hin tính chất nguyên lý. Đây là dạng thc, dấu tích duy nghệ thut
c của mi dân tc trên thế gii. Hoa, lá, muông thú ca núi rng, góp phn to nên hn
cho câu tc ng, rộng hơn là thơ ca.
Tác gi đưa ra dụ v hình nh, du hiu chuyển mùa được th hin qua tc ng Êđê
dùng đến hình nh muông thú: ‘’Boh hngăm ksă truh yan jik hma, ktiă mnê yan puôt mdiê’’
(nghĩa: trái hngăm chín mùa dn ry, bày vẹt kêu đến mùa tut lúa) hay ‘’Mli\ng m`ê
192
bhang, mlang m`ê tlam’’ (nghĩa: con chim Mli\ng hót mùa khô, con chim mlang kêu bui
chiu), ‘’Bo\ng bu\ m`ê truh bhang, mlang m`ê truh hjan’ (Bìm bịp kêu mùa khô đến, khướu
kêu mùa mưa đến).
Ngoài đặc điểm v hình thức, đặc điểm ni dung trong tc ng rất phong phú đa
dng, n trong cha đựng nhng bài hc rất nhân văn và sâu sắc. Tc ng có khi nhng
nhn xét, những đánh giá, những kinh nghim và những chân lý nhưng nội hàm bên trong nó
mang đầy triết lý giáo dc. Tc ng Êđê cũng vậy, nó phn ánh nhng quan nim sống đưc
ông cha đúc kết t trong môi trưng sống thường ngày và trong lao động sn xut thc tin.
Thông qua tc ng Êđê, cha ông gửi gm nhng bài hc giáo dục đến tng ch th nhân
trong cng đng bng nhng li nói gin d, dm gần gũi, qua đó bản thân người tiếp
nhn t rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tình cm và hành vi li sng hng ngày. Ví d trong tc
ng Vit câu: ‘’Đi một ngày đàng học một sàng khôn’’ để nói đến kinh nghim tiếp thu
kiến thc và trau di k năng cho bn thân.
Ngưi Êđê có câu:
Nao kơ djuh êmuh ama, nao kơ ea êmuh ami\, ]hi blei êmuh aduôn. (tm dịch: Đường
ly ci phi hi cha, lối gùi nưc phi hi m, vic buôn bán phi hi ông bà).
Hay những câu mang tính khuyên răn, giáo dục hành vi trong văn hóa ăn uống như:
‘’}iăng hua\ êsei dôk dlăng lăng go\, ]iăng \ng đio\ dôk dlăng lăng kbin, ara\ng tlin
u\n kriâo dôk ldă nao kơ lip dua knguôr’’. (Muốn ăn cơm thì trông vào ni, thèm ăn xôi ngó
vào ng nứa. người ta tht heo thì ngồi trông mãi cái nong cái nưa). u trên có ni hàm ging
như tục ng Vit: ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
Tc ng nói chung và tc ng Êđê nói riêng là những câu nói ngn gọn, xúc tích nhưng
ni dung n ý nhng lời hay, ý đẹp, nhng bài hc kinh nghim mang tính giáo dc cao.
Trong văn hóa giáo dục, để cộng đồng tn ti phát triển, người Êđê luôn chú trọng đến
giáo dc ý thc, tưởng ca nhân trong các mi quan h với gia đình, cộng đồng
hi.
3. Tc ng Êđê trong giáo dục mi quan h gia đình, dòng họ
Với người Êđê, mối quan h thân tộc đưc tính theo dòng m quan h huyết tc chi
phi nhiều đến đời sống các thành viên trong gia đình và cộng đồng. Trong gia đình, sau khi
đôi nam nữ kết hôn người chng s qua bên gia đình nhà vợ, nhng công vic quan trng
trong gia đình, dòng họ, đa số được quyết định theo quy định ca nhà v (hay còn gi là chế
độ mu quyn).
Quan h dòng tộc người Êđê cũng rất đa dạng, tính dân tc không ch gói gn trong mt
chi nh ph thuc vào djuê ana phun (dòng h gc) của người m. Những người ph n
được sinh ra cùng mt m hoc mt bà không ch gi con mình con (anak) h gi c
nhng con trai, con gái ca ch em gái mình cũng anak (con). ơng t như vậy, nhng
người đàn ông cũng gọi con trai và con gái ca anh em trai rut anak (con). Những đứa con
ca ch em gái không ch gi m mình ami\ (m) còn gi ch ca m mình ami\ pro\ng
(m ln), em gái ca m mình là ami\ mneh và dì út ca âmi\ là ami\ điêt hoặc ami\ mda (có
193
nghĩa mẹ nh, m non). Những người đàn ông sinh ra cùng một m đều được những đứa
con ca h gi bng ama (b). Ama t thân thuộc dùng đ ch gọi người cha, các anh
em trai cùng huyết thng ca cha và nhng nời đàn ông là chng ca ch gái ca m. Anh
trai ca b chng ca ch gái m được gi ama pro\ng (hoc là mpro\ng; cha ln) em
trai b gi là ama mda (cha non, cha nh). Các thành viên là con ca ch em gái m hoc anh
em chú bác không đưc kết hôn nhưng anh em cậu lại được chp nhận. Trước đây, hôn
nhân con cô con cậu được ưa chung, hin nay vn còn tn tại nhưng có phn nht dn.
Giống như cộng đồng dân tộc khác, gia đình, dòng họ của người Êđê có vai trò rất quan
trng trong vic nuôi dy con cái, vy việc rèn thương yêu, dạy d con cái luôn đưc trú
trng. Bi con cái chính là nhng mm non ca cộng đồng, s ngưi gây dng phát
trin cộng đồng trong tương lai.
Trong văn hóa của người Êđê, trẻ em người già những người d b tổn thương nhất
nên h luôn được gia đình, dòng h cộng đồng chăm sóc, bo v. Tc ng Êđê câu:
anak điêt h’ua, anak mda pu\ (con nh cần nâng, sơ sinh cần ).
Trong câu này, s ng âm tiết tuy ít nhưng khi phân tích dựa trên chức năng của ngôn
ng thì nội hàm trong nghĩa bóng phn ánh sâu sc v các chức năng của tc ng. Vi chc
năng nhận thc, câu trên hàm ngôn mun cho cộng đồng hiu s mng manh, d tn
thương của tr nh vai trò của ngưi làm cha làm m phi trách nhim bo v, cm
sóc con cháu ca mình, ch không được đánh đập, xúc phm, bo hành và rung ry tr em.
ới góc độ chc năng giáo dục, tc ng y góp phn hình thành tình cm giữa người ln
và tr nh tr nên gần gũi, gắn bó và phải yêu thương dành tình cảm cho nhau nhiều hơn. Do
đó, việc nuôi dy con cái cn có những phương pháp giáo dục nhân văn, khoa học để tr thu
hiu mi s, không ch trong tc ng trong lut tục người Êđê (1996) cũng câu viện
dn‘’tr phi bo bng li, nói bng miệng, không đánh trẻ bằng roi, đừng dy tr bằng đòn.
Thân đau, hồn lc, xác bệnh’’. S quan m đặc bit này to ra nhng nguyên tc khá thú v
trong quy đnh bo v và giáo dc tr em.
Trong văn hoá truyền thng của người Êđê, khi đã nhận con nuôi thì đa tr được xem
như là con đẻ, được hưởng các quyn li v tinh thn và vt chất như con đẻ. Đặc bit, ngưi
xung quanh không ai đưc tiết l mt v vic h con nuôi, khi người con nuôi đó đưc
đón về lúc còn nh chưa nhn thức được mình là con nuôi. Vì vy, ông bà, b m và các thành
viên trong gia đình, ng tc nhim v chăm sóc, dạy bảo định hướng k năng sng
cho con cháu. S phân công y không ch biu hin rõ vai trò, chức năng giới trong vic giáo
dục con cái theo quy định ca cộng đồng còn hình thc rèn luyn k năng sống, hc
hi kinh nghim phát trin nhn thc, cm xúc và tình cm trong mi quan hhi. Tình
yêu ca những người ln tuổi đối vi tr em được c th bng trách nhim nuôi dy con tr
qua câu tc ng: Mluk mtô, kmdah, alah mjuăt. (Khù kh phi bo, câm phi dạy, i
biếng phi rèn luyn).
Người Êđê phân công trách nhiệm hướng dn, ging dy các k năng trong cuộc sng
cho tr em một cách ràng. Người cha hoc những người đàn ông trong gia đình, dòng tộc
194
trách nhim giúp tr em trai m quen vi các công vic: làm ry, vót nan, đan lát, tạc
ợng, đánh chiêng,…thể hin thông qua câu:
Djă tiông (hna) hriăm awa, ngă hma hriăm (Cm cung phi hi cu, m ry
phi hi ông)
Hay câu:
Ami\ mtô gui êa, ama mtô gui dju\ (m là ngưi dạy cõng nước, cha dy vác cũi).
Còn nhng người bà, người m những người ph n trong gia đình, dòng tc trách
nhim rèn dy k năng cho các trẻ em gái như kéo chỉ, dt th cm, hoc ni trợ, gùi c
hoặc chăm sóc trẻ thơ,… Việc phân công đó còn thể hin qua câu: Mrai siam yua kngan
aduôn, k’uôr sian yua kngan aê’’ (ch dt đp bi bàn tay bà, chiếc sàn đẹp bi bàn tay ông)
hay câu: Ka\t êa doh \ng amai, \ng drai siam \ng ayo\ng (nắp bình c sch
do chị, cây nêu đẹp bi anh).
Thông qua tc ng thấy được, người Êđê xưa kia rất văn minh khoa hc trong vic
phân công trách nhim rèn dy k năng con trẻ v cuc sng.
Trong nhng khía cnh giáo dc, vic giáo dục đạo đức có mt vai trò quan trng trong
s hình thành ý thc, thái độ, tình cm của con ngưi trong xã hi. Phm cht này không ch
tác động đến quan h tương quan giữa cha m con cái còn th hin qua mi quan h
giữa con người vi hội môi trường. vy, tc ng Êđê cũng vai trò to ln trong
việc tác động ý thc giáo dục nuôi ng tình cm đạo đức ca mi nhân. Con cái
không phi ch đón nhận nhng tình cm, bài hc t nhng sinh thành hay những ngưi thân
trong gia đình mà h còn phi có trách nhim quan tâm ngược li vi những người đã dưng
dc mình giá tr của người cha, ngưi m đối với con cái đưc th hin qua câu tc ng:
Ami\ pô pla, ama pô mjing (tm dch: M là người mang, cha là ngưi dưng).
Để khuyên răn, ngăn dạy con cái v nhng vấn đề trong cuc sng, tc ng Êđê
nhng câu phê phán con cái có nhng biu hin bt kính, lêu lng, th ơ, vô trách nhim vi
cha m, ông bà, dòng h như:
Ami\ la] amâo gô, ama mtô mâo gưt (m bo không nghe, cha dy không vâng li);
Boh tih pro\ng jua\ ama, boh pla pro\ng ktra\m ami\ (bp vế to gim cha, bắp đùi to đạp
m)
\ng leh mta\, hua\ leh mtô, gao asa\p klei la] mâo kđi. n đã dặn, uống đã dạy,
trái li dy bo s có vic x kin)
Vi những hành vi chưa làm tròn bổn phn ca ngưi con, ngưi cháu như các câu trên
thì tc ng Êđê cũng cho phép những người thân trong gia đình đưc quyền răn dy ch
bảo, như câu:
Giê pro\ng amiêt, giê điêt ama, anak mda pu\ (tm dch: Cậu được dùng y to, cha
được dùng cây nhỏ, còn thơ dại thì phi bng phi bế).
Câu tc ng y đưc hiu là: cha m là người sinh thành vai trò dưỡng dc nhng