BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Diễm My
HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Diễm My
HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học 60 31 04 01 Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. HUỲNH VĂN SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Quý Thầy Cô giảng dạy tác giả trong hai năm học cao học. Những kiến thức
và phương pháp Thầy Cô truyền đạt là nền tảng quan trọng để tác giả hoàn thành
luận văn này.
Quý Thầy Cô Phòng Sau đại học đã hỗ trợ và tạo điều kiện để tác giả có thể
tham gia học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng gửi lời cảm ơn đến quý đồng nghiệp và bạn học cùng lớp cao học
khóa 23 đã hợp tác và chia sẻ kiến thức. Cảm ơn các thầy cô ở 4 trường trung học
cơ sở: THCS Kim Đồng, THCS Phan Chu Trinh, THCS Quang Trung, THCS Phan
Bội Châu đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả có thể hoàn thành trọn vẹn luận văn.
Đồng thời, tác giả cũng chân thành cám ơn quý phụ huynh học sinh, các em học
sinh, các bạn sinh viên, các anh chị, các cô chú đã nhiệt tình hợp tác để trả lời phiếu
hỏi.
Chân thành cảm ơn PGS. TS. Huỳnh Văn Sơn - nhà khoa học đã tận tình
hướng dẫn tác giả. Thầy đã truyền lửa và rèn luyện tác phong một nhà nghiên cứu
khoa học trẻ cho tác giả trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài. Sự
động viên của Thầy là nguồn lực để tác giả thực hiện tốt nhất luận văn trong thời
gian và khả năng cho phép.
Cuối cùng, tác giả gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn ủng hộ, động viên con
đường phát triển tri thức của tác giả.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Diễm My
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ ............................................................................................... 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu về hành vi ND ở HS THCS .............................................. 6
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về hành vi ND ở HS THCS ................... 6
1.1.2. Một số nghiên cứu trong nước về HVND của HS THCS ........................ 10
1.2. Lý luận nghiên cứu về hành vi ND ở HS một số trường THCS tại
Tp.HCM ................................................................................................................. 14
1.2.1. Khái niệm hành vi .................................................................................... 14
1.2.2. Các vấn đề về HVLC................................................................................ 17
1.2.3. Các vấn đề về HVLCXH .......................................................................... 25
1.2.4. Các vấn đề về HVND ............................................................................... 31
1.2.5. Một số đặc điểm tâm lý cơ bản ở HS THCS ............................................ 46
1.2.6. Các biểu hiện của HVND ở HS THCS .................................................... 49
1.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND ở HS một số trường THCS tại
Tp.HCM ............................................................................................................. 55
Tiểu kết chương 1 .................................................................................................... 61
Chương 2. THỰC TRẠNG HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH MỘT
SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ...... 62
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM ................................................................................................................. 62
2.1.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM ............................................................................................. 62
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM ............................................................................................. 62
2.1.3. Vài nét về khách thể nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số
trường THCS tại Tp.HCM ................................................................................. 70
2.2. Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM ...................... 73
2.2.1. Nhận thức của HS THCS về HVND ........................................................ 73
2.2.2. Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại TP.HCM xét
theo CMXH và DSM – 4 .................................................................................... 77
2.2.3. Cơ chế tâm lý của HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM
và các vấn đề liên quan đến HVND ................................................................... 88
2.2.4. Kết quả nghiên cứu thực trạng biểu hiện HVND của HS một số
trường THCS tại Tp.HCM ................................................................................. 98
2.2.5. Các mức độ biểu hiện của HVND ở HS một số trường THCS tại
Tp.HCM............................................................................................................ 119
2.2.6. So sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM (HS tự đánh giá, xét theo CMXH) trên các phương diện ................. 120
2.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM............................................................................................................ 125
2.2.8. Mối quan hệ giữa sự lòng tự trọng, sự cô đơn, sự căng thẳng và
HVND của HS THCS tại Tp.HCM .................................................................. 130
2.2.9. Cách ứng xử của phụ huynh và giáo viên khi phát hiện HVND ở HS
THCS ................................................................................................................ 135
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................. 137
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 139
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ................................ 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 144
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CMXH Chuẩn mực xã hội
ĐTB Điểm trung bình
HVLC Hành vi lệch chuẩn
HVLCXH Hành vi lệch chuẩn xã hội
HVND Hành vi nói dối
HK Hiếm khi
HS Học sinh
KBG Không bao giờ
TLH Tâm lý học
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TT Thỉnh thoảng
THCS Trung học cơ sở
TX Thường xuyên
RTX Rất thường xuyên
VTN Vị thành niên
XH Xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Phân biệt nói dối, lừa dối và làm dối ............................................................... 39
Bảng 2.1. Cách thức chấm điểm câu hỏi 1 trong bảng hỏi 1 .......................................... 64
Bảng 2.2. Cách thức quy đổi một số câu hỏi trong bảng hỏi 2 ...................................... 66
Bảng 2.3. Cách thức quy đổi mức độ biểu hiện HVND ................................................. 66
Bảng 2.4. Cách thức quy đổi điểm thang đo sự cô đơn .................................................. 68
Bảng 2.5. Cách thức quy đổi điểm thang đo sự căng thẳng ........................................... 68
Bảng 2.6. Cách thức quy đổi điểm thang đo lòng tự trọng ............................................. 69
Bảng 2.7. Vài nét về khách thể nghiên cứu (học sinh) .................................................... 71
Bảng 2.8. Vài nét về khách thể nghiên cứu (phụ huynh HS và giáo viên) ................... 72
Bảng 2.9. Vài nét về khách thể nghiên cứu (ở các độ tuổi khác nhau) ......................... 73
Bảng 2.10. Nhận thức của HS THCS về định nghĩa HVND ........................................... 73
Bảng 2.11. Nhận thức của HS về đặc điểm của nói dối .................................................... 75
Bảng 2.12. Nhận thức của HS về sự phân biệt HVND với các hành vi khác gần với
nói dối ................................................................................................................. 76
Bảng 2.13. CMXH và nhận thức của HS THCS về động cơ dẫn đến HVND ............. 77
Bảng 2.14. So sánh sự khác biệt về nhận thức của HS THCS đối với động cơ dẫn
đến HVND theo biến số hạnh kiểm ................................................................ 80
Bảng 2.15. CMXH và nhận thức của HS THCS về cường độ xuất hiện của HVND ... 80
Bảng 2.16. Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về HVND xét
theo tiêu chí 1 của CMXH ................................................................................ 82
Bảng 2.17. Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 1 của CMXH ....................................... 83
Bảng 2.18. Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về HVND xét
theo tiêu chí 2 của CMXH ................................................................................ 84
Bảng 2.19. Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 2 của CMXH (bảng tổng hợp 2
tiêu chí) ............................................................................................................... 85
Bảng 2.20. Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về HVND xét
theo tiêu chí 2 của DSM – 4 ............................................................................. 86
Bảng 2.21. Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 2 của DSM - 4 (bảng tổng hợp 2
tiêu chí) ............................................................................................................... 87
Bảng 2.22. Giai đoạn chuẩn bị nói dối ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM .......... 89
Bảng 2.23. Việc thực hiện các giai đoạn của HVND ........................................................ 90
Bảng 2.24. Cảm xúc của HS THCS trước, trong và sau khi nói dối ............................... 91
Bảng 2.25. Đối tượng HS một số trường THCS tại Tp.HCM thực hiện HVND ........... 92
Bảng 2.26. Xu hướng chia sẻ thông tin của HS THCS với cha mẹ ................................. 93
Bảng 2.27. Các hành động HS THCS nói dối để thực hiện ............................................. 95
Bảng 2.28. Địa điểm nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM ....................... 96
Bảng 2.29. Hình thức nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM ...................... 97
Bảng 2.30. Biểu hiện HVND trong tự ý thức của HS THCS ........................................... 98
Bảng 2.31. Biểu hiện HVND trong đời sống tình cảm của HS THCS ......................... 100
Bảng 2.32. Biểu hiện HVND trong ý chí của HS THCS ................................................ 103
Bảng 2.33. Biểu hiện HVND trên bình diện thói quen của HS THCS ......................... 105
Bảng 2.34. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường của HS THCS .......... 107
Bảng 2.35. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với bạn bè của HS THCS ......... 109
Bảng 2.36. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với gia đình của HS THCS ....... 111
Bảng 2.37. Kết quả so sánh theo cặp các biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở
trường, các mối quan hệ với bạn bè và các mối quan hệ với gia đình ....... 113
Bảng 2.38. Biểu hiện HVND về mặt cơ thể của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM ........................................................................................................... 113
Bảng 2.39. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 1 ..................................... 115
Bảng 2.40. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 2 ..................................... 116
Bảng 2.41. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 3 ..................................... 117
Bảng 2.42. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 4 ..................................... 117
Bảng 2.43. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 5 ..................................... 118
Bảng 2.44. Các mức độ biểu hiện của HVND ở HS một số trường THCS tại
Tp.HCM ........................................................................................................... 119
Bảng 2.45. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM trên phương diện giới tính ............................................................. 120
Bảng 2.46. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM trên phương diện trường ................................................................ 121
Bảng 2.47. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM trên phương diện khối lớp .............................................................. 122
Bảng 2.48. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM trên phương diện tôn giáo .............................................................. 123
Bảng 2.49. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM trên phương diện hạnh kiểm .......................................................... 123
Bảng 2.50. Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM ........................................................................................................... 125
Bảng 2.51. Đánh giá chung về mối quan hệ của cha mẹ với con cái ở HS một số
trường THCS tại Tp.HCM có HVND lệch chuẩn ....................................... 126
Bảng 2.52. CMXH và nhận thức của HS THCS có HVND lệch chuẩn về CMXH
đối với HVND ................................................................................................. 127
Bảng 2.53. Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS THCS ............................ 129
Bảng 2.54. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa lòng tự trọng và HVND của HS
một số trường THCS tại Tp.HCM ................................................................. 130
Bảng 2.55. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cô đơn và HVND của HS
THCS tại Tp.HCM .......................................................................................... 131
Bảng 2.56. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự căng thẳng và HVND của HS
THCS tại Tp.HCM .......................................................................................... 132
Bảng 2.57. Kết quả tương quan giữa HVND, lòng tự trọng, sự cô đơn và sự căng
thẳng ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM ............................................ 134
Bảng 2.58. Cách ứng xử của phụ huynh và giáo viên khi phát hiện HVND ở HS
THCS ................................................................................................................ 135
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ phân tích cấu trúc HVND .............................................................. 35
Sơ đồ 1.2. Cách tiếp cận HVND theo DSM - IV ...................................................... 38
Sơ đồ 1.3. Cách tiếp cận HVND dựa trên việc nghiên cứu CMXH ......................... 38
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những tư tưởng đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay là tăng cường
giáo dục đạo đức cho học sinh (HS). Tư tưởng này đã thể hiện rất rõ trong hàng loạt
nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Luật giáo dục năm 2010 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho
HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ
bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư
cách và trách nhiệm công dân…” [4]. Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển như
vũ bão của khoa học công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và
nhịp sống sôi động của thời kỳ mở cửa đang ảnh hưởng tới mỗi người trong xã hội.
Sự chuyển biến và phát triển của thời đại đã đặt ra nhiều thách thức cho xã hội, đặc
biệt là công tác giáo dục thế hệ trẻ, đó là: “Làm thế nào để hình thành nhân cách ở
thế hệ trẻ đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội”. Đó là vấn đề tưởng chừng
như đơn giản, nhưng thực tế không dễ thực hiện một cách hoàn chỉnh.
Dưới góc nhìn về khoa học tâm lý, quan tâm đến giáo dục đạo đức cho HS bao
gồm nhiều vấn đề khác nhau, trong đó nổi bật là hai vấn đề lớn. Thứ nhất là việc
tìm ra các quy luật về mặt tâm lý trong sự phát triển của HS để lựa chọn các nội
dung và phương pháp giáo dục đạo đức phù hợp nhất với các em, từ đó giúp các em
hình thành những nhận thức đúng đắn, thái độ tích cực và hành vi đúng chuẩn. Thứ
hai là việc phát hiện và nghiên cứu những hành vi lệch chuẩn (HVLC) để từ đó có
thể can thiệp kịp thời và đưa ra các biện pháp giáo dục cho HS một cách phù hợp.
Tuổi thiếu niên được xác định vào khoảng từ 12 đến 15 tuổi, tương ứng với
những năm học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS. Đây là giai đoạn đặc biệt trong
cuộc sống của các em vì xảy ra đồng thời một loạt những biến đổi về sinh lý, tâm
lý. Ở giai đoạn này, nguyện vọng độc lập của các em phát triển mạnh. Các em muốn
người khác nhìn nhận mình như là một người lớn, muốn được bình đẳng trong quan
hệ với người lớn, muốn được độc lập trong việc lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm,
chuẩn mực đạo đức xã hội và phương thức hành vi. Tuy nhiên nguyện vọng của các
em thường mâu thuẫn với chính khả năng thực tế, mâu thuẫn với quan điểm chưa
2
thay đổi của người lớn về các em. Chính vì những mâu thuẫn đó dẫn đến quan hệ
giữa các em với người lớn dễ xảy ra căng thẳng. Nếu người lớn cư xử không phù
hợp thì mối quan hệ giữa các em và người lớn sẽ trở nên căng thẳng, các em thể
hiện sự chống đối với những yêu cầu của người lớn. Những yêu cầu của cha mẹ,
nhà trường, xã hội và thậm chí những yêu cầu của chính bản thân có thể gây ra
những áp lực đối với các em. Đây là những nguyên nhân gây ra trạng thái căng
thẳng, bất an và là điều kiện cho sự xuất hiện hành vi lệch chuẩn (HVLC) ở thiếu
niên [16].
Theo tác giả Magda Stouthamer - Loeber, Khoa Tâm thần Đại học học Y khoa
Pittsburgh (Mỹ): “Trong tất cả các HVLC, nói dối có thể được xem là một trong
những hành vi đầu tiên. HVLC này có mối quan hệ với những vấn đề về hành vi
khác, đặc biệt là phạm pháp. Nghiên cứu theo chiều dọc về nói dối chỉ ra cách dự
đoán hành vi phạm pháp và các hình thức khác ở tuổi trưởng thành” [66]. Như vậy,
nghiên cứu hành vi nói dối (HVND) chính là một trong những cách thức nghiên cứu
mang tính chất đón đầu và là một trong những số liệu quan trọng có khả năng dự
đoán xu hướng của các HVLC khác trong tương lai.
Có thể thấy, một cách nhìn nhận đúng đắn, khoa học về thực trạng HVND ở
HS THCS và những biểu hiện của nó là một điều hết sức cần thiết. Đây là cơ sở để
đưa ra các biện pháp giáo dục đạo đức phù hợp cho HS lứa tuổi THCS. Xuất phát từ
những nguyên nhân được nêu trên, đề tài “Hành vi nói dối của học sinh một số
trường trung học cơ sở tại Tp. HCM” được xác lập.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM hiện nay,
trên cở sở đó đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục HVND ở các em.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài như: hành vi, HVLC,
HVLCXH, HVND.
3.2. Khảo sát thực trạng HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM hiện
nay. Trên cơ sở đó, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này.
3
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM hiện nay.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính là HS một số trường THCS tại Tp.HCM hiện nay.
Khách thể nghiên cứu bổ trợ là các phụ huynh và giáo viên - người có mối
quan hệ gần gũi nhất với HS. Ngoài ra, đề tài còn khảo sát thêm quan điểm của
khách thể ở các độ tuổi khác nhau tại Tp.HCM nhằm làm dữ liệu trong nghiên cứu.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Có khoảng 1/6 HS ở một số trường THCS tại Tp.HCM có HVND (dạng lệch
chuẩn). Số HS có HVND (dạng lệch chuẩn) có các biểu hiện ở mức tương đối cao.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Nội dung
Đề tài chỉ khảo sát thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM dưới góc độ HVLC trong Tâm lý học (TLH). Thực trạng này được nghiên
cứu theo 2 cách tiếp cận chính. Một là tiếp cận dựa vào các tiêu chí dùng để chẩn
đoán HVLC của Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM – IV). Hai là tiếp cận dựa vào
CMXH về HVND.
Ở cách tiếp cận thứ hai, CMXH về HVND chỉ được đánh giá dựa trên hai tiêu
chí là động cơ dẫn đến HVND và cường độ xuất hiện của HVND.
6.2. Khách thể
Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu thực trạng trên HS tại 4 trường THCS tại
TP.HCM bao gồm: THCS Kim Đồng (quận 5), THCS Phan Chu Trinh (quận Tân
Bình), THCS Phan Bội Châu (quận Bình Tân) và THCS Quang Trung (quận Gò
Vấp).
Với cách tiếp cận dựa vào CMXH về HVND, CMXH chỉ tiến hành khảo sát
trên 525 khách thể tại TP.HCM với độ tuổi từ 18 trở lên.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp luận khác nhau, trong đó quan điểm
hệ thống cấu trúc và quan điểm thực tiễn đóng vai trò chủ yếu.
4
7.1.1. Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như hành vi,
HVLC, HVLC xã hội, hành vi ND. Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận
thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Nói dối hiện nay đang là mối quan tâm của gia đình và nhà trường nói riêng và
toàn xã hội nói chung. Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác không
ngừng đưa tin về những hậu quả nghiêm trọng xảy ra từ việc nói dối cũng như
những cảnh báo ban đầu về hành vi này. Do đó, việc tìm hiểu thực trạng HVND,
phân tích các yếu tố dẫn đến hành vi này, đề xuất các biện pháp nhằm điều chỉnh
HVND đáp ứng với yêu cầu thực tiễn đang đề ra.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu sử dụng phối hợp các
phương pháp sau:
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2.1.1. Mục đích
Khái quát hóa, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản, trên cơ sở đó xây
dựng các bảng hỏi.
7.2.1.2. Cách thực hiện
Đọc tài liệu, tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài,
tìm ra những cơ sở nghiên cứu HVND ở HS THCS.
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
a. Mục đích
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Người nghiên cứu xây dựng
ba bảng hỏi dành cho HS, giáo viên và phụ huynh để tìm hiểu thực trạng HVND
dưới góc độ HVLC trong TLH ở HS THCS.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng thang đo để đo lường sự cô đơn, lòng tự trọng và
trạng thái căng thẳng ở HS một số trường THCS tại TP.HCM nhằm tìm hiểu mối
quan hệ giữa HVND với ba yếu tố này.
5
b. Cách thực hiện
Ba bảng hỏi tự thiết kế được căn cứ trên cơ sở lý luận của đề tài và các
phương pháp luận để bảo đảm phù hợp với mục đích. Bảng hỏi được thử nghiệm
trước khi điều tra chính thức trên khách thể.
Đối với 3 thang đo, tiến hành chuyển ngữ để khảo sát. Thang đo cũng được
thử nghiệm trước khi điều tra chính thức trên khách thể.
7.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
a. Mục đích
Tiến hành phỏng vấn đối với các HS, giáo viên, phụ huynh để có thể làm rõ
thêm thực trạng HVND phân tích dưới góc độ HVLC ở HS THCS.
b. Cách thực hiện
Sau khi thu số liệu và xử lý thống kê toán học, người nghiên cứu tiến hành
phỏng vấn 18 học sinh THCS, 6 giáo viên, 6 phụ huynh dựa theo bảng phỏng vấn
đã soạn sẵn. Phỏng vấn được thu âm, ghi nhận bằng hình ảnh và có chữ ký xác nhận
của khách thể.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lý thống kê như: tính tần số, tỷ
lệ phần trăm, trị số trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm nghiệm T - Test, kiểm nghiệm
ANOVA, tương quan PEARSON làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ
phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu về hành vi ND ở HS THCS
1.1.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về hành vi ND ở HS THCS
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về nói dối của TLH còn rất hạn chế.
Một số ít các nghiên cứu được thực hiện trong các tiểu ngành khác nhau của TLH.
TLH lâm sàng xem xét nói dối như một vấn đề về hành vi (Stouthamer-Loeber,
1986). Các nhà TLH xã hội tập trung vào mối quan hệ giữa con người và tình huống
nói dối cụ thể (DePauloet al, 1996; Kashy và DePaulo năm 1996; Lindskold và
Waters, 1983; Millar và Tesser, 1987). Các nhà TLH phát triển thường nghiên cứu
nói dối ở trẻ em dựa trên lý thuyết đạo đức và lý thuyết nhận thức của Piaget (1932
- 1965) (Bussey, 1992; Peterson, 1995; Peterson và cộng sự, 1983; Strichartz và
Burton, 1990). Trong các chuyên ngành nghiên cứu khác nhau về HVND, hướng
nghiên cứu của TLH lâm sàng là phổ biến hơn cả. Theo hướng này, HVND thường
được quan tâm nghiên cứu dưới góc độ HVLC.
Mặc dù, HVLC ở con người xuất hiện từ thời xa xưa nhưng những HVLC đó
không được nhìn nhận đúng đắn với bản chất của nó mà được cho là do “ma ám,
quỷ ám”. Giữa thế kỷ XV, ở Đức, thuật ngữ “MAD” (người điên) xuất hiện và
những người bị mắc chứng bệnh này được hiểu là những người bị quỷ thần lấy mất
lý trí. Mãi đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nhận thức vấn đề rối loạn tâm lý
như một chứng bệnh tâm thần mới xuất hiện ở Châu Âu [3]. Trên thực tế, vấn đề
hành vi, HVLC, HVND cũng như vấn đề về trị liệu thực sự được quan tâm nghiên
cứu từ cuối thế kỷ XIX, gắn liền với tên tuổi các nhà Tâm thần học, TLH, Giáo dục
học nổi tiếng như S. Freud, V. N. Miaxishev, M. J. Eysench, D. W. Winnicott, G. E.
Xukhareva…
Nghiên cứu về đặc điểm lứa tuổi với sự xuất hiện của những HVLC được T. P.
Xim xom, M. M. Model và L. I. Galperin (1935) chỉ ra sự gia tăng theo độ tuổi
những xung đột nội tâm do phát triển khả năng tự đánh giá yêu cầu đối với bản thân
và khả năng xử lý nội tâm. Trước đó, năm 1934, T. P. Ximxom cũng như E. A. Blei
(1940) nghiên cứu và rút ra nhận xét: chấn thương tâm lý cấp tính dưới dạng sợ hãi,
7
hoảng loạn được coi là quan trọng trong việc xuất hiện HVLC. Cũng theo hướng
nghiên cứu này, các tác giả G. E. Xukhareva và L. X. Iuxevitr thấy rằng trẻ em dưới
3 tuổi thường có phản ứng mạnh đối với sự thay đổi hoàn cảnh và những kích thích
mới lạ, còn trẻ em trên 3 tuổi thì phản ứng mạnh với những hoàn cảnh sống khó
khăn [6].
Trong lĩnh vực nghiên cứu HVLC ở trẻ em phải kể đến tên tuổi của V. N.
Miaxishev. Ông và các cộng sự đã có rất nhiều đóng góp cho lĩnh vực này. Ông chỉ
ra rằng những mâu thuẫn tâm lý, mâu thuẫn nội tâm là nguyên nhân gây ra những
HVLC ở trẻ em. V. N. Miaxishev và B. D. Karvaxarki nghiên cứu và khẳng định
ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là các mối quan hệ xã hội trong gia
đình là rất lớn đối với việc gây ra những HVLC ở trẻ em. Cụ thể hơn, theo kết quả
nghiên cứu của V. K. Miager (1973) thì có tới 80% hoàn cảnh gây chấn thương tâm
lý dẫn đến những HVLC ở trẻ em là những mối quan hệ mâu thuẫn không giải
quyết được và kéo dài giữa các thành viên trong gia đình [6].
X. V. Lebeđer nghiên cứu và đưa ra các yếu tố gây ra những HVLC ở trẻ em
bao gồm: hoàn cảnh gia đình gây chấn thương tâm lý kéo dài, thiếu sót trong giáo
dục, xung đột ở trường học, chấn thương tâm lý cấp, bố mẹ nghiện rượu nặng [6].
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả đã quan tâm đến vấn đề phát
sinh, phát triển HVLC ở trẻ em là con một trong gia đình. E. A. Blei (1934) và L. G.
Golubeva (1974) đã đưa ra nhận xét chung là những đứa trẻ là con một thường có
những rối loạn quá trình thích nghi và hay có những HVLC khi đi học [6].
Từ năm 1960 đến nay, tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã cố gắng xây dựng và
hoàn thiện bảng phân loại các rối loạn tâm lý và thống nhất các thuật ngữ. Trước
tình hình các rối loạn tâm lý, HVLC ngày càng có chiều hướng gia tăng, tổ chức Y
tế thế giới đã liên tục đưa ra vấn đề này thành chương trình nghị sự của nhiều cuộc
hội thảo [68].
Đóng góp to lớn mang tính toàn cầu về HVLC, cần phải đề cập đến đó là hai
công trình nghiên cứu lớn:
Thứ nhất là bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD 10) ra đời năm 1992. Đây là kết
quả sau hơn 30 năm làm việc không ngừng của hơn 915 nhà TLH có uy tín trên 52
8
quốc gia. Bảng phân loại này mang tính quốc tế vì phản ánh hầu hết các trường phái
và truyền thống chủ yếu về Tâm bệnh học trên thế giới. Trong công trình này đã tập
trung nghiên cứu rất kỹ về HVLC của trẻ em. HVLC của trẻ em thuộc mục F91,
phân thành 3 mục sau:
F91 - 0: HVLC khu trú trong môi trường gia đình
F91 - 1: HVLC ở những người kém thích ứng xã hội
F91 - 2: HVLC ở những người còn thích ứng xã hội [68].
Thứ hai là bảng phân loại bệnh học Hoa Kỳ DSM - IV, ra đời năm 1994 được
xây dựng trên cơ sở kế thừa phát triển DSM - I (1952), DSM - II (1968), DSM - III
(1980). Trong bảng phân loại bệnh DSM - IV, HVLC của trẻ thuộc mục 321 - 8, đã
đưa ra 15 tiêu chuẩn chẩn đoán và được chia thành bốn nhóm: hung hãn với người
và súc vật; phá hoại tài sản; gian lận hoặc ăn cắp; vi phạm nặng nề các quy định,
trong đó HVND thuộc nhóm thứ ba [34].
Nói dối được xem là một vấn đề vô cùng phức tạp, phức tạp ngay từ định
nghĩa của nó. Kang Lee và Hollie J Ross (1997) được xem là hai tác giả tiên phong
trong việc tiếp cận HVND một cách trực tiếp. Nghiên cứu nổi bật của hai ông chính
là việc đưa ra định nghĩa về nói dối dựa trên các yếu tố xã hội. Định nghĩa này được
nhiều nhà TLH, tâm thần học và giáo dục học chấp nhận và sử dụng rộng rãi đến
ngày nay [56].
Một số nghiên cứu cho thấy rằng có một sự khác biệt về giới tính trong
HVND. Chẳng hạn, Keltikangas - Jarvinen và Lindeman (1997) cho thấy nam dễ
dàng chấp nhận hành vi ND hơn nữ [58]. Stouthamer - Loeber (1986) khi xem xét
HVND ở trẻ em và VTN cho rằng nam thường nói dối với cha mẹ nhiều hơn nữ
[67]. Bên cạnh đó, nghiên cứu với VTN và người trưởng thành trẻ tuổi đã chỉ ra
rằng nam giới dễ dàng chấp nhận sự tồn tại của một loạt các HVLC khác như gian
lận, trộm cắp (Cauffmanet al, 2000 [46]; Feldmanet al, 2000 [50], Jensenet al, 2002
[54], Jessor và Jessor, 1977 [55]; Keltikangas Jarvinen và Lindeman, 1997 [58]).
Nam giới cũng có nhiều khả năng tham gia vào nhiều loại HVLC hơn nữ (ví dụ
Arnett, năm 1992 [43]; Cochranet al, 1998 [47], Daviset al, 1992 [48])
9
Tác giả Charles Ford được biết đến với việc nghiên cứu và phân chia các giai
đoạn bắt chước HVND ở trẻ em. Theo ông, nói dối do “học” mà biết. Điều này có
nghĩa là con người ta không phải sinh ra đã mang “gen nói dối”. Chỉ sau 4 tuổi trẻ
con mới học được cách ND. Charles Ford đã chia quá trình “học” HVND ở trẻ em
thành 3 giai đoạn: Đầu tiên trẻ bỗng dần dần phát hiện ra rằng mình có thể đánh lừa
được người khác; tiếp theo chúng lại phát hiện thêm là cách nghĩ này của mình cũng
có ở người khác; cuối cùng trẻ phát giác ra đối phương đang quan sát mình. Từ đây,
trẻ học thêm được cách khống chế sự biểu cảm trên nét mặt và ngôn ngữ cơ thể.
Cùng với sự lớn lên của đứa trẻ, sự hiểu biết của nó càng được nâng cao và kỹ xảo
nói dối cũng càng được hoàn thiện hơn [15].
Nghiên cứu theo độ tuổi, tác giả Gervais và cộng sự (2000) cho rằng tần suất
của HVND tích lũy cho đến khi 7 tuổi theo chiều dọc. Kết quả nghiên cứu của
Gervais và cộng sự cũng cho thấy trẻ em ở độ tuổi 7 và 8 đã nói dối thường xuyên
hơn so với trẻ em ở tuổi lên 6 [53]. Tương tự, trong nghiên cứu của mình, Lee và
Ross (1997) cũng cho thấy sự khác biệt đáng kể liên quan đến độ tuổi về nội dung
của một lời nói dối. Tuổi càng tăng thì lời nói dối càng trở nên tinh vi hơn [61].
Cùng nghiên cứu về HVND với cha mẹ, nhóm tác giả Lene Arnett Jensen,
Jeffrey Jensen Arnett, S. Shirley Feldman, và Elizabeth Cauffma đã tiến hành
nghiên cứu trên 229 học sinh trung học và 261 sinh viên đại học. Nghiên cứu nhằm
đánh giá về sự chấp nhận HVND với cha mẹ của VTN và người trưởng thành trẻ
tuổi ở 19 hoàn cảnh khác nhau và với những động cơ khác nhau. VTN và người
trưởng thành trẻ tuổi cũng chỉ ra tần số mà họ đã nói dối với cha mẹ về các vấn đề
đa dạng như bạn bè, ngày tháng, và tiền bạc. Kết quả cho thấy VTN và người
trưởng thành trẻ tuổi khá thường nói dối cha mẹ của họ. Người trưởng thành trẻ tuổi
đa phần ít chấp nhận lời nói dối và báo cáo là ít thường xuyên nói dối hơn so với
VTN [62].
Một cách tiếp cận khác về HVND, Backbier et al. (1997) đã tập trung vào việc
phân tích mối liên hệ giữa nói dối và các quan hệ xã hội của con người. Kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người có xu hướng chấp nhận việc nói dối với người
khác và không có xu hướng chấp nhận việc nói dối với người thân của họ [44].
10
Năm 2004 nhà TLH Robert S.Feldman ở Đại học Massachusetts tiến hành một
thí nghiệm để đo lường sự nói dối. Feldman đã ghi âm lén các sinh viên khi nói
chuyện với người lạ, sau đó phân tích băng ghi âm và tính toán số lần họ nói dối.
Hơn 60% đối tượng có biểu hiện nói dối trong khoảng thời gian mỗi 10 phút. Mức
độ dối trá được sắp xếp từ thổi phồng cho đến bịa đặt. Feldman nhận xét nam giới
và nữ giới có tần suất nói dối như nhau, nhưng trong khi phụ nữ có khuynh hướng
giả dối để đối tượng yên tâm thì sự giả dối của phái mạnh cốt để tự an ủi mình [66].
Các nhà khoa học Mỹ quan tâm đến tâm lý của người nói dối và đối tượng
giao tiếp của họ trong các trường hợp cụ thể để rút ra bài học. Cụ thể, Brooks
Jackson và Kathleen Hall Jamieson (2008) đã tiến hành liệt kê, phân tích các trường
hợp nói dối theo chủ đề để đưa đến kết luận về các cách thức được sử dụng để lừa
dối được hình thành dựa trên các định kiến, kinh nghiệm cá nhân, các mong muốn
có sẵn trong tiềm thức. Từ đây, tác giả cũng chỉ ra các phương thức để nhận diện
những điều dối trá nhằm tìm kiếm sự thật trong một thế giới thông tin hỗn loạn [45].
Tóm lại, có thể khẳng định rằng vấn đề HVLC nói chung và HVND nói riêng
ở trẻ em và thanh thiếu niên đang là vấn đề được nhiều nhà tâm thần học, TLH,
Giáo dục học ngoài nước quan tâm nghiên cứu. HVND đa phần được nghiên cứu
một cách gián tiếp thông qua HVLC. Các nghiên cứu trực tiếp về HVND chủ yếu
quan tâm đến thực trạng, mối quan hệ giữa hành vi và môi trường bên ngoài, từ đó
xem xét nguyên nhân dẫn đến HVND. Xét theo lứa tuổi thì HVND ở VTN được tập
trung nghiên cứu nhiều hơn cả trong thực tiễn.
1.1.2. Một số nghiên cứu trong nước về HVND của HS THCS
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu HVND, biện pháp phát hiện cũng như điều
chỉnh HVND thực sự còn khá mới mẻ. Đa phần các nghiên cứu tập trung chủ yếu
vào HVLC nói chung, chưa có sự nghiên cứu riêng về HVND.
Người có công lao lớn trong việc nghiên cứu, phổ biến thực trạng, nguyên
nhân và tác hại của các loại HVLC ở Việt Nam là cố bác sỹ Nguyễn Khắc Viện.
Năm 1996, trung tâm NT (nghiên cứu tâm lý trẻ em) đã sử dụng bảng phân loại
bệnh của Pháp nghiên cứu và phân loại các rối loạn tâm lý ở Việt Nam. Bác sỹ
Nguyễn Khắc Viện đã làm chủ nhiệm đề tài cấp Quốc gia: “Bước đầu nhận dạng và
11
phân loại những biểu hiện tâm bệnh lý thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên
trong giai đoạn hiện nay” được Hội đồng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
đánh giá, xếp loại Xuất sắc và nghiệm thu ngày 12/1/1997 [6].
Dưới góc độ nghiên cứu, chẩn đoán và trị liệu, bác sỹ Phạm Văn Đoàn thuộc
trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em đã thống kê phân loại các rối loạn tâm lý của trẻ
em và thanh thiếu niên qua 352 hồ sơ tính từ tháng 1/1989 đến tháng 10/1995 đã
đưa ra những nhóm cơ bản: loạn tâm, nhiễu tâm, bệnh lý về nhân cách và các rối
loạn tiến triển ngoài loạn tâm và nhiễu tâm, các rối loạn phản ứng, các suy giảm tâm
trí, các rối loạn chức năng công cụ và luyện tập, các rối loạn có biểu hiện thực thể
và rối loạn ứng xử. Trong đề tài này, HVND được xem xét như một rối loạn ứng xử
[6].
Nghiên cứu của ngành Tâm thần học Việt Nam trong phạm vi cả nước năm
1992 được tiến hành với trẻ em từ 10 - 17 tuổi, đã sử dụng theo chẩn đoán ở mục
F91 của bảng phân loại bệnh ICD - 10, kết quả cho thấy có 3,7% trẻ có HVLC
(21.960/124.194 em), trong đó nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ [6].
Công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Phương Kiệt từ 1997 - 1999 trên 1266
HS tuổi từ 15 - 18 thuộc bốn trường Trung học phổ thông ở Hà Nội cũng thấy có
117 trẻ em có HVLC chiếm 9,24%, trong đó HVLC chiếm tỷ lệ cao là nói dối, trốn
học, bỏ tiết [20].
Một nghiên cứu thử nghiệm của Hội Tâm lý - Giáo dục Hà Nội về HVLC ở
lứa tuổi Trung học phổ thông thuộc bốn trường khu vực Hà Nội phát hiện có
khoảng gần 10% HS có ít nhất một biểu hiện HVLC (theo hệ thống phân loại của
Hội tâm thần học Mỹ DSM - IV) [18].
Theo kết quả nghiên cứu đề tài “Thực trạng HVLCXH ở HS THCS Thành phố
Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu” của tác giả Phạm Tiến Công thì có đến hơn 10% HS
THCS Thành phố Bạc Liêu có tồn tại HVLCXH, trong đó hành vi cãi cọ, trêu chọc
bạn là xảy ra nhiều nhất ở HS, tiếp theo là hành vi không học bài, làm bài tập, hành
vi không vâng lời thầy cô, cha mẹ, hành vi trốn nhà để đi chơi, HVND cha mẹ, thầy
cô, bạn bè [6].
12
Kết quả điều tra về HVLC ở 532 HS của một số trường THCS trên địa bàn Hà
Nội cũng cho thấy, các lỗi về HVLC mà HS mắc phải rất đa dạng, nhưng nói dối
vẫn đứng ở vị trí đầu tiên và đã trở thành thông lệ đáng lo ngại. Lý do nói dối của
HS theo khảo sát có 53% do sợ cha mẹ, trên 50% học sinh biện minh cho HVND
của mình là hoàn cảnh bắt buộc, không còn cách nào khác. Chỉ có 4,8% nhận mình
có lỗi khi nói dối. Khi được hỏi, đa số các em cho rằng nói dối là để đối phó với các
hình phạt của bố mẹ. [126].
Ngoài ra, có thể đề cập đến một số bài viết, bài phỏng vấn về HVND trên các
trang báo, tạp chí khác nhau. Điển hình là trên báo Dân trí, số ra ngày 7/10/2013,
tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Giống như nhiều hành vi khác, con người ta
thường có tư tưởng: đã làm một lần, thì làm thêm lần nữa cũng chả sao. Dần dần,
đối với một bộ phận giới trẻ, nói dối trở thành một hành vi mất kiểm soát. Gặp
chuyện nan giải, cần thiết phải nói dối cũng nói. Không gặp chuyện nan giải gì,
cũng nói dối. Giáo dục hiện nay cũng gặp phải nhiều “bệnh” cần chữa như: bệnh
thành tích, ngồi nhầm lớp... Chính những đều này làm cho trẻ cảm thấy áp lực và
nói dối, quay cóp trong thi cử... là một trong những biện pháp giúp trẻ vượt qua
những áp lực nặng nề và xuất phát từ nhiều phía đó” [71]. Hay tác giả Trần Ngọc
Thêm, trong bài phỏng vấn trên trang soha.vn cho biết về nguyên nhân của HVND
như sau: “Ông cha ta đã có câu: “Đ hỏi già, về nhà hỏi trẻ” để thấy rằng không ai
thật thà bằng con trẻ. Nhưng dần dần, trong gia đình, trẻ em thường xuyên chứng
kiến cảnh “nghĩ một đằng, nói một nẻo” và được người lớn giải thích đó là sự tế
nhị, khéo léo trong giao tiếp. Một sự thật là khi ở trường, nhiều khi các em còn
được thầy, cô dạy là khi đi thi phải biết cách làm sao để giành giải thưởng cho
trường; khi có đoàn thanh tra các em sẽ giơ tay thế nào, phát biểu ra sao… Dẫn đến
phản ứng đối phó của trẻ với những đòi hỏi, những kiểm soát của cha mẹ; quy định,
yêu cầu của các thầy cô… Lớn lên chút nữa, các em sẽ không khó khăn để nhận ra
sự dối trá lan tràn khắp nơi” [74]. Mặc dù đây chỉ là những bài phỏng vấn mang tính
chất hàn lâm, song nó lại là cơ sở góp phần định hướng cho việc nghiên cứu khoa
học về HVND.
13
Cuốn sách “Tại sao đàn ông nói dối, đàn bà nói nhiều” do Thúy Nga biên soạn
(2005) là một tài liệu phong phú đề cập đến sự khác biệt giữa nam và nữ trong
HVND. Tác giả đã thực hiện việc so sánh cách ứng xử khác nhau của hai giới từ
xưa đến nay và đưa đến kết luận rằng đàn ông và phụ nữ thực ra đều nói dối nhiều
như nhau, chỉ có các chủ đề nói dối là khác nhau. Sở dĩ người ta có cảm giác rằng
đàn ông nói dối nhiều hơn là vì đàn ông ít biết cách che đậy cảm xúc của mình bằng
ngôn từ hay những biện pháp khác như phụ nữ và đàn ông bị phát hiện nói dối
nhiều hơn do người phụ nữ thường nhạy cảm hơn [5].
Cùng thể loại sách, “Giải mã bí mật nói dối” của tác giả Nguyễn Thơ Sinh
(2010) cũng là một thành tựu cần nhắc đến. Trong tác phẩm của mình, tác giả đề
cập đến HVND xét từ nhiều khía cạnh khác nhau như tôn giáo, tâm lý, bệnh lý…
Bên cạnh đó, tác giả cũng mô tả chân dung thật của HVND, nguyên nhân, cách
nhận dạng HVND cùng các khía cạnh có liên quan. Hạn chế lớn của quyển sách này
là các vấn đề được nêu lên chưa mang tính hệ thống và khoa học cao, đặc biệt là
dưới góc độ Tâm lý học [33].
Có thể nói, Luận văn Thạc sĩ “ Hiện tượng nói dối dưới góc nhìn văn hóa học”
của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Ngân (2008), trường Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn là đề tài nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam mang tính chuyên sâu về nói dối.
Tuy đề tài tiếp cận nói dối dưới góc độ văn hóa học, trong đó chỉ ra hai mặt văn hóa
và phi văn hóa của hiện tượng nói dối trong một số ngành nghề cụ thể nhưng đề tài
cũng đã đóng góp cơ sở lý luận rất lớn cho nghiên cứu về HVND dưới góc độ TLH [25].
Như vậy, mặc dù vấn đề nghiên cứu, chẩn đoán và điều chỉnh HVLC ở trẻ em
và thanh thiếu niên ở Việt Nam thực sự còn rất mới nhưng nó đã thu hút sự quan
tâm của nhiều nhà TLH, Giáo dục học và bác sỹ có tâm huyết với vấn đề này. Tuy
nhiên, nếu xét riêng các nghiên cứu về HVND một cách chuyên sâu thì khá hiếm.
HVND thường được nghiên cứu gián tiếp thông qua HVLC. Có thể thấy, HVND
gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân và xã hội. Vì vậy cần thiết phải có
những công trình nghiên cứu một cách cụ thể về hành vi này. Việc nghiên cứu
HVND của HS một số trường THCS tại TP. HCM cũng là một đóng góp nhất định
theo hướng nghiên cứu này.
14
1.2. Lý luận nghiên cứu về hành vi ND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM
1.2.1. Khái niệm hành vi
1.2.1.1. Định nghĩa hành vi
Hiện nay trong lý luận cũng như thực tiễn, thuật ngữ hành vi chưa được xác
định một cách rõ ràng, dứt khoát. Nói chung con người vẫn dùng thuật ngữ hành vi
cho cả động vật và người. Ở người, thuật ngữ hành vi, hành động, hoạt động, việc
làm, cách cư xử thường được dùng thay thế lẫn nhau tùy trường hợp, tùy văn cảnh.
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên thì “hành vi là toàn bộ nói
chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài, có thể quan sát được của
một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định” [28]. Ở đây đề cập đến hoàn cảnh
của sự xuất hiện hành vi và hành vi phải là những hành xử biểu hiện ra bên ngoài
mà người khác có thể quan sát được.
X.L. Rubinstêin định nghĩa: “Hành vi là kết quả của hành động tích cực của
chủ thể đối với các đối tượng chủ thể gặp trong một hoàn cảnh nào đó” [11]. Tuy
nhiên, có thể thấy, không chỉ những hành động tích cực của chủ thể mới hình thành
hành vi mà hành vi còn là kết quả của những dạng hành động khác.
Đối với A.N. Leonchiev, hành vi không phải là những phản ứng máy móc của
một cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động [13]. Còn theo tác giả
Phạm Minh Hạc, hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động và bao giờ
cũng gắn liền với động cơ, mục đích [12].
Tác giả Vũ Dũng định nghĩa hành vi trong từ điển Tâm lý học như sau: Hành
vi là sự tác động qua lại giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh, do tính tích
cực bên ngoài (kích thích) và bên trong (nhu cầu) thúc đẩy. Thuật ngữ hành vi dùng
để chỉ hành động của các cá thể riêng biệt hay của nhóm, loài (hành vi một chủng
loại sự vật hay một nhóm xã hội) [9].
Theo tác giả Lê Công Minh, hành vi là cách ứng xử của con người đối với một
sự kiện, sự vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể, nó được biểu
hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định [23].
Tác giả Dương Thiệu Tống cho rằng: “Hành vi là những biểu hiện bên ngoài
của hoạt động, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể” [6]. Định
15
nghĩa này càng thấy được tính gián tiếp, tính chủ động và tính chủ thể trong hành vi
của con người. Bên cạnh đó, cũng hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung tâm
lý bên trong và biểu hiện bên ngoài của hành vi. Nội dung tâm lý bên trong của
hành vi không phải là “trạng thái thần kinh” như C.Hulơ quan niệm mà nội dung
tâm lý đó là hệ thống những ý định, nhu cầu, động cơ, lý tưởng… nhưng điều quan
trọng là tất cả những cái đó đã được xã hội hóa.
Phân tích theo cấu trúc, tác giả Hersey và Hard cho rằng đơn vị cơ sở của hành
vi là hành động. Toàn bộ hành vi là một chuỗi các hành động [14].
Còn với tác giả Vũ Gia Hiền, hành vi bao gồm một chuỗi hành động nối tiếp
nhau một cách tương đối nhằm đạt được mục đích để thỏa mãn nhu cầu của con
người [17]. Có thể thấy, với cách định nghĩa này, tác giả tiếp cận hành vi như mặt
bên ngoài của hoạt động và cho rằng hành động là một đơn vị nhỏ cấu thành nên
hành vi.
Tương tự Vũ Gia Hiền, với cách xem xét hành vi như mặt bên ngoài của hoạt
động, khi phân tích sơ đồ cấu trúc hoạt động của A. N. Leontiev, tác giả Huỳnh Văn
Sơn cũng chỉ rõ hành động là thành phần cấu tạo nên hoạt động của con người hay
hoạt động được tồn tại và thực thi bởi một chuỗi những hành động. Mỗi phương
tiện quy định cách thức hành động khác nhau ứng với những thao tác cụ thể khác
nhau [39]. Có hai dạng phương tiện chính quy định hành động của con người ứng
với những thao tác cụ thể là vật chất và ngôn từ. Như vậy, hành động cấu thành
hành vi được tồn tại ở hai dạng là hành động với vật chất (gọi tắt là hành động vật
chất) và hành động với ngôn từ (gọi tắt là hành động ngôn từ) [17].
Tiếp thu những quan niệm khác nhau về hành vi của TLH hành vi và TLH
hoạt động, cũng như các khái niệm khác nhau về hành vi đã được trình bày, chúng
tôi định nghĩa hành vi là mặt bên ngoài của hoạt động, bao gồm một chuỗi các
hành động được biểu hiện ra bên ngoài nhưng lại thống nhất với cấu trúc tâm
lý bên trong của nhân cách, là sự thống nhất giữa hình thức bên ngoài và nội
dung tâm lý bên trong. Các hành động cấu thành nên hành vi tồn tại ở hai hình
thức là hành động vật chất và hành động ngôn từ. Hành vi là biểu hiện của một
đời sống tâm lý bên trong và được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của
16
nhân cách. Định nghĩa này được xem là cơ sở quan trọng để xác lập các nội dung
khác như HVLC, HVLCXH, hành vi ND tiếp theo.
1.2.1.2. Phân loại hành vi
Trong TLH có nhiều cách phân loại hành vi khác nhau:
a. Căn cứ theo khía cạnh giá trị [1]
- Hành vi tiêu cực: hành vi tiêu cực của chủ thể xuất hiện trong các hành động
đối lập với những nhu cầu của cá nhân hoặc các nhóm xã hội khác. Hành vi tiêu cực
có thể là phản ứng theo tình huống, hoặc là đặc điểm cá nhân xuất hiện do nhu cầu
của chủ thể nhằm tự khẳng định bản thân, nhằm bảo vệ “cái tôi” của mình. Hành vi
tiêu cực còn là kết quả của tính ích kỷ, thờ ơ với lợi ích và nhu cầu của người khác.
Cơ sở tâm lý của hành vi tiêu cực là tâm thế xuất hiện do chủ thể không đồng tình,
phủ nhận những đòi hỏi, những mong đợi của các thành viên trong các nhóm xã hội.
Hành vi tiêu cực xuất hiện cũng do sự chối bỏ hoặc chống lại các quan hệ vốn đã
hình thành trong tập thể.
- Hành vi tích cực: Hành vi tích cực là hành vi chủ thể có thể làm được và
mong muốn làm điều đó, tuy nhiên nó phải đáp ứng được sự mong đợi của người
khác. Để tiến hành hành vi tích cực thì chủ thể phải có nhận thức đúng đắn, có tâm
thế sẵn sàng, thái độ tích cực và có ý chí để thực hiện.
b. Căn cứ vào tính chất của hành vi [1]
- Hành vi công khai: Hành vi công khai là hành vi được chủ thể tiến hành
trong một môi trường cụ thể và trước sự quan sát và chứng kiến của người khác.
- Hành vi che giấu: Hành vi che giấu là hành vi được chủ thể thực hiện nhằm
không cho người khác chứng kiến.
c. Căn cứ vào phạm vi tác động của hành vi [17]
- Hành vi hướng vào chính mình: Hành vi hướng vào chính mình là những
hành vi ảnh hưởng trực tiếp lên chính chủ thể.
- Hành vi hướng đến người khác: Hành vi hướng đến người khác là những
hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến những mối quan hệ xung quanh, thông qua đó tác
động trở lại với chính chủ thể.
17
- Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng: Hành vi hướng đến sự vật, hiện tượng
là những hành vi tác động và ảnh hưởng trực tiếp lên các sự vật và hiện tượng và
những hành vi tác động này sẽ ảnh hưởng đến chính chủ thể gây ra hành vi.
d. Căn cứ theo chuẩn mực hành vi [17]
- Hành vi hợp chuẩn: Hành vi hợp chuẩn là hành vi phù hợp với chuẩn mực
của một nhóm, một cộng đồng xã hội; những hành vi mà mọi người mong đợi từ
một thành viên nào đó.
- Hành vi lệch chuẩn: HVLC là những hành vi không đáp ứng được sự mong
đợi của một nhóm người nào đó, nó lệch với chuẩn mực của một nhóm, một cộng
đồng.
Tóm lại, cách phân loại hành vi tùy thuộc vào quan điểm, hoàn cảnh cụ thể.
Trong đề tài này, chúng tôi phân loại hành vi căn cứ theo chuẩn mực hành vi. Nghĩa
là, hành vi của con người sẽ được phân loại thành hai hướng chính: hành vi hợp
chuẩn và HVLC.
1.2.2. Các vấn đề về HVLC
1.2.2.1. Chuẩn mực hành vi
Khái niệm chuẩn mực có nguồn gốc từ tiếng Latinh, có nghĩa là quy tắc, sợi
chỉ xuyên suốt. Nói đến chuẩn mực là nói đến một sự đánh giá, phán xử: cái gì phù
hợp chuẩn mực tức là bình thường, cái gì ngược với chuẩn mực là lệch chuẩn, bất
hình thường [26].
Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện định nghĩa chuẩn mực là quy tắc hành vi có
giá trị phổ biến, mà việc tuân thủ nó được những thành viên khác của xã hội trông
đợi và thừa nhận [42].
Chuẩn mực hành vi là phép tắc, quy phạm phải theo trong ứng xử của con
người, hay nói cách khác chuẩn mực là hệ thống những quy định cụ thể, những quy
tắc của đạo đức được chờ đợi đối với hành vi của mỗi cá nhân. Những quy tắc này
định rõ những hành vi mà mọi người nên làm hoặc không nên làm việc hoặc cần
phải xử sự như thế nào trong các tình huống khác nhau. Chúng vừa mang tính chất
ra lệnh (quy định mọi người phải có hành vi gì) vừa mang tính chất cấm đoán (quy
định mọi người không được phép có hành vi gì).
18
Trên thực tế, những tiêu chuẩn được các nhà tâm lý và các bác sỹ tâm thần vận
dụng để đưa ra những quyết định chẩn đoán cũng ảnh hưởng đến những xét đoán
của ngành pháp lý, ngành bảo hiểm và ngành kinh doanh chăm sóc sức khoẻ. Vì
vậy việc xét đoán hành vi của người nào đó là bất bình thường hay không là vấn đề
hết sức quan trọng. Chuẩn mực hành vi có vai trò và phạm vi điều chỉnh rất rộng.
Chuẩn mực hành vi quy định những mục tiêu cơ bản, những giới hạn cũng như
những điều kiện và hình thức ứng xử chủ yếu một lĩnh vực nhất định. Chuẩn mực
hành vi có thể xét ở một trong ba khía cạnh sau:
Chuẩn mực xét về mặt thống kê: những hành vi bất bình thường là những hành
vi lệch lạc nghiêm trọng (về chiều kích này hay chiều kích khác) so với mức trung
bình. Trên cơ sở tiếp thu những quy định chung thành văn hoặc không thành văn
của cộng đồng, đại đa số các thành viên trong cộng đồng có hành vi tương tự như
nhau trong một hoàn cảnh xác định nào đó thì hành vi đó được coi là hợp chuẩn.
Những hành vi nào đối lập lại được coi là HVLC. Nói cách khác, hành vi bất
thường là hành vi khác thường [17].
Chuẩn mực hướng dẫn hoặc quy ước do cộng đồng hay xã hội đề ra: loại
chuẩn mực này được đưa ra trên cơ sở những yêu cầu chung của cộng đồng với
từng thành viên. Hành vi của cá nhân được so với những luật lệ về đạo đức hoặc xã
hội của một nhóm. Những hành vi nào khác với hướng dẫn, quy định thì những
hành vi đó được coi là không bình thường [17].
Chuẩn mực chức năng: loại chuẩn mực này được xác định ở mỗi cá nhân. Một
hành vi được xem là hợp chuẩn khi hành vi đó phù hợp với mục đích do cá nhân đặt
ra còn những hành vi không phù hợp với mục đích của cá nhân đề ra gọi là HVLC
(với cá nhân) [17].
Có bảy thuộc tính có thể áp dụng để quyết định liệu một hành vi có phải là bất
thường hay không theo Rosenhan và Seligman (1984) là:
- Sự đau khổ: cá nhân có đau khổ hay khó chịu khi hành vi đó đang diễn ra
trong đời sống hay không.
- Tính thích nghi kém: cá nhân có thể thay đổi được hành vi khi chuyển sang
một môi trường mới với những điều kiện mới không.
19
- Tính tiếp nhận: cá nhân có thể lĩnh hội những góp ý để sửa chữa hành vi
không.
- Sự khác lạ: đối với một vấn đề, cá nhân có cảm giác khác với người khác
hoặc cá nhân trải nghiệm vấn đề có theo cách khác hẳn với hầu hết người khác hay
không.
- Sự khó chịu khi quan sát: người khác có thấy khó chịu khi quan sát hành vi
của cá nhân không.
- Vi phạm tiêu chuẩn đạo đức và lý tưởng: cá nhân với hành vi của mình có vi
phạm quy định đạo đức, luân lý được xã hội chấp nhận hay không [70].
Bốn thuộc tính đầu tiên là những tiêu chuẩn liên quan đến việc con người có
cuộc sống riêng của mình ra sao. Thuộc tính thứ năm xét cho cùng là một đánh giá
xã hội vì nó tuỳ thuộc vào những gì mang tính quy ước. Thứ sáu và thứ bảy là
những thuộc tính dứt khoát hành vi nào được xã hội chấp nhận và không chấp nhận
[70]. Quan niệm về việc chẩn đoán hành vi bình thường hay HVLC, không bình
thường này gần giống với quan niệm của các nhà TLH về các chỉ báo để nhận dạng
rối nhiễu tâm lý.
Rõ ràng, nếu dựa vào chuẩn mực hướng dẫn hoặc quy ước do cộng đồng hay
xã hội đề ra hoặc chuẩn mực cá nhân thì không có một chuẩn mực chung nào cho
tất cả các hành vi. Mỗi hành vi cụ thể sẽ được từng dân tộc quy định một chuẩn
mực riêng. Việc quyết định một hành vi nào đó có phải là hợp chuẩn hoặc lệch
chuẩn phải xét đến không gian sống, mà cụ thể ở đây là môi trường xã hội, môi
trường văn hoá do sự đánh giá khách quan của xã hội, của những người xung quanh
chứ không phải là sự phán xét chủ quan của cá nhân. Một hành vi này của cá nhân
có thể là bình thường trong nền văn hoá này nhưng lại là bất thường, không thể
chấp nhận được ở một nền văn hoá khác.
1.2.2.2. Khái niệm HVLC
a. Định nghĩa HVLC
Tác giả V.A.Giliarovxki cho rằng: thực chất HVLC ở trẻ em là ở chỗ khả năng
của nhân cách không tương xứng với những yêu cầu xuất phát từ những mối quan
hệ xã hội nhất định [2].
20
Tương tự, Carl Rogers và các cộng sự (thuộc trường phái TLH nhân văn) định
nghĩa hành vi “bình thường” dưới dạng phát triển tâm lý tích cực là sự phấn đấu thể
hiện đầy đủ tiềm năng của mình. Do đó, các nhà TLH nhân văn xem hành vi bất
thường như sự thất bại không đạt được sự thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình [65].
Trong cuốn DSM - IV “Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tâm thần”,
Bảng phân loại bệnh của Hoa Kỳ do bác sĩ Nguyễn Văn Xiêm dịch đã đưa ra định
nghĩa về HVLC như sau: HVLC là kiểu hành vi lặp đi lặp lại và kéo dài trong đó
các quyền cơ bản của người khác hay các CMXH hoặc luật lệ lớn phù hợp với lứa
tuổi bị vi phạm [34].
Cùng quan điểm với định nghĩa trên, theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
HVLC là toàn bộ hành vi có tính chất chống đối xã hội, xâm phạm hay khiêu khích
được lặp lại và kéo dài. Một hành vi như vậy trong hình thái cực độ sẽ đưa đối
tượng đến chỗ vi phạm các quy tắc xã hội chủ yếu tương ứng với lứa tuổi của trẻ,
điều này vượt quá hành vi ranh mãnh thông thường và các thái độ nổi loạn của
thanh thiếu niên [68].
Tác giả Debray-Rizen thuộc trường Đại học Y khoa Paris đã định nghĩa:
HVLC là những hành vi không phù hợp với chuẩn mực, mà biểu hiện của hành vi
đó nếu thường xuyên xảy ra sẽ thực sự ảnh hưởng xấu đến sự thích nghi của mỗi cá
nhân [27].
Qua việc phân tích các định nghĩa khác nhau về HVLC ở trên, chúng tôi nhận
thấy rằng yếu tố cơ bản nhất, khái quát nhất để đánh giá một hành vi có lệch chuẩn
hay không là xem xét mức độ phù hợp của nó với những tiêu chuẩn hay những
chuẩn mực nhất định, từ đó quyết định ảnh hưởng của nó đến sự thích nghi của mỗi
cá nhân. Như vậy, định nghĩa về HVLC của giáo sư Debray-Rizen được xem xét là
tương đối chính xác và hợp lý. Hơn nữa, đây cũng là định nghĩa được nhiều nhà
TLH lâm sàng, các bác sĩ chuyên ngành tâm thần thừa nhận và sử dụng rộng rãi
trong các nghiên cứu, chẩn đoán và điều chỉnh hành vi. Vì vậy, chúng tôi sử dụng
khái niệm HVLC này của Debray - Rizen làm khái niệm công cụ trong công trình
nghiên cứu của mình.
21
b. Các cấp độ của HVLC
Xuất phát từ định nghĩa được sử dụng ở trên, nghiên cứu sâu về sự ảnh hưởng
của HVLC đến sự thích nghi của cá nhân, có thể thấy HVLC có hai mức độ về mặt
tâm lý:
Một là, ở mức độ thấp và chỉ có ở một số hành vi. Cá nhân có những hành vi
không bình thường nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động chung của cộng đồng,
đến đời sống cá nhân và gia đình họ. Mọi người xung quanh vẫn có thể chấp nhận,
tuy nhiên không thoải mái.
Hai là, ở mức độ cao và ở hầu hết các hành vi của cá nhân, từ hành vi trong
sinh hoạt đến hành vi lao động sản xuất, học tập, vui chơi. Những hành vi lệch
chuẩn này ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống cá nhân vì vậy cần được chẩn đoán và
chữa trị [17].
c. Nguyên nhân dẫn đến HVLC
Thuật ngữ có liên quan đến HVLC là rối loạn hành vi. Rối loạn hành vi là một
khái niệm có liên quan nhiều đến lĩnh vực y học, bệnh lý hay TLH lâm sàng. Sự rối
loạn hành vi được hiểu là hội chứng hành vi hay trải nghiệm đi kèm theo những khó
chịu, đau đớn, những trở ngại hay hạn chế ở một hay nhiều phạm vi chức năng (như
tri giác, tư duy, tình cảm, ghi nhớ, vận động…) gắn liền với nguy cơ phải đối mặt
với nhiều hậu quả khác nhau. Sự rối loạn này là rối loạn tâm lý được thể hiện ra
trong hành vi. Nó thường diễn ra khi cá nhân không thể đáp ứng được các chuẩn
mực về mặt cơ thể, ví dụ như đái dầm, mất ngủ, mút tay, rối loạn chú ý… [10].
Trong thời cổ đại, người Ai Cập, Hy Lạp và Do Thái cho rằng những gì trái
với bình thường đều là hành động của các vị thần. Vì vậy hành vi rối loạn hay bất
thường được hiểu là dấu hiệu có sự can thiệp huyền bí hay của quỷ thần [6].
Hippocrater là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về rối loạn hành vi bắt nguồn từ
cơ thể. Theo ông, rối loạn hành vi là dấu hiệu của bệnh chứ không phải của quỷ ám.
Ông cho rằng nguyên nhân rối loạn có thể thuộc về bệnh lý của não, được tạo ra do
sự xáo trộn bốn chất dịch chính trong cơ thể đó là mật đen, mật vàng, máu và đờm
dãi. Được hiểu như, nếu con người cáu kỉnh, hiếu động thì được cho là do có lượng
mật vàng quá mức; nếu con người u sầu, trầm cảm thì được xem là do có lượng mật
22
đen quá mức; những người tỏ vẻ vui buồn thất thường, thái quá được nghĩ là có
lượng máu quá mức và những ai tính tình ù lì, lạnh lùng được cho rằng có lượng
đờm dãi quá nhiều. Như vậy, ông giải thích rối nhiều hành vi là do sự mất cân bằng
sinh lý. Mô hình lý thuyết chất dịch này cho rằng có thể điều chỉnh hành vi rối loạn
bất thường bằng cách sử dụng những cách điều trị trên cơ thể [72].
Philippe Pinel (1745 - 1862) - bác sĩ tâm thần Pháp đã giải thích rằng sự căng
thẳng môi trường là nguyên nhân gây ra những rối loạn hành vi. Vì vậy, phải đưa họ
vào cơ sở (môi trường) làm giảm sự căng thẳng này, giúp họ phục hồi sự cân bằng
của mình. Trị liệu của Pinel được đánh giá rất cao ở thời điểm đó [64].
Đầu thế kỷ XX, mô hình y tế cho rằng nguồn gốc HVLC là do một số loại
hoạt động sai chức năng trong cơ thể hoặc não bộ. Những loại hoạt động sai chức
năng khác nhau sẽ tạo ra những “rối loạn” khác nhau. Có thể nói đây là hệ thống
phân loại bệnh tâm thần đầu tiên được mọi người chấp nhận. Đại biểu của mô hình
này là Kraepelin. Ông đã chia rối loạn tâm thần thành bệnh thần kinh, rối loạn nhân
cách, tâm thần hữu cơ, tâm thần chức năng và giảm thiểu trí nhớ [60].
Theo quan điểm I.Pavlov, các kích thích có hại của môi trường lặp đi lặp lại sẽ
dẫn đến HVLC [12]. Với trường phái Phân tâm học, HVLC là do sự dồn nén cảm
xúc của những biểu tượng quan hệ vào vô thức thời ấu thơ. Sự dồn nén này thường
liên quan đến lĩnh vực phát triển tính dục, đó là bản năng tính dục (hay năng lượng
libido) với những trẻ em không vượt qua được mặc cảm Ơđip dẫn đến sự hụt hẫng
năng lượng libido là nguyên nhân dẫn đến sự sợ hãi của trẻ. Nếu kéo dài sự sợ hãi
này sẽ làm mất đi sự cân bằng tinh thần, cái “siêu tôi” không thể kìm nén nổi cái
“bản năng” từ đó bộc lộ những mặc cảm bị dồn nén. Khi các mặc cảm bị phóng
chiếu ra bên ngoài sẽ gây nên các HVLC và các rối loạn này sẽ bùng nổ theo cơ chế
tái lặp lại. Vì khi cá nhân trở nên yếu kém trong hoàn cảnh mới thì sự giải toả biểu
hiện ra một dạng HVLC lại xảy ra, nhằm tìm lại các tác động điều chỉnh mà lần
trước đây đã từng phát huy hiệu lực [17].
Theo quan điểm của thuyết hành vi, HVLC là do điều kiện nguyên nhân hiện
tại đang duy trì hành vi không thích nghi (xuất phát từ môi trường bên ngoài) hơn là
những nguyên nhân, điều kiện quá khứ. Các nhà trị liệu hành vi đã sử dụng mô hình
23
ABC (Anticedents - Kích thích , Behaviors - Hành vi, Consequences - Hậu quả) để
mô tả quá trình hình thành hành vi. Theo đó, một số kích thích là điều kiện cần và
đủ để hình thành HVLC. HVLC gây ra những hậu quả có thể ảnh hưởng hoặc
không ảnh hưởng đến cá nhân hoặc xã hội, cá nhân hoặc xã hội có thể nhận biết
được hay không nhận biết được. HVLC gây ra những hậu quả không ảnh hưởng đến
cá nhân hoặc xã hội hay cá nhân và xã hội không nhận biết được chính là điều kiện
cần thiết để khi các kích thích được lập lại và duy trì thì sẽ xuất hiện hành vi tương
tự. Vì vậy, mục tiêu của trị liệu hành vi là can thiệp tích cực để làm giảm hoặc loại
bỏ những sai lệch bằng cách thay đổi những điều kiện duy trì hành vi sai lệch.
Có thể khẳng định rằng, ở mỗi cách tiếp cận, các nguyên nhân dẫn đến HVLC
được nhìn nhận ở các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, có thể thấy, nếu như rối loạn
hành vi liên quan đến khía cạnh bệnh lý thì HVLC thông thường liên quan đến các
quan hệ xã hội. HVLC là hành vi không đúng những chuẩn mực mà xã hội đã quy
định. Tuy có ranh giới không hoàn toàn trùng nhau nhưng rối loạn hành vi và
HVLC lại có những nguyên nhân rất tương đồng. Đây là những nguyên nhân xuất
phát từ bên trong cơ thể (sự rối loạn chức năng của các bộ phận trong cơ thể, tâm
lý) và cả những nguyên nhân xuất phát từ môi trường bên ngoài (kích thích có hại).
d. Các tiêu chí chuẩn đoán HVLC
Dựa vào chuẩn mực xét về mặt thống kê [17], trên cơ sở nghiên cứu một cách
chuyên sâu, Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM - IV) đã cho ra đời bảng phân loại
bệnh với các tiêu chí dùng để chẩn đoán HVLC được quy định bao gồm:
1. Thường bắt nạt, đe doạ hay uy hiếp người khác.
2. Thường khởi xướng đánh nhau.
3. Đã dùng vũ khí có thể gây hại nghiêm trọng về thể chất cho người khác.
4. Có hành vi độc ác về thể chất với người khác.
5. Có hành vi độc ác với súc vật.
6. Có hành vi lừa gạt trong khi đối mặt với người khác.
7. Cưỡng bức hoặc có hành vi lạm dụng tình dục với người khác.
8. Có hành vi cố ý gây cháy với ý định gây thiệt hại nghiêm trọng.
9. Có hành vi cố ý phá hoại tài sản của người khác.
24
10. Có hành vi xông vào nhà, ô tô của người khác.
11. Thường nói dối để được đồ vật hay ân huệ, hay để tránh các nghĩa vụ.
12. Có hành vi ăn cắp các đồ vật có giá trị lớn mà không dám đối mặt với nạn
nhân.
13. Thường sống qua đêm ở ngoài gia đình mặc dù bố mẹ cấm đoán, bắt đầu
trước 13 tuổi.
14. Bỏ nhà đi qua đêm ít nhất hai lần trong khi đang sống với bố mẹ hay nhà
bố mẹ nuôi (hoặc một lần không trở về trong thời gian dài).
15. Thường bỏ học, trốn tiết bắt đầu trước 13 tuổi.
Cũng theo bảng phân loại của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ thì ở trẻ có ít nhất ba
trong số mười lăm biểu hiện trên đây hoặc có ít nhất một biểu hiện hành vi xuất
hiện trong sáu tháng thì có thể chẩn đoán trẻ có biểu hiện HVLC. Nếu trẻ trên 18
tuổi thì không xếp vào diện chẩn đoán này [19].
Đây là tiêu chí chuẩn đoán về HVLC được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất
hiện nay. Từ việc nghiên cứu các tiêu chí này và các quan niệm về HVLC, có thể
rút ra một số bốn đặc trưng về HVLC như sau:
1. HVLC không thể quy vào một hành động mà là một hệ thống hành động,
hoạt động, đường lối ứng xử, lối sống của con người (ít nhất 3 biểu hiện) hoặc là
một hành động không phù hợp với tiêu chuẩn quy định được lặp đi lặp lại nhiều lần
(xuất hiện trong 6 tháng)
2. Đó là những hành vi không thích hợp với tình huống diễn ra hành động.
3. Hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hoá của nhóm, tập thể,
xã hội, môi trường cá thể sống và không phù hợp với lứa tuổi.
4. Những hành vi đó ảnh hưởng đến học tập, lao động, sinh hoạt của cá nhân
cũng như ảnh hưởng đến người khác và xã hội.
Trên thực tế cuộc sống, có lẽ không một cá nhân nào không dưới một vài lần
có những hành động vi phạm chuẩn mực. Tuy nhiên, đó chỉ là những hành động
mang tính chất tình huống, phụ thuộc vào hoàn cảnh mà có thể không do những
động cơ, mục đích có trước. Những hành vi này gây ra những ảnh hưởng tiêu cực
nhất định đến người khác và xã hội nói chung nhưng có thể không làm thay đổi hệ
25
thống giá trị, đặc điểm nhân cách, đạo đức của chủ thể. Đó không phải là những
HVLC.
Tóm lại, khi nghiên cứu, chẩn đoán trẻ có biểu hiện HVLC cần phải nghiên
cứu, xem xét trên cả ba mặt: quan hệ xã hội, thể chất và tâm lý. Vì cả ba mặt này
cũng có thể là căn nguyên gây ra HVLC ở trẻ em.
e. Phân loại HVLC
Sự ra đời của hệ thống phân loại bệnh học của Hội tâm thần học Hoa kỳ DSM
- IV có giá trị và đóng góp to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu và trị liệu tâm lý. Thực
tế, đã có rất nhiều nhà tâm lý, bác sỹ ở nhiều nước trên thế giới đã sử dụng hệ thống
phân loại này để nhận dạng, phân loại và chẩn đoán bệnh. HVLC ở trẻ em thuộc
mục 312 - 8, trong đó có đưa ra mười lăm tiêu chí chẩn đoán, được chia làm bốn
nhóm khác nhau. HVLC gồm các dạng sau: HVLCXH (hung tính, giận dữ, nói dối,
trộm cắp, trốn nhà, tự sát, sự co mình lại, không nói, bỏ học, lười biếng), HVLC bản
năng (bao gồm về giấc ngủ, ăn uống và tình dục), HVLC tự động (đái dầm, ỉa đùn,
nhai lại), HVLC vận động (các thói quen xấu, các động tác lặp đi lặp lại và thất
thường về tâm vận động) [22]. Như vậy, có nhiều dạng HVLC, ND được xem xét
như dạng thứ ba của HVLCXH.
1.2.3. Các vấn đề về HVLCXH
1.2.3.1. Chuẩn mực xã hội
a. Định nghĩa CMXH
CMXH về hành vi hay gọi tắt là CMXH cũng là một định nghĩa hẹp hơn so
với chuẩn mực hành vi nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ các đặc trưng của chuẩn mực
hành vi. Chuẩn mực hành vi được xem xét ở hai khía cạnh cơ bản đó là chuẩn mực
cá nhân (chuẩn mực của cá nhân về hành vi) và CMXH (chuẩn mực của XH về
hành vi). Có thể thấy, chuẩn mực cá nhân xét cho cùng đó cũng là CMXH, vì thông
qua quá trình hoạt động, mỗi cá nhân tiếp thu, chọn lọc và biến những CMXH thành
chuẩn mực riêng của bản thân. Do đó chuẩn mực hành vi thường được nhắc đến với
tư cách CMXH. Và định nghĩa về chuẩn mực hành vi như đã trình bày ở trên cũng
là định nghĩa mang tính tổng quát nhất về CMXH.
26
CMXH là hệ thống các phép tắc, quy phạm phải theo trong ứng xử của
con người trong XH, hay nói cách khác CMXH là hệ thống những quy định
cụ thể, những quy tắc của đạo đức chờ đợi của XH đối với hành vi mà mọi
người phải tuân theo. Do đó, để xác định một hành vi có phải là lệch chuẩn hay
không, trước hết phải xác định đựơc các quy tắc văn hoá của XH (nhóm) mà chủ thể
hành vi đang sống. Trên cơ sở đó xác định mức độ phù hợp giữa hành vi của cá
nhân (nhóm) với quy tắc đó. Một hành vi cá nhân (nhóm) bao giờ cũng là một hành
vi XH. Nó có thể là bình thường hay lệch chuẩn tuỳ thuộc vào giá trị của nó đối với
XH. [10].
CMXH là yếu tố không thể thiếu trong quản lý xã hội, là một trong những
phương tiện định hướng hành vi, kiểm tra hành vi xã hội của mỗi cá nhân hay một
nhóm người. Chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người nhưng nó chỉ điều chỉnh
những hành vi có liên quan tới mối quan hệ giữa các cá nhân, các tập thể… có liên
quan tới XH nói chung [17].
Ngoài ra, CMXH còn qui định những giá trị chính, những mục tiêu cơ bản,
những điều kiện, những giới hạn cho phép, các hình thức, cung cách ứng xử mẫu
mực trong những lĩnh vực quan trọng nhất của cuộc sống con người [6].
Tóm lại, CMXH là những mẫu mực, những mô hình về hành vi thực tế của
con người khi gặp một tình huống cụ thể nào đó do xã hội quy định. Có thể hiểu
CMXH với tư cách là những quy tắc, yêu cầu của XH với cá nhân. Các quy tắc, yêu
cầu này có thể được ghi thành văn bản, đạo luật, điều lệ… hoặc là những yêu cầu có
tính chất ước lệ trong một cộng đồng nào đó mà mọi người đều thừa nhận.
b. Các thuộc tính của CMXH
Bất kỳ một CMXH nào cũng được xem xét ở ba thuộc tính là tính lợi ích, tính
bắt buộc và tính khả thi [17]:
Tính lợi ích (tính tất yếu xã hội): thuộc tính này có tính chất tương đối bởi vì
chuẩn mực có ích đối với lợi ích của giai cấp này (nhóm XH này) có thể là trung
tính hoặc thậm chí có hại đối với giai cấp khác hoặc nhóm xã hội khác. Tính ích lợi
của chuẩn mực có tính chất thay đổi theo không gian và thời gian.
27
Tính bắt buộc: khi một chuẩn mực vì nguyên nhân này hay nguyên nhân khác
không có tính lợi ích nữa, mặc dù chuẩn mực đó vẫn còn là bắt buộc do những quy
định đạo đức hoặc pháp luật hiện hành và thậm chí nó được con người thực hiện
thật sự thì kết quả của nó sẽ mang tính chất tiêu cực hoặc là trung hòa. Tuy nhiên,
nếu chuẩn mực mất tính bắt buộc, thì một quy tắc xử sự thậm chí có ích về mặt kết
quả cũng sẽ không được tất cả mọi người thực hiện.
Tính khả thi: chuẩn mực sẽ mất hẳn tác dụng của nó nếu thiếu một đặc tính
thứ ba, đó là tính khả thi của chuẩn mực trên thực tế. Điều quan trọng của các chuẩn
mực là không phải thể hiện ở nhận thức, tình cảm mà quan trọng là thể hiện qua
hành vi, cách ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội. Nếu tính lợi ích và
tính bắt buộc là điều kiện cần thì tính khả thi chính là điều kiện đủ của một CMXH.
Một HVLCXH sẽ dễ dàng xuất hiện nếu một CMXH thiếu đi ít nhất một trong
ba thuộc tính nêu trên hoặc có đầy đủ ba thuộc tính nhưng chỉ ở mức độ hiện diện
thấp. Trong ba thuộc tính kể trên của chuẩn mực thì điểm gốc là tính lợi ích XH do
những quá trình xã hội khách quan trong đời sống xã hội quy định.
c. Các loại CMXH
Có thể phân chia CMXH thành các loại sau [17]:
Chuẩn mực pháp luật là một loại chuẩn mực tổng hợp mang tính phổ cập. Đây
là một hệ thống các quy tắc chỉ đạo hành vi cá nhân có tính khách quan được ghi
thành văn bản. Luật pháp mô tả rõ ràng, khúc chiết và có những hướng dẫn cụ thể
về cách ứng xử hoặc giới hạn của hành vi, là khuôn phép không có tính mềm mỏng
trong việc thi hành. Sự sai lệch chuẩn mực này sẽ bị các cơ quan chức năng trừng
phạt theo quy định của pháp luật.
Chuẩn mực đạo đức là chuẩn mực qui định về các giá trị đạo đức, những
nguyên tắc ràng buộc đạo đức. Chuẩn mực này được mọi người thừa nhận như một
truyền thống nhưng phần lớn không được ghi nhận thành văn bản. Loại chuẩn mực
này linh động hơn luật pháp. Sự ảnh hưởng của chuẩn mực đạo đức thường thông
qua cơ chế tâm lý bên trong con người, được vận dụng, xử lý rất linh hoạt và mềm
dẻo. Hành vi sai lệch chuẩn mực này sẽ bị XH, cộng đồng lên án nhưng không bị cơ
quan pháp luật trừng phạt như vi phạm pháp luật.
28
Phong tục, truyền thống là chuẩn mực nói lên tính chất văn hoá của cộng
đồng, là những nguyên tắc, qui ước sinh hoạt trong cộng đồng đã hình thành trong
lịch sử. Phong tục, tập quán có thể được lưu giữ trong gia đình và có thể được ghi
nhận công khai hoặc có tính chất truyền thống.
Chuẩn mực thẩm mỹ là chuẩn mực qui ước về các giá trị trong hoạt động sáng
tạo nghệ thuật, trong việc thưởng thức cái đẹp, trong các hành vi đạo đức, trong việc
cảm thụ thẩm mỹ nói chung. Trừ những chuẩn mực có liên quan đến đạo đức, luật
pháp, những chuẩn mực thẩm mỹ ít nhiều mang tính chủ quan.
Chuẩn mực chính trị là loại chuẩn mực điều tiết hành vi của chủ thể trong đời
sống chính trị, điều tiết các quan hệ giữa các giai cấp, đảng phái, giữa các cộng
đồng XH lớn. Các chuẩn mực chính trị thường được thể hiện trong các loại chuẩn
mực khác như chuẩn mực luật pháp, chuẩn mực về tổ chức, một phần trong chuẩn
mực đạo đức…
Các chuẩn mực nêu trên có sự khác nhau về nội dung và phương pháp điều tiết
hành vi con người. Chúng được tổng hợp lại tạo nên một sự điều tiết hữu hiệu hành
vi của con người làm cho đời sống xã hội và cộng đồng ổn định trật tự, thúc đẩy XH
ngày càng tiến bộ. Có thể có những căn cứ để xem xét chuẩn mực hành vi như sau:
- Chuẩn mực được xem xét trên cơ sở một mẫu số chung nhất định của những
người trong một cộng đồng, những hành vi tương tự như nhau trong một hoàn cảnh
xác định nào đó được xem là chuẩn.
- Chuẩn mực được hướng dẫn, được qui định, được thống nhất trên cơ sở
những giá trị của XH, của cộng đồng. Loại chuẩn mực này đuợc hình thành trên nền
tảng những yêu cầu chung của cộng đồng đối với từng thành viên. Vì vậy những
hành vi nào trái với những nguyên tắc đã có, trái với những yêu cầu chung thì được
xem là HVLC.
- Chuẩn mực được xác định trên cơ sở những qui ước của cá nhân, những quy
ước này không mâu thuẫn với giá trị XH nói chung nhưng qui định mục tiêu riêng
của cá nhân. Những hành vi phù hợp với mục đích của cá nhân được xem là hành vi
hợp chuẩn và ngược lại những hành vi không phù hợp với mục đích cá nhân được
xem là hành vi lệch chuẩn.
29
Nhìn chung CMXH đặt ra để duy trì trật tự xã hội nên nó trực tiếp phục vụ lợi
ích của giai cấp nhất định. Tuỳ theo những đặc điểm văn hoá, kinh tế, xã hội, chính
trị, tôn giáo… của một XH mà những chuẩn mực tương ứng cho XH đó được đặt ra.
Chuẩn mực xã hội mang tính lịch sử XH nên nó có thể thay đổi theo những giai
đoạn lịch sử nhất định phù hợp với những biến đổi XH.
1.2.3.2. Khái niệm HVLCXH
a. Định nghĩa HVLCXH
HVLCXH được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu như Tội phạm
học, TLH, Giáo dục học, Đạo đức học… Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng đã có
sự thống nhất tương đối khi đưa ra định nghĩa về HVLCXH. Tương tự định nghĩa
HVLC, HVLCXH là một định nghĩa hẹp hơn nhưng nó vẫn bảo đảm đầy đủ các đặc
trưng của HVLC. Thậm chí, HVLC thường được gọi với ngụ ý là HVLCXH.
Theo tác giả Lưu Song Hà, HVLCXH chính là những HVLC không đựơc xã
hội chấp nhận. Như vậy, có thể hiểu HVLCXH là bất kỳ hành vi nào không phù hợp
với sự mong đợi của một nhóm hoặc của xã hội. Nói cách khác, HVLCXH là hành
vi chệch khỏi các quy tắc, chuẩn mực của nhóm hay của xã hội [10].
Xuất phát từ nhiều cách định nghĩa khác nhau về HVLCXH, theo tác giả
HVLCXH là những hành vi không hợp với chuẩn nhất định, những chuẩn
mực này do xã hội thừa nhận và ấn định. Đây cũng là định nghĩa được người
nghiên cứu lựa chọn làm cơ sở xuyên suốt đề tài.
b. Các cấp độ của HVLCXH
Có hai cấp độ xem xét HVLC: cá nhân và cộng đồng. Sự sai lệch hành vi XH
của cá nhân được các nhà TLH quan tâm nhiều hơn. Sự sai lệch hành vi của nhiều
người trong cộng đồng thuộc lĩnh vực xã hội học nghiên cứu. Tuy nhiên, dù ở cấp
độ nào thì các loại HVLCXH đều gây nên những hậu quả xấu cho cá nhân và xã
hội. Hậu quả đó có thể là thiệt hại về kinh tế, mất trật tự xã hội, tổn thương tâm lý,
tinh thần và thể xác, suy thoái về nhân cách. Vì thế cần giáo dục, uốn nắn, phòng
ngừa các HVLCXH [17].
c. Các yếu tố ảnh hưởng đến HVLCXH
Sự sai lệch chuẩn mực hành vi XH có thể chịu sự tác động của nhiều yếu tố và
có nhiều mức độ biểu hiện khác nhau [17]:
30
Thứ nhất, có thể do cá nhân nhận thức sai hoặc nhận thức không đầy đủ về
CMXH dẫn đến sai lệch hành vi. Người vi phạm chuẩn mực có thể không biết hành
vi của mình đã sai lệch chuẩn mực.
Thứ hai, có thể cá nhân không chấp nhận chuẩn mực, quan niệm riêng của cá
nhân khác với chuẩn mực chung của XH. Cá nhân hành động theo quan điểm riêng
của mình và cho rằng đã có hành vi đúng, không thừa nhận hành vi của mình là sai
lệch chuẩn mực.
Thứ ba: cá nhân biết rõ hành vi của mình là sai lệch CMXH nhưng vẫn cố tình
thực hiện. Trong trường hợp này là do cá nhân không tự kiềm chế được bản thân
hoặc do cơ chế kiểm soát, trừng phạt của chuẩn mực không nghiệm hoặc không đủ
hiệu lực.
Thứ tư: do chuẩn mực xã hội đã lỗi thời, không còn phù hợp với điều kiện lịch
sử xã hội. Cá nhân hành động theo thói quen ứng xử của nhiều người trong xã hội.
Họ biết là hành vi vi phạm CMXH nhưng họ vẫn làm vì không có cách nào khác
đối với họ.
d. Phân loại HVLCXH [17]
Căn cứ vào mức độ nhận thức và sự chấp nhận chuẩn mực đạo đức, có thể
phân biệt sự sai lệch hành vi thành hai loại: Sai lệch hành vi chủ động và sai lệch
hành vi thụ động.
HVLCXH loại chủ động là những sai lệch hành vi do các nhân cố ý làm khác
đi so với người khác và so với chuẩn mực đạo đức xã hội. Trong những trường hợp
này cá nhân vẫn nhận thức được các chuẩn mực đạo đức xã hội nhưng vẫn cứ làm
theo ý của mình, mặc dù biết là không phù hợp. Đơn cử như hành vi trộm cắp, buôn
lậu, buôn bán ma tuý trái phép,… HVLCXH loại chủ động bao gồm các hành vi
như hung tính, giận dữ, nói dối, trộm cắp, trốn nhà , tự sát.
HVLCXH loại thụ động là những sai lệch hành vi do cá nhân không nhận thức
được đầy đủ hoặc nhận thức sai lệch chuẩn mực đạo đức xã hội nên có những hành
vi không bình thường so với chuẩn mực chung của cộng đồng. Cũng có những
người do không biết, hoặc hiểu sai chuẩn mực nên có những hành vi sai lệch. Nếu
được giải thích đầy đủ, cặn kẽ thì họ có thể hiểu đúng chuẩn mực và có hành vi phù
31
hợp. Những biểu hiện của HVLC loại thụ động như sự từ chối đi học, sự chán học,
sự lười biếng, sự co mình lại, sự ức chế…
Với sự phân chia nêu trên, có thể thấy nói dối là một hành vi thuộc nhóm
HVLCXH dạng chủ động. Tuy nhiên, ở nhiều tình huống, nói dối cũng có thể được
xem xét như một HVLCXH dạng bị động. Từ sự muôn màu của HVND, nếu chỉ xét
riêng về chuẩn mực đạo đức để đánh giá thì đây cũng là một vấn đề hết sức khó
khăn. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào chuẩn mực đạo đức để xét đoán HVND thì chưa
đủ vì nói dối còn chịu sự chi phối của phong tục, truyền thống.
1.2.4. Các vấn đề về HVND
1.2.4.1. CMXH về HVND
Ở các nước phương tây, theo quan niệm chung của xã hội dựa trên lý thuyết
luân lý đạo đức khởi nguồn từ Platon đến Blaise Pascal và được phát triển bở
Immanuel Kant thì ND là biểu hiện của sự yếu đuối, bất lực, là hiện tượng tội lỗi.
Đạo đức truyền thống phương Tây thường xem việc cố tình nói điều không đúng sự
thật là không thể chấp nhận được. Tác giả Phạm Minh Lăng nhận xét: “Với những
nhà luân lý học (phương Tây) thì sự dối trá phải được lên án một cách tuyệt đối và
triệt để” [25]. Ở các nước phương Đông, do nếp sống nông nghiệp định cư, xã hội
được tổ chức theo cộng đồng nhỏ hẹp, làng xã được quản lý bằng cơ chế dư luận xã
hội, con người ít có cơ hội chăm sóc và phát triển những lợi ích cá nhân, riêng tư
của bản thân mình. Quan niệm đạo đức phổ biến ở đây là “những cá nhân biểu hiện
thái độ, hành động vì lợi ích cá nhân của riêng mình, gây tổn hại nghiêm trọng đến
lợi ích của người khác, của cộng đồng, bị xã hội chê trách, phê phán thì cá nhân đó
bị coi là thiếu đạo đức” [25]. Do vậy, quan niệm về ND, nhất là ND vì các động cơ
không gây ảnh hưởng đến người khác và xã hội có phần thoáng hơn. Tuy nhiên,
không phải vì vậy mà các hành vi ND vì những động cơ như vụ lợi, hại người
khác… được bỏ qua. Trong xã hội truyền thống ở các nước phương Đông, các
trường hợp ND để vụ lợi đều bị xã hội lên án mạnh mẽ.
Đối với nói dối, cách phòng ngừa bằng các biện pháp chế tài được sử dụng
rộng rãi và nghiêm khắc. Trong các thủ tục hành chính, thông dụng nhất là các hình
thức bản khai cá nhân. Các mẫu bản khai hiện hành ở Việt Nam luôn yêu cầu người
32
khai phải cam đoan là mình khai đúng sự thật. Đoạn cuối trong các mẫu lý lịch ở
Việt Nam thường có câu: “Tôi xin cam đoan những lời khai trên là đúng sự thật.
Nếu có điều gì sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. Bên cạnh đó, đối với những
trường hợp ND gây tổn thất nặng nề về vật chất hoặc tinh thần, nhà nước bao giờ
cũng có những biện pháp chế tài nhất định để đảm bảo ổn định và duy trì trật tự xã
hội. Bộ Luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 1999 có 15 điều
liên quan tới các dạng thuộc tội danh ND, chẳng hạn như: điều 88 quy định về tội
tuyên truyền xuyên tạc, phao tin bịa đặt chống phá nhà nước; điều 122 quy định về
tội vu khống, bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến người khác;
điều 127 quy định về tội giả mạo giấy tờ; điều 167 quy định về tội báo cáo sai trong
quản lý kinh tế; điều 168 quy định về hành vi quảng cáo gian dối; điều 170 quy định
về tội lừa dối khách hàng…[30]
Các bộ luật chuyên ngành cũng có các điều khoản tương tự để ngăn ngừa hành
vi ND có thể xảy ra trong ngành mình. Chẳng hạn, “Pháp lệnh về quảng cáo” do Uỷ
ban Thường vụ quốc hội thông qua ngày 16/11/2001 nêu rõ trong mục 4 điều 5 về
một trong những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo là quảng cáo
gian dối [31]. Hay Luật Kế toán số 03/2003/QH11 quy định rõ các hành vi bị
nghiêm cầm gồm: giả mạo, khai man, thỏa thận hay ép buộc người khác giả mạo,
khai man, tẩy xóa tài liệu kế toán; cố ý, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác cung
cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật…[32]. Trong nghề báo, Đại hội
lần thứ VI Hội nhà báo Việt Nam ngày 9/3/1995 đã thông qua “Quy ước về những
tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của báo chí Việt Nam” gồm 10 điều, trong đó ở
điều 2 có quy định: mọi thông tin đưa ra công luận phải phản ánh đúng bản chất sự
thật khách quan trong bối cảnh xã hội của nó, tuyệt đối không được xuyên tạc hoặc
cường điệu sự việc, sự kiện” [7].
Xét riêng lĩnh vực tôn giáo, trong mười điều răn của Kinh thánh có điều thứ
chín: “Người không được làm chứng dối hại người”. Thánh Phaolo nhắn nhủ: “ Anh
em hãy đạon tuyệt hẳn với dối trá, mỗi người hãy nói thật với người đồng loại” hay
chúa Giesu dạy: “Trong lời nói: có thì nói có, không thì nói không, kỳ dư là do ác
thần mà ra cả” [21]. Ngũ giới của Đạo Phật dành cho cư sĩ và tín đồ tu tại gia bao
33
gồm điều thứ tư là “không ND” cùng với “không sát sinh, không tà dâm, không
trộm cắp, không uống rượu” [24]. Riêng đối với người xuất gia thì Kinh Thập Thiện
Nghiệp Đạo dạy tín đồ xa lìa mười nghiệp, trong đó có đến bốn nghiệp liên quan
đến khẩu gồm: ND, hai lưỡi, ác khẩu, nói khéo [24].
Trong lĩnh vực giao tiếp, nền văn hóa nào cũng có những chuẩn mực giao tiếp
nhất định. Hệ thống chuẩn mực giao tiếp bao gồm các chuẩn mực về nội dung giao
tiếp, hình thức giao tiếp, phương tiện giao tiếp, cách thức giao tiếp…Bộ phận chính
của hệ thống chuẩn mực về cách thức giao tiếp là nghi thức giao tiếp. Hệ thống nghi
thức giao tiếp của các dân tộc chính là những khuôn mẫu cho phép con người nói
không đúng sự thật mà không bị bắt bẻ [25]. Như vậy, để cho hoạt động giao tiếp
đạt hiểu quả tốt hơn, trong nhiều trường hợp, người ta đã tránh nói sự thật mà tìm
cách nói cái người nhận tin muốn nghe, hơn là cái người phát tin muốn nói. Chính
vì vậy, những người thẳng tính thật thà đôi khi vẫn bị xã hội chê trách.
Tóm lại, HVND được xã hội Việt Nam nhìn nhận ở cả hai mặt: phù hợp và
không phù hợp. Theo những phân tích trên, xét về chuẩn mực đạo đức, tôn giáo,
pháp luật thì HVND nói chung được xem là không phù hợp. Tuy nhiên, rõ ràng với
những HVND xuất pháp từ động cơ như tự vệ, điều tra tội phạm… thì lại có những
chuẩn mực rất khác. Ở chuẩn mực giao tiếp thì HVND có thể tạm thời chấp nhận
được và đôi khi lại là cần thiết. Như vậy, với sự phức tạp của HVND, CMXH về
hành vi này chưa thật sự rõ ràng và thống nhất. Động cơ dẫn đến HVND, cường độ
(thời gian) nói dối, sự đi kèm những hành vi khác là từ khóa quan trọng để nghiên
cứu CMXH về HVND một cách rõ ràng.
1.2.4.2. Khái niệm HVND
a. Định nghĩa HVND
Thật khó để có một định nghĩa tổng quát và đầy đủ về nói dối vì đây là một
lĩnh vực rất sâu và rộng. Nói dối không đơn giản như những lĩnh vực khác, nó liên
quan đến nhiều tác nhân và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau, đặc biệt là
CMXH. Trên thế giới có nhiều định nghĩa về nói dối, chứa đựng các cách đánh giá
khác nhau.
34
Định nghĩa nói dối đơn giản nhất thuộc về từ điển tiếng Bồ Đào Nha. Từ điển
giải thích “mentir” (nói dối) là “thiếu vắng sự thật”. Với định nghĩa này, “sự thật”
được hiểu là “nói hoặc khẳng định điều trái với điều xảy ra hoặc suy nghĩ” [51]. Từ
điển tiếng Nga giải thích nói dối là “đánh lạc hướng, nói không thật, vu khống”
[69]. Tương tự, nói dối trong tiếng Anh có nghĩa là “nói hoặc viết điều gì đó mà
mình biết là không đúng” [63]. Khái niệm nói dối được mở rộng hơn trong từ điển
tiếng Pháp. Từ điển này cho rằng nói dối là “không nói sự thật, nói điều trái sự thật,
che giấu sự thật, cố ý đưa ai đó vào vòng tội lỗi” [79]. Mang nhiều điểm tương đồng
với các cách định nghĩa trên, Từ điển mở Wikitionary định nghĩa nói dối là “chủ
tâm nói cái gì đó không đúng” [75].
Theo tác giả Nguyễn Thơ Sinh, nói dối được định nghĩa ở hai khía cạnh như
sau:
Nói dối là một phát biểu với chủ ý trưng dẫn một điều sai sự thật, nhằm biến
điều sai sự thật đó trở thành một sự thật. Với định nghĩa này có thể ví dụ trường hợp
của một người bán hàng giả vẫn thường gạt gẫm những người mua hàng nhẹ dạ với
phát biểu: “Hàng của chúng tôi là hàng thật 100%” [33].
Nói dối còn là những lời nhận xét mang tính lịch sự xã giao để người đối diện
được vui lòng hoặc không bị mất mặt. Ngoài ra, nói dối còn được thể hiện trong quá
trình cung cấp thông tin không đầy đủ một cách có chọn lọc. Chẳng hạn, để đánh
bóng cho con gái, bà mẹ ruột nói với mẹ chồng tương lai của cô gái về những đức
tính tốt đẹp của con mình nhưng lại không nói ra những nhược điểm, hạn chế của
cô. Trong trường hợp này, nói dối thể hiện qua hành vi nói chuyện không phản ánh
chính xác, đầy đủ các sự kiện, dẫn đến kết quả thực tế bị xuyên tạc, biến dạng [33].
Hai tác giả Lee và Ross (1997) trong nghiên cứu của mình đã giải thích rằng
trẻ em xác định một lời nói dối dựa trên sự thật thực tế, có nghĩa là khi một người
nói ra thông tin mà họ tin là đúng, nhưng mà trong thực tế không phải là vậy thì
được đứa trẻ sẽ xem xét như một lời nói dối. Từ tuổi vị thành niên, nói dối trở thành
một khái niệm phức tạp hơn. Ở tuổi VTN, những lời nói dối được xác định dựa trên
ba tiêu chí, cụ thể là: lời nói là sai với thực tế, người nói biết rằng lời nói của mình
là sai thực tế và người nói có ý định để đánh lừa người nghe [61].
35
Tất cả các định nghĩa về nói dối nêu trên đều tập trung vào việc xem xét nói
dối như một hành vi nói “không đúng sự thật”. Trọng tâm của HVND không nằm ở
thuật ngữ “nói” mà nằm ở “dối”. Tóm lại, nói dối là hành vi xuất phát từ một
động cơ nhất định, được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động ngôn từ
nhưng lại thống nhất với biểu hiện tâm lý bên trong của nhân cách, mang nội
dung không đúng thực tế, được người nói cố ý đưa ra. Với định nghĩa này,
HVND có các đặc điểm cơ bản như sau:
1. Một HVND bất kì đều xuất phát từ một động cơ nhất định
2. HVND được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động ngôn từ
3. Ngôn từ được biểu hiện ra bên ngoài của HVND mang nội dung không đúng
thực tế
4. Mục đích của lời nói không đúng thực tế là cố ý đánh lừa người nghe
b. Đặc điểm của HVND
Có thể quan sát sơ đồ sau đây để hiểu rõ hơn về định nghĩa cũng như đặc điểm
của HVND:
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ phân tích cấu trúc HVND
HVND xuất phát từ một động cơ nhất định
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2003) cho rằng: “Động cơ là cái thúc đẩy con
36
người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và quy
định xu hướng của hướng tích cực đó. Động cơ là động lực kích thích trực tiếp, là
nguyên nhân trực tiếp của hành vi” [41]. Tương tự, theo Vũ Dũng (Từ điển Tâm lý
học, 2008), động cơ có thể được hiểu như sau:
- Cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của
chủthể, là toàn bộ điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích
cựccủa chủ thể và xác định tính xu hướng của nó.
- Đối tượng (vật chất hay tinh thần) thúc đẩy và xác định sự lựa chọn xuhướng
của hành động mà vì nó hành động được thực hiện.
- Nguyên nhân, cơ sở của sự lựa chọn các hành động và hành vi [9].
Dựa vào quan niệm về động cơ của các tác giả, với cách tiếp cận hành vi của
đề tài, tức xem xét hành vi như mặt bên ngoài của hoạt động thì mỗi hành vi đều
đều sự chi phối của một động cơ nhất định. Mỗi hành vi (hoạt động) được thực hiện
bao giờ cũng nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người. Nhu cầu là cái mà
con người được thỏa mãn. Nhu cầu cũng có thể là cái đòi hỏi, cái khác khao được
chiếm lĩnh. Khi nhu cầu của con người bắt gặp đối tượng thỏa mãn thì sẽ trở thành
động cơ. Động cơ là yếu tố thôi thúc con người hành động. Động cơ được xem là
mục đích chung, mục đích cuối cùng của hành vi (hoạt động). Động cơ có thể tồn
tại ở dạng tinh thần của chủ thể nhưng cũng có thể vật chất hóa ra bên ngoài. Tuy
vậy, dù ở hình thức nào thì động cơ vẫn là yếu tố thúc đẩy việc chiếm lĩnh đối
tượng tương ứng với nhu cầu của chủ thể khi gặp gỡ được đối tượng có liên quan
đến sự thõa mãn [35].
Tùy vào từng tình huống cụ thể, HVND được xuất pháp từ nhiều động cơ khác
nhau. Trong tình huống này động cơ nói dối là thế này nhưng trong tình huống
khác, động cơ nói dối là thế khác. Như đã phân tích ở trên, có thể thể thấy, CMXH
về nói dối ở Việt Nam không hề rõ ràng và cần có một nghiên cứu khoa học mang
tính chuyên sâu để hiểu rõ về nó. Hơn nữa bản thân nội hàm thuật ngữ nói dối cũng
đã rất khó để phân tích. Do đó, cùng với cường độ (thời gian), sự đi kèm các hành
vi khác, động cơ dẫn đến HVND được xem như là một trong những yếu tố cốt lõi
trong việc xác định CMXH về ND.
37
DePaulo và Jordan (1982) lập luận rằng những lời nói dối đầu tiên của trẻ em
có động cơ là để thoát khỏi sự trừng phạt. Sau thời thơ ấu và đầu tuổi vị thành niên,
HVND trở nên phức tạp hơn với động cơ đa dạng hơn, chẳng hạn như nói dối để có
được phần thưởng hay nói dối để che đậy cho bạn bè [49].
Ngoài ra, nói dối còn được tác giả Nguyễn Thơ Sinh đề cập đến ở các động cơ
khác như: nói dối để tự vệ, nói dối để phóng đại bản thân, nói dối để tránh trách
nhiệm, nói dối để được lợi ích [33].
Trong đề tài này, người nghiên cứu xem xét HVND với tư cách là một HVLC
theo hai hướng:
Thứ nhất, dựa vào bảng phân loại bệnh với các tiêu chí dùng để chẩn đoán với
các tiêu chí dùng để chẩn đoán HVLC của Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM - IV)
như đã trình bày ở mục 1.2.2.2. Theo đó, HVND được gọi là lệch chuẩn khi “nói dối
để được đồ vật hay ân huệ, hoặc để tránh các nghĩa vụ”, được lặp lại liên tục trong
vòng 6 tháng [19]. Như vậy, động cơ nói dối được xác định ở đây là được đồ vật hay
ân huệ hoặc để tránh nghĩa vụ. Theo logic này thì HVND xuất phát từ động cơ khác,
xuất phát từ động cơ được đồ vật hay ân huệ hoặc để tránh nghĩa vụ nhưng không lập
lại trong 6 tháng đều không xem xét là HVLC. Tuy nhiên, HVND ở dạng này vẫn tồn
tại và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống. Việc nghiên cứu hành vi này trong TLH cũng
là một điều rất cần thiết. Có thể mô tả hướng xem xét này bằng sơ đồ 1.2 sau đây:
38
Sơ đồ 1.2. Cách tiếp cận HVND theo DSM - IV
Thứ hai, dựa vào CMXH về nói dối được nghiên cứu ngay trong đề tài. Có nghĩa
là đề tài sẽ tiến hành khảo sát quan niệm của một bộ phận dân số nhỏ về những động
cơ nói dối nào là phù hợp và không phù hợp với chuẩn mực cũng như những nhìn
nhận chung của XH về nói dối để xác định CMXH. Có thể thấy, CMXH cần là quan
niệm chung của toàn xã hội, dân số khảo sát phải lớn để bảo đảm tính giá trị. Tuy
nhiên, trong giới hạn cho phép, đề tài chỉ thực hiện được trên một mẫu nhỏ dân số.
Mục đích chính là tìm hiểu quan điểm của chính khách thể nghiên cứu về CMXH đối
với HVND. Sơ đồ 1.3 sau đây mô tả hướng xem xét theo hướng này:
Nói dối hợp chuẩn
HÀNH VI
NÓI DỐI
CHUẨN MỰC XÃ HỘI VỀ HÀNH VI NÓI DỐI
(xét 2 yếu tố: động cơ, cường độ)
Nói dối lệch chuẩn
Sơ đồ 1.3. Cách tiếp cận HVND dựa trên việc nghiên cứu CMXH
Tuy hai hướng phân tích này có nội hàm khác nhau nhưng chúng không loại
trừ nhau mà góp phần bổ sung cho nhau để có một nhìn nhận khách quan nhất về
hành vi ND. HVND lệch chuẩn xét theo CMXH được xem là hướng nghiên cứu của
đề tài nghiên cứu.
HVND được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động ngôn từ
Một hành vi bất kì được biểu hiện ra bên ngoài dưới một loạt các hành động
(bên ngoài). Các hành động này tồn tại ở hai dạng là hành động vật chất và hành
động ngôn từ. Nói dối là hành vi được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động ngôn
từ. Theo tác giả Hoàng Phê thì ngôn từ là “ngôn ngữ được nói hay viết thành văn”
[28]. Như vậy ND có hai dạng biểu hiện là nói dối bằng lời nói và nói dối bằng chữ
viết.
39
Nói dối bằng lời nói và chữ viết thường gắn liền với các yếu tố bao gồm cao
độ, trường độ, cường độ, nhịp điệu, âm vực, âm sắc... ; phi ngôn ngữ của cơ thể như
điệu bộ, cử chỉ, nét mặt... và các phương tiện văn tự như đặc điểm chữ viết, các ký
hiệu đi kèm [38].
Nói dối được biểu hiện ra bên ngoài bằng hình thức ngôn từ này giúp phân
biệt nói dối (hành động ngôn từ) với làm dối (hành động vật chất) tạo ra các sản
phẩm vật thể là đồ giả như hàng giả, hoa giả, tóc giả, tiếng động giả… Hình thức
ngôn từ này cũng giúp phân biệt nói dối với những dạng thức tương tự nhưng có sự
kết hợp cả lời nói và hành động vật chất như lừa dối, lừa bịp, gian dối, lừa đảo…
Các hành động này bao gồm cả hai dạng tồn tại của hành động là hành động ngôn
từ và hành động vật chất. Có thể quan sát bảng sau để hiểu rõ hơn về nói dối:
Bảng 1.1. Phân biệt nói dối, lừa dối và làm dối
Nói dối Lừa dối Làm dối
Chỉ có hành động Hành động ngôn từ Hành động Hành động vật chất
ngôn từ (hành động (hành động bằng lời vật chất
bằng lời nói hoặc chữ nói hoặc chữ viết)
viết)
Phạm vi quan tâm của đề tài
Ngôn từ được biểu hiện ra bên ngoài của HVND mang nội dung không
đúng thực tế
Trong “Từ điển trái nghĩa - đồng nghĩa Tiếng Việt”, tác giả Dương Kỳ Đức và
Vũ Quang Hào đã xếp nói dối với loạt từ sau: “ba hoa, bày đặt, bịa đặt, bóp méo,
dối, dựng đứng, đặt để, đặt điều, đơm đặt, nói dóc, nói dối, nói điêu, nói khoác, nói
láo, nói phách, nói phép, nói trạng, phịa (khẩu)” [8]. Với chuỗi đồng nghĩa này, hai
tác giả đã nhấn mạnh vào tính chất sai thực tế của nói dối.
Nội dung không đúng thực tế là đặc điểm quan trọng giúp phân biệt giữa
“thật” và “dối” (không thật, sai sự thật). Theo tác giả Nguyễn Thị Tuyết Ngân,
“dối” được định nghĩa là không đúng toàn bộ hoặc không đúng một phần (sai một
hoặc một số chi tiết). [25]. Mức độ sai có thể là khác ít, khác nhiều, hoặc khác hoàn
40
toàn. Vì đây là cách nhìn nhận, đánh giá mang tính chủ quan nên sự đánh giá có thể
rất khác nhau. Với người này, trong hoàn cảnh cụ thể này thì việc nói sai một chi
tiết trong toàn bộ sự thật bị coi là khác nhiều, khác nghiêm trọng nhưng với người
khác, ít quan tâm hoặc không liên quan gì đến quyền lợi thì lại có thể coi việc nói
sai hoàn toàn là không quan trọng, không đáng để ý.
Ngoài ra, việc đánh giá là sai nhiều hay ít còn phụ thuộc vào đối tượng, sự
việc và cách đưa đối tượng, sự việc ra để đánh giá. Nếu sự việc gồm nhiều bộ phận,
chi tiết thì việc sai khác đi một hoặc một vài chi tiết thường được coi là khác ít. Nếu
chỉ xét riêng bộ phận, chi tiết ấy thôi thì việc nói khác đi lại bị coi là lớn, là nói khác
hoàn toàn. Do vậy, đã là không đúng thực tế thì dù là không đúng một phần hay
toàn bộ sự thật thì đều thuộc về nói dối.
Trường hợp nói khác hoàn toàn có hai trường hợp đối ngược nhau. Trường
hợp thứ nhất là từ một thực tế không có gì, người nói đã bịa đặt, bịa chuyện, đặt
điều ra thành một câu chuyện, đã nói không thành có. Vì vậy, nội dung lời nói trong
trường hợp này sẽ không có mối liên hệ nào với sự thật, thực tế. Trường hợp ngược
lại là thực tế có xảy ra, nhưng người nói cố tình không muốn kể sự thật mà phủ
nhận nó, nói có thành không, không thấy, không nghe, không biết…mặc dù có biết
hoặc có chứng kiến. Đây đều là những biểu hiện cụ thể của nói dối.
Ngôn từ được biểu hiện ra bên ngoài của HVND mang nội dung không đúng
thực tế là điều kiện quan trọng để phân biệt với giữ bí mật hay giấu thông tin. Khi
giữ bí mật hay giấu thông tin, người nói không nói sai sự thật vì đơn giản sự thật
không hề được nói ra. Do vậy, giữ bí mật, giấu thông tin không phải là nói dối. Đây
cũng là yếu tố quan trọng để phân biệt nói dối với nói lảng, nói tránh. Khi nói lảng,
nói tránh, vì lý do tế nhị nào đó, người nói đã không nói ra sự thật và lảng tránh
sang chủ đề khác khiến người nghe bị phân tâm hoặc vì tế nhị mà bỏ qua chủ đề cũ.
Như vậy ở đây người nói cố tình che giấu sự thật nhưng không nói sai sự thật vì sự
thật đã không hề được nói ra.
Mục đích của lời nói không đúng thực tế là cố ý đánh lừa người nghe.
Đây được xem là đặc điểm thứ tư của nói dối, cho phép phân biệt nó với hình
thức nói sai sự thật do ngộ nhận, do người nói nghĩ sao nói vậy nên không đúng với
41
thực tế khách quan. Nói sai sự thật mang tính ngộ nhận thường xảy ra trong tranh
luận khoa học (tranh luận về những sự kiện đã và đang xảy ra trong quá khứ và hiện
tại), trong những sự việc mang tính chất dự đoán, dự báo sai hoặc trong trường hợp
hứa, dọa sai sự thật.
Trong tranh luận khoa học, tuy người nói cùng bàn về một chủ đề và cùng
hướng đến sự thật nhưng vẫn có thể nói ra những điều khác nhau hoặc thậm chí trái
ngược nhau. Điều này không có nghĩa là họ nói dối mà là họ chỉ nói những điều họ
tin là đúng (nhưng thực tế có thể sai). Đó là trường hợp nói sai sự thật nhưng không
cố ý đánh lừa người nghe mà là do ngộ nhận khi sự việc được nói đến thuộc phạm
trù quá khứ hoặc hiện tại.
Dự đoán, dự báo sai là trường hợp nói sai sự thật mang tính ngộ nhận khi sự
việc được nói đến thuộc phạm trù tương lai. Dự đoán, dự báo rất hay bị nhầm lẫn
với HVND. Chúng giống với HVND ở chỗ thông tin được nói ra không đúng với
thực tế nhưng khác với nói dối ở chỗ là người nói không cố tình nói sai sự thật để
đánh lừa người nghe.
Cùng thuộc loại nói sai sự thật mang tính ngộ nhận khi sự việc được nói đến
thuộc phạm trù tương lai là hành vi hứa và dọa sai sự thật. Hứa và dọa giống nhau
về bản chất, chỉ khác nhau ở chỗ: hứa mang đến lợi ích và dọa đưa đến sự tổn hại.
Một lời hứa hoặc một câu dọa sai sự thật có thể kiểm chứng khi điều kiện thời gian
đã thỏa mãn mà sự việc vẫn không xảy ra. Điều này thường xảy ra khi thực tế
không đáp ứng các điều kiện cần và đủ cho việc thực hiện lời hứa hay câu dọa của
người nói do người nói không đủ thông tin, kinh nghiệm… để có thể thông báo về
những gì có thể hoặc không thể xảy ra sau lời nói của mình. Đây không phải là cố ý.
Tuy nhiên, cũng cần phân biệt hứa, dọa mà không thực hiện (không phải nói dối)
với hứa lèo và dọa già (một loại nói dối). Hứa lèo và dọa già là những lời nói mà về
hình thức là hứa, dọa, song thực chất lại là nói dối vì người nói biết chắc là điều
được nói đến sẽ không được thực hiện nhưng vẫn hứa, dọa nhằm đạt được mục đích
mình đặt ra hoặc tạm thời giãm căng thẳng…
Cố ý đánh lừa người nghe cũng là căn cứ quan trọng để phân biệt HVND với
hành vi nói khoác, nói cường điệu, nói vòng nhằm mục đích giải trí hoặc truyền đi
42
một thông điệp hàm ý. Đây cũng là hành vi lúc đầu được đưa ra một cách có chủ
định, song nó lại đi kèm với các giải thích (như dùng các tự giải thích: thật ra là, nói
thật là, nói đùa đấy,…) hoặc gián tiếp dưới dạng sử dụng các hình thức văn học
nghệ thuật [39]. Hành vi này khác nói dối ở chỗ là cái cùng mà nó hướng đến là
hiểu biết sự thật, dùng các yếu tố giải thích để giúp người nghe hiểu rằng chẳng qua
đây chỉ là những thông tin giả, những chi tiết mâu thuẫn nhau. Người nói muốn
người nghe đọc hoặc nghe cho vui, để đọc hoặc nghe nhằm có sự suy ngẫm để thấy
sự thật, hay đọc hoặc nghe để suy luận ra hàm ý ẩn sau những lời nói đó. Đây cũng
không phải là HVND.
Tóm lại, bốn đặc điểm của nói dối được xem như bốn tiêu chí để phân biệt với
các hành vi khác gần với HVND. Cụ thể, “HVND được biểu hiện ra bên ngoài bằng
hành động ngôn từ” là tiêu chí để phân biệt với hành vi lừa dối và làm dối. “Ngôn
từ được biểu hiện ra bên ngoài của HVND mang nội dung không đúng thực tế” là
tiêu chí để phân biệt với nói lảng, nói tránh, giữ bí mật, giấu thông tin. “Mục đích
của lời nói không đúng thực tế là cố ý đánh lừa người nghe” là tiêu chí để phân biệt
với tranh luận khoa học, dự báo, dự đoán, hứa, dọa, nói khoác, nói cường điệu, nói
vòng.
c. Phân loại HVND [25]
Căn cứ vào các đặc điểm của nói dối nói riêng và vấn đề giao tiếp nói chung,
nói dối được phân loại dựa vào 3 yếu tố: nói dối xét theo phương thức giao tiếp, nói
dối xét theo đối tượng tham gia giao tiếp và nói dối xét theo tình huống giao tiếp.
Nói dối xét theo phương thức giao tiếp
Xét theo phương thức thì giao tiếp có hai loại là giao tiếp trực tiếp và giao tiếp
gián tiếp. Do đó, theo cách này, nói dối sẽ có hai loại tương ứng là nói dối trực tiếp
và nói dối gián tiếp.
Nói dối trực tiếp là hình thức nói dối mà trong quá trình giao tiếp người phát
tin và người nhận tin nói chuyện đối mặt với nhau. Người phát tin dùng lời nói sai
sự thật thể hiện bằng nội dung ngôn từ phát ra dưới hình thức âm thanh và có thể đo
được cao độ, cường độ, trường độ, âm sắc… Trong giao tiếp trực tiếp, “người tham
gia giao tiếp có xu hướng giữ thể diện và tránh đe dọa thể hiện của người tham gia
43
giao tiếp” [37]. Những lời nói thẳng, nói thật, tuy là đáng tin cậy nhưng lại “có nguy
cơ đe dọa thể diện cao nhất” [37]. Ngược lại với nói thật là nói dối. Do đó, nói dối
cùng với nói vòng, nói tránh là một trong những cách thức giao tiếp có tác dụng
tránh đe dọa thể diện người khác và giữ thể diện cho mình. Nói dối trực tiếp thường
đi kèm với cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt… phụ trợ. Chúng đem lại hiệu quả gần như tức
thời. Do các tác dụng của yếu tố phi ngôn ngữ, quan sát là phương pháp thường
được sử dụng để phát hiện và ứng phó với dạng nói dối này.
Nói dối gián tiếp là hình thức nói dối mà quá trình giao tiếp được người phát
tin và người nhận tin thực hiện thông qua phương tiện trung gian như văn tự hoặc
các phương tiện kỹ thuật như điện thoại, video, hệ thống thông tin Internet… Nói
dối qua hình thức văn tự là trường hợp nói dối gián tiếp đơn giản và lâu đời nhất.
Những trường hợp thư từ giả, giấy tờ giả, hóa đơn giả, báo cáo sai thực tế… thuộc
loại này. Trong đời sống hiện đại, nói dối gián tiếp qua các phương tiện kỹ thuật
như điện thoại di động, máy tính… ngày càng trở nên phổ biến.
Nói dối xét theo đối tượng tham gia giao tiếp
Nói dối xét theo đối tượng tham gia giao tiếp bao gồm hai loại là nói dối cá
nhân (nói dối khi chủ thể là một cá nhân) và nói dối tập thể (nói dối khi chủ thể là
một tập thể)
Nói dối khi chủ thể là một cá nhân (nói dối cá nhân) là trường hợp thường xảy
ra nhất vì chủ thể giao tiếp hoàn toàn chủ động và vì vậy có thể giữ bí mật sự thật ở
mức độ cao. Nếu khách thể cũng là một cá nhân, tức là khả năng bao quát vấn đề
không rộng rãi và nếu chủ thể giao tiếp lại nắm vững được tầm hiểu biết của khách
thể thông qua các quan hệ xã hội của chủ thể và khách thể thì khả năng nói dối
trong trường hợp này dễ xảy ra và cũng ít bị phát hiện. Trường hợp khách thể là tập
thể, khả năng bao quát vấn đề tương đối rộng, chủ thể giao tiếp khó có thể nắm
được toàn bộ khả năng bao quát vần đề của tất cả các thành viên thì nói dối sẽ khó
xảy ra vì dễ bị phát hiện. Loại nói dối kiểu này thường có nội dung là những chuyện
cá nhân, riêng tư của chủ thể. Chẳng hạn như nói dối khi trả lời phỏng vấn về việc
riêng tư của các ca sĩ, diễn viên… để xây dựng hình ảnh trước công chúng.
44
Nói dối khi chủ thể là một tập thể (nói dối tập thể) là trường hợp khá đặc biệt
vì nhận thức của các cá nhân trong tập thể không giống nhau. Để có được lời nói
dối tập thể thì bao giờ cũng phải có sự bàn bạc, thỏa thuận trước và đề cử cá nhân
đại diện phát ngôn. Khả năng giữ bí mật của nói dối tập thể phụ thuộc vào mức độ
đồng nhất về lợi ích của các thành viên, mức độ uy tín và uy quyền của người lãnh
đạo, mức độ nặng nề của hình phạt được đề ra cho những người không giữ bí mật.
Tuy nhiên, do tính chất đa dạng và không nhất quán của tập thể, những trường hợp
nói dối tập thể thường sớm hay muộn cũng đều bị phát hiện.
Nói dối xét theo tình huống giao tiếp
Nói dối xét theo tình huống giao tiếp gồm nói dối chủ động và nói dối bị động.
Nói dối chủ động là hình thức giao tiếp mà trong đó người phát tin chủ động
nói sai sự thật nhằm đánh lạc hướng người nhận tin. Việc nói dối chủ động mà
không nhằm bất kỳ động cơ vụ lợi nào là trường hợp khá hiếm. Nói dối với động cơ
mưu lợi cá nhân được xem là khá phổ biến. Chủ thể lời nói trong trường hợp này
thường cố tìm một lý do mang tính bắt buộc nào đó để chuyển nói dối chủ động
thành nói dối bị động nhằm giãm bớt cảm giác tội lỗi.
Nói dối bị động là hình thức giao tiếp mà trong đó do bị hoàn cảnh giao tiếp
thúc ép, người phát tin bị buộc phải cố ý nói sai sự thật nhằm đánh lạc hướng người
nhận tin. Ranh giới giữa nói dối chủ động và nói dối bị động thật sự là một ranh
giới mờ. Trong tình huống cụ thể, con người luôn có thể tìm ra lý do thích hợp để lý
giải theo ý mình về tính chất chủ động hay bị động của lời nói dối. Tình huống giao
tiếp trong nói dối bị động cũng rất đa dạng. Chủ thể giao tiếp có thể bị thúc ép bởi
thói quen nhún nhường, bởi vị thế của khách thể giao tiếp… Việc bị uy hiếp bởi vũ
lực hay quan niệm xã hội, áp lực cộng đồng… cũng có thể trở thành những yếu tố
khiến cho con người rơi vào tình huống bắt buộc phải nói sai sự thật. Những lời nói
dối bị động do hoàn cảnh quy định nói chung và đặc biệt là ở phương Đông nói
riêng, thường được cộng đồng thông cảm và đồng tình, thậm chí trong một số
trường hợp còn được khen ngợi và đánh giá cao. Về cơ bản, nói dối bị động chính là
hành vi giao tiếp ứng phó với môi trường xã hội.
45
d. Cơ chế tâm lý của HVND
Khi nói dối, nhất là nói dối dạng chủ động, con người sẽ trải qua khá nhiều
cảm xúc tâm lý khác nhau. Theo các nhà TLH Nga thì có 4 loại cảm xúc có thể xảy
ra khi nói dối: cảm giác tội lỗi, nỗi sợ hãi, phấn kích do căng thẳng (cảm giác toàn
năng) và xấu hổ [34].
Trường phái TLH hoạt động do Leonchev và Rubinstein khởi xướng chia quá
trình giao tiếp thành bốn giai đoạn cơ bản: định hướng, mở đầu, điều chỉnh, kết
thúc. Dựa theo cách phân chia này, M.L Krasnikov (1999) đã chia HVND thành
bốn giai đoạn tương tự: chuẩn bị, đưa ra quyết định nói dối, tiến hành nói dối và kết
thúc HVND. Bốn giai đoạn này cũng tương ứng với bốn giai đoạn cảm xúc khi nói
dối đã được trình bày ở trên [68].
Chuẩn bị: Đây là giai đoạn định hướng chuẩn bị trước khi ND. Chủ thể ND
nghiên cứu vấn đề thực tế đã xảy ra để xác định mức độ quan trọng của sự thật đối
với người nhận tin nhằm tìm ra những điểm cần che giấu, tìm hiểu xem liệu người
nghe có thể tiếp cận thông tin hay chưa. Giai đoạn này tương ứng với cảm giác tội
lỗi.
Đưa ra quyết định nói dối: Chủ thể lời nói cân nhắc lợi hại của việc nói sai
lệch thông tin và các phản ứng có thể xảy ra ở người nghe, những lợi ích hoặc tổn
thất có thể đạt được và đưa ra quyết định có nói dối hay không. Đây là giai đoạn
quan trọng nhất của quá trình nói dối. Trong giai đoạn này, người nói dối sẽ cảm
thấy nỗi sợ hãi rõ rệt nhất.
Tiến hành nói dối: Chủ thể lời nói tiến hành miêu tả sự thật đã bị làm sai lệch
theo chủ ý của mình. Do người nói dối đã chuẩn bị trước nội dung một cách kỹ
lưỡng nên trong quá trình giao tiếp diễn ra khá trơn tru. Song cảm giác căng thẳng
hoặc thích thú (phấn kích do căng thẳng) khi nói dối có thể thể hiện trên nét mặt,
giọng nói…
Kết thúc HVND: Khi người nói truyền xong một thông tin sai thực tế có thể
nhận được những phản ứng tiêu cực hay tích cực từ phía người nghe. Trong cả hai
trường hợp, người nói dối luôn cảm thấy cách đối xử của mình chưa hẳn là tốt với
46
người nhận tin. Thường thì cảm giác xấu hổ hoặc ăn năn sẽ xuất hiện, nhẹ nhàng
nhất là cảm giác trăn trở, nối tiếc.
1.2.5. Một số đặc điểm tâm lý cơ bản ở HS THCS
HS THCS có lứa tuổi từ 11 đến 15 tuổi, là giai đoạn nối tiếp bước sang tuổi
thanh niên. Vì vậy nó mang một số tính chất của cả hai giai đoạn đó, và đặc trưng
của giai đoạn THCS là sự phát triển có nhiều biến động, diễn biến tâm lý phức tạp.
Sự phát triển của tự ý thức là một trong những phẩm chất nổi bật ở tuổi thiếu
niên. Nếu như ở mẫu giáo và nhi đồng các em chưa có nguyện vọng tự đánh giá về
mình, chưa biết tự đặt ra những câu hỏi “Mình là người có giá trị như thế nào?”,
“Mình là người như thế nào? ” thì đến tuổi thiếu niên các em bắt đầu xuất hiện sự
quan tâm đến bản thân, đến phẩm chất nhân cách của mình. Ở các em xuất hiện nhu
cầu tự đánh giá, nhu cầu so sánh mình với người khác.Thiếu niên dường như khám
phá ra “cái tôi” mới của mình, vì vậy người ta gọi tuổi thiếu niên là thời kỳ hình
thành “cái tôi” lần thứ hai. Tự ý thức được hình thành ở lứa tuổi thiếu niên là do các
em đã tích cực lĩnh hội từ thế giới người lớn những giá trị, những chuẩn mực,
những phương thức hành vi khác nhau.
Sự phát triển tự ý thức đã để lại dấu ấn trên toàn bộ đời sống tâm lý của thiếu
niên. Nội dung sự phát triển tự ý thức cũng rất phong phú và đa dạng. Các em
không chỉ chú ý phân tích những đặc điểm bên ngoài của cơ thể còn quan tâm đến
những nét tính cách của bản thân, những rung cảm mới, tự phê phán những xúc cảm
của mình và cố gắng bắt chước người lớn ở mọi phương diện. Tuy nhiên, do nhu
cầu nhận thức bản thân của các em cao nhưng kỹ năng phân tích đánh giá những
phẩm chất còn thấp, nên thường nảy sinh mâu thuẫn giữa mức độ kỳ vọng của thiếu
niên với địa vị thực tế trong xã hội và trong nhóm bạn bè, mâu thuẫn giữa thái độ
của các em với thái độ của người lớn. Đa số các em đánh giá mình cao hơn so với
năng lực thực tế, còn người lớn (đặc biệt là giáo viên) thì có xu thế đánh giá năng
lực của các em thấp hơn. Vì thế các em cho rằng thái độ đánh giá của người lớn là
không công bằng, dẫn đến việc giận dỗi, đa nghi, mất lòng tin vào người lớn. Một
số thiếu niên xuất hiện rung cảm tiêu cực như tự ti, chán nản, thù ghét giáo viên,
người lớn.
47
Mặc dù có những khiếm khuyết trong sự phát triển tự ý thức, nhưng có thể
khẳng định rằng phần lớn ở thiếu niên với sự xuất hiện nhu cầu tự khẳng định mình,
tự ý thức về bản thân đã giúp thiếu niên tự tin hơn khi bước vào giai đoạn mới của
cuộc đời, đồng thời nó giúp các em phát triển khả năng tự đánh giá, tự giáo dục.
Ở thiếu niên xuất hiện những cảm giác mới về sự trưởng thành của bản thân.
Cảm giác thấy những điều mới mẻ đặt ra trước mắt các em vì vậy các em thấy mình
lớn hẳn lên. Cảm giác mình được là người lớn biểu hiện ở chỗ các em có lòng tự
trọng và tự tôn rất cao, các em thích độc lập và muốn khẳng định mình với người
xung quanh nhất là với người lớn.
Thiếu niên có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốn người
lớn quan hệ với nó một cách bình đẳng, không muốn người lớn coi nó là trẻ con như
trước đây nữa. Các em muốn cải tổ quan hệ với người lớn theo chiều hướng là hạn
chế quyền hạn của người lớn nhưng lại mở rộng quyền hạn của mình. Các em muốn
người lớn tôn trọng nhân cách của nó muốn được tin tưởng và mở rộng tính độc lập.
Nói cách khác, trẻ muốn được quyền bình đẳng nhất định với người lớn và cố gắng
làm cho người lớn chấp nhận điều đó. Những hình thức chống cự hoặc không phục
tùng khác nhau ở thiếu niên được xem là những phương tiện nhằm thay đổi quan hệ
cũ bằng quan hệ mới. Cụ thể, thiếu niên bắt đầu chống đối các yêu cầu trước đây
mà nó thực hiện một cách tự nguyện, thiếu niên dễ chạm tự ái và chống cự khi
người lớn hạn chế tính độc lập của nó. Thiếu niên không thích khi người lớn quá
chăm sóc, điều khiển, kiểm tra hoạt động hoặc bắt mình nghe lời hay trừng phạt nó
như “trẻ con”. Nhưng ngược lại, thiếu niên lại đòi người lớn phải quan tâm đến
hứng thú, thái độ của mình.
Mặc dù mong muốn và nguyện vọng độc lập, muốn trở thành người lớn ở
thiếu niên phát triển nhưng lại mâu thuẫn với quan điểm chưa thay đổi của người
lớn, người lớn vẫn duy trì quan hệ với thiếu niên như trẻ con. Một mặt quan hệ này
mâu thuẫn với những nhiệm vụ giáo dục và ngăn cản sự trưởng thành của thiếu niên
và những quyền hạn mới. Chính mâu thuẫn này là nguồn gốc của những xung đột
và khó khăn trong quan hệ với người lớn, đặc biệt là với cha, mẹ. Nếu người lớn
không thay đổi thái độ với thiếu niên thì tự các em sẽ khởi xướng kiểu quan hệ mới.
48
Thiếu niên chống đối lại người lớn bằng những kiểu bướng bỉnh và có thể nổi loạn.
Xung đột trong quan hệ giữa thiếu niên với người lớn là do người lớn không biết
hoặc không muốn tìm cho thiếu niên một vị trí mới ở bên cạnh mình. Vì vậy có thể
nói tính độc lập và quyền bình đẳng trong quan hệ với người lớn là vấn đề phức tạp
và gay gắt nhất trong sự giao tiếp của thiếu niên với người lớn. Nếu người lớn
không hiểu được nhu cầu, nguyện vọng đó, không thay đổi kiểu quan hệ mới thì
trong quan hệ với thiếu niên thường rất căng thẳng. Các em thường hay biểu hiện sự
chống đối yêu cầu của người lớn.
Một đặc điểm trong sự phát triển tâm lý của thiếu niên không thể không kể
đến đó là sự phát triển đời sống tình cảm của thiếu niên. Đời sống tình cảm của
thiếu niên phong phú và phức tạp hơn so với nhi đồng. Theo đánh giá chung thì tuổi
thiếu niên tràn đầy cảm xúc, dễ xúc động khó kiềm chế xúc cảm bột phát, dễ bị tổn
thương, không ổn định, thoắt vui rồi lại thoắt buồn, khó kiểm soát xung tính, dễ bị
kích động. Do đó, tâm trạng thay đổi nhanh chóng, dễ dàng, đang vui nhưng có thể
buồn ngay tình cảm nhiều khi có sự mâu thuẫn. Tuy vậy, tình cảm của thiếu niên đã
bắt đầu biết phục tùng lí trí. Tình cảm đạo đức được phát triển mạnh. Dần dần với
kinh nghiệm sống tăng lên thì tính bột phát trong tình cảm có ý thức giảm xuống,
mất đi nhường chỗ cho tình cảm có ý thức phát triển.
Ở lứa tuổi thiếu niên, nhu cầu giao tiếp với bạn bè phát triển rất mạnh. Sự giao
tiếp với bạn bè vượt ra ngoài phạm vi độc lập, phạm vi nhà trường, nó bao quát
những hứng thú mới, những việc làm, những quan hệ mới và nổi lên thành một lĩnh
vực độc lập rất quan trọng trong đời sống thiếu niên. Đối với thiếu niên giao tiếp
với bạn bè có giá trị rất lớn, đôi khi giá trị nâng cao đến mức đứa trẻ đẩy lùi việc
học tập xuống hàng thứ hai, hạ thấp cả mối quan hệ giao tiếp với người thân trong
gia đình. Các em quan niệm giao tiếp với bạn bè cùng tuổi là quan hệ riêng của cá
nhân vì thế nó được phép hành động một cách độc lập theo ý mình. Các em cho
rằng mình có quyền làm điều đó và bảo vệ quyền lợi đó của mình. Chính vì vậy, sự
can thiệp thiếu tế nhị của người lớn khiến cho thiếu niên cảm thấy bị xúc phạm và
các em thường có biểu hiện chống đối lại. Nếu như quan hệ giữa thiếu niên và
49
người lớn không thuận lợi thì vị trí của mối quan hệ bạn bè càng lớn và ảnh hưởng
của bạn bè đến thiếu niên càng mạnh.
Dấu ấn đặc biệt trong đời sống tình cảm của thiếu niên là ở các em đã xuất
hiện tình bạn khác giới. Ở thiếu niên xuất hiện những rung cảm mới lạ về nhau, xuất
hiện sự quan tâm lẫn nhau, do đó các em rất quan tâm đến vẻ bề ngoài của mình. Ở
các em xuất hiện tính ngượng ngùng, nhút nhát, e thẹn. Ở một số em điều đó lại
được che dấu bằng thái độ thờ ơ, tỏ ra khinh khỉnh bạn khác giới.
Hứng thú với bạn khác giới có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển nhân cách
của thiếu niên. Tình cảm lãng mạn này có thể động viên, gợi lên nguyện vọng muốn
trở thành người tốt hơn, kích thích các em làm điều tốt, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau.
Tuy nhiên, quan hệ khác giới ở thiếu niên có thể dẫn đến những lệch lạc, quan niệm
về tình bạn khác giới không đúng, dẫn đến chỗ các em hay chơi bời, đua đòi, bê trễ
trong học tập. Vì vậy, nhà giáo dục, người lớn phải hướng dẫn uốn nắn cho tình bạn
khác giới của thiếu niên diễn ra lành mạnh trong sáng. Đồng thời cũng phải hết sức
khéo léo tế nhị, không tỏ thái độ cấm đoán nếu không sẽ rất dễ dẫn đến hiện tượng
tiêu cực ở các em mà hậu quả của nó nhiều khi người lớn không thể lường trước
được.
Tóm lại, đời sống tâm lý của thiếu niên rất phức tạp, phong phú nhưng chứa
đầy mâu thuẫn. Trong bước quá độ vươn lên làm người lớn, trong quá trình hình
thành và khẳng định “cái tôi” có ý nghĩa xã hội, các em gặp không ít khó khăn, trở
ngại phải vượt qua. Vì vậy, thiếu niên rất cần sự hỗ trợ đắc lực, có hiệu quả của
người lớn và xã hội. Cụ thể là phải tạo ra những môi trường thuận lợi, phải khích lệ
động viên, phải tin tưởng vào khả năng để giúp các em dần vượt qua những khó
khăn, giải quyết mâu thuẫn để trưởng thành và chuyển sang giai đoạn phát triển
mới.
1.2.6. Các biểu hiện của HVND ở HS THCS
1.2.6.1. Biểu hiện bên trong
a. Biểu hiện HVND trong tự ý thức của HS THCS
Tự ý thức là một trình độ phát triển cao của ý thức, nó giúp HS có hiểu biết về
bản thân, có thái độ với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh bản thân, chủ động
50
hướng hoạt động của mình đi theo những yêu cầu đòi hỏi của tập thể hay những
chuẩn mực của xã hội. Khi có HVND, có 3 trường hợp có thể xảy ra trong sự tự ý
thức của HS THCS:
Thứ nhất, các em nhận thức sai về HVND, cho rằng HVND ở bản thân là đúng
và phù hợp với CMXH. Từ đây các em có thái độ tích cực với HVND, duy trì
HVND và không tham gia điều chỉnh, tự giáo dục hành vi này ở bản thân.
Thứ hai, các em nhận thức đúng về HVND, cho rằng HVND ở bản thân là
không phù hợp nhưng lại có những sai lệch biểu hiện ở thái độ. Mặc dù biết ND là
không tốt nhưng vì những gì các em có thể thu được sau khi ND, các em vẫn dành
cho nó thái độ tích cực. Từ đó, HVND vẫn diễn ra như một điều bình thường trong
cuộc sống của các em.
Thứ ba, các em nhận thức đúng về HVND, có thái độ phù hợp đối với HVND
ở bản thân nhưng vì một tình huống nhất định nào đó các em không thể điều khiển,
điều chỉnh được HVND ở bản thân.
Nhìn nhận một cách tổng quát, HVND được biểu hiện trong tự ý thức của HS
THCS bao gồm: nhận thức về HVND ở bản thân (xem xét sự cần thiết của HVND ở
bản thân; sự ảnh hưởng của HVND đến bản thân người nói dối và người khác;
những hậu quả của HVND đối với bản thân), có thái độ đối với bản thân (xem xét
sự tán thành HVND ở bản thân; sự quan tâm đến thái độ của người khác về HVND
ở bản thân) và sự điều khiển, điều chỉnh HVND ở bản thân (xem xét sự chịu trách
nhiệm về HVND bản thân, sự tự điều chỉnh hành vi ở bản thân).
b. Biểu hiện HVND trong đời sống tình cảm của HS THCS
HS THCS có HVND luôn mang trong mình nhiều cung bậc cảm xúc khác
nhau. Những cung bậc cảm xúc này góp phần chi phối đến HVND của họ. HVND
thường bắt đầu từ những xúc cảm âm tính về cuộc sống như sự lo lắng về những áp
lực, nỗi sợ hãi về những điều vượt quá tầm kiểm soát bản thân hay những căng
thẳng, lo âu từ cuộc sống hiện tại.
Khi có HVND, cảm giác tội lỗi (giai đoạn chuẩn bị nói dối), nỗi sợ hãi (giai
đoạn đưa ra quyết định ND), phấn kích do căng thẳng (căng thẳng hoặc thích thú –
51
giai đoạn tiến hành nói dối) và xấu hổ, ăn năn, trăn trở, hối tiếc (giai đoạn kết thúc
nói dối) là biểu hiện dễ nhận thấy ở họ.
Sau khi tiến hành HVND, HS THCS có thể sẽ cảm thấy hài lòng và giải tỏa
được những áp lực, căng thẳng, lo âu nếu nhận được phản hồi tích cực từ người
nghe, song nếu bị phát hiện ngay lúc đó thì kèm theo đó là những cảm xúc tiêu cực
như bực bội, khó chịu, cáu gắt, nóng giận. Có những trường hợp, HS THCS nói dối
nhưng không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía người nghe thì theo đó là
những xúc cảm lo lắng, bất an và sợ bị phát hiện sự thật.
Như vậy, biểu hiện HVND về mặt tình cảm không chỉ có những xúc cảm âm
tính mà còn có thể có cả những xúc cảm dương tính. Các xúc cảm này không thống
nhất mà phụ thuộc nhiều vào nguyên nhân dẫn đến HVND cũng như phản ứng của
người tiếp nhận HVND.
c. Biểu hiện HVND về mặt ý chí của HS THCS
Biểu hiện HVND về mặt ý chí của HS THCS được xem xét ở việc kiềm chế
HVND ở bản thân. Có thể thấy, khi HVND được lặp đi lặp lại trong một khoản thời
gian dài thì dễ dàng trở thành thói quen. Khi thói quen được hình thành thì rất khó
thay đổi. Do đó, dù cố gắng không ND nhưng HS THCS rất khó để thay đổi hành vi
này. Sự cố gắng để thay đổi hầu như không còn tác dụng nhất là khi nói dối thường
là một chuỗi hành vi, HVND này là lý do để giải thích cho HVND trước đó.
HS THCS thường không có khả năng giới hạn số lần ND. Khi có một sự
khuyên răn từ những người xung quanh dù HS THCS có nhận thức được vấn đề
nhưng vẫn không kiềm chế được HVND. Các HVND ngày càng tinh vi dù các em
có cố gắng chống lại điều đó. Trong tâm trí các em luôn cần phải nói dối. Các em
thường cố gắng tìm kiếm các lý do để phục vụ việc nói dối.
1.2.6.2. Biểu hiện bên ngoài
a. Biểu hiện HVND xét theo bình diện thói quen
Như đã đề cập ở trên, khi HVND được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành thói
quen. Thói quen này làm cho HS THCS nói dối trong nhiều hoàn cảnh và tình
huống khác nhau. Một điều dễ nhận thấy là cá nhân thường nói dối khi bản thân
xuất hiện các trạng thái căng thẳng tâm lý. Nói dối giúp che đậy và làm giảm bớt
52
những căng thẳng tâm lý đó. HVND diễn ra bất kể thời gian nào trong ngày, khi
giao tiếp với đối tượng khác, khi cần che đậy một vấn đề nào đó, khi mâu thuẫn
diễn ra, khi cảm thấy lo lắng, căng thẳng...
b. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường học
Các hoạt động ở trường của HS THCS khá đa dạng nhưng quan trọng nhất vẫn
là hoạt động học tập. Việc học tập ở trường THCS là một bước ngoặc quan trọng
trong đời sống của HS. Ở các lớp dưới, HS học tập các hệ thống các sự kiện và hiện
tượng, hiểu những mối quan hệ cụ thể và đơn giản giữa các sự kiện và hiện tượng
đó. Ở trường THCS, việc học tập của các em phức tạp hơn một cách đáng kể. Các
em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những có sở của các khoa học, các em học
tập có phân môn… Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp
xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc. Điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và
độc lập cao. Điều này vô hình chung tạo thành những áp lực không hề nhỏ cho HS
THCS. Hơn nữa, HS còn phải bảo đãm đầy đủ các nội quy trường học và thực hiện
các công việc khác theo sự phân công.
Trong các hoạt động ở trường, HVND thường xuất hiện trong các trường hợp
sau: khi HS nghĩ học vì những lý do không chính đáng như đi chơi, lười học, không
hoàn thành công việc mà giáo viên giao; khi HS đến trễ vì dậy muộn, quên giờ học
hay mãi mê các hoạt động giải trí như Facebook, chơi game; khi lười biếng hoàn
thành, quên hoặc cảm thấy không thể hoàn thành được các công việc tập thể được
phân công; khi quên, cố ý hoặc vô ý không học bài, không làm bài tập về nhà; khi
không tham gia các hoạt động của trường lớp; khi làm sai quy định của trường về
cách ăn mặc, thái độ, tác phong…
c. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với gia đình
Trong các hoạt động ở nhà, HVND thường gắn liền với mối quan hệ giữa HS
THCS với cha mẹ, anh chị em trong gia đình. Như đã nói ở trên, vào giai đoạn HS
THCS, nguyện vọng độc lập của các em phát triển mạnh. Các em muốn người khác
nhìn nhận mình như là một người lớn, muốn được bình đẳng trong quan hệ với
người lớn, không can thiệp quá tỉ mỉ vào một số mặt trong đời sống riêng của các
em, muốn được độc lập trong việc lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm, chuẩn mực đạo
53
đức xã hội và phương thức hành vi. Tuy nhiên nguyện vọng của các em thường mâu
thuẫn với chính khả năng thực tế, mâu thuẫn với quan điểm chưa thay đổi của người
lớn về các em. Chính vì những mâu thuẫn đó dẫn đến quan hệ giữa các em với
người lớn dễ xảy ra căng thẳng.
Cụ thể HVND thường xuất hiện trong các trường hợp sau đây: khi ba mẹ
không cho tiền hoặc cho không đủ tiền mà HS lại rất cần; khi bị nhắc nhở việc học
tập ở nhà; khi ba mẹ giao nhiệm vụ mà HS không muốn làm; khi ba mẹ biết được
sự thật của một lời nói dối trước đó; khi muốn che giấu kết quả học tập; khi đã làm
một việc mà ba mẹ không thích; khi mong muốn có được một thứ (quyển sách, đồ
trang sức, điện thoại…); khi mong muốn thực hiện một hình thức giải trí nào đó
như chơi game, online Facebook, đi chơi cùng bạn bè…
d. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với bạn bè
Hoạt động giao lưu bạn bè được xem là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi HS
THCS. Quan hệ với bạn bè cùng lứa tuổi ở HS THCS phức tạp, đa dạng hơn nhiều
so với HS tiểu học. Sự giao tiếp của các em đã vượt ra ngoài phạm vi học tập, phạm
vi nhà trường, mà còn mở rộng trong những hứng thú mới, những việc làm mới,
những quan hệ mới trong đời sống của các em. Các em có nhu cầu lớn trong giao
tiếp với bạn bè vì một mặt, các em rất khao khát được giao tiếp và cùng hoạt động
chung với nhau, các em có nguyện vọng được sống trong tập thể, có những bạn bè
thân thiết tin cậy; mặt khác, HS THCS cũng biểu hiện nguyện vọng không kém
phần quan trọng là được bạn bè công nhận, thừa nhận, tôn trọng mình. Do đó, các
em có thể ND khi bạn bè coi thường; khi muốn bạn bè chú ý đến mình; khi muốn
che đậy một lời nói dối trước đó với bạn; khi muốn tìm hiểu một sự thật từ bạn bè
hay khi không hoặc quên giữ lời hứa với bạn; khi bị bạn bè trêu chọc…
Sự bất hòa trong quan hệ bạn bè cùng lớp, sự thiếu thốn bạn thân hoặc tình
bạn bị phá vỡ đều sinh ra những cảm xúc nặng nề. Tình huống khó chịu nhất đối với
các em là sự phê bình thẳng thắn của tập thể, của bạn bè. Hình phạt nặng nề nhất
đối với các em là bị bạn bè tẩy chay, không muốn chơi với mình. Khi tẩy chay bạn
bè, HS THCS thường từ chối khi bạn bè mượn một thứ gì đó (tiền bạc, dụng cụ học
tập…), không chơi với bạn… Bản thân HS THCS không muốn cho mượn hoặc cô
54
lập một người bạn nào đó thường tìm ra những lý do để nói dối; hoặc ND khi muốn
bêu xấu một người mà bản thân HS không thích…
Nhóm bạn ở HS THCS thường chịu ảnh hưởng của nhau, dễ lây hứng thú của
nhau (có thể trở thành người tốt hoặc ngược lại).. Trò chuyện giữ một vị trí có ý
nghĩa đối với lứa tuổi này, các em đã kể cho nhau về mọi mặt sinh họat, đời sống và
suy nghĩ của mình, kể cả những điều “bí mật” nhiều khi các bạn không kể với bất
cứ ai. Vì thế mà các em yêu cầu rất cao đối với bạn, phải cởi mở, hiểu nhau, tế nhị,
vị tha, đồng cảm và giữ bí mật cho nhau. Điều này cũng làm cho HVND trở nên dễ
lây lan và có khả năng chi phối đến mối quan hệ bạn bè ở các em.
e. Biểu hiện HVND trên bình diện cơ thể
Một số nghiên cứu đã chỉ ra nhiều dấu hiệu nhận biết của người nói dối, đó
là dựa vào ngôn ngữ cơ thể như cọ mũi, giật mạnh dái tai, đổ mồ hôi hay tránh nhìn
trực tiếp vào mắt [77].
Theo nhà TLH M.Farouk Radwan, khi một người cố tình nói dối có thể sẽ
kiểm soát được nét mặt và giọng nói, nhưng chắc chắn sẽ không giấu được những
dấu hiệu vô thức như: thở nhanh, đổ mồ hôi, tim đập nhanh… Dựa vào những dấu
hiệu, cử chỉ vô thức tương tự trên, có thể nhận ra được người đối diện có đang nói
dối hay không. Theo ông, nhận biết một người nói dối (đặc biệt là khi ND đã trở
thành thói quen) không phải là chuyện dễ dàng. Có thể phỏng đoán người đối diện
đang nói dối khi họ có ít nhất 3 dầu hiệu bên dưới, càng nhiều dấu hiệu thì khả năng
họ nói dối càng cao.
- Câu chuyện thiếu sự đồng nhất: Câu chuyện họ kể dần dần sẽ thay đổi, một
số chi tiết được thêm vào hoặc bỏ quên.
- Cảm thấy lo lắng: Những dấu hiệu vô thức của sự lo lắng bao gồm: Cắn
móng tay, cựa quậy nhiều, liên tục đổi tư thế, nhịp chân xuống sàn, gõ lên bàn, đổ
mồ hôi, dễ nói vấp hơn bình thường… Những dấu hiệu này lộ ra nhiều hay ít còn
tùy vào mức độ “chuyên nghiệp” của kẻ nói dối.
- Tránh đề cập đến chủ đề chính: Người nói dối sẽ thường tránh nói về những
điều mình đang giấu. Khi bị đề cập đến bất cứ thứ gì có liên quan đến điều nói dối,
người nói dối thường cố gắng chuyển đề tài.
55
- Nói chậm rãi: Kẻ nói dối thường bịa ra các sự kiện trong khi đang nói. Điều
này có thể khiến họ nói chậm hơn hoặc ngừng nói vài lần để suy nghĩ ra cái để nói
tiếp.
- Ngôn ngữ cơ thể: Người nói dối thường giấu lòng bàn tay của mình, ngồi
cong lưng khi đang bịa chuyện. Họ cũng tránh giao tiếp bằng mắt và có những cử
chỉ thể hiện trạng thái đang khó chịu như: sờ vào mũi, tai…
- Sự chuyển động của mắt: Thông thường, con người thường nhìn một cách vô
thức lên bên phải khi đang cố gắng nhớ lại sự việc, và nhìn lên bên trái khi đang nói
dối [66].
CIA Philip Houston, Michael Floyd và Susan Carnicero cũng đã đưa ra một số
thủ thuật nhỏ để nhận biết một người đang có ý định nói dối: những người nói dối
có xu hướng không dám nhìn thẳng vào mắt người đang nói chuyện hay quay giấu
mặt đi chỗ khác khi nói; người đang nói dối thường bị khô miệng và cảm giác lo âu,
bất an nên thường có phản ứng nuốt nước bọt; người nam nói dối có xu hướng
chỉnh lại cổ áo, cà vạt trong khi phụ nữ không trung thực hay vuốt tóc gọn gàng
[16].
Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc ĐH Amsterdam cho biết
không cần phải quan sát hành động, ngôn ngữ cơ thể mà chính người nói dối sẽ tự
bộc lộ mình. Theo nghiên cứu, cách tốt nhất để phát hiện ra ai đó đang nói dối là
hãy hỏi thẳng những gì họ nói, kiểu "Câu vừa rồi là nói dối hay nói thật? Bạn có nói
dối không?"... Bởi những người nói dối thường sẽ thừa nhận rằng mình có nói dối
hay không do sự thiếu chắc chắn khi lời nói vừa thốt ra [78].
Rõ ràng, các biểu hiện HVND về mặt cơ thể chưa có sự thống nhất. Nếu chỉ
qua một vài biểu hiện thì không thể phán xét một người là có HVND. Do đó, muốn
xác định một người có nói dối hay không cần phải quan sát tất cả các biểu hiện nêu
trên và có sự so sánh trên cơ sở các hành vi thường ngày của người đó.
1.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND ở HS một số trường THCS tại
Tp.HCM
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến HVND. Có những HVND do chịu ảnh hưởng
bởi những yếu tố nội sinh (thực thể) hay do các yếu tố ngoại sinh (môi trường xã
56
hội). Trong quá trình phát triển về thể chất và tâm lý, đứa trẻ phải chịu ảnh hưởng
của cả hai nhân tố sinh học và môi trường. Tuy nhiên, trong hai yếu tố trên thì môi
trường giữ vai trò quan trọng và ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển chung của
trẻ. Vì vậy, trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện và duy trì những HVND
thì yếu tố môi trường hay nói cách khác những tác nhân tâm lý xã hội đóng vai trò
then chốt.
Như đã đề cập, tuổi thiếu niên do những biến đổi sinh học đã tạo nên sự mất
cân bằng tạm thời về tâm lý. Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt, duy nhất của cuộc
đời vì xảy ra một loạt những thay đổi như: sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi,
điều chỉnh tâm lý và sự biến đổi các quan hệ xã hội đáp ứng với yêu cầu và nhiệm
vụ phát triển. Vì vậy, thiếu niên phải đương đầu với nhiều khó khăn, căng thẳng
trong học tập, trong quan hệ với người lớn. Theo đánh giá chung, lứa tuổi thiếu niên
là giai đoạn nảy sinh nhiều rối loạn tâm lý, HVLC nhất so với các giai đoạn phát
triển khác. Việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến HVND ở thiếu niên giúp cho
các nhà giáo dục, cha mẹ HS và các nhà trị liệu tìm ra những biện pháp điều chỉnh,
ngăn chặn và phòng ngừa HVND cho trẻ em và thanh thiếu niên.
HVND ở mỗi cá thể thường phụ thuộc vào trình độ nhân cách và hoàn cảnh,
điều kiện, quan hệ xã hội thực tế. Hành vi ND có thể xuất hiện bất cứ lúc nào nếu có
sự tác động của một hay những nhân tố sau đây: trẻ sống trong những điều kiện tác
động mạnh mẽ của những hành vi trái pháp luật và trái đạo đức diễn ra hằng ngày ở
gia đình, ở nhóm bạn bè…; sự tồn tại hệ thống những hành vi vô đạo đức và những
vi phạm pháp luật thuộc nhiều loại khác nhau. Chúng diễn ra thậm chí cả sau khi đã
áp dụng những biện pháp xử lý; sự tách biệt của cá nhân đối với môi trường xã hội
và hệ thống quy phạm giá trị, trong đó có sự biến đổi về vị trí và vai trò xã hội; sự
thoái hóa về mặt xã hội của cá nhân theo hướng phản đạo đức và pháp luật, phù hợp
với hoạt động mà cá nhân đó coi là cần thiết, quan trọng; cá nhân mất đi những tình
cảm lo lắng, sợ hãi, nhục nhã trước trách nhiệm xã hội khác.
Ở Việt Nam, tác giả Lê Đức Phúc cho rằng những điều kiện và nguyên nhân
cơ bản nhất dẫn đến hành vi ND là do ảnh hưởng của các nhóm xã hội tiêu cực;
những khủng hoảng và sai lệch trong quá trình phát sinh cá thể; những phản giá trị
57
trong gia đình; sự thất bại hoặc yếu kém của giáo dục; những tiêu cực trong cơ chế
hành pháp; tác động bất lợi của môi trường vĩ mô; mặt trái của cơ chế thị trường
[29].
Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND có thể chia thành 3 nhóm chính, như sau:
Các yếu tố xuất phát từ phía gia đình
Theo nhóm tác giả Lene Arnett Jensen, Jeffrey Jensen Arnett, S. Shirley
Feldman và Elizabeth Cauffma có sự ảnh hưởng của giới tính, tính cách và môi
trường gia đình khi VTN và người trưởng thành trẻ tuổi đánh giá về sự chấp nhận
HVND và HVND với cha mẹ [62].
Kashy và DePaulo (1996) nhận định HVND liên tục của trẻ em có thể được
coi là một vấn đề nghiêm trọng vì nó là một trong những nguyên nhân làm cho mối
quan hệ tin tưởng giữa đứa trẻ và cha mẹ bị tổn thương. Theo hai tác giả, HVND có
liên quan đến chất lượng của các mối quan hệ xã hội. Các mối quan hệ ấm áp, thân
mật và đáp ứng thì có xu hướng ít xuất hiện HVND [57].
Cùng nói về sự ảnh hưởng của gia đình, Finkenauer et al. (2002) cho rằng trẻ
em được nuôi trong gia đình có không khí ấm áp và được đáp ứng đầu đủ các nhu
cầu thì nói dối ít hơn trẻ em lớn lên trong gia đình có mối quan hệ không tốt và
không được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu [52].
Bàn sâu về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, Kerr và Stattin (2000) nhận
định HVND ở VTN cũng có thể do việc ít quan tâm của cha mẹ đến con cái, dẫn
đến thiếu kiến thức về nơi con ở, việc con làm. Từ đây, cha mẹ trở nên phụ thuộc
nhiều hơn vào những gì con cái của họ nói. Khi VTN nói dối về các hoạt động của
họ, cha mẹ thường ở trong “bóng tối” với những điều chúng thực sự đang làm, làm
điều đó với ai, làm ở đâu. Nếu không biết các phương pháp giáo dục đúng đắn trẻ sẽ
dễ dàng có nhiều HVLC khác xuất phát từ HVND này [59].
Một điểm đáng chú ý nữa ở những HS có HVND là sự bắt chước. Mặc dù
khuyên con phải thành thật nhưng nhiều bố mẹ lại nói dối ngay trước mặt con. Ví
dụ như khi khách tới nhà thì do không muốn tiếp nên các ông bố bà mẹ sai con ra
nói rằng mình không có nhà… Thường xuyên chứng kiến như vậy, một cách vô
58
thức trong đầu trẻ đã bị ám ảnh bởi sự nói dối. Trẻ luôn có những câu trả lời để đối
phó nếu không muốn nói thật.
Ở HS THCS luôn có mong muốn và nguyện vọng độc lập. Các em muốn trở
thành người lớn nhưng lại mâu thuẫn với quan điểm chưa thay đổi của người lớn,
người lớn vẫn duy trì quan hệ với thiếu niên như trẻ con. Từ đây, thiếu niên có
những biểu hiện chống đối lại người lớn bằng những kiểu bướng bỉnh và có thể nổi
loạn. ND chính là một trong những công cụ giúp các em chống đối yêu cầu của
người lớn. Nếu người lớn không hiểu được nhu cầu, nguyện vọng đó, không thay
đổi kiểu quan hệ mới thì trong quan hệ với thiếu niên thường rất căng thẳng.
Có thể thấy nhu cầu giao tiếp với bạn bè phát triển rất mạnh ở HS THCS. Các
em quan niệm giao tiếp với bạn bè cùng tuổi là quan hệ riêng của cá nhân vì thế nó
được phép hành động một cách độc lập theo ý mình. Các em cho rằng mình có
quyền làm điều đó và bảo vệ quyền lợi đó của mình. Dấu ấn đặc biệt trong đời sống
tình cảm của thiếu niên là ở các em đã xuất hiện tình bạn khác giới. Điều này mâu
thuẫn với việc người lớn thường xem VTN là một đứa trẻ nên có xu hướng cấm
đoán và hạn chế các mối quan hệ ở các em, nhất là quan hệ với bạn bè khác giới.
Chính vì vậy, sự can thiệp thiếu tế nhị của người lớn khiến cho thiếu niên cảm thấy
bị xúc phạm và các em thường có biểu hiện ND để thoát khỏi sự can thiệp của
người lớn.
Rõ ràng, môi trường gia đình là yếu tố chủ yếu gây nên hành vi ND ở VTN.
Các tác giả đều cho rằng hầu hết mọi hành vi ND ở trẻ em đều bắt nguồn từ gia
đình, đặc biệt là những gia đình hay có không khí bất hòa, cha mẹ ít quan tâm đến
con cái, cha mẹ quá coi trọng thành tích học tập của con, cũng có thể là do bố mẹ
không nhất quán trong việc giáo dục con cái, bố mẹ là tấm gương xấu hoặc bố mẹ
can thiệp quá nhiều vào mối quan hệ bạn bè của con… Những điều này gây ra
những trở ngại cho sự phát triển thể chất, tâm lý và đặc biệt là dễ gây cho trẻ những
rối loạn về tâm lý, hành vi.
Các yếu tố xuất phát từ phía nhà trường
Ngoài gia đình, nhà trường cũng là một yếu tố quan trọng đối với đời sống của
trẻ. Ở đây, trẻ được trải nghiệm, được lớn lên với những hoài bão, ước mơ của
59
mình, cùng những quan hệ thầy cô, bạn bè. Có rất nhiều vấn đề trong môi trường
trường học có thể gây ra hành vi ND. Chẳng hạn như quan hệ với thầy cô, bạn bè
không tốt có thể gây cho trẻ những thất vọng, hẫng hụt, từ đó trẻ ND nhằm thu hút
sự chú ý. Hay trẻ ND để trốn tránh trách nhiệm do môi trường học đường yêu cầu
quá cao đối với trẻ mà khả năng trẻ không thể thực hiện được. Hiện nay, có một số
thầy cô có những biểu hiện không gương mẫu trước HS như sỉ nhục, trù úm, thiên
vị, mua bán điểm…ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn của các em. Điều này cũng dễ
dàng gây tổn thương cho HS. Nhiều em có những biểu hiện chống đối như không
làm bài tập, trốn học, bỏ giờ…ND chính là công cụ để che giấu những hành vi đó ở
các em. Gần đây, dư luận XH đã phản đối rất nhiều về sự quá tải nội dung học tập.
Đã rất nhiều ý kiến cho rằng sự tăng thêm quá nhiều về nội dung, chương trình đã
gây nên sự căng thẳng, lo lắng ở học sinh. Theo chúng tôi, đây cũng được xem như
là một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi ND ở HS THCS.
Các yếu tố xuất phát từ phía bản thân HS THCS
Các yếu tố xuất phát từ phía HS THCS có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm tâm
lý lứa tuổi của các em. Có thể thấy, ở các em nhu cầu nhận thức bản thân cao nhưng
kỹ năng phân tích đánh giá những phẩm chất còn thấp, nên thường nảy sinh mâu
thuẫn giữa mức độ kỳ vọng với địa vị thực tế trong xã hội và trong nhóm bạn bè,
mâu thuẫn giữa thái độ của các em với thái độ của người lớn. Từ đây, hành vi ND
xuất hiện như một công cụ nhằm giúp các em giữ danh dự cho bản thân, đạt được
mức độ kỳ vọng và gây chú ý với người khác. Nhờ đó các em có thể thỏa mãn được
nhu cầu tự khẳng định mình, tự tin hơn khi bước vào giai đoạn mới của cuộc đời.
Học sinh THCS có lòng tự trọng và tự tôn rất cao, các em thích độc lập và
muốn khẳng định mình với người xung quanh nhất là với người lớn. Nghiên cứu
những yếu tố ảnh hưởng đến HVND, Kashy và DePaulo (1996) cho rằng có một
mối quan hệ giữa ND và các chỉ số quản lý cảm xúc, chẳng hạn như lòng tự trọng,
trầm cảm, căng thẳng và cô đơn. Đề cập đến vấn đề này không có nghiên cứu thực
nghiệm nào. Tuy nhiên, một số số liệu có thể chứng minh cho sự tồn tại của liên kết
này. Chẳng hạn, VTN với lòng tự trọng thấp hoặc có cảm xúc trầm cảm có thể cố
gắng để làm cho mình tốt đẹp hơn bằng cách nói dối. Ngoài ra, trong nghiên cứu
60
của mình, hai tác giả cũng đề cập đến một trong những lý do tại sao VTN nói dối,
đó là để tự vệ và để bảo vệ người khác hay để tránh bị trừng phạt. Bên cạnh đó,
VTN có thể nói ối cha mẹ của họ về vấn đề tình cảm để ngăn chặn họ lo lắng về
chúng. Cuối cùng, VTN muốn giải quyết vấn đề tình cảm của họ bằng cách riêng
của mình mà không cần bất kỳ sự giúp đỡ từ cha mẹ của họ và do đó VTN nói dối
với cha mẹ [57].
Tự ý thức được hình thành ở lứa tuổi thiếu niên là do các em đã tích cực lĩnh
hội từ thế giới người lớn những giá trị, những chuẩn mực, những phương thức hành
vi khác nhau tuy nhiên nó có thể chưa đầy đủ. Trong hoạt động, trong lúc thể hiện
các hành vi, đôi khi trẻ có sự hiểu biết không thật đúng, không chính xác CMXH về
HVND , vì vậy trẻ nói dối vì nhận thức không đúng đó. Trong trường hợp này HS
THCS không biết rằng mình đã và đang thực hiện hành vi sai lệch nhất định.
Trường hợp thứ hai là trong quá trình tham gia vào các mối quan hệ XH, có
thể trẻ không chấp nhận những CMXH về hành vi ND. Nhận thức của trẻ về chuẩn
mực không thống nhất với mô hình chung của XH. Trẻ hành động theo quan niệm
riêng, mục tiêu riêng của mình, khác với chuẩn mực chung. Trong trường hợp này,
trẻ thực hiện những HVND một cách có ý thức với sự tin tưởng và trẻ luôn cho
mình đúng, không chịu thừa nhận mình sai.
Trường hợp thứ ba phải kể đến là trẻ biết mình sai nhưng vẫn không chịu từ
bỏ mục tiêu của mình, vẫn vi phạm chuẩn mực chung về nói dối. HVND này do trẻ
không tự kiềm chế được mình, XH cũng không có những biện pháp tác động thích
hợp để kiểm tra, tỏ thái độ một cách chính xác.
Tóm lại, HVND chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Vì vậy cần tìm hiểu các
yếu tố ảnh hưởng đến HVND để có chiến lược điều chỉnh kịp thời, làm mất những
triệu chứng bất thường và khôi phục chức năng tâm lý bình thường vốn có ở trẻ,
hướng trẻ tới hành vi trung thực, phù hợp với CMXH.
61
Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu về HVND là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan
tâm. Ở Việt Nam, HVND thường được nghiên cứu gián tiếp thông qua nhiều công
trình khảo sát về HVLC. Nghiên cứu sâu về HVND dưới góc độ TLH rất hiếm và
hầu như chưa có.
Nói dối là hành vi xuất phát từ một động cơ xác định, được biểu hiện ra bên
ngoài bằng hành động ngôn từ nhưng lại thống nhất với biểu hiện tâm lý bên trong
của nhân cách, mang nội dung không đúng thực tế, được người nói cố ý đưa ra để
đánh lừa người nghe. HVND phân tích dưới góc độ HVLC trong TLH được xem
xét như một HVLCXH. Có thể xem xét HVND dưới góc độ này ở hai hướng nghiên
cứu:
1. Dựa vào bảng phân loại bệnh với các tiêu chí dùng để chẩn đoán với các
tiêu chí dùng để chẩn đoán HVLC của Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM – IV) áp
dụng cho HS THCS. Theo đó, hành vi ND được gọi là lệch chuẩn khi “ND để được
đồ vật hay ân huệ, hoặc để tránh các nghĩa vụ”, được lặp lại liên tục trong vòng 6
tháng.
2. Dựa vào CMXH về HVND ngay thời điểm nghiên cứu để xác định HVND
dạng lệch chuẩn. Đây là hướng nghiên cứu chính củ đề tài.
Các biểu hiện của HVND ở HS THCS bao gồm biểu hiện bên trong và biểu
hiện bên ngoài. Biểu hiện bên trong được thể hiện trong tự nhận thức, tình cảm và ý
chí; biểu hiện bên ngoài được thể hiện trong diễn tiến thói quen, trong các mối quan
hệ ở trường, trong các mối hệ với gia đình, các mối quan hệ với bè bạn và các biểu
hiện trên bình diện cơ thể. Các biểu hiện này gắn liền với đặc điểm tâm lý lứa tuổi
thiếu niên và xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Các nguyên nhân này được
chia làm ba nhóm chính, xuất phát từ gia đình, nhà trường và bản thân HS.
62
Chương 2. THỰC TRẠNG HÀNH VI NÓI DỐI CỦA HỌC SINH MỘT
SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM
2.1.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM
Tìm hiểu thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM. Cụ thể:
- Xác định tỷ lệ HS THCS có HVND
- Xác định các biểu hiện của HVND ở HS THCS, đồng thời đánh giá mức độ
biểu hiện của hành vi này.
- Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến HVND ở HS THCS.
- Khảo sát mối quan hệ giữa HVND với lòng tự trọng, trạng thái căng thẳng
(stress) và sự cô đơn.
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp
điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính, các phương pháp nghiên cứu còn lại
là các phương pháp bổ trợ.
2.1.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài sử dụng tổng cộng 4 bảng hỏi và 3 thang đo, bao gồm: một bảng hỏi
dành cho các đối tượng lứa tuổi, ngành nghề khác nhau nhằm xác định CMXH về
HVND ở HS THCS; ba bảng hỏi dành cho HS THCS, giáo viên và phụ huynh HS
nhằm tìm hiểu tỷ lệ HS THCS có HVND, một số biểu hiện bên ngoài và bên trong
của HVND ở HS THCS, một số yếu tố ảnh hưởng đến HVND ở HS THCS; một
thang đo về sự cô đơn (Revised ucla loneliness scale); một thang đo về trạng thái
căng thẳng (PSS-14) và một thang đo về lòng tự trọng (Rosenberg Self-Esteem
Scale). Các bảng hỏi và thang đo này sẽ được miêu tả cụ thể ở phần sau.
a. Nguyên tắc thiết kế và chuyển ngữ
Đề tài sử dụng 3 bảng hỏi tự thiết kế và 3 thang đo được chuyển ngữ từ nước
ngoài. Nguyên tắc chung là:
63
- Đảm bảo giá trị về mặt nội dung.
- Đáng tin cậy về mặt thống kê.
- Sử dụng các hình thức câu hỏi sao cho phù hợp với nội dung nghiên cứu và
phù hợp với đặc điểm của khách thể nghiên cứu.
b. Quy trình thiết kế bảng hỏi
* Giai đoạn 1: Thiết kế bảng hỏi 1
Như đã đề cập ở phần tiểu kết chương 1, việc xem xét CMXH hiện nay để
đánh giá HVND lệch chuẩn hay hợp chuẩn cũng là một cách tiếp cận của đề tài. Do
đó, cần có một bảng hỏi để đo lường điều này.
Kết quả của bảng hỏi 1 chính là căn cứ quan trọng để người nghiên cứu tiếp
tục soạn thảo bảng hỏi 2.
* Giai đoạn 2: Thiết kế bảng hỏi 2 (dành cho HS), 3 (dành cho phụ huynh
HS), 4 (dành cho giáo viên THCS) và chuyển ngữ 3 thang đo
- Thiết kế bảng hỏi 2, 3, 4
+ Từ kết quả thu được ở bảng hỏi 1 với những lý luận của đề tài, người nghiên
cứu tiến hành thiết kế bảng hỏi thử
+ Bảng hỏi thử được phát cho 30 HS THCS để góp ý về hình thức, ngôn ngữ.
+ Bảng hỏi được hoàn thiện sau khi bỏ phần đánh giá và góp ý cần thiết của
khách thể khảo sát về các phương diện ngôn ngữ, số lượng, nội dung và hình thức
thiết kế. Song song đó, các câu hỏi chính thức nhằm tìm hiểu thực trạng HVND ở
HS THCS có điều chỉnh một số chi tiết không đáng kể nhằm làm rõ nghĩa hơn về
cách diễn đạt.
- Chuyển ngữ 3 thang đo
+ Thang đo sau khi đã chuyển ngữ được phát cho 30 HS THCS để góp ý về
ngôn ngữ.
+ Thang đo được hoàn thiện sau khi bỏ phần đánh giá và góp ý cần thiết của
khách thể khảo sát về phương diện ngôn ngữ.
* Giai đoạn ba: Tiến hành khảo sát chính thức
Tiến hành phát phiếu điều tra chính thức trên khách thể. Nhằm kiểm tra tính
chân thật của phiếu điều tra, sau mỗi khách thể nộp phiếu, người nghiên cứu đều đặt
64
câu hỏi: “Bạn có nói dối khi làm phiếu khảo sát không?”. Qua đây, trong tổng số
480 phiếu phát cho HS THCS, người nghiên cứu đã loại 59 phiếu vì HS đã thừa
nhận nói dối và yêu cầu HS thực hiện lại một cách trung thực. Trong 160 phiếu phát
cho phụ huynh, người nghiên cứu đã loại 76 phiếu vì chưa hoàn thành và một số
phiếu phụ huynh thừa nhận đã nói dối khi thực hiện. Với 160 phiếu phát cho giáo
viên THCS, người nghiên cứu đã thu được 146 phiếu hợp lệ.
c. Nội dung bảng hỏi
Bảng hỏi 1 (dành cho các đối tượng lứa tuổi, ngành nghề khác nhau nhằm
xác định CMXH về HVND ở HS THCS)
- Mô tả bảng hỏi (3 câu hỏi)
Đây là một bảng hỏi ngắn gồm 3 phần chính: lời chào hỏi, thông tin khách thể
và nội dung. Phần nội dung bao gồm 2 câu hỏi:
+ Câu 1: tìm hiểu quan niệm của khách thể về những động cơ nói dối phù hợp
và không phù hợp với CMXH ở lứa tuổi THCS.
+ Câu 2: tìm hiểu quan niệm của khách thể về cường độ nói dối phù hợp và
không phù hợp với CMXH ở lứa tuổi THCS.
- Cách thức chấm điểm
+ Câu 1: có 3 mức độ trả lời là không phù hợp, phân vân và phù hợp được quy
đổi điểm tương ứng là 0, 1, 2. Bình luận dựa vào điểm trung bình từng câu theo
thang sau:
Bảng 2.1. Cách thức chấm điểm câu hỏi 1 trong bảng hỏi 1
ĐTB Mức độ
0 - 0,49 Không phù hợp
0,5 - 1,5 Phân vân
1,51 - 2 Phù hợp
+ Câu 2: có 5 phương án lựa chọn, khách thể chỉ chọn một trong 1 phương án
lựa chọn đó. Bình luận dựa vào tỉ lệ phần trăm lựa chọn.
Bảng hỏi 2 (dành cho HS THCS)
- Mô tả bảng hỏi (30 câu hỏi)
65
Bảng hỏi cũng bao gồm ba phần chính là lời chào hỏi, thông tin khách thể và
nội dung. Bảng hỏi này được xây dựng căn cứ vào kết quả của bảng hỏi 1, bao gồm
10 nội dung:
+ Nội dung 1: Tìm hiểu nhận thức của HS THCS về HVND (câu 1, câu 2, câu 3)
+ Nội dung 2: Tìm hiểu nhận thức của HS THCS về CMXH của HVND
(câu 4, câu 5)
+ Nội dung 3: Tự đánh giá về HVND của HS THCS (câu 6, câu 7)
+ Nội dung 4: Tìm hiểu cơ chế tâm lý của HVND ở HS THCS (câu 8, câu 9,
câu 10)
+ Nội dung 5: Tìm hiểu các vấn đề liên quan đến HVND như đối tượng nói
dối, địa điểm nói dối, hoạt động diễn ra HVND, hình thức nói dối (câu 11, câu 12,
câu 13, câu 14)
+ Nội dung 6: Tìm hiểu các biểu hiện của HVND bao gồm biểu hiện bên trong
(biểu hiện ở mặt tự ý thức, mặt cảm xúc, mặt ý chí) và các biểu hiện bên ngoài (biểu
hiện thông qua thói quen hàng ngày, hoạt động ở trường, hoạt động ở nhà, hoạt
động với bạn bè và các biểu hiện về mặt cơ thể) (câu 15, câu 16, câu 17, câu 18, câu
19, câu 20, câu 21, câu 22)
+ Nội dung 7: Tìm hiểu mối quan hệ giữa HS THCS với cha mẹ và khuynh
hướng bộc lộ thông tin của HS THCS với cha mẹ (câu 23, câu 24).
+ Nội dung 8: Tìm hiểu cách ứng xử của HS THCS thông qua một số tình
huống cụ thể (câu 25, câu 26, câu 27, câu 28, câu 29)
+ Nội dung 9: Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến HVND ở HS THCS (câu 30)
Cách thức chấm điểm
+ Câu 1, 2, 3 có 2 phương án trả lời là Đúng hoặc sai. Bình luận dựa vào tỷ lệ
phần trăm.
+ Câu 4, 5 có cách thức chấm điểm giống bảng hỏi 1.
+ Câu 6 có 6 phương án lựa chọn, khách thể chỉ chọn 1 trong 6 phương án lựa
chọn đó; câu 9 có 3 phương án lựa chọn, khách thể chỉ chọn 1 trong 3 phương án;
câu 24 có 5 phương án lựa chọn, khách thể chỉ chọn 1 trong 5 phương án lựa chọn
đó, câu 25, 26, 27, 28, 29 có 4 câu trả lời, khách thể chỉ chọn một câu trả lời duy
nhất. Bình luận dựa vào tỉ lệ phần trăm lựa chọn.
66
+ Câu 7, 10 có 2 phương án trả lời là Có hoặc không. Bình luận dựa vào tỷ lệ
phần trăm.
+ Câu 8, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 bao gồm 5 mức độ là không bao giờ,
hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên và rất thường xuyên; câu 19, 20, 21, 22, 23
bao gồm 5 mức độ là rất ít, ít, trung bình, nhiều, rất nhiều. Cụ thể:
Bảng 2.2. Cách thức quy đổi một số câu hỏi trong bảng hỏi 2
MỨC ĐỘ ĐTB Câu 8, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 Câu 19, 20, 21, 22, 23
3,51 - 4 Rất thường xuyên Rất nhiều
2,51 - 3.5 Thường xuyên Nhiều
1,51 - 2,5 Thỉnh thoảng Trung bình
0,5 - 1,5 Hiếm khi Ít
0 - 0,49 Không bao giờ Rất ít
+ Câu 30 có 12 phương án trả lời, người trả lời sẽ sắp xếp 12 phương án theo
một thứ tự nhất định. Bình luận dựa vào điểm trung bình.
+ Riêng ở nội dung 6 (câu 15 đến câu 22), dựa trên tổng điểm thấp nhất và cao
nhất, các mức độ biểu hiện HVND sẽ được tính như sau:
Bảng 2.3. Cách thức quy đổi mức độ biểu hiện HVND
ĐIỂM MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN HVND
225 - 300 Cao
76 - 224 Trung bình
0 - 75 Thấp
Bảng hỏi 3 (dành cho phụ huynh)
- Mô tả bảng hỏi (15 câu hỏi)
Bảng hỏi 3 có cấu trúc và nội dung tương tự bảng hỏi 2. Bảng hỏi 3 bao gồm
những nội dung sau:
+ Nội dung 1 của bảng hỏi 2 (câu 1, 2, 3)
+ Nội dung 3 của bảng hỏi 2 (câu 4, 5)
+ Nội dung 5 của bảng hỏi 2 (câu 6, 7, 8, 9)
67
+ Câu 21, 22 trong nội dung 6 của bảng hỏi 2 (câu 10, 11)
+ Nội dung 7 của bảng hỏi 2 (câu 12, 13)
+ Nội dung 9 của bảng hỏi 2 (câu 14)
+ Câu 15 của bảng hỏi 3 tìm hiểu cách ứng xử của cha mẹ khi con mình nói dối.
- Cách thức chấm điểm
+ Cách thức chấm điểm tương tự như bảng hỏi 2
+ Câu 15 được quy đổi điểm giống các câu 8, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 ở
bảng 2.1
Bảng hỏi 4 (dành cho giáo viên THCS)
- Mô tả bảng hỏi (13 câu hỏi)
Bảng hỏi 4 cũng có cấu trúc và nội dung tương tự bảng hỏi 2. Bảng hỏi 4 bao
gồm những nội dung sau:
+ Nội dung 1 của bảng hỏi 2 (câu 1, 2, 3)
+ Nội dung 3 của bảng hỏi 2 (câu 4, 5)
+ Nội dung 5 của bảng hỏi 2 (câu 6, 7, 8, 9)
+ Câu 19, 22 trong nội dung 6 của bảng hỏi 2 (câu 10, 11)
+ Nội dung 9 của bảng hỏi 2 (câu 12)
+ Câu 13 của bảng hỏi 3 tìm hiểu cách ứng xử của Thầy cô khi học sinh
trường mình nói dối.
- Cách thức chấm điểm
+ Cách thức chấm điểm tương tự như bảng hỏi 2
+ Câu 13 được quy đổi điểm giống các câu 8, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 ở
bảng 2.1
Thang đo về sự cô đơn (Revised ucla loneliness scale) [66].
- Mô tả bảng hỏi: Đây là thang đo được soạn thảo bởi nhóm tác giả Russell,
D., Peplau, L.A. và Cutrona, C.E. (1980). Thang đo bao gồm 20 câu hỏi dùng để đo
lường sự cô đơn hay cảm giác bị xã hội cô lập. Khách thể tham gia trả lời từng câu
hỏi trên thang điểm từ 1 (Không bao giờ) đến 4 (thường xuyên). “Revised ucla
loneliness scale” được xem là một thang đo đơn giản nhưng đáng tin cậy với hệ số
alpha = 0,96 và sự tương quan kiểm chứng lại trong khoảng thời gian hai tháng
68
0,73. Đây là thang đo bằng tiếng Anh và được tác giả cho phép sử dụng. Do đó,
người nghiên cứu đã tiến hành dịch thuật để khảo sát.
- Cách thức chấm điểm: Không bao giờ = 0, ít khi = 1, thỉnh thoảng = 2,
thường xuyên = 3.
Bảng 2.4. Cách thức quy đổi điểm thang đo sự cô đơn
ĐTB Mức độ cô đơn
2,51 - 3 Cao
1,51 - 2,5 Khá
0,51 - 1,5 Trung bình
0 - 0,5 Thấp
Thang đo về trạng thái căng thẳng (PSS-14)
- Mô tả bảng hỏi: Đây là một hình thức ngắn của Cohen và cộng sự (1983),
được sử dụng để đo lường sự quá tải dẫn đến căng thẳng trong cuộc sống của thanh
thiếu niên. Tổng cộng có 10 câu hỏi được đánh giá trên thang 5 điểm từ “không bao
giờ” đến “rất thường xuyên”. Hệ số Cronbach alpha là 0,80. Đây cũng là thang đo
bằng tiếng Anh và đã được tác giả cho phép sử dụng. Do đó, người nghiên cứu đã
tiến hành dịch thuật để khảo sát.
- Cách thức chấm điểm: Không bao giờ = 0, hiếm khi = 1, thỉnh thoảng =2,
thường xuyên =3, rất thường xuyên = 4. Một số câu hỏi (4, 5, 6, 7, 9, 10, và 13) có
cách chấm điểm ngược lại. Điểm trung bình chia làm 5 mức độ:
Bảng 2.5. Cách thức quy đổi điểm thang đo sự căng thẳng
ĐTB Mức độ căng thẳng
3,51 - 4 Rất cao
2,51 - 3,5 Cao
1,51 - 2,5 Trung bình
0,5 - 1,5 Thấp
0 - 0,49 Rất thấp
69
Thang đo về lòng tự trọng
- Mô tả bảng hỏi: Tác giả của thang đo này là Rosenberg (1965). Ông đã thiết
kế 10 câu hỏi nhằm đo lường lòng tự trọng ở thanh thiếu niên. Câu trả lời bao gồm
4 mức độ khác nhau, từ “hoàn toàn đồng ý” (SA), “đồng ý” (A), “không đồng ý”
(D) đến “hoàn toàn không đồng ý” (DS). Thang đo này đã được thử nghiệm ở 5024
học sinh THCS và trung học phổ thông từ 10 trường được chọn ngẫu nhiên ở bang
New York với hệ số Cronbach alpha là 0,78. Đây cũng là thang đo được tác giả cho
phép được sử dụng rộng rãi.
- Cách thức chấm điểm: SA=3, A=2, D=1, SD=0. Một số câu hỏi có cách
chấm điểm ngược lại. Điểm trung bình chia làm ba mức độ:
Bảng 2.6. Cách thức quy đổi điểm thang đo lòng tự trọng
ĐTB Mức độ lòng tự trọng
2,51 - 3 Cao
1,51 - 2,5 Khá
0,51 - 1,5 Trung bình
0 - 0,5 Thấp
2.1.2.2. Phương pháp phỏng vấn
a. Mục đích nghiên cứu
Tiến hành phỏng vấn giáo viên, phụ huynh HS, HS nhằm:
+ Bổ sung thêm thông tin để góp phần làm sáng tỏ kết quả khảo sát
+ Kiểm tra độ trung thực của các kết quả trả lời phiếu điều tra ý kiến.
+ Tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu qua một số khách thể.
b. Cách thức tiến hành
- Liên hệ với giáo viên, phụ huynh HS, HS có biểu hiện HVND để làm rõ số
liệu xử lý.
- Tiến hành phỏng vấn dựa trên bảng phỏng vấn với câu hỏi đã chuẩn bị sẵn
theo mục đích nghiên cứu. Có thể sử dụng thêm những câu hỏi phát sinh tùy theo
vấn đề phát sinh trong nội dung trả lời của khách thể.
70
2.1.2.3. Phương pháp thống kê toán học
a. Mục đích nghiên cứu
Xử lý các kết quả định lượng thu được từ cuộc khảo sát nhằm làm cơ sở để
biện luận kết quả nghiên cứu.
b. Nội dung nghiên cứu
- Thống kê mô tả: tính tổng, trị số trung bình, tần số, tỷ lệ phần trăm, kiểm
nghiệm phi tham số ANOVA, kiểm nghiệm T Test.
- So sánh kết quả giữa các nhóm khách thể, các mặt khác nhau trong cùng một
chỉ báo nghiên cứu.
c. Cách thức tiến hành
Sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS 20.0 để xử lý các dữ kiện thu
được phục vụ cho việc phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu.
2.1.3. Vài nét về khách thể nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số
trường THCS tại Tp.HCM
2.1.3.1. Đối với khách thể là HS THCS, phụ huynh và giáo viên
Theo báo cáo tổng kết của Sở Giáo dục - Đào tạo, tính đến năm 2005, tại
TP.HCM có khoảng 33.156 HS THCS. Do giới hạn của đề tài nên tổng số khách thể
nghiên cứu chỉ có 480 học sinh THCS của bốn trường được chọn ngẫu nhiên và các
trường này phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn nội thành TP.HCM: THCS
Kim Đồng (quận 5), THCS Quang Trung (Gò Vấp), THCS Phan Chu Trinh (Bình
Tân), THCS Phan Bội Châu (quận Tân Bình).
71
Bảng 2.7. Vài nét về khách thể nghiên cứu (học sinh)
Thông tin về Tần số Phần trăm Tổng khách thể nghiên cứu
THCS Kim Đồng 120 25% 480
100% THCS Quang Trung 120 25% Trường THCS Phan Chu Trinh 120 25% 480
100% THCS Phan Bội Châu 120 25%
Khối 6 120 25%
Khối 7 120 25% 480 Khối
100% Khối 8 120 25% lớp
Khối 9 120 25%
Nam 225 46.9% 480 Giới
100% Nữ 255 53.1% tính
Tốt 345 71.9%
Khá 101 21% 480 Hạnh
100% kiểm Trung Bình 34 7.1%
211
44%
Yếu 0 0%
200
41.6%
Không
55
11.5%
Phật 480 Tôn
14
2.9%
100% Thiên chúa giáo
Tôn giáo khác
Do phiếu hỏi có yêu cầu sàng lọc nên người nghiên cứu đã có sự xem xét từng
phiếu và yêu cầu HS làm lại khi phiếu chưa đạt yêu cầu. Số phiếu không hợp lệ
được thay thế và thực hiện lại để bảo đảm về mặt số lượng. Vì vậy, quan sát bảng
2.6 có thể nhận thấy số lượng học sinh THCS xét theo trường và lớp là bằng nhau
(25%). Xét về mặt giới tính, tỷ lệ HS nam nữ cũng tương đương nhau (nam chiếm
46.9% và nữ là 53.1%). Trong tổng 480 phiếu, có 71.9% HS có hạnh kiểm tốt, 21%
có hạnh kiểm khá và 7.1% có hạnh kiểm trung bình. Phân nữa HS được khảo sát có
tôn giáo Phật (41.6%), khá nhiều HS không tôn giáo (34.6%), 11.5% HS thuộc
thiên chúa giáo và một vài HS theo các tôn giáo khác (2.9%).
72
Lượng mẫu 480 HS không phải là một mẫu lớn. Tuy nhiên do đề tài chỉ
nghiên cứu một số trường tại Tp.HCM nên số lượng khách thể này là chấp nhận
được. Mặc khác, người nghiên cứu cũng đưa thêm vào khách thể hỗ trợ với 84 phụ
huynh và 146 giáo viên tại bốn trường làm căn cứ để bổ sung thêm cho kết quả
nghiên cứu. Cụ thể như sau:
Bảng 2.8. Vài nét về khách thể nghiên cứu (phụ huynh HS và giáo viên)
Thông tin về khách thể nghiên cứu Tần số % Tổng
THCS Kim Đồng 24 28.6% 84
100% THCS Quang Trung 22 26.2%
Phụ Trường THCS Phan Chu Trinh 22 26.2%
huynh THCS Phan Bội Châu 16 19%
HS 35 41.7% 84 Giới tính Nam
100% Nữ 49 58.3%
THCS Kim Đồng 32 21.9% 146
100% THCS Quang Trung 40 27.4%
Giáo Trường THCS Phan Chu Trinh 39 26.7%
viên THCS Phan Bội Châu 35 24%
Nam 70 47.9% 146
100% Giới tính Nữ 76 52.1%
2.1.3.2. Đối với khách thể ở các lứa tuổi khác nhau
Như đã đề cập, xem xét HVND dựa vào CMXH hiện nay là hướng đi chính
của đề tài. Do đó, đề tài đã tiến hành khảo sát 525 khách thể ở các lứa tuổi khác
nhau về CMXH đối với HVND ở 3 khía cạnh: động cơ nói dối, cường độ nói dối,
sự đi kèm các HVLC khác. Đây cũng là 3 khía cạnh để đánh giá HVND lệch chuẩn
theo DSM-4. Trong giới hạn cho phép, đề tài chỉ khảo sát được 525 khách thể để đo
lường CMXH về HVND. Do đó, CMXH được đề cập trong toàn bộ đề tài được
ngầm hiểu như chuẩn mực của 525 khách thể được khảo sát. Thông tin khách thể
khảo sát CMXH được thể hiện rõ trong bảng sau:
73
Bảng 2.9. Vài nét về khách thể nghiên cứu (ở các độ tuổi khác nhau)
Thông tin về khách thể nghiên cứu Tần số % Tổng
254 48.4% 525 Nam Giới tính
100% 271 51.6% Nữ
174 33.1% 525 18-24 Độ tuổi
100% 323 61.5% 25-55
28 5.4% Trên 55
Bảng 2.9 cho thấy trong 525 khách thể được khảo sát thì tỷ lệ nam nữ là tương
đương nhau (nam là 48.4%, nữ là 51.6%). Xét theo độ tuổi, ở nhóm tuổi thanh niên,
sinh viên (từ 18 đến 24 tuổi) chiếm 33.1%, nhóm tuổi trưởng thành (từ 22-55 tuổi)
chiếm 61.5%, nhóm tuổi già (trên 55 tuổi) chiếm 5.4%. Nếu so sánh từng nhóm tuổi
với nhau thì tỷ lệ phân bố có sự chênh lệch khá cao. Tuy nhiên, nếu chia các nhóm
tuổi thành từng mốc tuổi thì tỷ lệ mẫu lại khá cân bằng. Đây cũng là điều kiện thuận
lợi để xem xét CMXH về HVND.
2.2. Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
2.2.1. Nhận thức của HS THCS về HVND
Nhận thức của HS THCS về định nghĩa nói dối được đề cập trong bảng 2.10
dưới đây:
Bảng 2.10. Nhận thức của HS THCS về định nghĩa HVND
STT Nội dung Đúng Sai
Tần số % Tần số %
1 Lời nói không đúng thực tế nhưng người 204 42.5% 276 57.5%
nói không cố ý đánh lừa người nghe
2 Lời nói không đúng thực tế, người nói 261 54.4% 219 45.6%
không cố ý đành lừa người nghe nhưng
sau khi kiểm chứng lại lời nói, biết là sai
nhưng vẫn không điều chỉnh lại
3 Lời nói không đúng thực tế nhưng người 305 63.5% 175 36.5%
nói cố ý đánh lừa người nghe.
74
4 Lời nói không đúng thực tế, người nói cố 215 44.8% 265 55.2%
ý đánh lừa người nghe nhưng sau đó có
sự giải thích về sự thật.
5 Lời nói không đúng thực tế, người nói cố 292 60.8% 188 39.2%
ý đánh lừa người nghe nhưng nhờ đó
người nghe có thể suy ngẫm để rút ra bài
học cho bản thân (thường gặp trong các
hình thức văn học nghệ thuật)
Nhìn chung, chỉ khoảng 1/2 mẫu khách thể có nhận thức đúng về HVND. Các
tỷ lệ chọn lựa đúng, sai chênh lệch nhau không nhiều. Cụ thể, ở câu 1 có đến
204/480 HS cho rằng “lời nói không đúng thực tế nhưng người nói không cố ý đánh
lừa người nghe” là nói dối. Câu 2 có đến 219/480 HS cho rằng “lời nói không đúng
thực tế, người nói không cố ý đành lừa người nghe nhưng sau khi kiểm chứng lại lời
nói, biết là sai nhưng vẫn không điều chỉnh lại” không phải là nói dối. Hay ở câu 4,
có đến 215/480 HS cho rằng “lời nói không đúng thực tế, người nói cố ý đánh lừa
người nghe nhưng sau đó có sự giải thích về sự thật” là nói dối. Tương tự, có đến
60.8% HS cho rằng “lời nói không đúng thực tế, người nói cố ý đánh lừa người
nghe nhưng nhờ đó người nghe có thể suy ngẫm để rút ra bài học cho bản thân
(thường gặp trong các hình thức văn học nghệ thuật)” là nói dối. Đây đều là những
nhận định chưa thật sự chính xác về định nghĩa nói dối. Kết quả phỏng vấn về vấn
đề này, bạn N.D.T trường THCS Kim Đồng cho biết: “Em nghĩ nói dối là nói
không đúng sự thật nhưng cũng tùy. Nói chung đây là một khái niệm phức tạp”.
Tương tự, khi được hỏi nói dối là gì, bạn N.V.C trường THCS-THPT Phan Chu
Trinh cho biết: “Khái niệm này khó quá, em chưa được học. Nhưng em nghĩ nói dối
là nói sai sự thật một cách cố ý”
Nói dối là nói không đúng toàn bộ hoặc không đúng một phần (sai một hoặc
một số chi tiết). Mức độ sai có thể là khác ít, khác nhiều, hoặc khác hoàn toàn và
đối với bất kỳ sự việc nào, dù mang tính chất nghiêm trọng hay không nghiêm
trọng. Nhận thức của HS THCS về vấn đề này được đề cập trong bảng 2.11.
75
Bảng 2.11. Nhận thức của HS về đặc điểm của nói dối
STT Nội dung Đúng Sai
Tần số % Tần số %
1 Nói sai hoàn toàn sự thật đối với một sự 354 73.8% 126 26.2%
việc có tính chất nghiêm trọng
2 Nói sai một phần sự thật đối với một sự 292 60.8% 188 39.2%
việc có tính chất nghiêm trọng
3 Nói sai một phần sự thật đối với một sự 229 47.7% 251 52.3%
việc không có tính chất nghiêm trọng.
4 Nói sai hoàn toàn sự thật đối với một sự 265 55.2% 215 44.8%
việc không có tính chất nghiêm trọng
Bảng 2.11 cho thấy hơn 1/2 mẫu nghiên cứu đồng ý với đặc điểm nêu trên của
nói dối. Tuy nhiên, đáng lưu ý là ở câu 3 có đến 251/480 (52.3%) HS cho rằng “nói
sai một phần sự thật đối với một sự việc không có tính chất nghiêm trọng” không
phải là nói dối. Có thể thấy, việc đánh giá là sai nhiều hay ít phụ thuộc vào đối
tượng, sự việc và cách đưa đối tượng, sự việc ra để đánh giá. Nếu sự việc gồm
nhiều bộ phận, chi tiết thì việc sai khác đi một hoặc một vài chi tiết thường được coi
là khác ít. Nếu chỉ xét riêng bộ phận, chi tiết ấy thôi thì việc nói khác đi lại bị coi là
lớn, là nói khác hoàn toàn. Do vậy, đã là không đúng thực tế thì dù là không đúng
một phần hay toàn bộ sự thật thì đều thuộc về nói dối. Điều này cũng tương tự với
việc đánh giá một sự việc có tính chất nghiêm trọng hay không nghiêm trọng. Khi
được hỏi tại sao nói sai một phần sự thật đối với một sự việc không có tính chất
nghiêm trọng không phải là nói dối, em T.T.H.H trường THCS Quang Trung trả lời:
“Em nghĩ rằng nói dối như vậy là nhỏ và có thể bỏ qua”. Rõ ràng, với quan điểm
này, nhận thức của HS là chưa phù hợp và cần phải có sự uốn nắn kịp thời.
Sự phức tạp của định nghĩa về nói dối dẫn đến sự khó khăn trong việc phân
biệt nói dối với các hành vi khác có mối quan hệ gần với nói dối. 480 HS THCS
được khảo sát đã có sự phân biệt nói dối và các hành vi này ở bảng 2.12, như sau:
76
Bảng 2.12. Nhận thức của HS về sự phân biệt HVND với các hành vi khác
gần với nói dối
STT Nội dung Đúng Sai
Tần số % Tần số %
31.7% 1 Lừa dối là nói dối 68.3% 152 328
33.5% 2 Làm dối là nói dối 66.5% 161 319
3 Giữ bí mật, giấu thông tin là nói dối 42.9% 274 57.1% 206
4 Nói lảng, nói tránh là nói dối 36.9% 303 63.1% 177
5 Nói sai sự thật do ngộ nhận là nói dối 37.7% 299 62.3% 181
6 Trong tranh luận khoa học, các ý kiến 123 25.6% 357 74.4%
không đúng với thực tế do nghĩ sao nói
vậy là nói dối
7 Dự báo, dự đoán sai là nói dối 185 38.5% 295 61.5%
8 Hứa và dọa nhưng không biết là tương 142 29.6% 338 70.4%
lai không thể làm được là nói dối
9 Hứa và dọa nhưng không thực hiện, mặc 319 66.5% 161 33.5%
dù tương lai có thể thực hiện được là nói
dối
10 Hành vi nói khoác, nói cường điệu, nói 125 26% 355 74%
vòng nhằm mục đích giải trí hoặc truyền
đi một thông điệp hàm ý là nói dối
Trong 10 hành vi được người nghiên cứu đưa ra để phân biệt với nói dối, đa
phần HS THCS có sự phân biệt chính xác ở hành vi số 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Tuy
nhiên, có đến 42.9% HS cho rằng “giữ bí mật, giấu thông tin là nói dối” và 68.3%
HS nhìn nhận sai, cho rằng lừa dối là nói dối. Con số cũng tương tự với 66.5% HS
nhìn nhận sai và cho rằng làm dối là nói dối. Rõ ràng, chính sự nhận thức chưa đầy
đủ về định nghĩa nói dối ở trên đã kéo theo những sai sót khi phân biệt nói dối với
các hành vi “giáp ranh” khác ở HS THCS.
77
Trong khi đó với định nghĩa về nói dối, ở câu 1 có đến 82% phụ huynh HS
chọn “sai” (đáp án được xem là đúng) và con số này lên đến 92% ở giáo viên. Ở câu
2 có 79% phụ huynh HS chọn “đúng” (đáp án được xem là đúng) và con số này
cũng lên đến 93.4% ở giáo viên. Tương tự, ở các câu 3, 4, 5 tỷ lệ phụ huynh và giáo
viên lựa chọn đáp án phù hợp dao động từ 76% đến 92.1%. Với đặc điểm của nói
dối, phụ huynh HS lựa chọn đáp án phù hợp dao động trong khoảng 77.2% đến
91.5%, ở giáo viên từ 87.9% đến 98.7%. Tương tự, ở sự phân biệt nói dối với các
hành vi giáp ranh, sự lựa chọn đáp án phù hợp chiếm tỷ lệ rất cao. Ở phụ huynh HS
thấp nhất là 72.9% và cao nhất là 89.9%. Ở giáo viên con số cao nhất là 95.7% và
thấp nhất là 86.6%.
Từ những nhận xét nêu trên, có thể thấy, một trong những biện pháp hữu hiệu
để nâng cao nhận thức của HS THCS về nói dối là sự giáo dục của phụ huynh và
giáo viên về vấn đề này, đặc biệt là giáo viên. Đây cũng là một trong những cơ sở
để người nghiên cứu đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục HVND của HS THCS.
2.2.2. Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại TP.HCM xét
theo CMXH và DSM – 4
2.2.2.1. Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại TP.HCM xét theo
CMXH
a. CMXH về HVND và nhận thức của HS THCS về CMXH đối với HVND
CMXH và nhận thức của HS THCS về động cơ dẫn đến HVND
Bảng 2.13. CMXH và nhận thức của HS THCS về động cơ dẫn đến HVND
STT Động cơ CMXH Nhận thức của HS
THCS về CMXH
ĐTB Xếp hạng ĐTB Xếp hạng
Để được nhận đồ vật 0.39 1 0.71 3 1
Để được nhận ân huệ (sự cho 0.4 2 0.67 1 2
phép, sự tha thứ…)
3 Tránh nghĩa vụ 0.46 0.84 6 3
4 Tránh bị trừng phạt 4 0.53 0.87 8
78
Tự khẳng định bản thân 0.56 5 5 0.71 3
Nói dối nhằm thăm dò, tìm hiểu 0.62 6 6 0.9 9
sự thật
Khoe khoan về bản thân 0.7 7 7 0.68 2
Che giấu hành động của bản thân 0.81 8 8 0.86 7
Gây chú ý với người khác 0.81 9 8 0.8 4
10 Tự bảo vệ bản thân hoặc bảo vệ 0.83 9 0.9 9
người khác.
11 Làm cho những câu chuyện trở 0.83 9 1.14 12
nên thú vị hay sống động hơn.
Không làm tổn thương người khác 0.83 9 12 1.26 16
Che giấu HVND trước đó 0.87 13 10 0.83 5
Nói những điều tưởng tượng 0.98 14 11 0.98 10
Thuyết phục, giải thích để người 1.01 15 12 1.13 11
khác chấp nhận
Che giấu cảm xúc bản thân 1.03 16 13 1.19 14
Giúp đỡ người khác 1.09 17 14 1.18 13
Tạo không khí vui vẻ, giao lưu 1.13 18 15 1.31 17
Làm vui lòng người khác 1.15 19 16 1.23 15
Với 3 phương án lựa chọn là không phù hợp (0 điểm), phân vân (1 điểm), phù
hợp (2 điểm) và theo thang quy đổi ĐTB đã trình bày, CMXH (quan điểm của 525
khách thể ở các độ tuổi khác nhau) được chia thành 2 nhóm sau:
- Các động cơ nói dối không phù hợp (ĐTB từ 0 đến 0.49): nói dối để được
nhận đồ vật; để được nhận ân huệ; tránh nghĩa vụ. Ba động cơ này được xếp ở 4 thứ
hạng đầu tiên theo cách sắp xếp từ không phù hợp đến phù hợp.
- Các động cơ nói dối còn phân vân giữa phù hợp và không phù hợp (ĐTB từ
0.5 đến 1.5): nói dối để tự khẳng định bản thân (hạng 5); nói dối nhằm thăm dò, tìm
hiểu sự thật (hạng 6); khoe khoang về bản thân (hạng 7); che giấu hành động bản
79
thân; gây chú ý với người khác (hạng 8); tự bảo vệ bản thân hoặc bảo vệ người
khác; làm cho những câu chuyện trở nên thú vị hay sống động hơn; không làm tổn
thương người khác (hạng 9); che giấu HVND trước đó (hạng 10); nói những điều
tưởng tượng (hạng 11); thuyết phục, giải thích để người khác chấp nhận (hạng 12);
che giấu cảm xúc bản thân (hạng 13); giúp đỡ người khác (hạng 14); tạo không khí
vui vẻ, giao lưu (hạng 15); làm vui lòng người khác (hạng 16).
Kiểm nghiệm T-Test với Sig.= 0.225 cho thấy không có sự khác biệt giữa nam
và nữ khi đánh giá về động cơ dẫn đến HVND là phù hợp hay không phù hợp. Xét
theo độ tuổi, kiểm nghiệm ANOVA với Sig = 0.541 cũng cho thấy không có sự
khác biệt về cách đánh giá giữa 3 nhóm tuổi với nhau. Như vậy, nếu HVND nào ở
HS THCS xuất phát từ động cơ để được nhận đồ vật hay ân huệ; tránh nghĩa vụ
được xem xét là không phù hợp. Điều đáng lưu ý là quan điểm này hoàn toàn trùng
khớp với tiêu chí chẩn đoán về HVND lệch chuẩn của DSM – 4. Tuy nhiên không
thể nào chỉ căn cứ vào yếu tố động cơ để kết luận một HS THCS có HVND dạng
lệch chuẩn mà cần dựa vào một tiêu chí khác là cường độ xuất hiện của HVND.
Mặt khác, khi xem xét nhận thức của HS THCS về CMXH đối với HVND, HS
tỏ ra phân vân trước 19 động cơ được đưa ra khảo sát. Minh chứng là khi phân chia
theo thang quy đổi ĐTB thì tất cả các động cơ đều ở nhóm phân vân giữa không
phù hợp và phù hợp. Ba động cơ không phù hợp theo đánh giá của 525 khách thể ở
mọi lứa tuổi được HS xếp lần lượt ở các thứ hạng 3, 1, 6 trong đó thứ hạng 2 là
“khoe khoan về bản thân”. ĐTB và các thứ hạng còn lại cũng xấp xỉ nhau. Kiểm
nghiệm ANOVA với Sig = 0.079 cho thấy không có sự khác biệt về trường, Sig =
0.553 cho thấy không có sự khác biệt về lớp, Sig = 0.611 cho thấy không có sự khác
biệt về mặt tôn giáo. Kiểm nghiệm T- Test với Sig = 0.553 cho thấy không có sự
khác biệt về mặt giới tính. Tuy nhiên, kiểm nghiệm ANOVA với biến số là hạnh
kiểm cho kết quả có sự khác biệt ý nghĩa như sau:
80
Bảng 2.14. So sánh sự khác biệt về nhận thức của HS THCS đối với động
cơ dẫn đến HVND theo biến số hạnh kiểm
N Loại hạnh kiểm Sig. ĐTB
345 Tốt 0.96
0.012 101 Khá 0.90
34 Trung bình 1.34
480 Tổng
Quan sát bảng 2.14, ĐTB của HS có hạnh kiểm trung bình là cao nhất. Như
vậy, khi nhìn nhận về các động cơ dẫn đến HVND, HS có hạnh kiểm trung bình tỏ
ra rất phân vân và có phần nghiêng về sự phù hợp cho các động cơ nói dối. Điều
này rất dễ hiểu và cũng là căn cứ quan trọng để xem xét sự khác biệt về HVND ở
HS THCS theo biến số hạnh kiểm.
Tóm lại, HS THCS mặc dù vẫn còn phân vân khi đánh giá động cơ nào là phù
hợp hay không phù hợp nhưng bước đầu đã có sự nhận thức tương đối phù hợp về
điều này. Tuy nhiên, cần giúp cho HS hiểu được sự không phù hợp khi nói dối xuất
phát từ động cơ tránh nghĩa vụ (hạng 6 theo đánh giá của HS), đặc biệt là những HS
có hạnh kiểm trung bình.
CMXH và nhận thức của HS THCS về cường độ xuất hiện của HVND
Tiêu chí thứ hai để xác định CMXH đối với HVND là cường độ xuất hiện của
hành vi. Bảng 2.15 dưới đây mô tả CMXH và nhận thức của HS THCS về cường độ
xuất hiện của HVND:
Bảng 2.15. CMXH và nhận thức của HS THCS về cường độ xuất hiện của
HVND
Nội dung CMXH thức của HS
Nhận THCS về CMXH
Tần số % Tần số %
a. Chỉ 1 lần nói dối 40 7.5% 52 10.8%
b. Từ 2 tháng liên tục trở lên 202 42.1% 211 40.2%
c. Từ 4 tháng liên tục trở lên 108 20.6% 78 16.3%
d. Từ 6 tháng liên tục trở lên 166 31.7% 148 30.8%
e. Ý kiến khác 0 0% 0 0%
81
Khi được hỏi: “Để đánh giá một HS THCS có HVND lệch chuẩn (không đúng
với CMXH) thì hành vi đó cần xuất hiện trong bao lâu?” thì có đến có hơn 1/3 mẫu
nghiên cứu (40.2%) trả lời là từ 2 tháng liên tục trở lên. Tiếp theo là 31.7% cho rằng
từ 6 tháng liên tục trở lên, 20,6% nhận định từ 4 tháng liên tục và chỉ một lần nói
dối chiếm tỷ lệ 7.5%. Rõ ràng, việc đánh giá về cường độ xuất hiện của HVND để
xác định HVND có lệch chuẩn hay không còn chưa có sự thống nhất. Sự đồng ý của
khách thể với lựa chọn “từ 6 tháng liên tục trở lên” (31.7%) cũng chính là tiêu
chuẩn đánh giá HVLC của DSM – 4. Tuy nhiên, câu trả lời được nhiều khách thể
lựa chọn nhất vẫn là “trong 2 tháng liên tục”. Điều này cũng có thể giải thích là vì
truyền thống của dân tộc Việt Nam luôn coi trọng chữ “chính”. Truyền thống này
đã góp phần ảnh hưởng rất lớn đến quan điểm sống, cách đánh giá của 525 khách
thể được khảo sát.
Kiểm nghiệm T – Test với Sig = 0.271 cho thấy không có sự khác biệt giữa
nam và nữ; kiểm nghiệm ANOVA với Sig = 0.417 cũng cho thấy không có sự khác
biệt về nhóm tuổi khi đánh giá về cường độ xuất hiện của HVND. Tổng hợp hai tiêu
chí, có thể thấy rằng, một HS THCS có HVND dạng lệch chuẩn khi HVND có sự
xuất phát từ động cơ để được nhận đồ vật hay ân huệ; tránh nghĩa vụ và xuất hiện
liên tục hành vi trong vòng 2 tháng.
Quan sát bảng 2.15 có thể thấy rằng CMXH về cường độ xuất hiện của HVND
này được HS THCS nhận thức khá tốt. Các em cũng cho rằng HVND xuất hiện
trong 2 tháng liên tục thì được đánh giá là không phù hợp (42.1%). Kiểm nghiệm T-
Test với Sig = 0.21 cho thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ, kiểm nghiệm
ANOVA với Sig = 0.19 cho thấy không có sự khác biệt về trường, Sig = 0.073 cho
thấy không có sự khác biệt về lớp, Sig = 0.06 cho thấy không có sự khác biệt về mặt
tôn giáo, Sig = 1.93 cũng cho thấy không có sự khác biệt về mặt hạnh kiểm khi HS
THCS đánh giá về cường độ xuất hiện của HVND. Như vậy, dựa vào 2 tiêu chí:
động cơ, cường độ xuất hiện của HVLC đã nghiên cứu cho phép kết luận một
HVND là lệch chuẩn hay không. Kết luận chính là phần giao của 2 tiêu chí. Nói
khác đi, một HVND lệch chuẩn ở HS THCS cần thỏa mãn 2 tiêu chí sau:
- Tiêu chí 1: HVND xuất hiện liên tục hành vi trong vòng 2 tháng trở lên.
82
- Tiêu chí 2: HVND xuất phát từ động cơ để được nhận đồ vật hay ân huệ;
tránh nghĩa vụ.
So sánh hai khía cạnh nghiên cứu HVND xét theo CMXH và xét theo DSM –
4 có thể thấy rằng khung đánh giá về HVND dạng lệch chuẩn xét theo CMXH có
phần khắc khe hơn so với DSM – 4. Tiêu chí về động cơ là như nhau nhưng hai
khía cạnh nghiên cứu lại khác nhau ở tiêu chí thứ hai là cường độ xuất hiện HVND.
Theo đó, quan điểm theo khía cạnh CMXH cho rằng một HVND xuất hiện liên tục
trên 2 tháng là có thể đánh giá là lệch chuẩn nhưng 6 tháng liên tục trở lên mới là
con số của DSM - 4. Sự khác nhau này kéo theo tỷ lệ HS THCS có HVND dạng
lệch chuẩn sẽ có sự chênh lệch nhau trong kết quả nghiên cứu thực trạng HVND
của HS một số trường THCS tại Tp.HCM sẽ trình bày tiếp theo.
b. Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM xét theo
CMXH về HVND
Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu
chí 1 của CMXH
Bảng 2.16. Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về
HVND xét theo tiêu chí 1 của CMXH
Nội dung Tần số % Tổng %
a. Chưa bao giờ nói dối 0 0%
b. Đã nói dối ít nhất một lần 383 79.8%
c. Nói dối liên tục từ 2 tháng trở lên 25 5.2%
97 20.2% d. Nói dối liên tục từ 4 tháng trở lên 10 2.08%
e. Nói dối liên tục từ 6 tháng trở lên 62 12.9%
f. Ý kiến khác 0 0%
Như đã nói ở trên, để kết luận một HVND có lệch chuẩn hay không cần dựa
vào phần “giao” của hai tiêu chí. Hay nói cách khác, để xác định được tỷ lệ HS
THCS có HVND dạng lệch chuẩn cần có sự sàng lọc ở từng tiêu chí. Trong tiêu chí
một, khi được yêu cầu tự đánh giá về HVND của mình về mặt cường độ xuất hiện
thì tất cả 480 HS đều thừa nhận rằng mình đã nói dối (0% lựa chọn chưa bao giờ nói
83
dối), 79.8% HS thừa nhận mình đã nói dối ít nhất một lần. Đây là điều hoàn toàn dễ
hiểu bởi lẽ nói dối là đều không thể tránh khỏi trong cuộc sống và thật khó tìm được
một thành viên nào của xã hội mà chưa từng nói dối. Tuy nhiên, điều đáng chú ý ở
đây là có đến 5.2% HS tự đánh giá là mình đã nói dối liên tục từ 2 tháng trở lên,
2.08% HS cho rằng mình đã nói dối liên tục từ 4 tháng trở lên và 12.9% HS cho
rằng mình đã nói dối liên tục từ 6 tháng trở lên. Với tiêu chí 1 đặt ra là HVND xuất
hiện liên tục trong vòng 2 tháng trở lên thì được xem là lệch chuẩn thì ở HVND
xuất hiện liên tục từ 4 tháng trở lên và 6 tháng trở lên đều được xét là thỏa mãn tiêu
chí này. Do đó, tổng cộng có 97 (20,2%) HS thỏa mãn tiêu chí đã đề ra. Kết quả
đánh giá con mình và HS của mình ở phụ huynh và giáo viên cũng cho ra kết quả
tương tự như sau:
Bảng 2.17. Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số
trường THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 1 của CMXH
Nội dung Phụ huynh Giáo viên
Tần số % Tần %
số
a. Chưa bao giờ nói dối 0 0% 0% 0
b. Đã nói dối ít nhất một lần 91 62.3% 76.2% 64
c. Nói dối liên tục từ 2 tháng trở lên 10 6.8% 5.9% 5
d. Nói dối liên tục từ 4 tháng trở lên 9 6.2% 5.9% 5
e. Nói dối liên tục từ 6 tháng trở lên 11 7.5% 11.9% 10
f. Ý kiến khác
20 Tổng theo tiêu chí 1 23.8% 30 20.5%
Từ con số 20.2% do HS tự đánh giá, 23.8% do phụ huynh đánh giá và 20.5%
do giáo viên đánh giá có thể nhận thấy rằng tự đánh giá HVND ở HS THCS xét
theo tiêu chí 1 của CMXH có tỷ lệ thấp nhất. Điều đó cho thấy rằng HS THCS đánh
giá hành vi của mình có biểu hiện thoáng hơn so với giáo viên và nhất là với phụ
huynh HS. Tuy nhiên, tỷ lệ chênh lệch nhau không nhiều trong đánh giá cho thấy
mức độ tin cậy của cường độ xuất hiện HVND hiện nay. Kiểm nghiệm T- test với
84
Sig = 0.070 ở giáo viên, Sig = 0.719 ở phụ huynh cho thấy không có sự khác biệt
giữa nam nữ giáo viên và nam nữ phụ huynh khi đánh giá. Kiểm nghiệm ANOVA
cũng cho thấy không có sự khác biệt theo biến trường với Sig = 0.92 ở giáo viên và
Sig = 1.23 ở phụ huynh.
Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu
chí 2 của CMXH (thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM xét
theo sự tổng hợp 2 tiêu chí)
Dựa vào CMXH về động cơ dẫn đến HVND đã nghiên cứu ở mục trước, trong
câu 9 của bảng hỏi dành cho HS THCS, người nghiên cứu liệt kê ra 3 động cơ
không phù hợp và yêu cầu HS tự đánh giá về 3 động cơ này. Kết quả được mô tả ở
bảng 2.18.
Bảng 2.18. Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về
HVND xét theo tiêu chí 2 của CMXH
Nội dung Có Không
Tần % trên toàn Tần % trên toàn
số mẫu số mẫu
Được đồ vật (bánh kẹo, tiền bạc,
đồ chơi…)
76 15.8% 21 4.3% Được ân huệ (sự tha thứ, ban ơn,
cho cơ hội…)
Tránh nghĩa vụ (làm việc nhà, dọn
dẹp vệ sinh, học tập…)
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 97 HS THCS đã được sàng lọc ở tiêu chí 1
có 76 (78.4%) HS tự đánh giá là có nói dối xuất phát từ động cơ được đồ vật hay ân
huệ, tránh nghĩa vụ và 21.6% cho rằng “không”. Như vậy, tổng hợp cả 2 tiêu chí 1
và 2 thì có 76 HS có HVLC. Nếu quy ra toàn mẫu thì tỷ lệ là 15.8%. Kết quả đánh
giá con mình và HS của mình ở phụ huynh và giáo viên cũng cho ra kết quả tương
tự như sau:
85
Bảng 2.19. Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số
trường THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 2 của CMXH (bảng tổng hợp 2 tiêu
chí)
Có Không
Đối tượng Nội dung Tần % trên Tần % trên
số toàn mẫu số toàn mẫu
Được đồ vật (bánh kẹo, tiền
bạc, đồ chơi…)
13 15.5% 8.3% 7 Được ân huệ (sự tha thứ, ban
Phụ huynh ơn, cho cơ hội…)
Tránh nghĩa vụ (làm việc nhà,
dọn dẹp vệ sinh, học tập…)
Được đồ vật (bánh kẹo, tiền
bạc, đồ chơi…)
21 14.4% 9 6.1% Giáo viên Được ân huệ (sự tha thứ, ban
ơn, cho cơ hội…)
Tránh nghĩa vụ (làm việc nhà,
dọn dẹp vệ sinh, học tập…)
Quan sát bảng 2.19 có thể nhận thấy đánh giá của 38 phụ huynh và 55 giáo
viên đã được sàng lọc ở tiêu chí 1 về HVND ở HS một số trường THCS tại
Tp.HCM xét theo tiêu chí 2 của CMXH có sự tương đồng nhau. Cụ thể phụ huynh
cho rằng có 65% HS nói dối xuất phát từ động cơ được đồ vật, ân huệ hay để tránh
nghĩa vụ và con số này đạt mức 70% ở giáo viên. Kết quả này cũng xấp xỉ với con
số tự đánh giá của HS (78.4%). Kiểm nghiệm T- test với Sig = 0.277 ở giáo viên,
Sig = 0.946 ở phụ huynh cho thấy không có sự khác biệt giữa nam nữ giáo viên và
nam nữ phụ huynh khi đánh giá. Kiểm nghiệm ANOVA cũng cho thấy không có sự
khác biệt theo biến trường với Sig = 0.273 ở giáo viên và Sig = 0.89 ở phụ huynh.
Nếu quy ra toàn mẫu, HS có HVND lệch chuẩn theo đánh giá của phụ huynh là
86
15.5% và theo giáo viên là 14.4%. Con số có tỷ lệ xấp xỉ với tự đánh giá của HS
(15.8%). Đây cũng là kết quả tổng hợp của cả 2 tiêu chí. Từ đây cho phép kết luận
mức dao động về HVND dạng lệch chuẩn của HS THCS từ 14.4% đến 15.8%. Tỷ
lệ này chiếm khoảng 1/6 mẫu nghiên cứu. Đây thật sự là một con số đáng báo động
cho xã hội hiện nay, đặc biệt là cho những người làm công tác giáo dục về sự xuất
hiện và duy trì của HVND dạng lệch chuẩn này.
2.2.2.2. Thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại TP.HCM xét theo
CMXH
Hai tiêu chí nghiên cứu thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM xét theo CMXH cũng là hai tiêu chí của DSM - 4. Song chúng khác nhau
về nội dung ở tiêu chí về mặt thời gian. Nếu CMXH xem HVND xuất hiện từ 2
tháng liên tục trở lên được gọi là lệch chuẩn thì ở DSM - 4 HVND cần được đánh
giá dựa vào khoảng thời gian từ 6 tháng trở lên. Với kết quả nghiên cứu thực trạng
HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM xét theo CMXH ở trên thì tỷ lệ
HS THCS có HVND dạng lệch chuẩn sẽ có xu hướng giảm đi.
Xét ở tiêu chí 1, bảng 2.16 cho thấy có 62 HS THCS (12.9%) có HVND liên
tục từ 6 tháng trở lên. Bảng 2.20 dưới đây thể hiện bước sàng lọc tiếp theo tương
ứng ở tiêu chí 2:
Bảng 2.20. Tự đánh giá của HS một số trường THCS tại Tp.HCM về
HVND xét theo tiêu chí 2 của DSM – 4
Nội dung Có Không
Tần số % trên toàn Tần số % trên toàn
mẫu mẫu
Được đồ vật (bánh kẹo, tiền
bạc, đồ chơi…)
6.6% 32 30 6.3% Được ân huệ (sự tha thứ, ban
ơn, cho cơ hội…)
Tránh nghĩa vụ (làm việc nhà,
dọn dẹp vệ sinh, học tập…)
87
Qua lần sàng lọc thứ hai có thể nhận thấy tỷ lệ HS THCS có HVND dạng lệch
chuẩn đạt mức 6.3% theo sự tự đánh giá của HS. So với kết quả nghiên cứu thực
trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM xét theo CMXH thì tỷ lệ
này chiếm hơn 1/3. Đây là một kết quả dễ hiểu vì tiêu chí 1 của 2 khía cạnh nghiên
cứu cách nhau trong khoảng thời gian 4 tháng. Như vậy, từ quan điểm nhìn nhận
CMXH về HVND có phần khắt khe hơn so với thế giới đã kéo theo tỷ lệ HS THCS
có HVND dạng lệch chuẩn ở mức cao hơn. Tuy nhiên, CMXH là quy định do XH
đặt ra nên cần phải có sự tôn trọng và bảo đảm sự phù hợp. Khía cạnh nghiên cứu
các biểu hiện của HVND dựa theo CMXH cũng được lựa chọn để nghiên cứu tiếp
theo.
Có thể tham khảo thêm tỷ lệ HS THCS có HVND dạng lệch chuẩn theo sự
đánh giá của phụ huynh và giáo viên ở bảng 2.21.
Bảng 2.21. Đánh giá của phụ huynh và giáo viên về HVND của HS một số
trường THCS tại Tp.HCM xét theo tiêu chí 2 của DSM - 4 (bảng tổng hợp 2
tiêu chí)
Có Không
Đối tượng Nội dung Tần số % trên Tần số % trên
3 toàn mẫu 3.6% toàn mẫu 8.3% 7
Phụ huynh
1 0.8% 10 6.8%
Giáo viên
Được đồ vật (bánh kẹo, tiền bạc, đồ chơi…) Được ân huệ (sự tha thứ, ban ơn, cho cơ hội…) Tránh nghĩa vụ (làm việc nhà, dọn dẹp vệ sinh, học tập…) Được đồ vật (bánh kẹo, tiền bạc, đồ chơi…) Được ân huệ (sự tha thứ, ban ơn, cho cơ hội…) Tránh nghĩa vụ (làm việc nhà, dọn dẹp vệ sinh, học tập…)
88
Quan sát bảng 2.21 có thể nhận thấy ở phụ huynh và giáo viên, tỷ lệ đánh giá
HS THCS có HVLC theo DSM – 4 giảm đi khoảng 1/3 so với cách đánh giá theo
CMXH. Cụ thể phụ huynh cho rằng có 8.3% HS THCS có HVND lệch chuẩn và
6.8% là con số đánh giá theo giáo viên. Tuy nhiên khi so sánh với tự đánh giá của
HS THCS về HVND của mình theo DSM – 4 thì tỷ lệ này là xấp xỉ nhau. Các kiểm
nghiệm Test, ANOVA cho thấy không có sự khác biệt về mặt giới tính, trường của
phụ huynh và giáo viên trong đánh giá này. Từ đây, có thể kết luận, khi xem xét
HVND dựa theo DSM – 4 thì tỷ lệ HS THCS có HVND dạng lệch chuẩn dao động
từ 6.3% đến 8.3%. Con số này có thể được xem là thấp so với khía cạnh nghiên
cứu dựa trên CMXH nhưng cũng là một con số đáng lo lắng trong thực tiễn xã hội
ngày nay.
Tóm lại, nghiên cứu tỷ lệ HS THCS ở một số trường THCS tại Tp.HCM về
HVND, có thể rút ra một số kết luận sau đây:
- Xét theo CMXH, tỷ lệ HS có HVND dạng lệch chuẩn dao động từ 14.4%
đến 15.8%.
- Xét theo DSM – 4, tỷ lệ HS THCS có HVND dạng lệch chuẩn dao động từ
6.3% đến 8.3%.
- Mặc dù số liệu ở hai cách tiếp cận có sự khác nhau, song đây đều là những
con số đáng báo động mà xã hội cần quan tâm, đặc biệt là các nhà quản lý giáo dục,
giáo viên, chuyên viên tâm lý học đường và các lực lượng giáo dục khác.
- Trong hai khía cạnh nghiên cứu, khía cạnh nghiên cứu HVND dựa vào
CMXH được người nghiên cứu lựa chọn để tiếp tục khảo sát thực trạng biểu hiện
HVND và các nội dung khác có liên quan. Khảo sát tiếp theo này được thực hiện
chuyên sâu với 15.8% HS có HVND lệch chuẩn theo sự tự đánh giá của HS.
2.2.3. Cơ chế tâm lý của HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM
và các vấn đề liên quan đến HVND
2.2.3.1. Cơ chế tâm lý của HVND ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM
Chương cơ sở lý luận về HVND ở HS THCS đề cập đến 4 giai đoạn của
HVND. Đó là giai đoạn chuẩn bị, đưa ra quyết định nói dối, tiến hành nói dối và kết
thúc HVND [70]. Giai đoạn chuẩn bị nói dối ở HS THCS được mô tả ở bảng sau:
89
Bảng 2.22. Giai đoạn chuẩn bị nói dối ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM
STT Nội dung Mức độ ĐTB Xếp
hạng KBG HK TT T RTX
X
1 Xác định mức độ quan trọng 0 22 13 16 25 2.58 1 của sự thật
2 Tìm hiểu xem liệu người 10 7 17 13 29
nghe có thể tiếp cận thông 2.58 1
tin hay chưa
3 Suy nghĩ kỹ càng về hậu quả 8 14 22 15 17 2.57 2 của HVND
4 Chuẩn bị trước nội dung lời 4 13 22 26 11 2.48 3 nói dối một cách kỹ lưỡng
5 Xem xét các phản ứng có thể 1 12 23 23 17 2.36 4 xảy ra ở người nghe
6 Cân nhắc lợi hại của việc nói 0 17 22 24 13 2.25 5 sai lệch thông tin
ĐTB chung 2.47
ĐTB chung ở giai đoạn này đạt 2.47, thuộc mức “thỉnh thoảng”. Như vậy với
6 nội dung được đưa ra xem xét, HS THCS thỉnh thoảng thực hiện các nội dung
này. Hai nội dung được HS thực hiện nhiều nhất trong giai đoạn chuẩn bị nói dối là
“xác định mức độ quan trọng của sự thật” và “tìm hiểu xem liệu người nghe có thể
tiếp cận thông tin hay chưa”. Khi được hỏi về việc “xác định mức độ quan trọng của
sự thật”, em H.T.M.H cho biết “Những sự thật nào có mức độ quan trọng và ảnh
hưởng đến nhiều thứ thì em không dám nói dối nhưng những sự thật nào mà khi mọi
người biết vẫn có thể xử lý được thì em có thể nói dối để giãm bớt căng thẳng lúc
đó”. Đây cũng là ý kiến chung của rất nhiều HS THCS khi được phỏng vấn. Xét về
tình, quan điểm của các em có vẻ rất hợp lý. Tuy nhiên, nếu xét về lý, một mặt, việc
90
xác định mức độ quan trọng của sự thật ở các em còn bộc lộ nhiều hạn chế. Có
những sự thật các em nghĩ là không quan trọng vào lúc này nhưng nó lại quan trọng
vào lúc khác, có những sự thật các em nghĩ là không quan trọng đối, song lại rất
quan trọng với người khác. Mặt khác, dù sự thật có quan trọng hay không thì nói
dối cũng gây ra những hậu quả rất lớn, đặc biệt là sự mất lòng tin giữa con người
với nhau. Do đó, việc “suy nghĩ kỹ càng về hậu quả của HVND” cần được HS
THCS lựa chọn và xếp ở thứ hạng đầu tiên. Tuy nhiên, ở nội dung này lại có 8 HS
không bao giờ thực hiện. Điều này thể hiện sự bất cần và nói dối dường như đã trở
thành một thói quen ở các em. Như đã đề cập ở chương 1, sự thiếu hiểu biết của
người nghe chính là điều kiện thuận lợi để phát sinh lời nói dối, do đó HS có xu
hướng “tìm hiểu xem liệu người nghe có thể tiếp cận thông tin hay chưa” với 29 em
lựa chọn là một điều dễ hiểu. Các thứ hạng cuối cùng bao gồm 3 nội dung được HS
thỉnh thoảng thực hiện lần lượt là chuẩn bị trước nội dung lời nói dối một cách kỹ
lưỡng; xem xét các phản ứng có thể xảy ra ở người nghe; cân nhắc lợi hại của việc
nói sai lệch thông tin.
Kết quả nghiên cứu sâu hơn về việc thực hiện các giai đoạn của HVND ở HS
THCS tại Tp.HCM được thể hiện ở bảng 2.23 dưới đây:
Bảng 2.23. Việc thực hiện các giai đoạn của HVND
Tần số % STT
Nội dung
26 34.2% 1
14 18.4% 2
12 15.8% 3
24 31.6% 4
Chuẩn bị kỹ, cân nhắc để đưa ra quyết định và tiến hành nói dối Không cần chuẩn bị, chỉ cân nhắc để đưa ra quyết định và tiến hành nói dối Chuẩn bị kỹ nhưng không cân nhắc để đưa ra quyết định mà tiến hành nói dối ngay Nói dối như một thói quen, một phản xạ tự nhiên mà không cần phải chuẩn bị hay cân nhắc
Quan sát bảng 2.23 có thể nhận thấy việc thực hiện các giai đoạn của HVND
chưa có sự thống nhất ở khách thể. Cụ thể, có 34.2% HS cho rằng mình thực hiện
đầy đủ cả ba giai đoạn, 18.4% bỏ qua giai đoạn chuẩn bị mà “chỉ cân nhắc để đưa ra
91
quyết định và tiến hành nói dối”, 15.8% HS thực hiện giai đoạn chuẩn bị nhưng
“không cân nhắc để đưa ra quyết định mà tiến hành nói dối ngay”. Điều cần lưu ý là
có đến 31.6% HS xem “nói dối như một thói quen, một phản xạ tự nhiên không cần
phải chuẩn bị hay cân nhắc”. Thiết nghĩ với 26 HS thực hiện đủ các giai đoạn của
HVND đều là những HS có HVND xuất hiện không quá lâu và với 24 HS bỏ qua
các giai đoạn là những HS mà HVND đã hình thành từ rất lâu. Giống như nhiều
hành vi khác, con người thường có tư tưởng đã làm một lần, thì làm thêm lần nữa
cũng không sao. Dần dần, đối với một bộ phận giới trẻ, nói dối trở thành một hành
vi mất kiểm soát.
Trước khi nói dối, trong khi nói dối, sau khi nói dối, ở HS THCS thường đi
kèm với những cảm xúc khác nhau:
Bảng 2.24. Cảm xúc của HS THCS trước, trong và sau khi nói dối
STT Nội dung Có Không
Tần số % Tần số %
Trước khi nói dối
1.1. Cảm thấy có lỗi 45 31 40.8% 59.2%
1 1.2. Sợ hãi, lo lắng, bất an 49 27 35.5% 64.5%
1.3. Cảm thấy bình thường 24 51 31.6% 68.4%
1.4. Thích thú 10 66 13.2% 86.8%
Trong khi nói dối
2.1. Cảm thấy có lỗi 53 23 30.3% 69.7%
2 2.2. Sợ hãi, lo lắng, bất an 51 25 32.9% 67.1%
2.3. Cảm thấy bình thường 23 53 30.3% 69.7%
2.4. Thích thú 8 68 10.5% 89.5%
Sau khi nói dối
3.1. Cảm thấy có lỗi 54 22 3.6% 71.1%
3 3.2. Sợ hãi, lo lắng, bất an 47 29 38.2% 61.8%
3.3. Cảm thấy bình thường 20 36 26.3% 73.7%
3.4. Thích thú 6 70 7.9% 92.1%
28 36.8% 3.5. Thấy ăn năn, trăn trở, nối tiếc 48 63.2%
92
Qua số liệu phân tích ở bảng 2.24 có thể nhận thấy “cảm thấy có lỗi”, “sợ hãi,
lo lắng, bất an” là cảm xúc phổ biến nhất ở HS THCS có HVND. Cụ thể, trước khi
nói dối có 59.2% HS “cảm thấy có lỗi”, 64.5% HS thấy “sợ hãi, lo lắng, bất an”.
Con số này đạt tỷ lệ lần lượt là 69.7%, 67.1% trong khi nói dối và 71.1%, 61.8%
sau khi nói dối. Riêng sau khi nói dối, HS còn cảm thấy ăn năn, trăn trở, nối tiếc với
tỷ lệ lựa chọn là 63.2%. Ở giai đoạn trước khi nói dối, “cảm thấy có lỗi”, “sợ hãi, lo
lắng, bất an” có thể xuất phát từ hai nguyên nhân khác nhau. Một là do HS làm một
việc gì đó sai và thấy có lỗi; sợ hãi, lo lắng, bất an vì tác hại của việc làm sai trái đó.
Hai là HS cảm thấy có lỗi vì mình sắp phải thực hiện một hình vi không phù hợp, sợ
hãi; lo lắng bất an vì sợ HVND của mình bị phát hiện. Một điểm đáng lưu ý trong
trường hợp này là có đến 44.8% HS cảm thấy bình thường và thích thú trước khi nói
dối, 40.8% trong khi nói dối và 34.2% sau khi nói dối. Như vậy HVND ngày càng
có xu hướng trở thành một thói quen và hoàn toàn có thể tạo cho HS những cảm
xúc dương tính. Cảm xúc dương tính được hình thành thì vấn đề uốn nắn sẽ trở nên
rất khó khăn. Nhìn chung, xét về cảm xúc của HS THCS trước, trong và sau khi nói
dối thì cảm xúc âm tính chiếm ưu thế. Nhà giáo dục có thể vận dụng cảm xúc này
để tác động đến các em nhằm khắc phục HVND.
2.2.3.2 Kết quả nghiên cứu các vấn đề liên quan đến HVND
a. Đối tượng HS một số trường THCS tại Tp.HCM thực hiện HVND
Bảng 2.25. Đối tượng HS một số trường THCS tại Tp.HCM thực hiện HVND
STT Học sinh
Đối tượng ĐTB Phụ huynh HS ĐTB ĐTB
Xếp hạng 1 2 3 4 5 6 7 2.03 2.05 1.8 1.55 1.04 1.63 Giáo viên Xếp hạng 1 2 3 4 8 6 5 2.55 2.01 1.85 1.77 1.63 1.44 1.02 Xếp hạng 2 1 3 5 8 4 7 2.67 1.91 1.7 1.25 1.24 1.11 1.03
1 Cha mẹ 2 Bạn bè 3 Anh chị em 4 Hàng xóm 5 GV bộ môn 6 GV chủ nhiệm 7 Những người chưa quen
8 Giám thị 0.95 8 1.32 6 1.00 7
93
Với 8 đối tượng được đưa ra khảo sát, đối tượng mà HS THCS nói dối nhiều
nhất (xếp hạng 1 ở mức thường xuyên) là cha mẹ. Đây là một điều hết sức đáng
buồn bởi lẽ trong tất cả 8 đối tượng thì cha mẹ được xem như người có mối quan hệ
gần gũi nhất với các em. Có thể thấy, lứa tuổi HS THCS nguyện vọng độc lập luôn
được đặt lên hàng đầu nhưng nhiều cha mẹ không hiểu điều này dẫn đến cấm đoán
và hạn chế các mối quan hệ của các em. Khi được hỏi về vấn đề này, em H.M.T HS
trường THCS – THPT Phan Bội Châu thừa nhận: “Những chuyện về điểm số em có
thể nói dối được vì cha mẹ khó phát hiện”. Như vậy, việc thiếu thông tin của cha
mẹ cũng là một trong những yếu tố biến cha mẹ trở thành đối tượng nói dối nhiều
nhất ở HS THCS. Hơn nữa, nếu xét 3 động cơ: nói dối để nhận đồ vật, ân huệ hay
nói dối để tránh nghĩa vụ thì cha mẹ cũng là đối tượng dễ thỏa mãn nhất. Có phải
với cha mẹ, tất cả các thông tin các em điều nói dối hay không? Câu trả lời có thể dễ
dàng phán đoán là không. Từ đây, người nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu xu hướng chia
sẻ thông tin của HS THCS với cha mẹ.
Bảng 2.26. Xu hướng chia sẻ thông tin của HS THCS với cha mẹ
Nội dung HS Phụ huynh
STT Xếp Xếp ĐTB ĐTB hạng hạng
Những thông tin về mối quan hệ
xã hội liên quan đến bạn bè,
thầy cô… 1 Tiết lộ với cha mẹ 1.33 3 1.56 3
Giữ bí mật với cha mẹ 2.39 1 2.12 1
Nói dối cha mẹ 1.84 2 1.83 2
Những thông tin liên quan đến
sức khỏe và an toàn bản thân
Tiết lộ với cha mẹ 2.91 1 2.87 1 2
Giữ bí mật với cha mẹ 1.46 2 1.76 2
Nói dối cha mẹ 0.91 3 1.01 3
94
Với việc phân chia thông tin thành 2 nhóm: nhóm những thông tin về mối
quan hệ xã hội liên quan đến bạn bè, thầy cô… và nhóm những thông tin liên quan
đến sức khỏe và an toàn bản thân có thể thấy sự khác biệt trong xu hướng chia sẻ
thông tin của HS THCS. Cụ thể, với những thông tin về mối quan hệ xã hội liên
quan đến bạn bè, thầy cô… thì HS thường có xu hướng “giữ bí mật” với ĐTB 2.39
(xếp hạng 1). Bên cạnh đó, xu hướng thứ 2 cần phải quan tâm với ĐTB 1.84 là “nói
dối với cha mẹ”. Xu hướng tiết lộ thông tin xếp hạng thấp nhất trong nhóm này với
ĐTB 1.33. Điều này hoàn toàn ngược lại với nhóm những thông tin liên quan đến
sức khỏe và an toàn bản thân. Ở nhóm này, xu hướng “tiết lộ với cha mẹ” đạt mức
“thường xuyên” với ĐTB 2.91, xếp hạng 1. Xếp hạng 2 là xu hướng “giữ bí mật với
cha mẹ” với ĐTB là 1.46 và xếp thứ hạng cuối cùng là “nói dối cha mẹ” đạt ĐTB
0.91. Như vậy có thể thấy rằng với những thông tin về mối quan hệ xã hội liên quan
đến bạn bè, thầy cô…thì HS sẽ có xu hướng nói dối nhiều hơn so với những thông
tin liên quan đến sức khỏe và an toàn bản thân.
Theo sau đối tượng nói dối là cha mẹ, xếp hạng 2 với ĐTB 1.91 là bạn bè.
Giao lưu bạn bè cũng là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi HS THCS. Trong quá trình
giao lưu này không thể tránh khỏi những mâu thuẫn và HVND có thể xuất hiện để
giải quyết mâu thuẫn này. Xếp hạng 3 trong tổng số 8 đối tượng là anh chị em. Rõ
ràng, sau cha mẹ thì anh chị em là đối tượng thuận lợi để làm xuất hiện HVND ở
các em. Xếp hạng 4 và 6 là hàng xóm và những người chưa quen. Đây là những
người thiếu thông tin nhất về các em. Xếp hạng 5, 6, 8 thuộc về các đối tượng trong
nhà trường là giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và giám thị.
b. Các hành động HS THCS nói dối để thực hiện
95
Bảng 2.27. Các hành động HS THCS nói dối để thực hiện
STT Hành động ĐTB Xếp hạng
1 Đi chơi cùng bạn bè 2.29 1
2 Chơi game online 2.22 2
3 Online Facebook 2.05 3
4 1.57 4 Đi mua sắm
5 1.47 5 Giải thích lý do không thuộc bài
6 1.46 6 Giải thích lý do không làm bài tập
7 1.41 7 Giải thích lý do không chuẩn bị bài
8 1.39 8 Giải thích lý do điểm thấp
9 1.39 8 Giải thích lý do trốn tránh việc trực nhật lớp
10 1.38 9 Giải thích lý do trốn tránh dọn dẹp sân trường
11 1.37 10 Giải thích lý do trốn tránh làm việc nhà (rửa chén,
quét nhà…
12 11 Giải thích lý do trốn tránh dọn dẹp vệ sinh nhà cửa 1.36
13 12 Giải thích lý do trốn tránh các việc liên quan đến tạo 1.07
ra sản phẩm
14 0.97 13 Đi du lịch
15 0.84 14 Đi cắm trại
Ba thứ hạng đầu của bảng 2.27 cho thấy hoạt động giải trí (đi chơi cùng bạn
bè, chơi game online, online Facebook) là hoạt động HS nói dối để tham gia nhiều
nhất và ở mức “thỉnh thoảng”. Cũng có thể gọi “đi chơi cùng bạn bè” là hoạt động
giao lưu bạn bè. Đây đều là ba hoạt động giải trí gắn liền với tuổi thiếu niên và hay
bị sự cấm đoán từ gia đình. Thứ hạng thứ 14 và 15 cũng là hoạt động giải trí song
“đi du lịch”, “đi cấm trại” thường diễn ra dưới sự kiểm soát của cha mẹ hay giáo
viên. Đều này hoàn toàn hợp lý với bảng 2.25 khi đối tượng nói dối chính của HS
THCS là cha mẹ. Xếp thứ hạng từ 4 đến 8 là hoạt động học tập. Tiếp theo đó với
thứ hạng từ 9 đến 12 là hoạt động lao động và xếp hạng thứ 13 là hoạt động tạo ra
sản phẩm. Như vậy, xét theo hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi thiếu niên thì hoạt động
96
chủ đạo (giao lưu bạn bè) là hoạt động xuất hiện HVND nhiều nhất. Ngoài ra,
HVND còn xuất hiện trong hoạt động giải trí và hoạt động tạo ra sản phẩm.
c. Địa điểm nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
Bảng 2.28. Địa điểm nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
STT Địa điểm ĐTB Xếp hạng
Tại phòng riêng của mình 1.87 1 1
Tại phòng khách 1.82 2 2
Tại lớp học 1.78 3 3
Ngoài đường 1.7 4 4
Trong sân trường 1.58 5 5
Ngay cổng trường 1.32 6 6
Tại quán ăn uống 1.18 7 7
Tại phòng giáo viên 1.14 8 8
Tại nhà bạn 1.14 9 9
Tại nhà bếp 1.01 10 10
Tại nhà hàng xóm 0.99 11 11
Trước cửa nhà 0.84 12 12
Nhìn vào cột xếp hạng bảng 2.28 có thể thấy hai địa điểm nói dối nhiều nhất ở
HS THCS là “tại phòng riêng của mình” và “tại phòng khách”. Kết quả này hoàn
toàn trùng khớp với bảng 2.27 khi đối tượng nói dối xếp thứ hạng đầu tiên ở HS
THCS là cha mẹ và thứ hạng thứ 3 là anh chị em và có thể trùng khớp luôn cả đối
tượng nói dối được xếp hạng thứ 2 là bạn bè. Ngày nay, công nghệ thông tin phát
triển mạnh mẽ, hầu hết mỗi cha mẹ đã trang bị cho con máy tính, điện thoại đi động
ngay từ độ tuổi THCS. Do đó, việc giao tiếp với bạn bè thông qua những trang thiết
bị này là điều khá phổ biến. Và từ đây, HVND có thể xuất hiện. Các thứ hạng còn
lại từ 3 đến 12 chủ yếu được phân bố trong môi trường học đường và ngoài xã hội,
bao gồm nói dối tại lớp học, ngoài đường, trong sân trường, ngay cổng trường, tại
quán ăn uống…
97
d. Các hình thức nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
Bảng 2.29. Hình thức nói dối của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
Hình thức ĐTB Thứ hạng STT
Nói dối trực tiếp 3.05 1 1
Nói dối gián tiếp thông qua: 2
Mạng xã hội 2.93 2
Tin nhắn 2.68 3
Điện thoại 2.2 4
Thư từ 1.21 5
Ý kiến khác…………………….........
Có thể nhận thấy, nói dối trực tiếp với ĐTB 3.05 là hình thức nói dối phổ biến
nhất ở HS THCS và thuộc mức “thường xuyên”. Đây là hình thức nói dối mặt đối
mặt, dễ quan sát và nhận diện nhất. Ưu điểm của hình thức này là khi bị phát hiện
sơ hở, người nói dối có thể dễ dàng biện minh và giải thích cho hành vi của mình.
Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, các hình thức nói dối
gián tiếp ngày càng lên ngôi, nổi bật là hình thức nói dối qua mạng xã hội. Hình
thức nói dối qua tin nhắn và điện thoại cũng có điểm trung bình ở mức khá cao. Với
các hình thức nói dối gián tiếp này, người nghe sẽ không quan sát được nét mặt, cử
chỉ cũng như rất khó để kiểm chứng sự thật. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây
trên tạp chí ACM Transactions on Management Information Systems, các tác giả đã
xem xét 100 đối tượng trả lời 30 câu hỏi dưới dạng nhắn tin trên máy tính. Trước
khi nghiên cứu bắt đầu, những người tình nguyện được yêu cầu nói dối trong
khoảng một nửa số câu trả lời của họ. Kết quả cho thấy, họ mất thêm 10% thời gian
để soạn thảo các câu trả lời gian dối và sau đó mất nhiều thời gian hơn để chỉnh sửa
chúng. Do đó, các tin nhắn (SMS) chứa lời nói dối mất nhiều thời gian soạn thảo
hơn và thường ngắn hơn những tin nhắn chân thật [38]. Đây cũng là một phát hiện
mang tính chất nhận diện các HVND gián tiếp này.
98
2.2.4. Kết quả nghiên cứu thực trạng biểu hiện HVND của HS một số
trường THCS tại Tp.HCM
2.2.4.1. Các biểu hiện bên trong của HVND
a. Biểu hiện HVND trong tự ý thức của HS THCS
Bảng 2.30. Biểu hiện HVND trong tự ý thức của HS THCS
STT
Nội dung
ĐTB Xếp hạng
KBG
HK
TX
RTX
Mức độ TT
2.38
9 (11.8%)
15 (19.7%)
12 (15.8%)
18 (23.7%)
22 (28.9%)
1
2
2.3
9 (11.8%)
12 (15.8%)
20 (26.3%)
17 (22.4%)
18 (23.7%)
2
2.28
9 (11.8%)
15 (19.7%)
15 (19.7%)
20 (26.3%)
17 (22.4%)
3
4
2.14
11 (14.5%)
15 (19.7%)
17 (22.4%)
18 (23.7%)
15 (19.7%)
4
5
2.13
5
2.08
5 (6.6%) 13 (17.1%)
27 (35.5%) 14 (18.4%)
13 (17.1%) 18 (23.7%)
15 (19.7%) 16 (21.1%)
16 (21.1%) 15 (19.7%)
6
7
2.04
9 (11.8%)
24 (31.6%)
10 (13.2%)
21 (27.6%)
12 (15.8%)
7
1.97
8
1.95
8 (10.5%) 13 (17.1%)
26 (34.2%) 23 (30.3%)
15 (19.7%) 10 (13.2%)
14 (18.4%) 15 (19.7%)
13 (17.1%) 15 (19.7%)
9
1 HVND ở bản thân em chẳng gây ra hậu quả gì nghiêm trọng. Em đã đủ trưởng thành để chịu trách nhiệm về lời nói dối của mình. 3 HVND ở bản thân em phù hợp với chuẩn mực xã hội. Em không quan tâm đến những phàn nàn của người khác về HVND của mình. Em không đồng tình với việc cấm nói dối. 6 Những hậu quả do nói dối đem lại không đáng lo ngại. Em không cần thiết phải điều chỉnh HVND ở bản thân. 8 Nói dối là cần thiết cho bản thân em. 9 Nói dối không ảnh hưởng đến bản thân em.
1.84
15 (19.7%)
22 (28.9%)
13 (17.1%)
12 (15.8%)
14 (18.4%)
10
10 Nói dối không ảnh hưởng đến người khác.
1.83
19 (25%)
19 (25%)
12 (15.8%)
8 (10.5%)
18 (23.7%)
11
11 HVND ở bản thân em không có gì là xấu.
ĐTB chung
2.09
99
Kết quả thống kê bảng 2.30 cho thấy ĐTB dao động từ 1.83 đến dưới 2.5 với
ĐTB chung là 2.09 rơi vào mức “thỉnh thoảng”. Đây là mức đánh giá trung bình
trên thang điểm của từng câu. Trong tổng số 11 nội dung nghiên cứu, có đến 7 nội
dung đạt ĐTB trên 2.00 điểm. Cao nhất là nội dung “HVND ở bản thân em chẳng
gây ra hậu quả gì nghiêm trọng (xếp hạng 1) với ĐTB là 2.38. Trong nội dung này
có 22 (28.9%) HS trả lời là “rất thường xuyên” và 18 (23.7%) HS cho rằng “thường
xuyên”. Tổng hai mức này đạt trên 50% (53.6%). Con số thống kê này nói lên rằng
có khá đông HS THCS nhận thức còn mơ hồ về hậu quả của HVND. Có thể trong
một phút chốc HVND ở HS không gây hậu quả gì nghiêm trọng nhưng khi bị phát
hiện sự thật nó làm cho chất lượng các mối quan hệ trở nên giảm sút, đặc biệt là
niềm tin. Đứng trên góc độ khoa học, tác giả Gervais và cộng sự (2000);
Stouthamer - Loeber (1986) cùng nhìn nhận rằng: ND ở HS THCS cần được xem
xét như một chỉ báo sớm các hành vi chống đối xã hội như đánh nhau, phạm pháp,
gây rối…[67], [53].
Đứng ở vị trí thứ hai là “em đã đủ trưởng thành để chịu trách nhiệm về lời nói
dối của mình” với ĐTB là 2.3, có 18 (23.7%) HS rất thường xuyên và 17 (22.4%)
thường xuyên. Rõ ràng, nguyện vọng độc lập và mong muốn được trở thành người
lớn đã ảnh hưởng đến quan niệm của HS THCS. Một mặt, nó thể hiện tính “có trách
nhiệm” ở HS THCS với hành vi của mình, song tư tưởng có hành vi không phù hợp
rồi tự chịu trách nhiệm không phải là một tư tưởng được coi trọng. Xét cho cùng,
đây cũng chỉ là một lý do để HS THCS sử dụng để bao biện cho HVND của bản
thân mình.
Tiếp tục ở vị trí thứ ba là nội dung “HVND ở bản thân em phù hợp với
CMXH” với ĐTB là 2.28, trong đó có 17 (22.4%) HS THCS rất thường xuyên và
20 (26.3%) HS thường xuyên có suy nghĩ này. Trên thực tế nghiên cứu, HVND ở
các em hoàn toàn không phù hợp CMXH. Do đó, đây là một biểu hiện ý thức không
phù hợp. Quan niệm sai lầm này chính là một trong những nguyên nhân gây ra
HVND dạng lệch chuẩn ở HS THCS. Bốn nội dung còn lại đều có ĐTB trên 2.00,
đó là nội dung “em không quan tâm đến những phàn nàn của người khác về HVND
của mình”, “em không đồng tình với việc cấm nói dối”, “những hậu quả do nói dối
100
đem lại không đáng lo ngại’, “em không cần thiết phải điều chỉnh HVND ở bản
thân”. Điểm đặc biệt lưu ý là hành vi và suy nghĩ của một cá nhân sẽ dễ thay đổi
hơn nếu bị tác động bởi dư luận xã hội nhưng ở đây có thể thấy không nhiều HS
THCS có HVND quan tâm đến những lời phàn nàn hay không tích cực từ người
khác với hành vi của mình.
Các nội dung còn lại đều có ĐTB dưới 2.00 và đều rơi vào mức “thỉnh
thoảng”. Thứ tự từ cao đến thấp được liệt kê như sau: “nói dối là cần thiết cho bản
thân em (hạng 8), “nói dối không ảnh hưởng đến bản thân em” (hạng 9), “nói dối
không ảnh hưởng đến người khác (hạng 10), “HVND ở bản thân em không có gì là
xấu” (hạng 11). Có thể nói tự ý thức tạo điều kiện cho con người tự điều khiển, điều
chỉnh thái độ, hành vi, hành động của mình. Tự ý thức là điều kiện để con người trở
thành chủ thể hành động độc lập, trở thành chủ thể của xã hội. HVND thể hiện
trong mặt tự ý thức tuy chỉ ở mức “thỉnh thoảng” nhưng mức độ này rất cần được
chú ý để có những biện pháp nâng cao nhận thức cho HS. Có nhận thức đúng về
CMXH, nhận thức đúng về HVND của bản thân mình thì HS mới có được những
thái độ phù hợp, từ đó tự điều chỉnh hành vi sai lệch đã hình thành.
b. Biểu hiện HVND trong đời sống tình cảm của HS THCS
Bảng 2.31. Biểu hiện HVND trong đời sống tình cảm của HS THCS
STT
Nội dung
ĐTB Xếp hạng
Mức độ TT
KBG
HK
TX
RTX
1
2.33
13 (17.1%)
16 (21.1%)
11 (14.5%)
20 (26.3%)
16 (21.1%)
1
Em cảm thấy có lỗi, lo lắng, bất an khi nói dối.
2
2.3
8 (10.5%)
15 (19.7%)
20 (26.3%)
18 (23.7%)
15 (19.7%)
2
Em sợ hãi với những áp lực, mâu thuẫn vì vậy buộc em phải nói dối.
2.18
13 (17.1%)
39 (51.3%)
12 (15.8%)
11 (14.5%)
1 (1.3%)
3
3 Khi người khác biết được điều em nói không đúng sự thật, em có cảm giác bực bội, khó chịu, cáu gắt, nóng giận.
2.09
18 (23.7%)
16 (21.1%)
16 (21.1%)
16 (21.1%)
10 (13.2%)
4
4 Khi được ai đó khâm phục em về những điều em đã nói dối em cảm thấy hài lòng và vui vẻ.
7 (9.2%)
2.05
8 (10.5%)
15 (19.7%)
15 (19.7%)
31 (40.8%)
5
5 Nói dối giúp em trút căng
bỏ những thẳng, lo âu.
2.04
6
9 (11.8%)
24 (31.6%)
10 (13.2%)
15 (19.7%)
18 (23.7%)
6
Sau khi nói dối, em cảm thấy ăn năn, xấu hổ.
2
7
12 (15.8%)
39 (51.3%)
16 (3.3%)
8 (10.5%)
1 (1.3%)
7
Em có cảm giác vui sướng, phấn khích khi nói dối mà không bị ai phát hiện.
101
ĐTB chung
2.14
Xét về nội dung, bảng 2.31 có nội dung tương tự bảng 2.23. Tuy nhiên có thể
thấy ở bảng 2.24, các cảm xúc được nghiên cứu mang tính tổng quát nhằm tìm ra cơ
chế tâm lý chung của HVND. Với mục đích tìm hiểu các biểu hiện của HVND
trong đời sống tình cảm của HS THCS, các nội dung ở bảng 2.30 mang tính chuyên
sâu và rõ ràng hơn. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu ở bảng 2.30 còn giúp kiểm tra lại
tính chân thật và bổ sung thêm cho các số liệu bảng 2.23.
Nhìn chung biểu hiện HVND trong đời sống tình cảm của HS THCS thuộc
mức “thỉnh thoảng” với ĐTB chung bằng 2.14. Xếp hạng 1 trong đời sống tình cảm
của HS THCS là biểu hiện “em cảm thấy có lỗi, lo lắng, bất an khi nói dối” với
ĐTB 2.33. Theo đó, có gần 50% HS lựa chọn ở mức thường xuyên và rất thường
xuyên. Điều này khá trùng khớp với nghiên cứu trước đó ở bảng 2.29 khi có đến
67.1% - 69.7% HS cho rằng mình cảm thấy có lỗi, lo lắng, bất an trong khi nói dối.
Sự khá trùng khớp này còn thể hiện ở “sau khi nói dối, em cảm thấy ăn năn, xấu hổ”
ở thứ hạng thứ 6 với gần 44% HS lựa chọn ở mức thường xuyên và rất thường
xuyên, chênh lệch khoảng 15% so với bảng 2.24.
102
Với ĐTB 2.3, xếp hạng 2 là “em sợ hãi với những áp lực, mâu thuẫn vì vậy
buộc em phải nói dối”. Em H.M.H, học sinh trường THCS – THPT Phan Chu Trinh
cho biết: “Em và mẹ hay gây nhau về việc em hay đi chơi cùng bạn bè. Em buộc
phải nói dối mẹ là đi học để không khí thoải mái hơn”. Như vậy, xét về mặt cảm
xúc, có thể thấy xuất phát điểm của HVND là những cảm xúc âm tính, chủ yếu là sự
sợ hãi và HS nói dối nhằm giải tỏa sự sợ hãi đó cũng như tìm được cảm xúc tích
cực.
Tiếp theo là nội dung “khi người khác biết được điều em nói không đúng sự
thật, em có cảm giác bực bội, khó chịu, cáu gắt, nóng giận” với ĐTB là 2.18. Số
liệu thống kê này cho thấy HVND cũng chi phối và tạo nên những cảm xúc tiêu cực
khiến đời sống cá nhân cảm thấy khó chịu. Đôi lúc cảm xúc khó chịu này còn lây
lan và tác động lên cá nhân khác xung quanh HS có HVND. Tuy chỉ có 10 HS lựa
chọn ở mức rất thường xuyên (13.2%) nhưng với ĐTB là 2.09, có 21.1% HS chọn ở
mức thường xuyên, nội dung “khi được ai đó khâm phục em về những điều em đã
nói dối em cảm thấy hài lòng và vui vẻ” cho thấy bên cạnh những cảm xúc tiêu cực,
HVND cũng đem lại cho HS những cảm xúc tích cực. Đây cũng là cảm xúc mang
tính chất kích thích và làm cho những HVND được duy trì. Cuối cùng có hai nội
dung đều có ĐTB từ 2.00 đến 2.05, có thể đề cập đến như sau: “nói dối giúp em trút
bỏ những căng thẳng, lo âu” (xếp hạng 5) và “em có cảm giác vui sướng, phấn
khích khi nói dối mà không bị ai phát hiện” (xếp hạng 7)
Tóm lại, có thể giải thích các số liệu thống kê này như sau: HS THCS nói dối
đa phần xuất phát từ những cảm xúc tiêu cực như lo lắng, sợ hãi vì những áp lực,
căng thẳng. HVND nếu bị phát hiện thường đi kèm với sự xuất hiện những cảm xúc
âm tính. Khi được khâm phục vì những gì đã nói dối, những cảm xúc dương tính
như sự vui vẻ, thoải mái sẽ dễ dàng hình thành. Một lời nói dối thành công là sự pha
trộn của nhiều cảm xúc. Đa phần là sự ăn năn, xấu hổ, nhưng bên cạnh đó cũng có
cả sự phấn kích vì không bị phát hiện. Với mong muốn giải tỏa những cảm xúc tiêu
cực, HVND như một công cụ hữu hiện. Đa phần HS THCS nhìn vào khía cạnh này
của HVND mà ít kiềm chế lại được những cám dỗ của công cụ, khiến họ sẽ duy trì
HVND.
103
c. Biểu hiện HVND trong ý chí của HS THCS
Bảng 2.32. Biểu hiện HVND trong ý chí của HS THCS
STT
ĐTB Xếp hạng
KBG
HK
Mức độ TT
TX
RTX
2.33
1
10 (13.2%)
12 (15.8%)
17 (22.4%)
17 (22.4%)
20 (26.3%)
1
2.26
2
11 (14.5%)
16 (21.1%)
11 (14.5%)
18 (23.7%)
20 (26.3%)
2
Nội dung Em có cố gắng bỏ nói dối nhưng không được Em không có khả năng giới hạn số lần nói dối
3 Dù
2.18
10 (13.2%)
19 (25%)
15 (19.7%)
11 (14.5%)
21 (27.6%)
3
2.09
4
12 (15.8%)
18 (23.7%)
17 (22.4%)
9 (11.8%)
20 (26.3%)
thân
4
2.05
5
12 (15.8%)
18 (23.8%)
21 (27.6%)
4 (5.3%)
21 (27.6%)
5
6 Dù hiểu
2.04
trong những hoàn cảnh không áp lực nhưng em khó kiểm soát lời nói dối của mình Em luôn nhắc nhở bản không được nói dối nhưng không thể Thật khó ngưng HVND vì cần phải tiếp tục nói dối để che những đậy HVND trước đó rõ
12 (15.8%)
18 (23.7%)
20 (26.3%)
7 (8.2%)
19 (25%)
6
7
2
16 (21.1%)
17 (22.4%)
15 (19.7%)
7 (9.2%)
21 (27.6%)
7
8
1.96
18 (23.7%)
14 (18.4%)
17 (22.4%)
7 (9.2%)
20 (26.3%)
8
lời khuyên của người khác là không nên nói dối nhưng em vẫn không thực hiện được Em cố gắng nghĩ về những câu chuyện có thể “bịa” ra , khó có thể ngừng suy nghĩ về điều này Em hứa sẽ không nói dối và cũng tìm cách tự kiềm chế điều này nhưng lại thất bại
ĐTB chung
2.13
104
Kết quả bảng 2.32 cho thấy các biểu hiện HVND trong ý chí của HS THCS
thuộc mức “thỉnh thoảng”. Trong 8 nội dung được đề cập thì ĐTB dao động từ 1.96
đến 2.33. Cụ thể, đứng ở vị trí đầu tiên là nội dung “em có cố gắng bỏ nói dối
nhưng không được” với ĐTB là 2.33, trong đó có 17 (22.4%) HS lựa chọn thường
xuyên và 20 (26.3%) chọn lựa rất thường xuyên. Như đã trình bày ở bảng 2.30,
HVND bắt nguồn từ những cảm xúc âm tính, trong và sau cũng là những cảm xúc
âm tính nhưng nó cũng được đi kèm với những cảm xúc dương tính khác. HVND
như một công cụ có thể giúp HS THCS giải tỏa đi những áp lực, căng thẳng, lo âu.
Có thể thấy, lứa tuổi HS vô cùng phức tạp với những mâu thuẫn bắt nguồn từ sự
không ổn định về sinh lý và cả tâm lý. Những điều này làm cho đời sống của các em
đầy biến động. Từ đây các em tìm đến HVND hay nói chính xác hơn là tìm thấy sự
thoải mái, những cảm xúc dương tính từ HVND. Chính điều đó đã làm cho các em
“có cố gắng bỏ nói dối nhưng không được” và khi HVND đã trở thành thói quen thì
“em không có khả năng giới hạn số lần nói dối” với ĐTB 2.26 (xếp hạng 2), “dù
trong những hoàn cảnh không áp lực nhưng em khó kiểm soát lời nói dối của mình”
xếp hạng 3, ĐTB là 2.18 hay “em luôn nhắc nhở bản thân không được nói dối
nhưng không thể” xếp hạng 4 với ĐTB 2.09.
Có thể thấy, một HVND đã diễn ra thường kéo theo một hậu quả nhất định và
có liên quan đến nhiều sự vật, hiện tương khác. Do đó, khi đã nói dối một lần, HS
thường đi kèm với những lời nói dối tiếp theo. Điều này đã làm cho các em “thật
khó ngưng HVND vì cần phải tiếp tục nói dối để che đậy những HVND trước đó”
với ĐTB 2.05 (xếp hạng 5). Các thứ hạng 6, 7, 8 lần lượt thuộc về các biểu hiện “dù
hiểu rõ lời khuyên của người khác là không nên nói dối nhưng em vẫn không thực
hiện được” (ĐTB = 2.04); “em cố gắng nghĩ về những câu chuyện có thể “bịa” ra ,
khó có thể ngừng suy nghĩ về điều này” (ĐTB = 2.00) và “em hứa sẽ không nói dối
và cũng tìm cách tự kiềm chế điều này nhưng lại thất bại” (ĐTB = 1.96).
Nhìn một cách tổng quát, những số liệu thống kê về biểu hiện HVND nêu trên
đều cho thấy rằng đứng trước việc chấm dứt HVND thì HS THCS tỏ ra khó khăn
trong việc nỗ lực để chấm dứt việc nói dối. HVND cần có sự can thiệp sớm vì khi
trở thành thói quen thì sẽ rất khó khắc phục.
105
2.2.4.2. Các biểu hiện bên ngoài của HVND
a. Biểu hiện HVND trên bình diện thói quen của HS THCS
Bảng 2.33. Biểu hiện HVND trên bình diện thói quen của HS THCS
STT
Nội dung
ĐTB Xếp hạng 1
2.33
KBG 14 (18.4%)
HK 11 (14.5%)
Mức độ TT 11 (14.5%)
TX 16 (21.1%)
RTX 24 (31.6%)
1 Khi cần che đậy một điều gì đó em sẽ nói dối.
2.21
2
14 (18.4%)
14 (18.4%)
11 (14.5%)
16 (21.1%)
21 (27.6%)
2 Khi xuất hiện sự căng thẳng hay lo âu, em thường nói dối.
2.09
3
17 (22.4%)
10 (13.2%)
20 (26.3%)
7 (9.2%)
22 (28.9%)
4
2
4
15 (19.7%)
20 (26.3%)
12 (15.8%)
8 (10.5%)
21 (27.6%)
5
1.93
5
22 (28.9%)
15 (19.7)
7 (9.2%)
10 (13.2%)
22 (28.9%)
6
1.88
6
23 (30.3%)
8 (10.5%)
18 (23.7%)
9 (11.8%)
18 (23.7%)
7
1.8
7
25 (32.9%)
16 (21.1%)
4 (5.3%)
11 (14.5%)
20 (26.3%)
1.66
8
20 (26.3%)
23 (30.3%)
12 (15.8%)
5 (6.6%)
16 (21.1%)
9
1.54
9
30 (39.5%)
16 (21.1%)
8 (10.5%)
3 (3.9%)
19 (25%)
3 Khi cần xin 1 thứ gì đó mà gia đình không cho (tiền, đồ ăn…) em sẽ nói dối. Em nói dối trong trò chuyện khi hoặc xã giao với người khác. Em chấp nhận kết bạn với những người nói dối. Em nói dối bất kể thời gian, không gian nói dối được là nói dối. Em hay có thói quen suy nghĩ những câu chuyện có thể “bịa” ra. 8 Khi đã nói dối 1 điều gì, em tiếp tục nói dối để che đậy lời nói dối trước đó. Em sẽ ngưng kết bạn với những người phát hiện và không chấp nhận em nói dối.
ĐTB chung
1.94
106
Trong 9 nội dung đề cập đến biểu hiện HVND trong một số thói quen hàng
ngày của HS THCS thì ĐTB dao động từ 1.54 đến 2.33, ĐTB chung là 1.94 rơi vào
mức “thỉnh thoảng” tương đương với mức độ trung bình. Trong tất cả các nội dung,
có đến bốn nội dung có ĐTB từ 2.00 trở lên. Nổi bật nhất trong nhóm này là nội
dung “khi cần che đậy một điều gì đó em sẽ nói dối” với ĐTB 2.33, trong đó tổng
hai mức “rất thường xuyên” và “thường xuyên” là 52.7% (31.6% rất thường xuyên
và 21.1% thường xuyên) và nội dung “khi xuất hiện sự căng thẳng hay lo âu, em
thường nói dối” với 48.8% ở mức thường xuyên và rất thường xuyên. Như vậy, thói
quen che đậy sự thật hay sự căng thẳng, lo âu thường có xu hướng đi kèm với
HVND. Xét một cách tổng quát có thể thấy đây là một con số khá cao thể hiện một
thói quen chưa phù hợp ở HS THCS mà các nhà giáo dục cần phải hết sức quan
tâm. Một nội dung không thể không kể đến khác đó là “khi cần xin một thứ gì đó
mà gia đình không cho (tiền, đồ ăn…) em sẽ nói dối”. Đây là nội dung gắn liền với
một trong những động cơ của HVND lệch chuẩn, đó là nói dối để nhận được đồ vật.
“Xin một thứ gì đó” gắn liền với nhu cầu ở HS THCS. Và khi nhu cầu này không
được thỏa mãn thì HS sẽ tìm đến HVND như một công cụ giúp thỏa mãn nhu cầu.
Trong nội dung này có đến 38.1% HS lựa chọn ở mức thường xuyên và rất thường
xuyên. Nội dung thứ tư (xếp hạng 4) có ĐTB = 2.00 là “em nói dối trong khi trò
chuyện hoặc xã giao với người khác”. Xét thấy trong tình huống trò chuyện hay xã
giao với người khác, HS có thể nói dối với các động cơ như khoe khoan bản thân,
làm vui lòng người khác (HVND hợp chuẩn)… Song trong trường hợp này, HVND
cũng xuất hiện ở các động cơ thuộc dạng lệch chuẩn. Cụ thể, khi được phỏng vấn,
em L.G.T, HS trường THCS Kim Đồng cho biết: “Trong khi trò chuyện hay xã giao
với người khác, đôi khi em cũng nói dối để được một điều gì đó cho mình”. Cũng
với nội dung này, em L.M.H, HS trường THCS Quang Trung trình bày ý kiến:
“Thông qua nói dối, em dễ dàng xin được một điều gì đó mà mình muốn từ việc trò
chuyện với người khác, đặc biệt là cha mẹ”. Tất cả những điều này là cơ sở dẫn đến
việc “em nói dối bất kể thời gian, không gian nói dối được là nói dối” với ĐTB =
1.88 (xếp hạng 6). Song song đó, HS cũng tỏ ra dễ dãi khi “chấp nhận kết bạn với
những người nói dối”, xếp hạng 5 cùng ĐTB xấp xỉ là 1.93. Các thứ hạng 7, 8, 9
còn lại bao gồm: “em hay có thói quen suy nghĩ những câu chuyện có thể “bịa” ra”,
107
“khi đã nói dối một điều gì, em tiếp tục nói dối để che đậy lời nói dối trước đó”,
“em sẽ ngưng kết bạn với những người phát hiện và không chấp nhận em nói dối”
cũng cho thấy HVND phần nào cũng gắn liền với một số thói quen nhất định ở HS
THCS.
Tóm lại, tuy ĐTB của các thói quen trên không rơi vào mức cao nhưng mức
trung bình cũng rất đáng quan tâm. Thói quen hàng ngày gắn liền với HVND ngày
càng cao thì HVND dễ dàng có xu hướng lặp lại và đến một lúc nào đó nói dối cũng
trở thành một thói quen.
b. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường của HS THCS
Bảng 2.34. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường của HS THCS
STT
Nội dung
ĐTB Xếp hạng
Rất ít
Ít
Nhiều
1
từ chối công
1.49
1
2
1.34
2
24 (31.6%) 30 (39.5%)
12 (15.8%) 15 (19.7%)
Mức độ Trung bình 24 (31.6%) 11 (14.5%)
11 (14.5%) 15 (19.7%)
Rất nhiều 5 (6.6%) 5 (6.6%)
3
1.3
3
28 (36.8%)
17 (22.4%)
16 (21.1%)
10 (13.2%)
5 (6.6%)
4
1.29
4
5
1.26
5
6
Khi việc tập thể giao Khi làm sai quy định của trường về cách ăn mặc, thái độ, tác phong… Khi không tham gia các hoạt động do trường lớp tổ chức Khi quên hoặc cố ý không học bài Khi quên hoặc cố ý không làm bài tập Khi trốn học
1.12
6
7
Khi nghĩ học
1.03
7
8
1.03
8
tập
30 (39.5%) 27 (35.5%) 37 (48.7%) 31 (40.8%) 32 (42.1%)
14 (18.4%) 20 (26.3%) 11 (14.5%) 27 (35.5%) 18 (23.75)
15 (19.7%) 15 (19.7%) 14 (18.4%) 9 (11.8%) 20 (26.3%)
14 (18.4%) 10 (13.2%) 10 (13.2%) 3 (3.9%) 4 (5.3%)
3 (3.9%) 4 (5.3%) 4 (5.3%) 6 (7.9%) 2 (2.6%)
9
0.92
9
Khi khó hoàn thành được việc thể giao Khi quên việc của lớp phân công
10 Khi đến trễ
0.75
10
37 (48.7%) 41 (53.9%)
16 (21.1%) 20 (26.3%)
17 (22.4%) 11 (14.5%)
4 (5.3%) 1 (1.3%)
2 (2.6%) 3 (3.9%)
ĐTB chung
1.15
108
Biểu hiện HVND trong các hoạt động ở trường của HS THCS có ĐTB chung
bằng 1.15 thuộc mức “ít”. Xét theo thứ bậc từ trên xuống dưới thì đứng ở thứ bậc
cao nhất là nội dung nói dối “khi từ chối công việc tập thể giao” với ĐTB bằng
1.49. Nội dung này thể hiện rõ động cơ của HVND lệch chuẩn xét theo CMXH và
cả DSM - 4 là nói dối để tránh nghĩa vụ, trách nhiệm. Biểu hiện HVND trong các
hoạt động ở trường còn được thể hiện khi HS “làm sai quy định của trường về cách
ăn mặc, thái độ, tác phong…”. Rõ ràng có thể thấy, mỗi trường THCS đều có những
quy định riêng về cách ăn mặc, thái độ, tác phong… Nó được xem như nghĩa vụ và
HS phải có trách nhiệm thực hiện. Hành vi làm sai quy định của nhà trường có thể
xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Có những HS không biết rõ quy định
nên mới làm sai nhưng cũng có những HS biết rõ quy định vẫn cố tình sai phạm.
Tuy nhiên, dù là nguyên nhân gì đi nữa, HVND để bao biện cho việc làm sai quy
định nhà trường là hoàn toàn không phù hợp và được xếp vào động cơ nói dối để
nhận được ân huệ (sự tha thứ)
Tiếp theo, xếp hạng 3 là nội dung “khi không tham gia các hoạt động của
trường, lớp” với ĐTB 1.3. Hiện nay, ngoài việc học tập, nhà trường cũng bắt đầu tổ
chức cho HS tham gia cá hoạt động ngoại khóa như hái hoa dân chủ, đôi bạn học
tập… Tuy nhiên, số lượng HS tham gia các hoạt động này thường hạn chế. Do đó
nhà trường thường có khuynh hướng khuyến khích, vận động hoặc thậm chí ép
buộc tham gia. Từ đây có thể nhận thấy một số HS có xu hướng sử dụng HVND để
từ chối không tham gia vào các hoạt động của trường lớp. HVND này cũng xuất
phát từ động cơ tránh nghĩa vụ giống như trên. Song, nhìn theo một hướng khác thì
có thể các hoạt động của trường, lớp chưa thật sự thu hút để HS có tinh thần tự
nguyện tham gia hoặc công việc học tập đã quá áp lực, làm HS không có tinh thần
tham gia vào các hoạt động. Đây cũng là một lưu ý cho những cán bộ Đoàn, hội
trong nhà trường.
Xếp hạng 4, 5 lần lượt là các nội dung liên quan đến công việc học tập như:
“khi quên hoặc cố ý không học bài”; “khi quên hoặc cố ý không làm bài tập” với
ĐTB từ 1.26 đến 1.29. Các HVND xuất phát từ các tình huống còn lại, bao gồm:
“khi khó hoàn thành được việc tập thể giao (hạng 6), khi quên việc của lớp phân
109
công (hạng 7) và khi đến trễ. Nhìn chung, có thể thấy, đa phần, động cơ gây ra
HVND trong các hoạt động ở trường là để tránh nghĩa vụ, trách nhiệm và nhận
được ân huệ (sự tha thứ).
c. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với bạn bè của HS THCS
Bảng 2.35. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với bạn bè của HS THCS
STT
Nội dung
Mức độ
ĐTB Xếp
hạng
Rất ít
Ít
Nhiều
Trung bình
Rất nhiều
1 Khi bạn bè mượn 1
11
16
24
10
15
2.03
1
(14.5%)
(21.1%)
(31.6%)
(13.2%)
(19.7%)
thứ gì đó (tiền bạc, dụng cụ học tập…)
mà em không muốn cho mượn.
1.87
2
2 Khi bị bạn bè nhờ vã một việc gì đó
10 (13.2%)
25 (32.9%)
21 (27.6%)
5 (6.6%)
15 (19.7%)
mà em không muốn làm.
3 Khi bạn bè xin một
15
21
13
14
13
1.86
3
(19.7%)
(27.6%)
(17.1%)
(18.4%)
(17.1%)
thứ gì đó mà em không muốn cho.
4 Khi em muốn xin
18
19
15
9
15
1.79
4
(23.7%)
(25%)
(19.7%)
(11,8%)
(19.7%)
bạn bè một thứ gì đó.
5 Khi em quên giữ lời
1.79
5
hứa với bạn.
14 (18.4%)
14 (18.4%)
19 (25%)
9 (11.8%)
20 (26.3%)
6 Khi em không giữ
17
24
15
5
15
1.7
6
lời hứa với bạn.
(22.4%)
(31.6%)
(19.7%)
(6.6%)
(19.7%)
21
15
4
15
1.62
7
7 Khi em muốn mượn
21
(27.6%)
(27.6%)
(19.7%)
(5.3%)
(19.7%)
bạn bè một thứ gì đó.
8 Khi muốn xin một
27
13
20
13
3
1.37
8
(35.5%)
(17.1%)
(26.3%)
(17.1%)
(3.9%)
sự tha thứ từ bạn bè.
ĐTB chung
1.79
110
Biểu hiện HVND trong các hoạt động với bạn bè của HS THCS có ĐTB
chung bằng 1.75 thuộc mức “trung bình”. Đầu tiên có thể kể đến HVND “khi bạn
bè mượn 1 thứ gì đó (tiền bạc, dụng cụ học tập…) mà em không muốn cho mượn”
với ĐTB 2.03. Một mặt có thể xem trường hợp này thể hiện sự chưa rộng lượng ở
HS THCS, mặt khác HVND như một cái cớ để tránh nghĩa vu, trách nhiệm chia sẻ,
giúp đỡ lẫn nhau khi đã là bạn bè. Điều này cũng biểu hiện tương tự ở các nội dung
“khi bị bạn bè nhờ vã một việc gì đó mà em không muốn làm” với ĐTB bằng 1.87
và “khi bạn bè xin một thứ gì đó mà em không muốn cho” với ĐTB là 1.86. Các thứ
hạng trên, cùng với thứ hạng 5 “khi em quên giữ lời hứa với bạn” và 6 là “khi em
không giữ lời hứa với bạn” đều là những trường hợp nói dối xuất phát từ động cơ
tránh nghĩa vụ, trách nhiệm. Ngoài động cơ này, động cơ có biểu hiện thấp hơn là
để nhận được đồ vật ở thứ hạng 4 “khi em muốn xin bạn bè một thứ gì đó” và 7
“khi em muốn mượn bạn bè một thứ gì đó”, trong đó việc “xin” đồ vật có ĐTB cao
hơn “mượn” đồ vật (ĐTB thứ hạng 4 là 1.79, ĐTB thứ hạng 7 là 1.62). Cuối cùng là
thứ hạng 8 với nội dung nói dối “khi muốn xin một sự tha thứ từ bạn bè”. Đây là
HVND để được nhận ân huệ.
Tóm lại, so với các biểu hiện HVND trong các hoạt động ở trường, biểu hiện
HVND trong các hoạt động với bạn bè có ĐTB cao hơn. Các biểu hiện HVND
trong các hoạt động với bạn bè đa phần xuất phát từ động cơ tránh nghĩa vụ, tránh
nhiệm. Bên cạnh đó cũng có một số HVND xuất phát từ động cơ để nhận được đồ
vật hay ân huệ.
c. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với gia đình của HS THCS
111
Bảng 2.36. Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với gia đình của HS
THCS
STT
Nội dung
Mức độ
ĐTB Xếp
hạng
Rất ít
Ít
Trung
Nhiều
Rất
bình
nhiều
1 Khi muốn hoặc đã
9
14
7
38
2.67
1
8
làm một việc mà ba
(11.8%)
(18.4%)
(10.5%)
(9.2%)
(50%)
mẹ không thích
2 Khi mong muốn
10
12
8
11
35
2.64
2
được tham gia các
(13.2%)
(15.8%)
(10.5%)
(14.5%)
(46.1%)
hoạt động giải trí
3 Khi ba mẹ không cho
9
11
13
12
31
2.59
3
tiền hoặc cho không
(11.8%)
(14.5%)
(17.1%)
(15.8%)
(40.8%)
đủ tiền mà em lại rất
cần
4 Khi bị nhắc nhở việc
11
31
2.55
4
7
18
9
học tập ở nhà
(14.5%)
(9.2%)
(23.7%)
(11.8%)
(40.8%)
5 Khi ba mẹ biết được
11
32
2.54
5
9
16
8
sự thật của một lời
(14.5%)
(11.8%)
(21.1%)
(10.5%)
(42.1%)
nói dối trước đó
6 Khi muốn che giấu
10
31
2.53
6
11
15
9
kết quả học tập
(13.2%)
(14.5%)
(19.7%)
(11.8%)
(40.8%)
7 Khi ba mẹ giao
7
30
2.46
7
16
18
5
nhiệm vụ mà em
(9.2%)
(21.1%)
(23.7%)
(6.6%)
(29.5%)
không muốn làm
8 Khi mong muốn có
12
19
8
32
2.34
8
5
được một thứ
(15.8%)
(25%)
(10.5%)
(6.6%)
(42.1%)
ĐTB chung
2.54
Nếu các biểu hiện HVND trong các hoạt động ở trường và các hoạt động với
với bạn bè có ĐTB chỉ đạt từ mức “ít” đến “trung bình” thì biểu hiện HVND trong
các hoạt động với gia đình đạt đến mức “nhiều” với ĐTB bằng 2.54. Điều này hoàn
toàn với bảng 2.30 khi đối tượng nói dối nhiều nhất của HS THCS là cha mẹ. Đứng
112
thứ hạng đầu tiên với ĐTB bằng 2.67 là HVND “khi muốn hoặc đã làm một việc
mà ba mẹ không thích”. Xét theo các động cơ dẫn đến HVND lệch chuẩn thì tình
huống này xuất phát từ động cơ để nhận được ân huệ (sự cho phép hay tha thứ).
Đây được xem là một biểu hiện mang tính tổng quát và phổ biến ở HS THCS. Đứng
ở vị trí thứ 2 là “khi mong muốn được tham gia các hoạt động giải trí (đi chơi cùng
bạn bè, chơi game, lên Facebook…)” với ĐTB bằng 2.64, trong đó có đến 60.6%
HS lựa chọn ở mức nhiều và rất nhiều. Trở lại ba thứ hạng đầu của bảng 2.27 khi
hoạt động giải trí (đi chơi cùng bạn bè, chơi game online, online Facebook…) là
hoạt động xuất hiện HVND nhiều nhất đã cho thấy phần nào tính chân thật trong
câu trả lời của HS THCS. Để tham gia vào các hoạt động giải trí này thì tiền bạc là
một yếu tố quan trọng. Điều này có thể dẫn đến việc HS nói dối “khi ba mẹ không
cho tiền hoặc cho không đủ tiền mà em lại rất cần” với ĐTB 2.59. Em T.H.H, HS
trường THCS Quang Trung chia sẻ: “Đôi khi em có nói dối để xin tiền mẹ chơi
game online”. Trong nghiên cứu của tác giả Mai Mỹ Hạnh thì HVND để chơi game
online chiếm tỷ lệ 4.5% [16]. Dù độ tuổi của khách thể trong hai nghiên cứu là khác
nhau song phần nào cũng đã phản ánh được xu hướng chung về HVND khi HS thực
hiện loại hình giải trí này. Bên cạnh đó, nghiên cứu về “Hành vi nghiện Facebook
của vị thành niên từ 15 đến 18 tuổi tại Tp.HCM” của tác giả Huỳnh Văn Sơn và
cộng sự cũng cho thấy có sự tương đồng khi trong số các HVLC của vị thành niên
để được sử dụng Facebook thì hành vi “nói dối với gia đình và người thân” được
xếp hạng cao nhất với ĐTB 1.66 [36].
Tiếp tục với thứ hạng 4 là HVND “khi bị nhắc nhở việc học tập ở nhà” với
ĐTB 2.55. Tuy được xếp vào các hoạt động với gia đình nhưng nội dung này có
liên quan chặt chẽ đến các hoạt động ở trường và là minh chứng để cho thấy rằng
trong các hoạt động ở gia đình, HS THCS không chỉ nói dối vì động cơ để nhận
được ân huệ, đồ vật mà còn nói dối để trốn tránh trách nhiệm, nghĩa vụ. Sự trốn
tránh trách nhiệm này còn được thể hiện ở thứ hạng 6 với ĐTB bằng 2.53 là “khi
muốn che giấu kết quả học tập” và 7 với ĐTB bằng 2.46 là “khi ba mẹ giao nhiệm
vụ mà em không muốn làm”. Ngoài ra, các thứ hạng còn lại với ĐTB ở mức nhiều
đến trung bình có thể kể đến như: “khi ba mẹ biết được sự thật của một lời nói dối
113
trước đó” (ĐTB = 2.54), “khi mong muốn có được một thứ (quyển sách, đồ trang
sức, điện thoại…) (ĐTB = 2.34).
Nhìn chung, các biểu hiện HVND trong các hoạt động với gia đình xuất phát
từ nhiều động cơ khác nhau, bao gồm động cơ được đồ vật, được ân huệ, tránh
nghĩa vụ, trách nhiệm. So với các biểu hiện HVND trong các hoạt động ở trường và
các hoạt động với bạn bè thì biểu hiện HVND trong các hoạt động với gia đình
thuộc mức khá cao. Điều này hoàn toàn phù hợp với các mục nghiên cứu trước đó.
Mặt khác, khi sử dụng so sánh từng cặp các biểu hiện này với nhau, kết quả cho
thấy có sự khác biệt ý nghĩa ở tất cả các cặp, thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.37. Kết quả so sánh theo cặp các biểu hiện HVND trong các mối
quan hệ ở trường, các mối quan hệ với bạn bè và các mối quan hệ với gia đình
Nội dung ĐTB Sig.
Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường 1.15 0.00
Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với bạn bè 1.79
Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ ở trường 1.15 0.00
Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với gia đình 2.54
Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với bạn bè 1.79 0.00
Biểu hiện HVND trong các mối quan hệ với gia đình 2.54
d. Biểu hiện HVND về mặt cơ thể của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
Bảng 2.38. Biểu hiện HVND về mặt cơ thể của HS một số trường THCS
tại Tp.HCM
STT
Nội dung
Mức độ
ĐTB Xếp
hạng
Rất ít
Ít
Trung
Nhiều
Rất
bình
nhiều
1 Mắt không dám
9
6
28
13
2.39
1
20
nhìn thẳng
(11.8%)
(7.9%)
(26.3%)
(36.8%)
(17.1%)
2
Tim đập nhanh
11
14
6 (7.9%)
26
19
2.37
2
(14.5%)
(18.4%)
(34.2%)
(25%)
3
Khô cổ họng
15
15
7 (9.2%)
28
11
2.07
3
(19.7%)
(19.7%)
(36.8%)
(14.5%)
4
Thở nhanh hoặc
17
14
12
25
8
1.91
4
nín thở trong giây
(22.4%)
(18.4%)
(15.8%)
(32.9%)
(10.5%)
lát
5
Phối hợp không
8
25
16
22
5
1.88
5
đồng bộ
giữa
(10.5%)
(32.9%)
(21.1%)
(28.9%)
(6.6%)
hành động và lời
nói
6
Gãi mũi
17
19
8
24
1.83
6
8
(22.4%)
(25%)
(10.5%)
(31.6%)
(10.5%)
7
Sờ mũi
24
12
5 (6.6%)
27
1.78
7
8
(31.6%)
(15.8%)
(35.5%)
(10.5%)
8
Che miệng
27
9
11
24
1.62
8
5
(35.5%)
(11.8%)
(14.5%)
(31.6%)
(6.6%)
114
ĐTB chung
1.98
Quan sát bảng 2.38 có thể thấy biểu hiện HVND về mặt cơ thể đạt mức trung
bình với ĐTB bằng 1.98. Với tất cả 8 nội dung được hỏi, ĐTB dao động từ 1.62 đến
2.39, trong đó có đến 3 nội dung trên 2.00. Cụ thể, xếp hạng đầu tiên là biểu hiện
“mắt không dám nhìn thẳng” khi nói dối. HS L.M.H trường THCS Quang Trung
cũng chia sẻ: “Em thường nhận diện được một bạn nói dối bằng cách nhìn vào mặt
bạn ấy. Bạn nào nói dối thì không dám nhìn thẳng vào em”. Với ĐTB 2.37, “tim
đập nhanh” là biểu hiện tiếp theo được HS THCS lựa chọn. Chính cảm giác thấy có
lỗi, lo lắng, bất an khi nói dối sẽ làm cho cơ thể dễ dàng sản sinh ra nhiều loại hoóc
môn khác nhau như cortisol, norepinephrine. Norepinephrine sẽ kích thích nhịp tim
đập nhanh hơn. Ngoài ra, khi nói dối, thần kinh của một người bình thường sẽ căng
thẳng, khiến cho nồng độ adrenalin trong máu tăng cao gây ra sự biến động trong
việc tiết nước bọt khiến người ta nuốt xuống nhiều hơn và phải hắng giọng do khô
cổ họng [40], [2]. Với biểu hiện “khô cổ họng” này được HS lựa chọn ở vị trí thứ 3
với ĐTB tìm được là 2.07.
Xếp hạng 4 là biểu hiện “thở nhanh hoặc nín thở trong giây lát” với ĐTB 1.91.
Xét về sinh lý có thể thấy khi nhịp tim đẩy lên cao, khí quản giãn ra, lồng ngực co
115
rút khiến cho hơi thở trở nên gấp gáp hơn [73]. Tiếp theo, với ĐTB 1.88 là biểu
hiện “phối hợp không đồng bộ giữa hành động và lời nói”. Ba thứ hạng còn lại
thuộc về các biểu hiện “gãi mũi”, “sờ mũi”, “che miệng” với ĐTB lần lượt là 1.83,
1.78, 1.62. Nguyên nhân của điều này chính là khi "bịa chuyện", nhiệt độ của mũi
và miệng sẽ tăng cao. Hiện tượng này là do vùng não có tên gọi vỏ não thùy đảo bị
biến đổi khi con người nói dối về cảm xúc của mình. Vùng vỏ não thùy đảo tham
gia việc phát hiện và điều phối nhiệt độ cơ thể, làm tăng nhiệt phần miệng và mũi
khiến cho người nói dối vô tình đưa tay lên gãi [73].
Nhìn chung, HVND gắn liền với một số biểu hiện khác nhau về mặt cơ thể.
Những biểu hiện này cũng chính là căn cứ góp phần nhận dạng HVND. Tuy nhiên,
nếu chỉ qua một vài biểu hiện thì không thể phán xét một người là có HVND. Do
đó, muốn xác định một người có ND hay không cần phải quan sát tất cả các biểu
hiện nêu trên và có sự so sánh trên cơ sở các hành vi thường ngày của người đó.
e. Biểu hiện HVND thông qua một số tình huống giả định
Tình huống 1: Khi bị một người bạn phát hiện HVND của mình, em sẽ làm gì?
Bảng 2.39. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 1
Nội dung Tần số %
Nhận lỗi, giải thích sự thật cho bạn và hứa sẽ thành thật 30 39.5%
với bạn.
Nhận lỗi và nói dối về lý do của lần nói dối trước 22 28.9%
Không quan tâm 9 11.8%
Tiếp tục nói dối để che đậy sự thật 15 19.7%
Tình huống 1 nhằm tìm hiểu cách ứng xử của HS THCS có HVND khi bị bạn
bè phát hiện HVND của mình. Quan sát bảng 2.39 có thể thấy “nhận lỗi, giải thích
sự thật cho bạn và hứa sẽ thành thật với bạn” là câu trả lời được 39.5% HS lựa
chọn. Đây được xem là cách ứng xử phù hợp. Tuy nhiên, các cách ứng xử chưa phù
hợp còn lại cũng chiếm tỷ lệ khá cao. Điển hình là “nhận lỗi và nói dối về lý do của
lần nói dối trước” chiếm tỷ lệ 28.9%. Với cách ứng xử này, việc “nhận lỗi” được
xem là phù hợp, song hành vi “nói dối về lý do của lần nói dối trước” một lần nữa
116
thể hiện sự không trung thực ở HS. Đáng chú ý hơn là có 11.8% HS không quan
tâm đến điều này và có đến 19.7% HS THCS vẫn không nhận lỗi và “tiếp tục nói
dối để che đậy sự thật”.
Như vậy, thông qua tình huống giả định 1, dựa trên mối quan hệ bạn bè, HS
THCS đa phần có hành vi ứng xử chưa phù hợp (61.5%) khi bị bạn bè phát hiện
HVND ở bản thân. HVND thường có sự nối tiếp nhau, khi HVND này bị phát hiện
thì HS thường có xu hướng tiếp tục nói dối về lý do của lời nói dối trước đó hoặc
tiếp tục nói dối để che đậy sự thật.
Tình huống 2: Em đã sử dụng hết số tiền của ba mẹ cho để mua sắm cho
riêng mình nhưng em đang rất cần tiền để đi chơi với bạn. Em sẽ:
Bảng 2.40. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 2
Nội dung Tần số %
Nói sự thật để xin tiền ba mẹ, anh chị 8 10.5%
Nói sự thật để mượn tiền bạn khác 20 26.3%
Nói dối vì một lý do nào đó để mượn tiền bạn khác 10 13.2%
Nói dối ba mẹ, anh chị vì một lý do nào đó để được cho 38 50%
thêm tiền
Tình huống giả định 2 nhằm khai thác sâu động cơ nói dối để được nhận đồ
vật ở HS THCS. Với tình huống được nêu ra, chỉ có 36.8% HS THCS có hành vi
trung thực là nói sự thật để xin tiền ba mẹ, anh chị hay nói thật để mượn tiền bạn
khác. Trong khi đó có 63.2% HS chọn cách nói dối. Trong 63.2% này thì có đến
50% HS lựa chọn cách “nói dối ba mẹ, anh chị vì một lý do nào đó để được cho
thêm tiền”. Xét về các mục nghiên cứu trước đó, khi ba mẹ, anh chị được xem là
một trong những đối tượng nói dối nhiều nhất ở HS THCS thì cách ứng xử này
cũng khá dễ hiểu. Hơn nữa, theo như phân tích ở bảng 2.26 thì đây lại là những
thông tin về bạn bè (đi chơi cùng bạn) nên xu hướng giữ bí mật và nói dối phổ biến
hơn là tiết lộ. Có thể thấy, sở dĩ HS THCS không chọn cách nói sự thật với ba mẹ vì
có thể ba mẹ chưa tạo được niềm tin ở các em hay ở những phản ứng tiêu cực của
ba mẹ mà các em có thể dự đoán được khi mình nói sự thật.
117
Tình huống 3: Một người bạn thân của em biết em thường nói dối nên tìm
cách khuyên răn em, em sẽ phản ứng như thế nào?
Bảng 2.41. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 3
Nội dung Tần số %
Cám ơn và bản thân sẽ cố gắng thay đổi 7 9.2%
Cám ơn và gật đầu cho qua chuyện 49 64.5%
Đưa ra những lý lẽ để biện hộ 8 10.5%
Mặc kệ và tiếp tục nói dối 12 15.8%
Tình huống 3 phản ánh cách ứng xử của HS THCS khi bạn thân của HS biết
HS thường nói dối nên tìm cách khuyên răn. Bảng 2.41 cho thấy có đến 64.5% HS
“cám ơn và gật đầu cho qua chuyện”. “Cám ơn và gật đầu cho qua chuyện” xét cho
cùng là một hình thức lừa dối. Do đó, đây là một cách ứng xử hoàn toàn không phù
hợp. Theo sau cách ứng xử chưa phù hợp này thì việc “mặc kệ và tiếp tục nói dối”
được 12 HS lựa chọn với 15.8%. Cách ứng xử này thể hiện sự bất cần và nói dối
dường như đã trở thành một món ăn tinh thần không thể ở các em. Tiếp theo là việc
“đưa ra những lý lẽ để biện hộ” chiếm tỷ lệ 10.5%. Cuối cùng, hành vi ứng xử được
cho là phù hợp nhất lại có tỷ lệ lựa chọn thấp nhất với 9.2% là “cám ơn và bản thân
sẽ cố gắng thay đổi”. Như vậy, rõ ràng HS THCS đã bỏ qua sự khuyên răn của
người khác để tiếp tục nói dối. Đây là một vấn đề cần được chú ý để lựa chọn các
biện pháp nhằm khắc phục HVND ở HS THCS.
Tình huống 4: Khi trả bài kiểm tra, em bị điểm 0 do không chăm chỉ học
bài. Cô giáo gọi em đến hỏi lý do. Em sẽ:
Bảng 2.42. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 4
Nội dung Tần số %
Xin lỗi và giải thích sự thật cho cô 4 5.3%
Xin lỗi và không nói gì thêm 20 26.3%
Chỉ im lặng chịu điểm thấp 28 36.8%
Nói dối để được làm lại hoặc được cô cho thêm điểm 23 30.3%
118
Bảng 2.42 cho thấy hành vi ứng xử mang tính trung thực và phù hợp nhất (xin
lỗi và giải thích sự thật cho cô) lại có tỷ lệ phần trăm lựa chọn thấp nhất (5.3%).
Tiếp theo là “xin lỗi và không nói gì thêm” với 26.3% HS lựa chọn. Có thể thấy
việc “xin lỗi và không nói gì thêm” có thể đánh giá là phù hợp hơn so với cách ứng
xử “chỉ im lặng chịu điểm thấp” song cách ứng xử này lại chiếm tỷ lệ lựa chọn cao
hơn với 36.8% (cao hơn 10.5%). “Chỉ im lặng chịu điểm thấp” cũng là cách ứng xử
được nhiều HS THCS lựa chọn nhất. Điều đặc biệt chú ý là có đến 30.3% (chiếm
gần 1/3) HS lựa chọn việc “nói dối để được làm lại hoặc được cô cho thêm điểm”.
Đây là hành vi thể hiện sự không trung thực xuất phát từ động cơ để được nhận ân
huệ - một trong những động cơ của HVND lệch chuẩn. Từ đây có thể thấy rằng, đối
tượng nói dối của HS THCS rất đa dạng. Các em có thể nói dối với bất cứ ai và bất
kỳ trong trường hợp nào nhằm đạt được một mục đích nhất định.
Tình huống 5: Tình cờ đọc báo thấy “scandal” của một số người đẹp nói
dối. Em sẽ:
Bảng 2.43. Biểu hiện HVND thông qua tình huống giả định 5
Nội dung Tần số %
Chăm chú theo dõi để rút kinh nghiệm về những hậu quả 4 5.3%
mà hành vi nói dối đem lại
Xem nhưng cho qua, không ảnh hưởng gì đến hành vi nói 22 28.9%
dối ở bản thân
Chuyển sang tin tức khác nhưng vẫn có xíu lưu tâm 27 35.5%
Chuyển sang tin tức khác vì nói dối là chuyện bình thường 23 30.3%
Nếu như trong tất cả các tình huống giả định trước, cách ứng xử phù hợp trong
tình huống được rất ít HS lựa chọn thì trong tình huống giả định thứ năm này kết
quả cũng tương tự. Cụ thể, quan sát bảng 2.43 có thể thấy khi tình cờ đọc báo thấy
“scandal” của một số người đẹp nói dối thì chỉ có 5.3% HS “chăm chú theo dõi để
rút kinh nghiệm về những hậu quả mà HVND đem lại”. Điều này cho thấy rằng, dư
luận xã hội về HVND chưa đủ sức thu hút HS THCS. Hơn nữa, nếu dư luận xã hội
đủ sức thu hút với một bộ phận HS có HVND thì cũng chưa đủ mạnh để tác động
119
và ảnh hưởng đến các em. Điều này được thể hiện rõ khi có 28.9% HS “xem nhưng
cho qua, không ảnh hưởng gì đến HVND ở bản thân”. Tỷ lệ cao nhất được HS lựa
chọn trong cách ứng xử của mình ở tình huống giả định thứ năm này là: “chuyển
sang tin tức khác nhưng vẫn có xíu lưu tâm” (35.5%). Tỷ lệ này cũng gần xấp xỉ
cách thức ứng xử “chuyển sang tin tức khác vì nói dối là chuyện bình thường”
(30.3%).
Nhìn chung, qua 5 tình huống giả định có thể thấy HS THCS chưa có cách
ứng xử phù hợp. Hành vi trung thực phần nhiều được thay thế bằng HVND. HVND
được hình thành thì rất ít chịu sự tác động của bạn bè hay dư luận xã hội, đặc biệt là
khi HVND đã trở thành thói quen. Đức tính trung thực là một nội dung giáo dục
không phải dễ dàng cho những người thực hiện, đòi hỏi phải có tâm huyết, sự kiên
trì và cả những phẩm chất khác có liên quan.
2.2.5. Các mức độ biểu hiện của HVND ở HS một số trường THCS tại
Tp.HCM
Bảng 2.44. Các mức độ biểu hiện của HVND ở HS một số trường THCS
tại Tp.HCM
STT Tỉ lệ MỨC ĐỘ Tần số (%)
Thấp 1 2.6% 2
Trung bình 2 97.4% 74
Cao 3 0% 0
TỔNG 100% 76
Quan sát bảng 2.44 có thể nhận thấy trong 76 HS THCS có HVND lệch chuẩn
xét theo CMXH thì hầu hết HS đều tập trung ở mức độ “trung bình” với tỷ lệ
97.4%. Bên cạnh đó có 2.6% HS có biểu hiện ở mức “thấp” và không có HS nào
biểu hiện ở mức cao. Có thể thấy, một HVND khi đã xuất hiện thì rất khó để dừng
lại. Sự chuyển tiếp từ mức độ biểu hiện “thấp” lên “trung bình” diễn ra khá nhanh.
Chính vì vậy, kết quả cho thấy tỷ lệ HS có biểu hiện HVND ở mức “thấp” không
cao. HVND ở mức “cao” thường là những HVND mang tính bệnh lý. Hơn nữa, với
120
một HVND dạng lệch chuẩn dù xã hội không chấp nhận nhưng vẫn phải thừa nhận
sự tồn tại của nó và nó luôn được lệch chuẩn trong một giới hạn cho phép. Vượt quá
giới hạn này thì HVND sẽ bị lên án một cách mạnh mẽ, thậm chí có sự can thiệp
của các lực lượng khác chẳng hạn như luật pháp. Do đó, sự chuyển tiếp các biểu
hiện HVND ở mức “trung bình” lên “cao” thường diễn ra chậm và hiếm khi. Mặt
khác, với 97.4% HS THCS có biểu hiện HVND ở mức “trung bình” cũng là một
con số hết sức lo ngại. Sự khắc phục HVND cần có sự kết hợp của các lực lượng
khác nhau, trong đó ba lực lượng chính yếu nhất vẫn là gia đình, nhà trường và xã
hội.
2.2.6. So sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM (HS tự đánh giá, xét theo CMXH) trên các phương diện
2.2.6.1. So sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
trên phương diện giới tính
Bảng 2.45. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM trên phương diện giới tính
Giới tính Tần số Tỷ lệ (%) ĐTB Sig.
Nam 35 46% 142.46 0.766
Nữ 41 54% 144.54
Tổng cộng 76 100%
Kết quả bảng 2.45 cho thấy, trong 76 HS THCS có HVND dạng lệch chuẩn thì
tỷ lệ nam và nữ gần bằng nhau (nam là 46% và nữ là 54%). So sánh với số lượng
mẫu ban đầu có thể thấy có 41/255 HS nữ và 35/225 HS nam có HVND dạng lệch
chuẩn. Xét về thực trạng biểu hiện của HVND thì ĐTB của nam và nữ cũng xấp xỉ
nhau (nam là 142.46 và nữ là 144.54). Khi tiến hành kiểm nghiệm T để so sánh thực
trạng biểu hiện HVND của nam và nữ, Sig = 0.766 cho thấy không có sự khác biệt
ý nghĩa. Điều này có nghĩa là xét về mặt giới tính, tỷ lệ nam nữ có HVND tương
đương nhau.
121
2.2.6.2. So sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
trên phương diện trường
Bảng 2.46. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM trên phương diện trường
Trường Tần số Tỷ lệ (%) Sig. ĐTB
THCS Kim Đồng 7.9% 6 135.8
0.02 THCS Quang Trung 19.7% 15 128
THCS Phan Bội Châu 43.4% 33 154.8
THCS Phan Chu Trinh 29% 22 139.3
76 Tổng cộng 100%
Khi so sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM trên
các phương diện khác nhau thì kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số
trường THCS tại Tp.HCM trên phương diện trường được người nghiên cứu quan
tâm hơn cả. Mẫu được chọn gồm 4 trường trong đó có 2 trường công lập và 2
trường dân lập. Kết quả bảng 2.46 cho thấy trong 76 HS THCS có HVND dạng lệch
chuẩn thì có đến 55 HS thuộc các trường dân lập, chiếm tỷ lệ 72.4%. Trong khi đó
chỉ có 16 HS THCS có HVND thuộc trường công lập, chiếm tỷ lệ 27.6%. Cô
N.T.H, giáo viên trường THCS Phan Bội Châu cho biết: “Học trò trường dân lập
nổi tiếng với những trò quậy phá. Do đó, việc các em có HVND để trốn tránh trách
nhiệm là điều hết sức bình thường”. Có thể thấy, HS trường dân lập đa phần có
HVLC nhiều hơn HS trường công lập [40], [2]. Do đó tỷ lệ HS THCS có HVND
lệch chuẩn nhiều hơn HS trường công lập cũng là điều có thể hiểu được. Tuy nhiên,
tỷ lệ này cũng cho thấy một thực trạng đáng buồn về HVND của HS tại các trường
dân lập ở Tp.HCM hiện nay.
Xét về mặt biểu hiện, kiểm nghiệm ANOVA với Sig. bằng 0.02 cho thấy có sự
khác biệt ý nghĩa giữa 4 trường. Cụ thể ĐTB cao nhất về biểu hiện HVND là trường
THCS – THPT Phan Bội Châu (ĐTB = 154.8). Tiếp theo là trường THCS – THPT
Phan Chu Trinh (ĐTB = 139.3). Có ĐTB cao thứ 3 là trường THCS Kim Đồng
(ĐTB = 135.8) và ĐTB thấp nhất là trường THCS Quang Trung (ĐTB = 128). Như
122
vậy, HS ở trường THCS dân lập thì có biểu hiện HVND ở mức cao hơn HS trường
THCS công lập. Chính điều này đã tạo ra sự khác biệt về ý nghĩa. Đây thật sự là
một thách thức cho các nhà quản lý, các thầy cô, các chuyên viên tham vấn… tại
các trường dân lập trong việc khắc phục HVND ở HS THCS.
2.2.6.3. So sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
trên phương diện khối lớp
Bảng 2.47. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM trên phương diện khối lớp
Khối lớp Tần số Tỷ lệ (%) Sig. ĐTB
6 143.4 10.5% 8
0.991 7 143 17.1% 13
8 142 34.2% 26
9 145 38.2% 29
76 Tổng cộng 100%
Kết quả bảng 2.47 cho thấy trong số 76 HS có HVND lệch chuẩn được nghiên
cứu thì có 8 HS lớp 6, 13 HS lớp 7, 26 HS lớp 8 và 29 HS lớp 9. Số liệu này cho
thấy tỷ lệ HS THCS có xu hướng gia tăng theo khối lớp. Lớp 9 là lớp chiếm số
lượng HS có HVND lệch chuẩn cao nhất (38.2%). Xét về các biểu hiện thì ĐTB dao
động từ 142 đến 145. Tuy nhiên, sự dao động này chưa đủ tạo ra sự khác biệt về
khối lớp khi thực hiện kiểm nghiệm ANOVA. Với Sig.= 0.991 cho thấy không có
sự khác biệt về khối lớp trong biểu hiện HVND dạng lệch chuẩn của HS THCS
được nghiên cứu.
2.2.6.4. So sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
trên phương diện tôn giáo
123
Bảng 2.48. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM trên phương diện tôn giáo
Tôn giáo Tần số Tỷ lệ (%) Sig. ĐTB
64.5% 49 144.9 Không
0.419 19.7% 15 146 Phật
10.5% 8 143.3 Thiên chúa
5.3% 4 119 Tôn giáo khác
76 Tổng cộng 100%
Xét về mặt tôn giáo, bảng 2.53 với Sig. = 0.419 cho thấy không có sự khác
biệt về biểu hiện HVND. ĐTB thấp nhất là 119 (tôn giáo khác) và cao nhất là 144.9
(không tôn giáo). Nói khác đi việc theo tôn giáo nào hoàn toàn không ảnh hưởng
đến biểu hiện HVND ở HS THCS. Tuy nhiên, khi xem xét riêng về tần số HS
THCS có HVND theo biến số tôn giáo có thể nhận thấy có 49/211 (23.2%) HS
không tôn giáo, 15/200 (7.5%) HS có tôn giáo là Phật, 8/55 (14.5%) HS theo Thiên
chúa giáo và 4/14 (28.6%) HS theo tôn giáo khác có HVND. Từ đây có thể nhận
thấy HVND dạng lệch chuẩn có thể xuất hiện ở bất kỳ HS THCS nào tại Tp.HCM,
dù không theo tôn giáo hay theo một tôn giáo nhất định nào đó.
2.2.6.5. So sánh thực trạng HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
trên phương diện hạnh kiểm
Bảng 2.49. Kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM trên phương diện hạnh kiểm
Hạnh kiểm Tần số Tỷ lệ (%) ĐTB Sig.
134.1 11.8% 9 Tốt
0.602 145.3 51.3% 39 Khá
144.2 36.9% 28 Trung bình
Bảng 2.49 thể hiện rất rõ kết quả so sánh thực trạng HVND của HS một số
76 Tổng cộng 100%
trường THCS tại Tp.HCM và sự phân bố HS có HVND lệch chuẩn trên phương
124
diện hạnh kiểm. Sự phân bố này cho thấy có 9/345 HS THCS có hạnh kiểm tốt,
39/101 HS THCS có hạnh kiểm khá và 28/34 HS THCS có hạnh kiểm trung bình có
HVND. Số liệu thống kê trên cho thấy HS có hạnh kiểm trung bình là đối tượng có
HVND nhiều nhất. Nếu tính ra tỷ lệ phần trăm trên toàn HS có hạnh kiểm trung
bình thì tỷ lệ đạt đến mức 82.4%. Trong khi đó, với cách tính tương tự, tỷ lệ này đạt
mức 38.6% ở HS có hạnh kiểm khá và 2.6% ở HS có hạnh kiểm tốt. Việc đánh giá
hạnh kiểm của HS thường được nhà trường dựa vào các quy định cụ thể. Đây cũng
thường là những quy định nhằm mục đích rèn luyện về mặt đạo đức cho HS cũng
như hạn chế tối đa HVLC ở các em. Những HS có hạnh kiểm khá, trung bình
thường là những HS vi phạm ở mức vừa và nghiêm trọng các quy định được đặt ra.
Do đó việc xuất hiện HVLC ở các em, trong đó có HVND cũng là điều dễ hiểu. Tuy
nhiên, khi so sánh các biểu hiện của HVND này ở HS có hạnh kiểm trung bình và
khá với các HS có hạnh kiểm khá thì kết quả so sánh với Sig.= 0.602 cho thấy
không có sự khác biệt về ý nghĩa. Điều này có nghĩa là, mặc dù tỷ lệ HS có hạnh
kiểm trung bình có HVND khá cao nhưng các em có các mức độ biểu hiện hành vi
không có sự khác biệt với HS được xếp vào nhóm HVND lệch chuẩn có hạnh kiểm
khá và hạnh kiểm tốt.
Tóm lại, trong tất cả các biến số được so sánh: giới tính, trường, khối lớp, tôn
giáo và hạnh kiểm thì:
- Xét về tần số: nam và nữ có HVND ngang nhau, HS THCS trường công lập
có HVND thấp hơn trường dân lập, số lượng HS có HVND tăng dần theo khối lớp,
HS có tôn giáo Phật có HVND ít hơn các tôn giáo khác và HS không theo tôn giáo
nào, HVND nói dối xuất hiện chủ yếu ở HS có hạnh kiểm khá và trung bình, nhiều
nhất là HS có hạnh kiểm trung bình.
- Xét về biểu hiện: không có sự khác biệt về biểu hiện HVND trên các phương
diện giới tính, khối lớp, tôn giáo, hạnh kiểm song có sự khác biệt trên phương diện
trường học. Cụ thể HS trường dân lập thì có các biểu hiện HVND cao hơn ở trường
công lập.
125
2.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS một số trường THCS tại
Tp.HCM
Bảng 2.50. Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS một số trường
THCS tại Tp.HCM
Nội dung ĐTB Xếp STT hạng
1 Ba mẹ cấm đoán và hạn chế các mối quan hệ của con cái 1.17 1
Nhận thức chưa đầy đủ về sự phù hợp và không phù hợp 3.17 2 2 của hành vi nói dối
3 Ba mẹ coi trọng thành tích học tập 3 3.22
4 Nhà trường yêu cầu cao về thành tích học tập 4 4.04
5 Ba mẹ chưa hiểu con cái 5 4.78
6 Ba mẹ là tấm gương xấu 6 5.42
7 Gia đình quá nghiêm khắc 7 5.46
8 Nhà trường quy định quá chặt chẽ 8 5.67
9 Sự bắt chước hành vi nói dối ở người khác 9 5.74
10 Kỹ năng kiềm chế cảm xúc thấp 10 8.91
11 Mong muốn tự khằng định bản thân 11 8.92
12 Thầy cô là tấm gương xấu 12 9.38
Với 12 yếu tố ảnh hưởng đến HVND được HS lựa chọn từ 1 đến 12 với 1 là
yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất, 12 là yếu tố ảnh hưởng ít nhất hoặc không ảnh hưởng
đến HVND của bản thân và các yếu tố này được được chia thành 3 nhóm: các yếu
tố xuất phát từ gia đình (1, 3, 5, 6, 7), các yếu tố xuất phát từ nhà trường (4, 8, 12),
các yếu tố xuất phát từ bản thân HS (2, 9, 10, 11), có thể nhận thấy nhóm các yếu tố
xuất phát từ gia đình chiếm thứ hạng khá cao. Cụ thể xếp hạng đầu tiên làm ảnh
hưởng đến HVND của HS THCS là do “ba mẹ cấm đoán và hạn chế các mối quan
hệ của con cái” với ĐTB 1.17. Chính điều này, một mặt đã cản trở nguyện vọng độc
lập ở các em. Mặt khác nó cũng làm cho các em có những phản ứng chống đối. Với
126
mong muốn thu hẹp quyền hạn của cha mẹ và mở rộng quyền hạn của bản thân,
HVND được xem như một công cụ để thực hiện nó. Tương tự, ở thứ hạng 3 là yếu
tố “ba mẹ coi trọng thành tích học tập” với ĐTB 3.22 đã vô tình tạo cho các em áp
lực về thành tích học tập. Điều này cũng ảnh hưởng đến HVND của các em, nhất là
về cường độ khi các em không đạt được sự kỳ vọng của ba mẹ về thành tích học
tập. Cùng thuộc nhóm các yếu tố xuất phát từ gia đình, các yếu tố “ba mẹ chưa hiểu
con cái”, “ba mẹ là tấm gương xấu”, “gia đình quá nghiêm khắc” lần lượt xếp hạng
5, 6, 7 và có ĐTB 4.78, 5.42 và 5.46. Rõ ràng, nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến
HVND xuất phát từ gia đình giữ xếp hạng khá cao so với nhóm các yếu tố còn lại.
Bên cạnh đó, có thể thấy các yếu tố này cũng góp phần làm cho chất lượng của các
mối quan hệ cha mẹ - con cái trở nên giãm sút. Minh chứng là khi yêu cầu HS
THCS có HVND dạng lệch chuẩn đánh giá chung về chất lượng mối quan hệ giữa
các em với cha mẹ mình thì có đến 57.9% cho rằng ở mức trung bình, 15.8% cho
rằng ở mức xấu và có 9.2% cho rằng ở mức rất xấu. Số liệu cụ thể được thể hiện ở
bảng 2.51 dưới đây:
Bảng 2.51. Đánh giá chung về mối quan hệ của cha mẹ với con cái ở HS
một số trường THCS tại Tp.HCM có HVND lệch chuẩn
Nội dung Tần số Phần tram
Rất tốt 2 2.6%
Tốt 11 14.5%
Trung bình 44 57.9%
Xấu 12 15.8%
Rất xấu 7 9.2%
Sự suy giảm về chất lượng trong mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái theo sự
tự đánh giá của HS có HVND lệch chuẩn ở bảng 2.56 cho thấy rằng có sự ảnh
hưởng của mối quan hệ này đến HVND của các em. Như vậy, một mặt, các yếu tố
được nghiên cứu góp phần làm cho chất lượng của các mối quan hệ cha mẹ - con
cái trở nên giãm sút. Mặt khác, sự giảm sút về chất lượng của các mối quan hệ cha
mẹ - con cái lại tạo điều kiện để các yếu tố hoạt động mạnh hơn và tác động nhiều
hơn đến HVND ở HS THCS. Đây là một điều rất đáng lưu tâm cho các bậc làm cha
127
mẹ trong việc xây dựng bầu không khí tâm lý trong gia đình cũng như việc lựa chọn
các biện pháp giáo dục con một cách phù hợp.
Xếp hạng 2, 9, 10, 11 là nhóm các yếu tố xuất phát từ bản thân học sinh. Cụ
thể, xếp hạng hai với ĐTB 3.17 là sự “nhận thức chưa đầy đủ về sự phù hợp và
không phù hợp của hành vi nói dối”. Điều này có nghĩa là ở các em việc thông suốt
về CMXH của HVND chưa ở mức cao. Nếu xét về nhận thức của HS THCS nói
chung (bao gồm cả HS có HVND lệch chuẩn và không) theo như các mức nghiên
cứu trước đó thì sự nhận thức tương đối phù hợp. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sâu về
nhận thức đối với CMXH của HVND riêng ở HS THCS có HVND dạng lệch chuẩn
với khía cạnh động cơ thì kết quả có sự khác biệt nhất định.
Bảng 2.52. CMXH và nhận thức của HS THCS có HVND lệch chuẩn về
CMXH đối với HVND
STT Động cơ CMXH
Nhận thức của HS THCS có HVND lệch chuẩn về CMXH
ĐTB
ĐTB Xếp hạng Xếp hạng
1 Để được nhận đồ vật 0.39 1.14 1 1
2 0.4 1.25 2 2
Để được nhận ân huệ (sự cho phép, sự tha thứ…)
3 Tránh nghĩa vụ 0.46 1.36 3 3
4 Tránh bị trừng phạt 0.53 4 1.54 8
5 Tự khẳng định bản thân 0.56 5 1.48 6
6 Nói dối nhằm thăm dò, tìm hiểu 0.62 6 1.69 11
sự thật
7 Khoe khoan về bản thân 0.7 7 1.25 2
8 Che giấu hành động của bản thân 0.81 8 1.36 3
9 Gây chú ý với người khác 0.81 8 1.59 10
0.83 10 9 1.77 16
Tự bảo vệ bản thân hoặc bảo vệ người khác.
11 Làm cho những câu chuyện trở 0.83 9 1.75 15
nên thú vị hay sống động hơn.
128
12 Không làm tổn thương người 0.83 9 1.74 14
khác
13 Che giấu HVND trước đó 0.87 10 1.57 9
14 Nói những điều tưởng tượng 0.98 11 1.44 5
15 Thuyết phục, giải thích để người 1.01 12 1.39 4
khác chấp nhận
16 Che giấu cảm xúc bản thân 1.03 13 1.49 7
17 Giúp đỡ người khác 1.09 14 1.58 8
18 Tạo không khí vui vẻ, giao lưu 1.13 15 1.73 13
19 Làm vui lòng người khác 1.15 16 1.71 12
Với 3 phương án lựa chọn là không phù hợp (0 điểm), phân vân (1 điểm), phù
hợp (2 điểm) và theo thang quy đổi ĐTB đã trình bày, nhận thức của HS THCS có
HVND lệch chuẩn về CMXH đối với HVND được chia thành hai nhóm sau:
- Các động cơ nói dối còn phân vân giữa phù hợp và không phù hợp (ĐTB từ
0.5 đến 1.5): nói dối để được nhận đồ vật (ĐTB = 1.14), để được nhận ân huệ (sự
cho phép, sự tha thứ…) (ĐTB = 1.25), tránh nghĩa vụ (ĐTB = 1.36), khoe khoan về
bản thân (ĐTB = 1.25), che giấu hành động của bản thân (ĐTB = 1.36), nói những
điều tưởng tượng (ĐTB = 1.44), thuyết phục, giải thích để người khác chấp nhận
(ĐTB = 1.39), che giấu cảm xúc bản thân (ĐTB = 1.49)
- Các động cơ nói dối phù hợp với CMXH: tránh bị trừng phạt (ĐTB = 1.54),
nói dối nhằm thăm dò, tìm hiểu sự thật (ĐTB = 1.69), gây chú ý với người khác
(ĐTB = 1.59), tự bảo vệ bản thân hoặc bảo vệ người khác (ĐTB = 1.77), làm cho
những câu chuyện trở nên thú vị hay sống động hơn (ĐTB = 1.75), không làm tổn
thương người khác (ĐTB = 1.74), Che giấu HVND trước đó (ĐTB = 1.57), giúp
đỡ người khác (ĐTB = 1.58), tạo không khí vui vẻ, giao lưu (ĐTB = 1.73), làm vui
lòng người khác (ĐTB = 1.71).
Như vậy, so sánh với CMXH và nhận thức của HS THCS nói chung thì nhận
thức của HS THCS có HVND lệch chuẩn có phần thoáng hơn. Các em tỏ ra phân
vân trước một số động cơ nói dối, khẳng định sự phù hợp ở một số động cơ nói dối
khác, trong khi đó không có động cơ nào các em cho là không phù hợp với CMXH.
129
Nếu xét riêng 3 động cơ gây ra HVND lệch chuẩn thì các em đều tỏ ra phân vân
trước ba động cơ này. Do đó “nhận thức chưa đầy đủ về sự phù hợp và không phù
hợp của hành vi nói dối” chính là một trong những yếu tố tác động nhiều nhất đến
HVND của các em.
Cùng trong nhóm yếu tố xuất phát từ bản thân học sinh, các thứ hạng 9, 10, 11
lần lượt là “sự bắt chước hành vi nói dối ở người khác”, “kỹ năng kiềm chế cảm xúc
thấp” và “mong muốn tự khằng định bản thân”. Có thể thấy HVND là một hành vi
dễ “lây lan”. Điều này đòi hỏi các em phải tự trang bị cho mình những kỹ năng sống
cần thiết. Ngoài ra, “mong muốn tự khằng định bản thân” ở lứa tuổi thiếu niên cũng
là một trong những yếu tố tác động đến HVND của các em.
Ba thứ hạng còn lại thuộc về các yếu tố xuất phát từ nhà trường như: “nhà
trường yêu cầu cao về thành tích học tập”, “nhà trường quy định quá chặt chẽ”,
“thầy cô là tấm gương xấu”. Trong 3 yếu tố này, yếu tố tác động nhiều nhất đến
HVND ở các em là “nhà trường yêu cầu cao về thành tích học tập”. Như vậy, cùng
với cha mẹ thì nhà trường cũng là yếu tố tạo nên áp lực học tập và tác động đến
HVND của các em. Mặt khác, khi phân chia các yếu tố tác động đến HVND của HS
THCS theo 3 nhóm như trên, sự khác biệt của ba nhóm thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.53. Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến HVND của HS THCS
Nhóm ĐTB Xếp hạng
Các yếu tố xuất phát từ gia đình 4.01 1
Các yếu tố xuất phát từ bản thân HS 6.69 3
Các yếu tố xuất phát từ nhà trường 6.36 2
Tóm lại, qua kết quả của bảng 2.53 có thể thấy các yếu tố xuất phát từ gia đình
ảnh hưởng nhiều nhất đến HVND ở HS THCS. Tiếp theo sau đó là các yếu tố xuất
phát từ nhà trường. Cuối cùng là các yếu tố xuất phát từ bản thân HS. Điều này
hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu về HVND trên thế giới [49], [52], [59], [62],
[67].
130
2.2.8. Mối quan hệ giữa sự lòng tự trọng, sự cô đơn, sự căng thẳng và
HVND của HS THCS tại Tp.HCM
2.2.8.1. Mối quan hệ giữa lòng tự trọng và HVND của HS THCS tại Tp.HCM
Bảng 2.54. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa lòng tự trọng và HVND
của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
Mức độ tự HS không có HS có HVND lệch Tổng cộng
trọng HVND lệch chuẩn chuẩn
Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)
Thấp 23 4.79% 43 9% 20 4.21%
Trung bình 209 43.5% 256 53.3% 47 9.8%
166 34.5% Khá 9 1.9% 175 36.4%
6 1.3% Cao 0 0% 6 1.3%
1.41 ĐTB 0.85 480 100%
Sig. 0.00
Thang đo về lòng tự trọng bao gồm 10 câu hỏi với 4 mức độ trả lời khác nhau,
từ “hoàn toàn không đồng ý” (SA), “không đồng ý” (A), “đồng ý” (D) đến “hoàn
toàn đồng ý” (DS). Kết quả ở bảng 2.59 cho thấy:
- Trong tổng số 480 HS được khảo sát thì có 43 (9%) HS có lòng tự trọng ở
mức thấp, 209 (53.3%) HS có lòng tự trọng ở mức trung bình, 175 (36.4%) HS khá
tự trọng và 6 (1.3%) HS tự trọng ở mức cao theo thang đo. Từ đây có thể nhận thấy
HS THCS có lòng tự trọng ở mức trung bình và khá là chủ yếu.
- Trong tổng số 1.3% HS có lòng tự trọng ở mức cao thì không có HS nào có
HVND lệch chuẩn, trong tổng số 36.4% HS khá tự trọng thì có 1.9% HS có HVND
lệch chuẩn. Trong cả hai mức độ này thì tỷ lệ HS có HVND tương đối thấp. Tuy
nhiên, điều này hoàn toàn ngược lại với mức độ lòng tự trọng ở mức trung bình và
thấp khi trong tổng số 53.3% HS có lòng tự trọng ở mức trung bình thì có đến 9.8%
HS có HVND lệch chuẩn, trong tổng số 9% HS có lòng tự trọng ở mức thấp thì có
đến 4.21% HS có HVND lệch chuẩn. Điều này có nghĩa là HS có HVND lệch
chuẩn thường là những HS có lòng tự trọng ở mức thấp và mức trung bình.
131
- Khi tiến hành kiểm nghiệm T- Test để so sánh lòng tự trọng của nhóm HS
không có HVND lệch chuẩn và nhóm HS có HVND lệch chuẩn thì ĐTB của nhóm
không có HVND lệch chuẩn là 1.41, ĐTB của nhóm có HVND lệch chuẩn là 0.85,
thấp hơn ĐTB nhóm HS không có HVND lệch chuẩn. Sig.= 0.00 cũng cho thấy có
sự khác biệt ý nghĩa của hai nhóm này. Kết quả này lại khẳng định lại một lần nữa
là HS có HVND lệch chuẩn thường là những HS có lòng tự trọng thấp hơn so với
những HS không có HVND lệch chuẩn.
2.2.8.2. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cô đơn và HVND của HS
THCS tại Tp.HCM
Bảng 2.55. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự cô đơn và HVND của
HS THCS tại Tp.HCM
Mức độ cô HS không có HVND HS có HVND lệch Tổng cộng
đơn lệch chuẩn chuẩn
Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)
Thấp 18 3.8% 0 0% 18 3.8%
Trung bình 286 59.6% 21 4.4% 307 64%
Khá 98 20.4% 11 2.3% 109 22.7%
Cao 2 0.4 46 9.6% 44 9.2%
ĐTB 1.31 2.24 480 100%
Sig. 0.00
Thang đo bao gồm 20 câu hỏi dùng để đo lường sự cô đơn hay cảm giác bị xã
hội cô lập. Khách thể tham gia trả lời từng câu hỏi trên thang điểm từ 1 (Không bao
giờ) đến 4 (thường xuyên). Kết quả ở bảng 2.60 cho thấy:
- Trong tổng số 480 HS được khảo sát thì có 18 (3.8%) HS có mức độ cô đơn
thấp, 307 (64%) HS có mức độ cô đơn trung bình, 109 (22.7%) HS có mức độ cô
đơn khá và 46 (9.6%) HS có mức độ cô đơn cao theo thang đo. Từ kết quả này có
thể nhận thấy HS THCS có sự cô đơn theo thang đo ở mức trung bình là chủ yếu.
- Trong tổng số 3.8% HS có có mức độ cô đơn thấp thì không có HS nào có
HVND lệch chuẩn, trong tổng số 64% HS có mức độ cô đơn trung bình thì có 4.4 %
132
HS có HVND lệch chuẩn, trong tổng số 22.7% HS khá cô đơn thì có 2.3% HS có
HVND lệch chuẩn. Trong cả ba mức độ này thì tỷ lệ HS có HVND tương đối thấp.
Tuy nhiên, điều này hoàn toàn ngược lại với có mức độ cô đơn cao khi trong tổng
số 9.6% HS có mức độ cô đơn cao thì có đến 9.2% HS có HVND lệch chuẩn. Điều
này có nghĩa là HS có HVND lệch chuẩn thường là những HS có mức độ cô đơn
cao
- Khi tiến hành kiểm nghiệm T- Test để so sánh sự cô đơn của nhóm HS
không có HVND lệch chuẩn và nhóm HS có HVND lệch chuẩn thì ĐTB của nhóm
không có HVND lệch chuẩn là 1.31, ĐTB của nhóm có HVND lệch chuẩn là 2.24,
cao hơn ĐTB nhóm HS không có HVND lệch chuẩn. Sig.= 0.00 cũng cho thấy có
sự khác biệt ý nghĩa của hai nhóm này. Kết quả này lại khẳng định một lần nữa là
HS có HVND lệch chuẩn thường là những HS cô đơn hơn so với những HS không
có HVND lệch chuẩn.
2.2.8.3. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự căng thẳng và HVND của HS
THCS tại Tp.HCM
Bảng 2.56. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự căng thẳng và HVND
của HS THCS tại Tp.HCM
Mức độ căng HS không có HS có HVND lệch Tổng cộng
thẳng HVND lệch chuẩn chuẩn
Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)
Rất thấp 13 2.7% 3 0.3% 16 3.3%
Thấp 128 26.7% 16 3.3% 144 30%
Trung bình 224 46.7% 23 4.8% 247 51.5%
Cao 38 7.9% 34 72 15% 7.1%
Rất cao 1 0.2% 0 0% 2 0.2%
1.7 ĐTB 2.2 480 100%
Sig. 0.00
Thang đo bao gồm 10 câu hỏi được đánh giá trên thang 5 điểm từ “không bao
giờ” đến “rất thường xuyên”. Kết quả ở bảng 2.61cho thấy:
133
- Trong tổng số 480 HS được khảo sát thì có 16 (3.3%) HS có mức độ căng
thẳng rất thấp, 144 (30%) HS có mức độ căng thẳng thấp, 247 (51.5%) HS có mức
độ căng thẳng trung bình, 72 (15%) HS có mức độ căng thẳng cao và 2 (0.2%) HS
có mức độ căng thẳng cao theo thang đo. Theo Walter Cannon (người đầu tiên đưa
ra khái niệm về Stress), stress được hiểu là phản ứng của cơ thể trước bất kì một yêu
cầu, áp lực hay một yếu tố tác động nào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con
người về cả vật chất lẫn tinh thần. Triệu chứng của stress rất đa dạng, với mỗi người
stress lại biểu hiện ở một trạng thái khác nhau. Người bị stress thường hay buồn
phiền lo lắng, họ cảm thấy bị căng thẳng hay áp lực bởi một vấn đề nào đó. Từ cảm
xúc bộc phát thành hành vi như cáu giận, mất ngủ triền miên, đau đầu. Ngoài ra, ở
một số người còn cảm thấy đau bụng dữ dội, đổ mồ hôi và rối loạn tiêu hóa [80]. Từ
kết quả này có thể nhận thấy HS THCS có sự căng thẳng theo thang đo ở mức trung
bình là chủ yếu.
- Trong tổng số 3.3% HS có có mức độ căng thẳng rất thấp thì chỉ có 0.3% HS
có HVND lệch chuẩn, trong tổng số 30% HS có mức độ căng thẳng thấp thì có 3.3
% HS có HVND lệch chuẩn, trong tổng số 51.5% HS căng thẳng ở mức trung bình
thì có 4.8% HS có HVND lệch chuẩn. Trong cả ba mức độ này thì tỷ lệ HS có
HVND tương đối thấp. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn ngược lại với có mức độ
căng thẳng cao khi trong tổng số 15% HS căng thẳng ở mức cao thì có đến 7.1% HS
có HVND lệch chuẩn. Điều này có nghĩa là HS có HVND lệch chuẩn thường là
những HS có mức độ căng thằng cao hơn những HS không có HVND lệch chuẩn.
- Khi tiến hành kiểm nghiệm T- Test để so sánh sự căng thằng của nhóm HS
không có HVND lệch chuẩn và nhóm HS có HVND lệch chuẩn thì ĐTB của nhóm
không có HVND lệch chuẩn là 1.7, ĐTB của nhóm có HVND lệch chuẩn là 2.2, cao
hơn ĐTB nhóm HS không có HVND lệch chuẩn. Sig.= 0.00 cũng cho thấy có sự
khác biệt ý nghĩa của hai nhóm này. Kết quả này lại khẳng định lại một lần nữa là
HS có HVND lệch chuẩn thường là những HS căng thằng hơn so với những HS
không có HVND lệch chuẩn.
134
2.2.8.4. Kết quả nghiên cứu mối tương quan giữa HVND, lòng tự trọng, sự cô
đơn và sự căng thẳng ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM
Bảng 2.57. Kết quả tương quan giữa HVND, lòng tự trọng, sự cô đơn và
sự căng thẳng ở HS một số trường THCS tại Tp.HCM
Nội dung Lòng tự trọng Sự cô đơn Trạng thái căng
thẳng
HVND lệch chuẩn -0.241* 0.340** 0.190
Lòng tự trọng -0.092* 0.52
Sự cô đơn 0.431**
Sự căng thẳng
Kết quả tương quan giữa HVND, lòng tự trọng, sự cô đơn và sự căng thẳng ở
bảng 2.57 cho thấy 2/6 hệ số tương quan có ý nghĩa ở mức xác suất 5% và 2/6 hệ số
tương quan có ý nghĩa ở mức xác suất 1%. Trong đó:
- Giữa HVND lệch chuẩn và lòng tự trọng có sự tương quan nghịch ở mức yếu
với mức xác suất 5%. Điều này có nghĩa là HS có biểu hiện HVND càng cao thì
lòng tự trọng càng thấp. Ngược lại, HS không có hoặc ít có biểu hiện HVND thì có
lòng tự trọng càng cao. Đây là kết quả được xem là phù hợp so với bảng 2.59 ở trên.
- Giữa HVND lệch chuẩn và sự cô đơn có sự tương quan thuận ở mức trung
bình với xác suất 1%. Kết quả này cho thấy HS có biểu hiện HVND càng cao thì sự
cô đơn càng cao. Ngược lại HS không có hoặc ít có biểu hiện HVND thì càng ít sự
cô đơn. Đây cũng là một kết quả phù hợp với bảng 2.60 ở trên.
- Giữa lòng tự trọng và sự cô đơn có sự tương quan nghịch ở mức yếu với mức
xác suất 5%. Sự tương quan này chứng minh rằng HS THCS có lòng tự trọng càng
cao thì càng ít cô đơn. Ngược lại, HS THCS càng ít cô đơn thì có lòng tự trọng cao.
- Giữa sự cô đơn và sự căng thẳng có sự tương quan nghịch ở mức trung bình
với xác suất 1%. Như vậy, HS THCS càng cô đơn thì càng căng thẳng. Hay nói
cách khác, nếu HS THCS nào càng căng thẳng thì càng cảm thấy cô đơn.
135
2.2.9. Cách ứng xử của phụ huynh và giáo viên khi phát hiện HVND ở HS
THCS
Bảng 2.58. Cách ứng xử của phụ huynh và giáo viên khi phát hiện HVND
ở HS THCS
Phụ huynh Giáo viên
STT NỘI DUNG ĐTB Xếp ĐTB Xếp
hạng hạng
1 Nhắc nhở không nói dối nữa 2.93 1.34 1 1
2 La mắng, trách phạt 2.87 1.05 7 2
3 Khuyên nhủ 2.54 1.29 3 2
4 Giảm hoặc không quan tâm đến con 2.34 4 1.00 8
Phụ huynh nhờ giáo viên cảnh cáo 2.12 1.08 6
5 trước lớp hoặc trường/GV cảnh cáo 5
trước lớp
6 Tỏ ra bình thường 1.19 6 1.23 4
7 Đánh đập 1.15 7 0.34 9
8 Hướng vào hoạt động giải trí khác 1.13 8 1.22 3
9 Tìm chuyên gia để can thiệp 0.6 9 1.21 5
Quan sát bảng 2.58 có thể thấy ba cách ứng xử ở mức “thường xuyên” của phụ
huynh khi phát hiện HVND của con mình lần lượt là: nhắc nhở không nói dối nữa
(ĐTB = 2.93), la mắng (ĐTB = 2.87), khuyên nhủ (ĐTB = 2.54). Trong ba cách
ứng xử này thì việc nhắc nhở và khuyên nhủ được xem là hai cách ứng xử phù hợp.
Tuy nhiên, với ĐTB 2.87, “la mắng, trách phạt” là một phương pháp giáo dục cần
được nhìn nhận ở hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất, đây là một hình thức dễ gây
tổn thương cho HS, nhất là khi các em đang ở lứa tuổi thiếu niên. Hơn nữa, với cách
ứng xử này có thể làm suy giảm chất lượng mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái.
Khía cạnh thứ hai, khi tất cả các biện pháp khác được thực hiện nhưng không có
hiệu quả thì trách phạt lại là một hình thức cần thiết. Như vậy, tùy vào từng trường
hợp cụ thể mới có thể đánh giá được việc “la mắng, trách phạt” là phù hợp hay
136
không. Khi được hỏi về vấn đề này, phụ huynh em N.N.K trường THCS Phan Chu
Trinh cho biết “Tôi nghĩ trách phạt nên sử dụng thường xuyên thì các em mới sợ
mà không dám nói dối nữa”. Từ đây có thể thấy hình thức “la mắng, trách phạt”
thường được phụ huynh sử dụng xét ở khía cạnh thứ nhất. Với thứ hạng 2, đây là
một cách ứng xử cần hạn chế mà chỉ nên sử dụng khi thật cần thiết.
Đáng chú ý là cách ứng xử “giảm hoặc không quan tâm đến con” với ĐTB
2.34. Thiết nghĩ, cách ứng xử này của cha mẹ chỉ càng làm cho con cảm thấy cô
đơn, làm khoảng cách giữa cha mẹ và con cái trở nên xa hơn và từ đây HVND cũng
dễ dàng xuất hiện hơn. Xếp hạng 5 là cách ứng xử “nhờ giáo viên cảnh cáo trước
lớp hoặc trường”. Đây là cách ứng xử ảnh hưởng nhiều nhất đến lòng tự trọng của
các em. Bên cạnh đó, nhiều phụ huynh tỏ ra bình thường trước HVND của con mà
không có một biện pháp nào tác động (xếp hạng 6 với ĐTB = 1.19). Các thứ hạng
còn lại có ĐTB thấp hơn. Có ĐTB thấp nhất và xếp ở thứ hạng cuối cùng là việc
tìm đến chuyên gia để can thiệp. Đây là một biện pháp phù hợp song biện pháp này
lại không được nhiều phụ huynh lựa chọn. Với biện pháp này, phụ huynh em
H.T.O, HS trường THCS Phan Chu Trinh cho biết: “Việc tìm đến chuyên gia can
thiệp còn khá mới với tôi. Do đó tôi ít áp dụng”. Rõ ràng, để khắc phục HVND ở
HS THCS cần có sự tuyên truyền rộng rãi và hướng dẫn cho phụ huynh HS các
cách ứng xử khi phát hiện HVND ở con mình một cách phù hợp nhất.
Nếu ĐTB trong cách ứng xử của phụ huynh dao động từ 0.6 đến 2.93 thì ĐTB
trong cách ứng của giáo viên chỉ dao động từ 0.34 đến 1.34. Điều này cho thấy rằng
giáo viên thực hiện các biện pháp nêu trên ở mức không thường xuyên hoặc hiếm
khi. Ba thứ hạng đầu tiên được giáo viên lựa chọn là “nhắc nhở không nói dối nữa”,
“khuyên nhủ” và “hướng vào hoạt động giải trí khác”. Đây là ba cách ứng xử hoàn
toàn phù hợp. Tiếp theo là cách ứng xử “tỏ ra bình thường” với ĐTB là 1.23. Có thể
thấy với giáo dục theo nghĩa rộng thì nhà trường hiện nay chú trọng đến dạy học
nhiều hơn là giáo dục theo nghĩa hẹp. Do đó việc “tỏ ra bình thường” của giáo viên
cũng là điều khá dễ hiểu. Điều này cũng kéo theo việc “tìm chuyên gia can thiệp”
có ĐTB khá thấp (ĐTB = 1.21) Mặt khác những biểu hiện về HVND ít được thể
hiện trong nhà trường nên giáo viên cũng ít có những cách thức ứng xử. Ngoài ra,
các cách ứng xử còn lại cũng có ĐTB khá thấp, dao động từ 0.34 đến 1.08.
137
Tiểu kết chương 2
Trong tổng số 480 HS THCS được nghiên cứu có khoảng hơn 50% HS nhận
thức đúng về định nghĩa và đặc điểm của nói dối. Với việc nhận diện HVND, đa
phần HS phân biệt đúng 8/10 loại hành vi khác giáp ranh với HVND.
Xét theo DSM – 4, một HVND được gọi là lệch chuẩn cần thỏa mãn hai tiêu
chí: xuất hiện liên tục từ 6 tháng trở lên với động cơ được đồ vật, được ân huệ hay
để tránh nghĩa vụ. Với hướng nghiên cứu này thì tỷ lệ HS THCS có HVND dạng
lệch chuẩn dao động từ 6.3% đến 8.3%.
CMXH về HVND được nghiên cứu trên 525 khách thể ở mọi lứa tuổi khác
nhau tại Tp.HCM cho thấy một HVND được gọi là lệch chuẩn cần thỏa mãn 2 tiêu
chí: xuất hiện liên tục từ 2 tháng trở lên với động cơ được đồ vật, được ân huệ hay
để tránh nghĩa vụ. Với hướng nghiên cứu này thì tỷ lệ HS THCS có HVND dạng
lệch chuẩn dao động từ 14.4% đến 15.8%.
- Xét theo DSM – 4, tỷ lệ HS THCS có HVND dạng lệch chuẩn dao động từ
6.3% đến 8.3%. Mặc dù số liệu ở hai cách tiếp cận có sự chênh lệch nhau, song đây
đều là những con số đáng báo động mà xã hội cần quan tâm, đặc biệt là các nhà
quản lý giáo dục, giáo viên, chuyên viên tâm lý học đường và các lực lượng giáo
dục khác. Khía cạnh nghiên cứu HVND dựa vào CMXH này được lựa chọn để tiếp
tục khảo sát thực trạng biểu hiện HVND.
Cơ chế tâm lý của HVND cho thấy đa phần HS chuẩn bị kỹ, cân nhắc để đưa
ra quyết định và tiến hành nói dối nhưng cũng có khá nhiều HS nói dối như một
thói quen, một phản xạ tự nhiên mà không cần phải chuẩn bị hay cân nhắc. Trong
giai đoạn chuẩn bị, HS thường xác định mức độ quan trọng của sự thật, tìm hiểu
xem liệu người nghe có thể tiếp cận thông tin hay chưa trước khi chuẩn bị nói dối.
HS THCS nói dối đa phần xuất phát từ những cảm xúc tiêu cực như lo lắng, sợ hãi
vì những áp lực, căng thẳng. HVND thường đi kèm với những cảm xúc âm tính
trước, trong và sau khi nói dối nhưng bên cạnh đó cũng có xuất hiện những cảm xúc
dương tính.
Đối tượng nói dối chủ yếu ở HS THCS là cha mẹ, bạn bè và anh chị. Các em
thường nói dối để tham gia vào các hoạt động giao lưu với bạn bè, hoạt động giải trí
138
và để giải bày lý do trong hoạt động học tập. Hình thức nói dối trực tiếp là chủ yếu
nhưng các hình thức nói dối gián tiếp thông qua mạng xã hội, tin nhắn… ngày càng
trở nên phổ biến.
Biểu hiện HVND trong tự ý thức của HS THCS có ĐTB 2.09, trong đời sống
tình cảm có ĐTB 2.14, trong ý chí có ĐTB 2.13, trong một số thói quen hằng ngày
có ĐTB 1.94, trong các hoạt động với bạn bè có ĐTB 1.79, trên bình diện cơ thể có
ĐTB 1.98 thuộc mức trung bình. Biểu hiện HVND trong các hoạt động ở trường đạt
mức thấp. Biểu hiện HVND trong các hoạt động với gia đình đạt mức cao. Nhìn
chung, các biểu hiện HVND của HS THCS đạt mức trung bình.
Trong 5 tình huống giả định được đặt ra, đa phần HS THCS chưa có cách ứng
xử phù hợp. Xét về mức độ biểu hiện HVND thì 97.4% HS có biểu hiện ở mức
trung bình và 2.6% có biểu hiện ở mức thấp. Kết quả so sánh thực trạng HVND cho
thấy nam và nữ có HVND ngang nhau, HS THCS trường công lập có HVND thấp
hơn trường dân lập, số lượng HS có HVND tăng dần theo khối lớp, HS có tôn giáo
Phật có HVND ít hơn các tôn giáo khác và HS không theo tôn giáo nào, HVND nói
dối xuất hiện chủ yếu ở HS có hạnh kiểm khá và trung bình, nhiều nhất là HS có
hạnh kiểm trung bình. Xét về thực trạng biểu hiện: không có sự khác biệt về biểu
hiện HVND trên các phương diện giới tính, khối lớp, tôn giáo, hạnh kiểm song có
sự khác biệt trên phương diện trường học. Cụ thể HS trường dân lập thì có các biểu
hiện HVND cao hơn ở trường công lập.
Có rất nhiều yếu tố tác động đến HVND của HS THCS trong đó các yếu tố
xuất phát từ gia đình là yếu tố tác động nhiều nhất, tiếp theo đó là nhà trường và
cuối củng là bản thân HS. So sánh sự tương quan giữa HVND, lòng tự trọng, sự cô
đơn và trạng thái căng thẳng cho thấy HVND có tự tương quan nghịch với lòng tự
trọng, tương quan thuận với sự cô đơn. Sự cô đơn cũng có sự tương quan thuận với
trạng thái căng thẳng. Bên cạnh những cách ứng xử được cho là phù hợp thì ở phụ
huynh có một vài cách ứng xử chưa phù hợp khi phát hiện HVND của con.
139
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về HVND dưới góc độ HVLC trong TLH rất
hiếm và hầu như chưa có. Trong khi đó, trên thế giới có khá nhiều nhà khoa học
nghiên cứu về vấn đề này. Nói dối là hành vi xuất phát từ một động cơ xác định,
được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động ngôn từ nhưng lại thống nhất với biểu
hiện tâm lý bên trong của nhân cách, mang nội dung không đúng thực tế, được
người nói cố ý đưa ra để đánh lừa người nghe.
HVND phân tích dưới góc độ HVLC trong TLH được xem xét như một
HVLCXH. Có thể xem xét HVND dưới góc độ này ở hai hướng nghiên cứu:
a. Dựa vào bảng phân loại bệnh với các tiêu chí dùng để chẩn đoán với các
tiêu chí dùng để chẩn đoán HVLC của Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM – IV) áp
dụng cho HS THCS. Theo đó, hành vi ND được gọi là lệch chuẩn khi “ND để được
đồ vật hay ân huệ, hoặc để tránh các nghĩa vụ”, được lặp lại liên tục trong vòng 6
tháng.
b. Dựa vào CMXH về HVND ngay thời điểm nghiên cứu để xác định HVND
dạng lệch chuẩn. Đây là hướng nghiên cứu chính củ đề tài.
Các biểu hiện của HVND ở HS THCS bao gồm biểu hiện bên trong và biểu
hiện bên ngoài. Biểu hiện bên trong được thể hiện trong tự nhận thức, tình cảm và ý
chí; biểu hiện bên ngoài được thể hiện trong bình diện thói quen, trong các mối
quan hệ ở trường, trong các mối quan hệ với gia đình, trong các mối quan hệ với
bạn bè và các biểu hiện trên bình diện mặt cơ thể.
1.2. Kết quả nghiên cứu HVND của HS một số trường THCS tại Tp.HCM
theo 2 hướng nghiên cứu nêu trên như sau:
a. Xét theo DSM – 4, tỷ lệ HS THCS có HVND dạng lệch chuẩn dao động từ
6.3% đến 8.3% theo tự đánh giá của HS và đánh giá của phụ huynh, giáo viên.
b. CMXH về HVND được nghiên cứu trên 525 khách thể ở mọi lứa tuổi khác
nhau tại Tp.HCM cho thấy một HVND được gọi là lệch chuẩn cần thỏa mãn 2 tiêu
chí: xuất hiện liên tục từ 2 tháng trở lên với động cơ được đồ vật, được ân huệ hay
140
để tránh nghĩa vụ. Với hướng nghiên cứu này thì tỷ lệ HS THCS có HVND dạng
lệch chuẩn dao động từ 14.4% đến 15.8%.
Đa phần HS chuẩn bị kỹ, cân nhắc để đưa ra quyết định và tiến hành nói dối
nhưng cũng có khá nhiều HS nói dối như một thói quen, một phản xạ tự nhiên mà
không cần phải chuẩn bị hay cân nhắc.
Cha mẹ, bạn bè và anh chị là đối tượng nói dối chủ yếu ở HS THCS. Các em
thường nói dối để tham gia vào các hoạt động giao lưu với bạn bè, hoạt động giải trí
và để giải bày lý do trong hoạt động học tập. Hình thức nói dối trực tiếp là chủ yếu
nhưng các hình thức nói dối gián tiếp thông qua mạng xã hội, tin nhắn… ngày càng
trở nên phổ biến.
Xét về mức độ biểu hiện HVND thì đa phần HS cũng có biểu hiện ở mức
trung bình. Kết quả so sánh thực trạng HVND cho thấy nam và nữ có HVND ngang
nhau, HS THCS trường công lập có HVND thấp hơn trường dân lập, số lượng HS
có HVND tăng dần theo khối lớp, HS có tôn giáo Phật có HVND ít hơn các tôn
giáo khác và HS không theo tôn giáo nào, HVND nói dối xuất hiện chủ yếu ở HS có
hạnh kiểm khá và trung bình, nhiều nhất là HS có hạnh kiểm trung bình. Xét về biểu
hiện: không có sự khác biệt về biểu hiện HVND trên các phương diện giới tính,
khối lớp, tôn giáo, hạnh kiểm song có sự khác biệt trên phương diện trường học. Cụ
thể HS trường dân lập thì có các biểu hiện HVND cao hơn ở trường công lập.
Có rất nhiều yếu tố tác động đến HVND của HS THCS trong đó các yếu tố
xuất phát từ gia đình là yếu tố tác động nhiều nhất, tiếp theo đó là nhà trường và
cuối củng là bản thân HS.
So sánh sự tương quan giữa HVND, lòng tự trọng, sự cô đơn và trạng thái
căng thẳng cho thấy HVND có tự tương quan nghịch với lòng tự trọng, tương quan
thuận với sự cô đơn. Sự cô đơn cũng có sự tương quan thuận với tr5ang thái căng
thẳng.
2. Kiến nghị
Có thể nói, các yếu tố tác động đến HVND ở HS THCS đa phần đều xuất phát
từ môi trường sống trong đó môi trường gia đình là yếu tố chủ yếu gây ra HVND ở
các em. Sau môi trường gia đình là trường học. Vì vậy, biện pháp chung nhất là tạo
141
ra cho các em một môi trường sống thuận lợi, tốt đẹp để các em không gặp phải
những áp lực và có thể trung thực trong cuộc sống. Có thể nói, đây là công việc đầu
tiên và cần thiết để khắc phục HVND ở HS THCS.
2.1. Về phía gia đình
Bản thân ba mẹ phải là người chủ động trong việc giúp HS khắc phục HVND
của mình. Cụ thể:
- Ba mẹ cần là tấm gương sáng để con noi theo. Ba mẹ cần trung thực với
chính con và với người khác trước mặt con.
- Ở lứa tuổi HS THCS ba mẹ cần hiểu được nguyện vọng độc lập và mong
muốn được trở thành người lớn của con. Ba mẹ nên khuyến khích con giao lưu với
những người bạn tốt, không nên hạn chế hay cấm đoán con trong các mối quan hệ
hay các hoạt động giải trí lành mạnh.
- Không nên đặt cho con quá nhiều áp lực về thành tích học tập. Ba mẹ cần trở
thành một người bạn của con có thể chia sẻ cùng con, giúp con giảm áp lực trong
cuộc sống.
- Giáo dục lòng tự trọng để con biết tự điều chỉnh hành vi của mình và có cách
ứng xử phù hợp. Ba mẹ cần thường xuyên quan tâm, trò chuyện cùng con cái, tránh
để con cô đơn.
- HVND cần được gia đình phát hiện sớm để khắc phục một cách kịp thời.
- Ba mẹ cần hết sức bình tĩnh khi phát hiện HVND ở con. Sử dụng các cách
ứng xử phù hợp khi phát hiện HVND của con như khuyên nhủ, nhắc nhở, tránh các
biện pháp la mắng, trách phạt. Tuyệt đối không bỏ mặc con khi thất vọng về cách
ứng xử của con. Tìm đến chuyên gia can thiệp nếu các biện pháp được phụ huynh
thực hiện không hiệu quả.
2.2. Về phía nhà trường và xã hội
- Nhà trường và xã hội cần tiến hành tuyên truyền giáo dục để giúp HS ngăn
ngừa những HVND không phù hợp CMXH. Nội dung tuyên truyền giáo dục cần
cung cấp cho HS CMXH về HVND bằng nhiều cách và bằng nhiều phương tiện
như phương tiện thông tin đại chúng, giáo dục trong nhà trường, gia đình và xã hội,
tạo thói quen trung thực cho HS bằng cách ủng hộ các hành vi trung thực, thẳng
142
thắn đấu tranh, lên án các HVND. Đặc biệt, cộng đồng cần phải có dư luận xã hội
đủ mạnh để điều tiết và ngăn chặn HVND.
- Trong trường học cần thiết phải có phòng tư vấn do nhà tâm lý đảm nhận để
cùng giáo viên làm giảm thiểu tối đa số lượng học sinh có nguy cơ và có biểu hiện
HVND dạng lệch chuẩn, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.
Ngoài ra, cần tiến hành “thăm khám” định kỳ hàng năm về tâm lý cho trẻ nhằm
đánh giá toàn diện sự phát triển và phát hiện sớm những biểu hiện HVND để điều
chỉnh và ngăn chặn kịp thời.
2.3. Về phía bản thân HS
- Cần ý thức về những hậu quả mà HVND có thể gây ra cũng như lợi ích ích
của đức tính trung thực.
- Thẳng thắn nhận lỗi khi mắc lỗi, tự xây dựng cho mình đức tính trung thực
trong từng việc nhỏ đến việc lớn hàng ngày.
- Tham gia vào các lớp giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống để tự rèn luyện
nhân cách cho bản thân.
- Tìm đến sự giúp đỡ của chuyên viên tâm lý để có sự can thiệp kịp thời khi
bản thân xuất hiện HVND.
143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1. Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Thị Diễm My (2014), Nhận thức của học sinh ở một số
trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với chuẩn mực xã
hội về hành vi nói dối, Tạp chí Giáo dục và xã hội, số 42 - tháng 9/2014.
2. Nguyễn Thị Diễm My, Huỳnh Văn Sơn (2014), Thực trạng hành vi nói dối của
học sinh một số trường trung học cơ sở tại Tp. Hồ Chí Minh xét DSM - 4,
Tạp chí Tâm lý học xã hội, số 11 - tháng 11/2014.
144
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Nguyễn Võ Huệ Anh (2010), Một số biểu hiện ở hành vi mua sắm của nữ
doanh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học,
trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.
2. Đào Thị Vân Anh (2006), Tìm hiểu nhận thức về lối sống và hành vi đạo đức
của học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn
hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ
Chí Minh.
3. Abrégés (1991), Tâm bệnh học trẻ em, Nxb Y học - Trung tâm nghiên cứu trẻ
em.
4. Bộ Giáo dục và đào tạo (2010), Điều 23 - Luật giáo dục, Hà Nội
5. Nguyễn Trường Chinh (2005), Tại sao đàn ông nói dối, đàn bà nói nhiều, Nxb
Trẻ.
6. Phạm Tiến Công (2012), Thực trạng hành vi lệch chuẩn xã hội ở học sinh trung
học cơ sở Tp. Bạc Liêu - Tỉnh Bạc Liêu, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học,
trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.
7. Đại hội lần thứ VI - Hội nhà báo Việt Nam (1995), Quy ước về những tiêu
chuẩn đạo đức nghề nghiệp của báo chí Việt Nam.
8. Dương Kỳ Đức, Vũ Quang Hào (1992), Từ điển trái nghĩa – đồng nghĩa Tiếng
Việt.
9. Vũ Dũng (2000), Từ điển Tâm lý học, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn,
Viện Tâm lý học, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội.
10. Lưu Song Hà (2004), Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, Tạp chí Tâm lý học,
số 7-2004.
11. Phạm Minh Hạc (1988), Tâm lý học tập một, Nxb Giáo Dục.
12. Phạm Minh Hạc (1997), Tâm lý học Vư-Gốt-Xki, Nxb Giáo Dục.
13. Phạm Minh Hạc (Biên dịch và giới thiệu) (1988), Một số công trình Tâm lý học
A.N.Lêônchép, Nxb Giáo Dục.
14. Phạm Minh Hạc (1999), Hành vi và hoạt động, Nxb Giáo dục.
145
15. Hacker Mole (2003), Lời nói dối của đàn ông, Phạm Văn Trung dịch, Nxb Phụ
nữ.
16. Mai Mỹ Hạnh (2011), Hành vi nghiện game online của học sinh một số trường
trung học cơ sở tại Tp.HCM, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại
học Sư phạm Tp.HCM.
17. Vũ Gia Hiền (2005), Tâm lý học và chuẩn hành vi, Nxb Lao động.
18. Hội Tâm lý - Giáo dục Hà Nội (2000), Hành vi lệch chuẩn của học sinh một số
trường THPT tại Hà Nội, Hà Nội.
19. Hội tâm thần Hoa kỳ (1994), Sổ tay thống kê chẩn đoán IV- Những tiêu chuẩn
chẩn đoán, Washington DC - BS Phạm Văn Nuôi và cộng sự dịch.
20. Đặng Phương Kiệt (1999), Hành vi lệch chuẩn của học sinh một số trường
THPT tại Hà Nội, Hà Nội.
21. Kinh Thánh Cựu Ước (2010), Ngũ thư (bản dịch để học hỏi), Nhóm Phiên Dịch
Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Nxb Tôn Giáo.
22. Lescarret, Odette (2001), Trẻ em, văn hoá, giáo dục, Kỷ yếu hội thảo Việt-
Pháp về tâm lý học, Lê Khanh, Ricaud, Văn Thị Kim Cúc dịch, Nxb Thế
giới.
23. Lê Công Minh (2003), Hành vi và thay đổi hành vi, Tài liệu lưu hành nội bộ
Khoa Giáo dục và Nâng cao sức khỏe Viện Vệ sinh – Y tế công cộng
TP.HCM.
24. Nandasena Ratnapala (2008), Xã hội học Phật giáo Buddhist sociology, Thích
Huệ Pháp dịch, Nxb Văn hóa Sài Gòn.
25. Nguyễn Thị Tuyết Ngân (2008), Hiện tượng nói dối dưới góc nhìn văn hóa học,
Luận văn thạc sĩ ngành văn hóa học, Thư viện Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn.
26. Ngọ Văn Nhân (1999), Giáo trình xã hội học pháp luật, Nxb Tư pháp.
27. P.Debray-Rizen, P. Meserschritt, B. Golse (1992), Tâm bệnh học trẻ em, Trung
tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em (Trung tâm N - T) dịch, Nxb Y học.
28. Hoàng Phê (1992), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội.
146
29. Lê Đức Phúc (1994), Vấn đề phòng ngừa và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, Bài viết
cho công trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX07 – 11.
30. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Hà Nội.
31. Quốc hội (2001), Pháp lệnh của ủy ban thường vụ Quốc hội số 39/2001/PL-
UBTVQH10 về quảng cáo, Hà Nội.
32. Quốc hội (2003), Luật số 03/2003/QH11 của Quốc hội : Luật kế toán, Hà Nội.
33. Nguyễn Thơ Sinh (2010), Giãi mã bí mật nói dối, Nxb Phụ Nữ
34. Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tâm thần (1994), Bảng phân loại
bệnh của Hoa Kỳ (bác sỹ Nguyễn Văn Xiêm dịch), Hà Nội
35. Huỳnh Văn Sơn, Lê Thị Hân, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy (2012),
Giáo trình Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm TP.HCM.
36. Huỳnh Văn Sơn (2014), Hành vi nghiện Facebook của vị thành niên từ 15 đến
18 tuổi tại Tp.HCM, Đề tài cấp trường, Trường Đại học sư phạm Tp.HCM.
37. Tạ Thị Thanh Tâm (2009), Lịch sự và quan hệ liên nhân trong nghi thức bác bỏ
tiếng Việt, Tạp chí khoa học Đại học sư phạm Tp. HCM.
38. Trần Ngọc Thêm (1989), Văn bản và việc nghiên cứu văn bản Tiếng Việt, HN
39. Trần Ngọc Thêm (1981), Bước đầu nghiên cứu hiện tượng viết tắt, nói tắt trong
tiếng Việt, Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam, Nxb ĐH&THCN.
40. Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe và Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ y tế (2005), Khảo sát hành vi có hại cho sức khỏe và các yếu tố bảo vệ ở
HS THPT nội thành TP HCM, Vietnam.net
41. Nguyễn Quang Uẩn (2003), Giáo trình Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Sư
phạm.
42. Nguyễn Khắc Viện (2001), Từ điển tâm lý , Nxb Văn hóa Thông tin.
Tiếng Anh
43. Arnett, J. J. (1992), Reckless behavior in adolescence: A developmental
perspective, Dev. Rev.12: 339–373.
44. Backbier E, Hoogstraten J, Meerum Terwogt-Kouwenhoven K (1997),
Situational determinants of the acceptability of telling lies, J Appl Soc
Psychol 27:1048–1062.
147
45. Brooks Jackson và Kathleen Hall Jamieson (2008), unSpun Finding Facts in a
World of Disinformation, Amazon Whispernet.
46. Cauffman, E., Feldman, S. S., Jensen, L. A., and Arnett, J. J. (2000), The
(un)acceptability of violence against peers and dates among adolescents
and young adults, J. Adolesc. Res.15: 672–693.
47. Cochran, J. K., Wood, P. B., Sellers, C. S., Wilkerson, W., and Chamlin, M. B.
(1998), Academic dishonesty and low self-control: An empirical test of a
general theory of crime, Deviant Behav.: Interdiscip. J.19: 227–255.
48. Davis, S. F., Grover, C. A., Becker, A. H., and McGregor, L. N. (1992),
Academic dishonesty: Prevalence, determinants, techniques, and
punishments, Teach. Psychol.19: 16–20.
49. DePaulo BM, Kashy DA, Kirkendol SE,Wyer MM, Epstein JA (1996), Lying in
everyday life, J Pers Soc Psychol 70:979–995.
50. Feldman, S. S., Cauffman, E., Jensen, L. A., and Arnett, J. J. (2000), The
(un)acceptability of betrayal: A study of late adolescents’ evaluations of
sexual betrayal by a romantic partner and betrayal of friend’s confidence,
J. Youth Adolesc.29: 499–523.
51. Fernando J. Da Silva (1984), Dicionário da líng gua Portuguesa, Editoral
Domingos Barreira, Porto.
52. Finkenauer C, Engels RCME, Meeus W (2002), Keeping secrets from parents:
Advantages and disadvantages of secrecy in adolescence, J Youth Adolesc
31:123–136
53. Gervais J, Tremblay RE, Desmarais-Gervais L, Vitaro F (2000), Children’s
persistent lying, gender differences, and disruptive behaviours: A
longitudinal perspective, Int J Behav Dev 24:213–221.
54. Jensen, L. A., Arnett, J. J., Feldman, S. S., and Cauffman, E. (2002), It’s wrong,
but everybody does it: Academic dishonesty among high school and college
students, Contemp. Educ. Psychol.27: 209–228.
55. Jessor, R., and Jessor, S. L. (1977), Problem Behavior and Psychosocial
Development, Academic Press, New York.
148
56. Kang Lee và Hollie J Ross (1997), The concept of lying in adolescents and
young adults: Testing Sweetser's fol, ProQuest Education Journals pg. 255.
57. KashyDA, DePaulo BM (1996), Who lies?, J Pers Soc Psychol 70:1037– 1051.
58. Keltikangas-Jarvinen, L., and Lindeman, M. (1997), Evaluations of theft, lying,
and fighting in adolescence, J. Youth Adolesc. 26: 467– 483.
59. Kerr M, Stattin H (2000), What parents know, how they know it, and several
forms of adolescent adjustment, Dev Psychol 36:366–380.
60. Kraepelin, Emil (1921), Manic Depressive Insanity and Paranoia, Journal of
Nervous & Mental Disease, Volume 53 - Issue 4 - ppg 350.
61. Lee K, Ross HJ (1997), The concept of lying in adolescents and young adults:
Testing Sweetser’s folkloristic model, Merrill-Palmer Q 43:255–270.
62. Lene Arnett Jensen, Jeffrey Jensen Arnett, S. Shirley Feldman, and Elizabeth
Cauffma (2004), The Right to Do Wrong: Lying to Parents Among
Adolescents and Emerging Adults, Journal of Youth and Adolescence, Vol.
33, No. 2, pp. 101–112.
63. Oxford (2000), Oxford advanced learner’s dictionary (Sixth edition), Oxford
University Press.
64. Philippe Pinel (1794), A fundamental text of modern psychiatry, The American
Journal of Psychiatry, VOL. 149, No. 6.
65. Rogers, Carl R. Counseling and Psychotherapy (1942), Newer Concepts in
Practice, Boston: Houghton Mifflin Company.
66. Russell, D., Peplau, L.A., & Cutrona, C.E. (1980), The revised UCLA
Loneliness Scale: Concurrent and discriminant validity evidence, Journal of
Personality and Social Psychology, 39, 472-480.
67. Stouthamer-Loeber M (1986), Lying as a problem behavior in children: A
review, Clin Psychol Rev 6:267–289
, The International Classification of 68. World Heath Organization (1994)
Diseases: ICD, Geneva.
69. Ожегов С.И., Шведова Н.Ю. (1992), Толковый словарь русского языка (5
том.). - Издательство "Азъ".
149
Website
70. http://www.integratedsociopsychology.net/Defining_Abnormality/7'Featuresof
Abnormality'-DavidRosenhan&M.html
71. http://dantri.com.vn/hanh-vi-noi-doi.tag /
72. http://hippocratesinst.org/
73. http://kenh14.vn/kham-pha/bi-kip-de-dang-giup-ban-nhan-biet-ke-noi-doi-
2014032310465384.chn
74. http://soha.vn/xa-hoi/ty-le-noi-doi-o-sinh-vien-viet-nam-la-80-
20131003234545723.htm
75. http://vi.wiktionary.org/wiki/n%C3%B3i_d%E1%BB%91i
76. http://www.baomoi.com/Noi-doi-va-hanh-vi-lech-chuan/59/8031697.epi
77. http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/47202_Thoi-quen-noi-doi-
hinh-thanh-tu-moi-truong-song.aspx
78. http://www.khoahoc.com.vn/khampha/kham-pha/50979_tim-ra-cach-nhan-biet-
nguoi-noi-doi-dich-thuc.aspx
79. http://www.mentirVdict.com
80. http://www.nutricaregold.com.vn/vi/lactium-day-lui-stress/stress-nhung-chung-
benh-thuong-gap/2014/02/81E21033/stress-la-gi
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: CÁC MẪU PHIẾU HỎI
1. Phiếu hỏi dành cho các đối tượng lứa tuổi khác nhau
PHIẾU KHẢO SÁT
Mến chào anh chị,
Chúng tôi đang thực hiện một đề tài nghiên cứu về hành vi nói dối ở học sinh
trung học cơ sở. Rất mong nhận được sự tham gia của anh chị và các bạn vào đề tài
này bằng cách trả lời chân thật những câu hỏi dưới đây. Câu trả lời của anh chị sẽ
được tuyệt đối giữ bí mật. Xin chân thành cảm ơn!
A. Thông tin cá nhân
Giới tính: Nam Nữ
Độ tuổi: 18-24 25-55 Trên 55
B. Nội dung
Câu 1: Theo anh chị, với những chuẩn mực chung về nói dối thì nói dối xuất phát từ
động cơ nào là phù hợp và không phù hợp ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở ?
STT Yếu tố Không phù hợp Phân vân Phù hợp
1 Giúp đỡ người khác
2 Làm vui lòng người khác
3 Để được nhận đồ vật
4 Để được nhận ân huệ
5 Tránh nghĩa vụ, trách nhiệm
6 Tránh bị trừng phạt
7 Khoe khoan về bản thân
8 Che giấu cảm xúc bản thân
9 Che giấu hành động của bản thân
10 Che giấu hành vi nói dối trước đó
11 Gây chú ý với người khác
12 Tạo không khí vui vẻ, giao lưu
13 Thuyết phục, giải thích để người
khác chấp nhận
14 Nói những điều tưởng tượng
15 Nói dối nhằm thăm dò, tìm hiểu
sự thật
16 Tự bảo vệ bản thân hoặc bảo vệ
người khác.
17 Tự khẳng định bản thân
18 Làm cho những câu chuyện trở
nên thú vị hay sống động hơn.
19 Không làm tổn thương người khác
Câu 2: Theo anh chị, để đánh giá một HS THCS có hành vi nói dối lệch chuẩn
(không đúng với chuẩn mực xã hội) thì hành vi đó cần xuất hiện trong bao lâu?
a. Chỉ 1 lần nói dối
b. Từ 2 tháng liên tục trở lên
c. Từ 4 tháng liên tục trở lên
d. Từ 6 tháng liên tục trở lên
e. Lựa chọn khác : ……………………………………………………………………
2. Phiếu hỏi dành cho HS
PHIẾU KHẢO SÁT
Mến chào các em,
Chúng tôi đang thực hiện một đề tài nghiên cứu về hành vi nói dối ở học sinh
trung học cơ sở. Rất mong nhận được sự tham gia của các em vào đề tài này bằng
cách trả lời chân thật những câu hỏi dưới đây. Câu trả lời của các em sẽ được tuyệt
đối giữ bí mật. Chân thành cảm ơn các em!
A. THÔNG TIN CÁ NHÂN
Giới tính: Nam Nữ
Trường:………………………………………………………………………………
Lớp: 6 7 8 9
Tôn giáo: Không Phật Thiên Chúa Tôn giáo
khác
Hạnh kiểm (trong HK gần nhất): Tốt Khá
Trung bình Yếu
B. NỘI DUNG
NỘI DUNG 1
Câu 1: Theo em, nói dối là:
Nội dung Đúng Sai STT
1 Lời nói không đúng thực tế nhưng người nói không cố ý
đánh lừa người nghe
2 Lời nói không đúng thực tế, người nói không cố ý đành lừa
người nghe nhưng sau khi kiểm chứng lại lời nói, biết là sai
nhưng vẫn không điều chỉnh lại
3 Lời nói không đúng thực tế nhưng người nói cố ý đánh lừa
người nghe.
4 Lời nói không đúng thực tế, người nói cố ý đánh lừa người
nghe nhưng sau đó có sự giải thích về sự thật.
5 Lời nói không đúng thực tế, người nói cố ý đánh lừa người
nghe nhưng nhờ đó người nghe có thể suy ngẫm để rút ra
bài học cho bản thân (thường gặp trong các hình thức văn
học nghệ thuật)
Câu 2: Theo em, nói sai sự thật đối với một sự việc như thế nào mới gọi là nói dối?
STT Nội dung Đúng Sai
Nói sai hoàn toàn sự thật đối với một sự việc có tính chất 1
nghiêm trọng
2 Nói sai một phần sự thật đối với một sự việc có tính chất
nghiêm trọng
3 Nói sai một phần sự thật đối với một sự việc không có tính
chất nghiêm trọng.
4 Nói sai hoàn toàn sự thật đối với một sự việc không có tính
chất nghiêm trọng
Câu 3: Hãy cho biết nhận định của em về các ý kiến sau đây?
STT Nội dung Đúng Sai
1 Lừa dối là nói dối
2 Làm dối là nói dối
3 Giữ bí mật, giấu thông tin là nói dối
4 Nói lảng, nói tránh là nói dối
5 Nói sai sự thật do ngộ nhận là nói dối
6 Trong tranh luận khoa học, các ý kiến không đúng với thực tế
do nghĩ sao nói vậy là nói dối
7 Dự báo, dự đoán sai là nói dối
8 Hứa và dọa nhưng không biết là tương lai không thể làm
được là nói dối
9 Hứa và dọa nhưng không thực hiện, mặc dù tương lai có thể
thực hiện được là nói dối
10 Hành vi nói khoác, nói cường điệu, nói vòng nhằm mục đích
giải trí hoặc truyền đi một thông điệp hàm ý là nói dối
NỘI DUNG 2
Câu 4: Theo em, nói dối xuất phát từ động cơ nào là phù hợp và không phù hợp với
chuẩn mực xã hội ở HS THCS?
STT Yếu tố Không phù hợp Phân vân Phù hợp
1 Giúp đỡ người khác
2 Làm vui lòng người khác
3 Để được nhận đồ vật
4 Để được nhận ân huệ
5 Tránh nghĩa vụ, trách nhiệm
6 Tránh bị trừng phạt
7 Khoe khoang về bản thân
8 Che giấu cảm xúc bản thân
9 Che giấu hành động của bản thân
10 Che giấu hành vi nói dối trước đó
11 Gây chú ý với người khác
12 Tạo không khí vui vẻ, giao lưu
13 Thuyết phục, giải thích để người
khác chấp nhận
14 Nói những điều tưởng tượng
15 Nói dối nhằm thăm dò, tìm hiểu sự
thật
16 Tự bảo vệ bản thân hoặc bảo vệ
người khác.
17 Tự khẳng định bản thân
18 Làm cho những câu chuyện trở
nên thú vị hay sống động hơn.
19 Không làm tổn thương người khác
20 Bêu xấu người khác
Câu 5: Để đánh giá một học sinh trung học cơ sở có hành vi nói dối không đúng với
CMXH thì hành vi đó cần xuất hiện trong bao lâu?
a. Chỉ 1 lần nói dối cũng gọi là lệch chuẩn b. Từ 2 tháng liên tục trở lên
c. Từ 4 tháng liên tục trở lên d. Từ 6 tháng liên tục trở lên
e.Lựa chọn khác:…………………………………………………………………
NỘI DUNG 3:
Câu 6: Em hãy tự đánh giá về hành vi nói dối của mình trong thời gian gần đây:
a. Chưa bao giờ nói dối b. Đã nói dối ít nhất một lần
c. Nói dối liên tục trong 2 tháng d. Nói dối liên tục trong 4 tháng
e. Nói dối liên tục từ 6 tháng trở lên f. Ý kiến khác:…………………
Ở câu 6, nếu đáp án là c, d, e em vui lòng trả lời tiếp các câu hỏi từ 7 đến hết
Câu 7: Em có nói dối xuất phát từ những động cơ sau đây không?
STT Nội dung Có Không
1 Được đồ vật (bánh kẹo, tiền bạc, đồ chơi…)
2 Được ân huệ (sự tha thứ, ban ơn, cho cơ hội…)
3 Tránh nghĩa vụ (làm việc nhà, dọn dẹp vệ sinh, học tập…)
NỘI DUNG 4:
Câu 8. Khi chuẩn bị nói dối, em thường:
STT Nội dung Không Hiếm Thỉnh Thường Rất
khi thoảng xuyên thường bao
xuyên giờ
1 Xác định mức độ quan trọng
của sự thật
2 Tìm hiểu xem liệu người nghe
có thể tiếp cận thông tin hay
chưa
3 Cân nhắc lợi hại của việc nói
sai lệch thông tin
4 Xem xét các phản ứng có thể
xảy ra ở người nghe
5 Suy nghĩ kỹ càng về hậu quả
của hành vi nói dối
6 Chuẩn bị trước nội dung lời nói
dối một cách kỹ lưỡng
Câu 9. Em thấy diễn biến của suy nghĩ mình diễn ra như thế nào khi nói dối?
a. Nói dối như một thói quen, một phản xạ tự nhiên mà không cần phải chuẩn bị hay
cân nhắc
b. Không cần chuẩn bị, chỉ cân nhắc để đưa ra quyết định và tiến hành nói dối
c. Chuẩn bị kỹ, cân nhắc để đưa ra quyết định và tiến hành nói dối
Câu 10. Em cảm thấy như thế nào trước, trong va sau khi nói dối?
STT Nội dung Có Không
1 Trước khi nói dối
Thấy có lỗi
Sợ hãi, lo lắng, bất an
Cảm thấy bình thường
Thích thú
2 Trong khi nói dối
Thấy có lỗi
Sợ hãi, lo lắng, bất an
Cảm thấy bình thường
Thích thú
3 Sau khi nói dối
Thấy có lỗi
Sợ hãi, lo lắng, bất an
Cảm thấy bình thường
Thích thú
Thấy ăn năn, trăn trở, nối tiếc
NỘI DUNG 5
Câu 11: Em thường nói dối với ai là chủ yếu?
STT Đối tượng Không Hiếm Thỉnh Thường Rất
bao giờ khi thoảng xuyên thường
xuyên
1 Giám thị
2 GV chủ nhiệm
3 GV bộ môn
4 Bạn bè
5 Cha mẹ
6 Anh chị em
Hàng xóm 7
Những người chưa quen 8
Câu 12: Em thường nói dối khi thực hiện các việc nào sau đây nào?
STT Hoạt động Không Hiếm Thỉnh Thường Rất
bao khi thoảng xuyên thường
giờ xuyên
1 Chơi game online
2 Online Facebook
3 Đi cắm trại
4 Đi du lịch
5 Đi mua sắm
6 Giải thích lý do không thuộc
bài
7 Giải thích lý do không làm
bài tập
8 Giải thích lý do điểm thấp
9 Giải thích lý do không chuẩn
bị bài
10 Làm bài kiểm tra
11 Giải thích lý do trốn tránh
dọn dẹp vệ sinh nhà cửa
12 Giải thích lý do trốn tránh
dọn dẹp sân trường
13 Giải thích lý do trốn tránh
việc trực nhật lớp
14 Giải thích lý do trốn tránh
làm việc nhà (rửa chén, quét
nhà…
15 Giải thích lý do trốn tránh
các việc liên quan đến tạo ra
sản phẩm
Câu 13: Em thường nói dối ở đâu?
STT Môi trường Không Hiếm Thỉnh Thường Rất thường
khi thoảng xuyên xuyên bao
giờ
1 Tại lớp học
2 Trong sân trường
3 Tại phòng giáo viên
4 Ngay cổng trường
5 Tại phòng riêng của
mình
6 Tại phòng khách
7 Tại nhà bếp
8 Trước cửa nhà
9 Tại nhà hàng xóm
10 Tại nhà bạn
11 Tại quán ăn uống
12 Ngoài đường
Câu 14: Em thường nói dối bằng hình thức nào là chủ yếu?
STT Hình thức Không Hiếm Thỉnh Thường Rất
khi thoảng xuyên thường bao
xuyên giờ
1 Nói dối trực tiếp
2 Nói dối gián tiếp thông qua:
2.1. Tin nhắn
2.2. Mạng xã hội
2.3. Thư từ
2.4. Điện thoại
2.5. Ý kiến
khác……………………...
NỘI DUNG 6
Câu 15: Em nghĩ gì về việc nói dối?
MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN
NỘI DUNG STT
Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên Rất thường xuyên Không bao giờ
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11 Nói dối là cần thiết cho bản thân em Nói dối không ảnh hưởng đến bản thân em Nói dối không ảnh hưởng đến người khác. Em không cần thiết phải điều chỉnh hành vi nói dối ở bản thân Em không đồng tình với việc cấm nói dối Hành vi nói dối ở bản thân em chẳng gây ra hậu quả gì nghiêm trọng Những hậu quả do nói dối đem lại không đáng lo ngại Em đã đủ trưởng thành để chịu trách nhiệm về lời nói dối của mình Hành vi nói dối ở bản thân em phù hợp với chuẩn mực xã hội tâm đến Em không quan những phàn nàn của người khác về hành vi nói dối của mình Hành vi nói dối ở bản thân em không có gì là xấu
Câu 16: Em có những biểu hiện nào về mặt cảm xúc khi nói dối?
MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN
Không Rất STT NỘI DUNG Hiếm Thỉnh Thường bao thường khi thoảng xuyên giờ xuyên
Em cảm thấy có lỗi, lo lắng, 1 bất an khi nói dối
Nói dối giúp em trút bỏ 2 những căng thẳng, lo âu
Sau khi nói dối, em cảm thấy 3 ăn năn, xấu hổ
Khi được ai đó khâm phục em
về những điều em đã nói dối 4 em cảm thấy hài lòng và vui
vẻ
Khi người khác biết được
điều em nói không đúng sự 5 thật, em có cảm giác bực bội,
khó chịu, cáu gắt, nóng giận
Em có cảm giác vui sướng,
6 phấn khích khi nói dối mà
không bị ai phát hiện
Em sợ hãi với những áp lực,
7 mâu thuẫn vì vậy buộc em
phải nói dối.
Câu 17: Em đã cố gắng kiềm chế hành vi nói dối của mình như thế nào?
MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN
Không Rất STT NỘI DUNG Hiếm Thỉnh Thường bao thường khi thoảng xuyên giờ xuyên
Em có cố gắng bỏ nói dối 1 nhưng không được
Thật khó ngưng hành vi nói
dối vì cần phải tiếp tục nói dối 2 để che đậy những hành vi nói
dối trước đó
Dù hiểu rõ lời khuyên của
người khác là không nên nói 3 dối nhưng em vẫn không thực
hiện được
Em luôn nhắc nhở bản thân
4 không được nói dối nhưng
không thể
Dù trong những hoàn cảnh
5 không áp lực nhưng em khó
kiểm soát lời nói dối của mình
Em cố gắng nghĩ về những
câu chuyện có thể “bịa” ra , 6 khó có thể ngừng suy nghĩ về
điều này
Em không có khả năng giới 7 hạn số lần nói dối
Em hứa sẽ không nói dối và
8 cũng tìm cách tự kiềm chế
điều này nhưng lại thất bại
Câu 18: Trong một số thói quen hàng ngày, em thường nói dối trong trường hợp nào?
MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN
Không Rất STT NỘI DUNG Hiếm Thỉnh Thường bao thường khi thoảng xuyên giờ xuyên
Khi xuất hiện sự căng thẳng 1 hay lo âu, em thường nói dối
Em hay có thói quen suy nghĩ
2 những câu chuyện có thể
“bịa” ra
Em nói dối bất kể thời gian, 3 nói dối được là nói dối
Em nói dối khi trò chuyện 4 hoặc xã giao với người khác
Khi cần che đậy một điều gì 5 đó em sẽ nói dối
Khi cần xin 1 thứ gì đó mà
6 gia đình không cho (tiền, đồ
ăn…) em sẽ nói dối
Em chấp nhận kết bạn với 7 những người nói dối
Em sẽ ngưng kết bạn với
8 những người phát hiện và
không chấp nhận em nói dối
Khi đã nói dối 1 điều gì, em
9 tiếp tục nói dối để che đậy lời
nói dối trước đó.
Câu 19: Trong các mối quan hệ ở trường, em thường nói dối trong trường hợp nào?
MỨC ĐỘ
STT NỘI DUNG Trung Rất ít Ít Nhiều Rất nhiều bình
1 Khi nghĩ học
2 Khi đến trễ
Khi quên việc của lớp phân 3 công
Khi khó hoàn thành được 4 việc tập thể giao
Khi từ chối thực hiện công 5 việc tập thể giao
6 Khi trốn học
Khi quên hoặc cố ý không 7 làm bài tập
Khi quên hoặc cố ý không 8 học bài
Khi làm sai quy định của
9 trường về cách ăn mặc, thái
độ, tác phong…
Khi không tham gia các hoạt
động do trường lớp tổ chức
(hái hoa dân chủ, đôi bạn 10
học tập, sinh hoạt công
dân…)
Câu 20: Trong các mối quan hệ với bạn bè, em thường nói dối trong trường hợp nào?
MỨC ĐỘ
STT NỘI DUNG Trung Rất Rất ít Ít Nhiều bình nhiều
Khi bạn bè mượn 1 thứ gì đó (tiền
1 bạc, dụng cụ học tập…) mà em
không muốn cho mượn
Khi bị bạn bè nhờ vã một việc gì đó 2 mà em không muốn làm
Khi bạn bè xin một thứ gì đó mà em 3 không muốn cho
Khi em muốn mượn bạn bè một thứ 4 gì đó
Khi em muốn xin bạn bè một thứ gì 5 đó
6 Khi em không giữ lời hứa với bạn
Khi muốn xin một sự tha thứ từ bạn 7 bè
8 Khi em quên giữ lời hứa với bạn
Câu 21: Trong các mối quan hệ với gia đình, em thường nói dối trong trường hợp nào?
MỨC ĐỘ
STT NỘI DUNG Trung Rất Rất ít Ít Nhiều bình nhiều
Khi mong muốn được tham gia các
1 hoạt động giải trí (đi chơi cùng bạn bè,
chơi game, lên facebook…)
2 Khi bị nhắc nhở việc học tập ở nhà
Khi ba mẹ giao nhiệm vụ mà em 3 không muốn làm
Khi ba mẹ biết được sự thật của 1 lời 4 nói dối trước đó
5 Khi muốn che giấu kết quả học tập
Khi muốn hoặc đã làm một việc mà ba 6 mẹ không thích
Khi mong muốn có được một thứ
7 (quyển sách, đồ trang sức, điện
thoại…)
Khi ba mẹ không cho tiền hoặc cho 8 không đủ tiền mà em lại rất cần.
Câu 22: Khi nói dối, em có những biểu hiện nào đi kèm về mặt cơ thể?
MỨC ĐỘ
STT NỘI DUNG Trung Rất Rất ít Ít Nhiều bình nhiều
1 Tim đập nhanh
2 Mắt không dám nhìn thẳng
Phối hợp không đồng bộ giữa hành 3 động và lời nói
4 Run
5 Thở nhanh hoặc nín thở trong giây lát
6 Che miệng
7 Sờ mũi
8 Gãi mũi
NỘI DUNG 7
Câu 23: Với những thông tin khác nhau, em thường có xu hướng:
MỨC ĐỘ ST NỘI DUNG Trung Rất T Rất ít Ít Nhiều bình nhiều
Những thông tin về mối quan hệ xã
hội liên quan đến bạn bè, thầy cô…
1.1. Tiết lộ với cha mẹ 1
1.2. Giữ bí mật với cha mẹ
1.3. Nói dối cha mẹ
Những thông tin liên quan đến sức
khỏe và an toàn bản thân
2.1. Tiết lộ với cha mẹ 2
2.2. Giữ bí mật với cha mẹ
2.3. Nói dối cha mẹ
Câu 24: Nếu đánh giá về mối quan hệ giữa em và cha mẹ, em sẽ đánh giá như thế
nào?
a. Rất tốt b. Tốt
c. Phân vân d. Xấu
e. Rất xấu
NỘI DUNG 8
Câu 25: Khi bị một người bạn phát hiện hành vi nói dối của mình, em sẽ làm gì?
a. Nhận lỗi, giải thích sự thật cho bạn và hứa sẽ thành thật với bạn.
b. Nhận lỗi và nói dối về lý do của lần nói dối trước
c. Tiếp tục nói dối để che đậy sự thật
d. Không quan tâm
Câu 26: Em đã sử dụng hết số tiền của cha mẹ cho để mua sắm cho riêng mình
nhưng em đang rất cần tiền để đi chơi với bạn. Em sẽ:
a. Nói sự thật để xin tiền ba mẹ, anh chị
b. Nói sự thật để mượn tiền bạn khác
c. Nói dối vì một lý do nào đó để mượn tiền bạn khác
d. Nói dối ba mẹ, anh chị vì một lý do nào đó để được cho thêm tiền
Câu 27: Một người bạn thân của em biết em thường nói dối nên tìm cách khuyên
răn em, em sẽ phản ứng như thế nào?
a. Cám ơn và hứa sẽ thay đổi
b. Gật đầu cho qua chuyện
c. Đưa ra những lý lẽ để biện hộ
d. Mặc kệ và tiếp tục nói dối
Câu 28: Khi trả bài kiểm tra, bạn bị điểm 0 do bỏ giấy trắng. Cô giáo gọi bạn đến
hỏi lý do. Bạn sẽ:
a. Xin lỗi và giải thích sự thật cho cô
b. Xin lỗi và không nói gì thêm
c. Chỉ im lặng chịu điểm thấp
d. Nói dối để được làm lại hoặc được cô cho thêm điểm
Câu 29: Tình cờ đọc báo thấy scandal của một số người đẹp nói dối. Em sẽ:
a. Chăm chú theo dõi để rút kinh nghiệm về những hậu quả mà hành vi nói dối đem
lại
b. Xem nhưng cho qua, không ảnh hưởng gì đến hành vi nói dối ở bản thân
c. Chuyển sang tin tức khác nhưng vẫn có xíu lưu tâm
d. Chuyển sang tin tức khác vì nói dối là chuyện bình thường
NỘI DUNG 9
Câu 30: Yếu tố nào tác động đến hành vi nói dối của em? Đánh số từ 1 đến 12, ứng
với 1 là yếu tố tác động đến em nhiều nhất 12 là yếu tố ít tác động đến em nhất?
1. Nhận thức chưa đầy đủ về sự phù hợp và không phù hợp của hành vi nói dối
2. Sự bắt chước hành vi nói dối ở người khác
3. Ba mẹ chưa hiểu con cái
4. Ba mẹ cấm đoán và hạn chế các mối quan hệ của con cái
5. Ba mẹ coi trọng thành tích học tập
6. Ba mẹ là tấm gương xấu
7. Gia đình quá nghiêm khắc
8. Nhà trường quy định quá chặt chẽ
9. Nhà trường yêu cầu cao về thành tích học tập
10. Thầy cô là tấm gương xấu
11. Mong muốn tự khằng định bản thân
12. Kỹ năng kiềm chế cảm xúc thấp
3. Phiếu hỏi dành cho PHHS
PHIẾU KHẢO SÁT
Kính chào quý phụ huynh,
Chúng tôi đang thực hiện một đề tài nghiên cứu về hành vi nói dối ở học sinh
trung học cơ sở. Rất mong nhận được sự tham gia của các anh chị vào đề tài này
bằng cách trả lời chân thật những câu hỏi dưới đây. Chân thành cảm ơn anh chị!
A. THÔNG TIN CÁ NHÂN
Giới tính: Nam Nữ
Trường của con anh chị đang học:…………………………………..........................
B. NỘI DUNG
Câu 1: Theo anh chị, nói dối là:
STT Nội dung Đúng Sai
1 Lời nói không đúng thực tế nhưng người nói không cố ý
đánh lừa người nghe
2 Lời nói không đúng thực tế, người nói không cố ý đành lừa
người nghe nhưng sau khi kiểm chứng lại lời nói, biết là sai
nhưng vẫn không điều chỉnh lại
3 Lời nói không đúng thực tế nhưng người nói cố ý đánh lừa
người nghe.
4 Lời nói không đúng thực tế, người nói cố ý đánh lừa người
nghe nhưng sau đó có sự giải thích về sự thật.
5 Lời nói không đúng thực tế, người nói cố ý đánh lừa người
nghe nhưng nhờ đó người nghe có thể suy ngẫm để rút ra
bài học cho bản thân (thường gặp trong các hình thức văn
học nghệ thuật)
Câu 2: Theo anh chị, nói sai sự thật đối với một sự việc như thế nào mới gọi là nói
dối?
STT Nội dung Đúng Sai
1 Nói sai hoàn toàn sự thật đối với một sự việc có tính chất
nghiêm trọng
2 Nói sai một phần sự thật đối với một sự việc có tính chất
nghiêm trọng
3 Nói sai một phần sự thật đối với một sự việc không có tính
chất nghiêm trọng.
4 Nói sai hoàn toàn sự thật đối với một sự việc không có tính
chất nghiêm trọng
Câu 3: Hãy cho biết nhận định của anh chị về các ý kiến sau đây?
STT Nội dung Đúng Sai
1 Lừa dối là nói dối
2 Làm dối là nói dối
3 Giữ bí mật, giấu thông tin là nói dối
4 Nói lảng, nói tránh là nói dối
5 Nói sai sự thật do ngộ nhận là nói dối
6 Trong tranh luận khoa học, các ý kiến không đúng với thực
tế do nghĩ sao nói vậy là nói dối
7 Dự báo, dự đoán sai là nói dối
8 Hứa và dọa nhưng tương lai không thể làm được là nói dối
9 Hứa và dọa nhưng không thực hiện, mặc dù tương lai có thể
thực hiện được là nói dối
10 Hành vi nói khoác, nói cường điệu, nói vòng nhằm mục
đích giải trí hoặc truyền đi một thông điệp hàm ý là nói dối
Câu 4: Anh chị hãy tự đánh giá về hành vi nói dối của con mình trong thời gian gần
đây:
a. Chưa bao giờ nói dối b. Đã nói dối ít nhất một lần
c. Nói dối liên tục trong 2 tháng d. Nói dối liên tục trong 4 tháng
e. Nói dối liên tục từ 6 tháng trở lên f. Ý kiến khác:……………….
Ở câu 4, nếu đáp án là c, d, e anh chị vui lòng trả lời tiếp các câu hỏi từ 5 đến
hết
Câu 5: Theo anh chị, con mình thường nói dối xuất phát từ những động cơ nào?
STT Nội dung Có Không
1 Được đồ vật (bánh kẹo, tiền bạc, đồ chơi…)
2 Được ân huệ (sự tha thứ, ban ơn, cho cơ hội…)
3 Tránh nghĩa vụ (làm việc nhà, dọn dẹp vệ sinh, học
tập…)
4 Bêu xấu người khác
NỘI DUNG 3
Câu 6: Theo anh chị, con mình thường nói dối với ai là chủ yếu?
STT Đối tượng Không Hiếm Thỉnh Thường Rất
bao giờ khi thoảng xuyên thường
xuyên
1 Giám thị
2 GV chủ nhiệm
3 GV bộ môn
4 Bạn bè
5 Cha mẹ
6 Anh chị em
7 Hàng xóm
8 Những người chưa quen
Câu 7: Theo anh chị, con mình thường nói dối đê thực hiện các việc nào sau đây
nào?
STT Hành động Không Hiếm Thỉnh Thường Rất
bao giờ khi thoảng xuyên thường
xuyên
1 Chơi game online
2 Online Facebook
3 Đi cắm trại
4 Đi du lịch
5 Đi mua sắm
6 Giải thích lý do không thuộc
bài
7 Giải thích lý do không làm
bài tập
8 Giải thích lý do điểm thấp
9 Giải thích lý do không chuẩn
bị bài
10 Làm bài kiểm tra
11 Giải thích lý do trốn tránh
dọn dẹp vệ sinh nhà cửa
12 Giải thích lý do trốn tránh
dọn dẹp sân trường
13 Giải thích lý do trốn tránh
việc trực nhật lớp
14 Giải thích lý do trốn tránh
làm việc nhà (rửa chén, quét
nhà…
15 Giải thích lý do trốn tránh
các việc liên quan đến tạo ra
sản phẩm
Câu 8: Theo anh chị, con mình thường nói dối ở đâu?
STT Môi trường Không Hiếm Thỉnh Thường Rất
bao giờ khi thoảng xuyên thường
xuyên
1 Tại lớp học
2 Trong sân trường
3 Tại phòng giáo viên
4 Ngay cổng trường
5 Tại phòng riêng của mình
6 Tại phòng khách
7 Tại nhà bếp
8 Trước cửa nhà
9 Tại nhà hàng xóm
10 Tại nhà bạn
11 Tại quán ăn uống
12 Ngoài đường
Câu 9: Theo anh chị con mình thường nói dối bằng hình thức nào là chủ yếu?
STT Hình thức Không Hiếm Thỉnh Thường Rất
bao giờ khi thoảng xuyên thường
xuyên
1 Nói dối trực tiếp
2 Nói dối gián tiếp thông qua:
2.1. Tin nhắn
2.2. Mạng xã hội
2.3. Thư từ
2.4. Điện thoại
2.5. Ý kiến
khác:……………………...
Câu 10: Trong gia đình, con anh chị thường nói dối trong trường hợp nào?
STT NỘI DUNG Rất ít Ít Nhiều MỨC ĐỘ Trung bình Rất nhiều
1
2
3
4
5
6
7
8
Khi ba mẹ không cho tiền hoặc cho không đủ tiền mà em lại rất cần Khi bị nhắc nhở việc học tập ở nhà Khi ba mẹ giao nhiệm vụ mà em không muốn làm Khi ba mẹ biết được sự thật của 1 lời nói dối trước đó Khi muốn che giấu kết quả học tập Khi đã làm một việc mà ba mẹ không thích Khi mong muốn có được một thứ (quyển sách, đồ trang sức, điện thoại…) Khi mong muốn được làm lên một việc (chơi game, facebook…)
Câu 11: Khi con mình nói dối, anh chị thấy có những biểu hiện gì để nhận dạng?
STT NỘI DUNG Rất ít Ít Nhiều MỨC ĐỘ Trung bình Rất nhiều
1 Tim đập nhanh
2 Mắt không dám nhìn thẳng
3 Phối hợp không đồng bộ giữa hành động và lời nói
4 Run 5 Nín thở trong giây lát 6 Che miệng Sờ cồ 7 8 Gãi cổ
Câu 12: Với những thông tin khác nhau, con anh chị thường có xu hướng:
MỨC ĐỘ
STT NỘI DUNG Trung Rất Rất ít Ít Nhiều bình nhiều
Những thông tin về mối quan hệ xã
hội liên quan đến bạn bè, thầy cô…
Tiết lộ với cha mẹ 1
Giữ bí mật với cha mẹ
Nói dối cha mẹ
Những thông tin liên quan đến sức
khỏe và an toàn bản thân
Tiết lộ với cha mẹ 2
Giữ bí mật với cha mẹ
Nói dối cha mẹ
Câu 13: Nếu đánh giá về mối quan hệ giữa em và cha mẹ, anh chị sẽ đánh giá như
thế nào?
b. Tốt a. Rất tốt
c. Phân vân d. Xấu
e. Rất xấu
Câu 14: Theo anh chị, yếu tố nào tác động đến hành vi nói dối của con mình? Đánh
số từ 1 đến 12, ứng với 1 là yếu tố tác động đến em nhiều nhất 12 là yếu tố ít tác
động đến con mình nhất?
1. Nhận thức chưa đầy đủ về sự phù hợp và không phù hợp của hành vi nói dối
2. Sự bắt chước hành vi nói dối ở người khác
3. Ba mẹ chưa hiểu con cái
4. Ba mẹ cấm đoán và hạn chế các mối quan hệ của con cái
5. Ba mẹ coi trọng thành tích học tập
6. Ba mẹ là tấm gương xấu
7. Gia đình tạo áp lực về thành tích học tập
8. Nhà trường quy định quá chặt chẽ
9. Nhà trường yêu cầu cao về thành tích học tập
10. Thầy cô là tấm gương xấu
11. Mong muốn tự khằng định bản thân
12. Kỹ năng kiềm chế cảm xúc thấp
Câu 15: Anh/chị ứng xử như thế nào khi phát hiện con mình nói dối?
Không Hiếm Thỉnh Thường Rất
STT NỘI DUNG bao giờ khi thoảng xuyên thường
xuyên
1 Nhắc nhở không nói dối nữa
2 La mắng
3 Đánh đập
6 Khuyên nhủ
Hướng vào hoạt động giải trí 7 khác
8 Tìm chuyên gia để can thiệp
9 Tỏ ra bình thường
Nhờ giáo viên cảnh cáo trước lớp 10 hoặc trường
Giãm hoặc không quan tâm đến 11 con
4. Phiếu hỏi dành cho giáo viên
PHIẾU KHẢO SÁT
Kính chào quý thầy cô,
Chúng tôi đang thực hiện một đề tài nghiên cứu về hành vi nói dối ở học sinh
trung học cơ sở. Rất mong nhận được sự tham gia của thầy cô vào đề tài này bằng
cách trả lời chân thật những câu hỏi dưới đây. Chân thành cảm ơn quý thầy cô!
A. THÔNG TIN CÁ NHÂN
Giới tính: Nam Nữ
Trường: ……………………………………………………………………….
B. NỘI DUNG
Câu 1: Theo Thầy cô, nói dối là:
STT Nội dung Đúng Sai
1 Lời nói không đúng thực tế nhưng người nói không cố ý đánh
lừa người nghe
2 Lời nói không đúng thực tế, người nói không cố ý đành lừa
người nghe nhưng sau khi kiểm chứng lại lời nói, biết là sai
nhưng vẫn không điều chỉnh lại
3 Lời nói không đúng thực tế nhưng người nói cố ý đánh lừa
người nghe.
4 Lời nói không đúng thực tế, người nói cố ý đánh lừa người
nghe nhưng sau đó có sự giải thích về sự thật.
5 Lời nói không đúng thực tế, người nói cố ý đánh lừa người
nghe nhưng nhờ đó người nghe có thể suy ngẫm để rút ra bài
học cho bản thân (thường gặp trong các hình thức văn học
nghệ thuật)
Câu 2: Theo Thầy cô nói sai sự thật đối với một sự việc như thế nào mới gọi là nói
dối?
STT Nội dung Đúng Sai
1 Nói sai hoàn toàn sự thật đối với một sự việc có tính chất
nghiêm trọng
2 Nói sai một phần sự thật đối với một sự việc có tính chất
nghiêm trọng
3 Nói sai một phần sự thật đối với một sự việc không có tính
chất nghiêm trọng.
4 Nói sai hoàn toàn sự thật đối với một sự việc không có tính
chất nghiêm trọng
Câu 3: Hãy cho biết nhận định của Thầy cô về các ý kiến sau đây?
STT Nội dung Đúng Sai
1 Lừa dối là nói dối
2 Làm dối là nói dối
3 Giữ bí mật, giấu thông tin là nói dối
4 Nói lảng, nói tránh là nói dối
5 Nói sai sự thật do ngộ nhận là nói dối
6 Trong tranh luận khoa học, các ý kiến không đúng với thực tế
do nghĩ sao nói vậy là nói dối
7 Dự báo, dự đoán sai là nói dối
8 Hứa và dọa nhưng tương lai không thểlàm được là nói dối
9 Hứa và dọa nhưng không thực hiện, mặc dù tương lai có thể
thực hiện được là nói dối
10 Hành vi nói khoác, nói cường điệu, nói vòng nhằm mục đích
giải trí hoặc truyền đi một thông điệp hàm ý là nói dối
Câu 4: Thầy cô hãy tự đánh giá về hành vi nói dối của học sinh THCS trường mình
trong thời gian gần đây:
a. Chưa bao giờ nói dối b. Đã nói dối ít nhất một lần
c. Nói dối liên tục trong 2 tháng d. Nói dối liên tục trong 4 tháng
e. Nói dối liên tục từ 6 tháng trở lên f. Ý kiến khác:……………….
Ở câu 4, nếu đáp án là c, d, e Thầy cô vui lòng trả lời tiếp các câu hỏi từ 5 đến
hết
Câu 5: Theo thầy cô, học sinh THCS trường mình thường nói dối xuất phát từ
những động cơ nào?
STT Nội dung Có Không
1 Được đồ vật (bánh kẹo, tiền bạc, đồ chơi…)
2 Được ân huệ (sự tha thứ, ban ơn, cho cơ hội…)
3 Tránh nghĩa vụ (làm việc nhà, dọn dẹp vệ sinh, học tập…)
4 Bêu xấu người khác
Câu 6: Theo thầy cô, học sinh THCS trường mình thường nói dối với ai là chủ yếu?
STT Đối tượng
Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
Giám thị GV chủ nhiệm GV bộ môn Bạn bè Cha mẹ Anh chị em Hàng xóm Những người chưa quen Rất thường xuyên
1 2 3 4 5 6 7 8 Câu 7: Theo thầy cô, học sinh THCS trường mình thường nói dối để thực hiện các
hành động nào sau đây nào?
STT Hành động
Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
1 2 3 4 5 6 Rất thường xuyên
7
8 9
10 11
12
13
Chơi game online Online Facebook Đi cắm trại Đi du lịch Đi mua sắm Giải thích lý do không thuộc bài Giải thích lý do không làm bài tập Giải thích lý do điểm thấp Giải thích lý do không chuẩn bị bài Làm bài kiểm tra Giải thích lý do trốn tránh dọn dẹp vệ sinh nhà cửa Giải thích lý do trốn tránh dọn dẹp sân trường Giải thích lý do trốn tránh việc trực nhật lớp
14
15
Giải thích lý do trốn tránh làm việc nhà (rửa chén, quét nhà…) Giải thích lý do trốn tránh các việc liên quan đến tạo ra sản phẩm
Câu 8: Theo Thầy cô, học sinh THCS trường mình thường nói dối ở đâu?
STT Môi trường
Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
Tại lớp học Trong sân trường Tại phòng giáo viên Ngay cổng trường Tại phòng riêng của mình Tại phòng khách Tại nhà bếp Trước cửa nhà Tại nhà hàng xóm Tại nhà bạn Tại quán ăn uống Ngoài đường Rất thường xuyên
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Câu 9: Theo Thầy cô, học sinh THCS trường mình thường nói dối bằng hình thức
nào là chủ yếu?
STT Hình thức
Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
Rất thường xuyên
1 2
Nói dối trực tiếp Nói dối gián tiếp thông qua: 2.1. Tin nhắn 2.2. Mạng xã hội 2.3. Thư từ 2.4. Điện thoại 2.5. Ý kiến khác:……………………… ...
Câu 10: Trong các mối quan hệ ở trường, theo thầy cô, học sinh trường mình
thường nói dối trong trường hợp nào?
STT NỘI DUNG Ít Nhiều
1 Rất ít MỨC ĐỘ Trung bình Rất nhiều Khi nghĩ học
2
3
4
5
6
7 Khi đến trễ Khi từ chối việc của lớp phân công Khi khó hoàn thành được việc tập thể giao Khi quên thực hiện công việc tập thể giao Khi trốn học Khi quên hoặc cố ý không làm bài tập
8 Khi quên hoặc cố ý không học bài
9
10 Khi làm sai quy định của trường về cách ăn mặc, thái độ, tác phong… Khi không tham gia các hoạt động của trường, lớp.
Câu 11: Khi học sinh THCS trường mình nói dối, Thầy cô thấy có những biểu hiện
gì để nhận dạng?
STT NỘI DUNG Ít Nhiều Rất ít MỨC ĐỘ Trung bình Rất nhiều
1 Tim đập nhanh
2 Mắt không dám nhìn thẳng
3 Phối hợp không đồng bộ giữa hành động và lời nói
4 Run 5 Nín thở trong giây lát 6 Che miệng Sờ cổ 7 8 Gãi cổ
Câu 12: Theo thầy cô, yếu tố nào tác động đến hành vi nói dối của học sinh THCS
trường mình? Đánh số từ 1 đến 12, ứng với 1 là yếu tố tác động đến học sinh THCS
trường mình nhiều nhất 12 là yếu tố ít tác động đến học sinh THCS trường mình
nhất?
1. Nhận thức chưa đầy đủ về sự phù hợp và không phù hợp của hành vi nói dối
2. Sự bắt chước hành vi nói dối ở người khác
3. Ba mẹ chưa hiểu con cái
4. Ba mẹ cấm đoán và hạn chế các mối quan hệ của con cái
5. Ba mẹ coi trọng thành tích học tập
6. Ba mẹ là tấm gương xấu
7. Gia đình tạo áp lực về thành tích học tập
8. Nhà trường quy định quá chặt chẽ
9. Nhà trường yêu cầu cao về thành tích học tập
10. Thầy cô là tấm gương xấu
11. Mong muốn tự khằng định bản thân
12. Kỹ năng kiềm chế cảm xúc thấp
Câu 13: Thầy /cô ứng xử như thế nào khi phát hiện học sinh mình nói dối?
STT NỘI DUNG Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
Không bao giờ Rất thường xuyên
Nhắc nhở không nói dối nữa 1
La mắng 2
Đánh đập 3
Khuyên nhủ 6
Hướng vào hoạt động giải trí khác 7
Tìm chuyên gia để can thiệp 8
Tỏ ra bình thường 9
10 Cảnh cáo trước lớp hoặc trường
11 Giãm hoặc không quan tâm đến các em
5. Thang đo sự cô đơn
MỨC ĐỘ
STT NỘI DUNG Ít khi Không bao giờ Thường xuyên
Thỉnh thoảng 1
2 3
4 5
6
7
8
9 10
11 12
13
14
15
16 17 Em cảm thấy thoải mái với mọi người xung quanh Em thiếu sự đồng hành, ủng hộ Không có một người nào có thể xoay chuyển được em Em không cảm thấy cô đơn Em cảm thấy em là một phần không thể thiếu trong một nhóm bạn Em có rất nhiều điểm chung với những người xung quanh Em không có bất kỳ một người nào thật sự gần gũi Sở thích và ý tưởng của em thì không được chia sẻ với những người xung quanh. Em bị bỏ rơi Em thấy có những người gần gũi với em Em cảm thấy mọi người rời xa em Các mối quan hệ xung quanh em thì rất hời hợt Không ai thực sự biết những điều tốt ở em Em cảm thấy bị cô lập bởi những người khác Em có thể tìm thấy một sự đồng hành khi em muốn có Có những người thật sự hiểu em Em không hạnh phúc vì bị mọi người xa lánh
18 Mọi người xung quanh em thì
19
20 không nói chuyện với em Có những người xung quanh mà em có thể nói chuyện Có những người xung quanh mà em có thể chủ động làm quen
6. Thang đo lòng tự trọng
MỨC ĐỘ
STT NỘI DUNG Đồng ý Rất không đồng ý Không đồng ý Rất đồng ý
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nhìn chung, em không hài lòng với bản thân mình. Đôi khi em nghĩ rằng em không tốt ở tất cả mọi thứ. Em nghĩ rằng em không có nhiều phẩm chất tốt. Em thấy mình có thể làm những việc như hầu hết những người khác. Em cảm thấy em không có điểm nào để tự hào. Em chắc chắn rằng mình vô dụng ở mọi lúc. Em cảm thấy rằng em là một người có giá trị, ít nhất là với những người cùng lứa tuổi. Em muốn nhận được sự tôn trọng mình nhiều hơn Nhìn chung, em thấy mình là một con người thất bại nhiều hơn thành công Em có một thái độ tích cực với bản thân mình.
7. Thang đo trạng thái căng thẳng
STT Ý kiến
Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
Không bao giờ Rất thường xuyên
1
2
Trong tháng trước, em lo lắng về một điều gì đó có thể xảy ra không báo trước. Trong tháng trước, em thấy mình không thể kiểm soát được những điều quan trọng trong cuộc sống bản thân.
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Trong tháng trước, em cảm thấy lo lắng và căng thẳng. Trong tháng trước, em xử lý tốt những vấn đề trong ngày và những vấn đề phiền phức Trong tháng trước, em cảm thấy em đang ứng phó một cách có hiệu quả với những sự thay đổi quan trọng xảy ra trong cuộc đời em. Trong tháng trước, em cảm thấy tự tin về khả năng của bản thân để giải quyết các vấn đề cá nhân. Trong tháng trước, em cảm thấy mọi thứ đã đi theo ý muốn của em. Trong tháng trước, em cảm thấy em không thể đối phó với tất cả những điều đã xảy ra. Trong tháng trước, em kiểm soát được mọi sự việc trong cuộc sống của mình. Trong tháng trước, em như làm chủ được mọi sự việc Trong tháng trước, có lúc em tức giận vì những việc đã xảy ra mà nằm ngoài tầm kiểm soát của mình. Trong tháng trước,em suy nghĩ nhiều về những điều em có thể thực hiện Trong tháng trước, em kiểm soát được thời gian bản thân Trong tháng trước, em cảm thấy mọi việc bị chồng chất quá nhiều mà em lại không có khả năng giải quyết chúng.
PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ TRONG SPSS
1. Vài nét về khách thể nghiên cứu
* Học sinh
Gioitinh
Percent Cumulative Percent
Frequenc y Valid Percent
Nam 225 46.9 46.9 46.9
Valid Nu 255 53.1 53.1 100.0
Total 480 100.0 100.0
Truong
Percent
Frequenc y Valid Percent Cumulative Percent
120 25.0 25.0 THCS Kim Dong 25.0
120 25.0 25.0 THCS Quang Trung 50.0
120 25.0 25.0 75.0 THCS - THPT Phan Boi Chau Valid
120 25.0 25.0 100.0 THCS - THPT Phan Chu Trinh
Total 480 100.0 100.0
Lop
Frequency Percent
Valid Percent Cumulative Percent
6 120 25.0 25.0 25.0
7 120 25.0 25.0 50.0
Valid 8 120 25.0 25.0 75.0
9 120 25.0 25.0 100.0
Total 480 100.0 100.0
Tongiao
Percent Valid Percent Cumulative
Frequenc y Percent
44.0 44.0 44.0 Khong 211
41.6 85.6 41.6 Phat 200
11.5 97.1 11.5 Thien chua 55 Valid
2.9 100.0 2.9 14 Ton giao khac
100.0 100.0 Total 480
Hanhkiem
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
71.9 71.9 71.9 Tot 345
21.0 92.9 21.0 Kha 101
Valid 7.1 100.0 7.1 34 Trung binh
Total 480 100.0 100.0
* Khách thể ở các độ tuổi khác nhau
Gioitinh
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
Nam 254 48.4 48.4 48.4
Valid Nu 271 51.6 51.6 100.0
Total 525 100.0 100.0
Dotuoi
Frequency Percent
Valid Percent Cumulative Percent
18-24 174 33.1 33.1 33.1
25-54 323 61.5 61.5 94.7
Valid 28 5.3 5.3 100.0 55 tro len
Total 525 100.0 100.0
* Giáo viên
Gioitinh
Frequency Percent
Valid Percent Cumulative Percent
Nam 70 47.9 47.9 47.9
Valid Nu 76 52.1 52.1 100.0
Total 146 100.0 100.0
Truong
Percent Frequenc y Valid Percent Cumulative Percent
32 40 21.9 27.4 21.9 27.4 21.9 49.3
39 26.7 26.7 76.0 Valid
35 24.0 24.0 100.0
THCS Kim Dong THCS Quang Trung THCS - THPT Phan Boi Chau THCS - THPT Phan Chu Trinh Total 146 100.0 100.0
* Phụ huynh HS
Frequency Gioitinh Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid 41.7 100.0
Nam Nu Total 35 49 84 41.7 58.3 100.0 41.7 58.3 100.0
Cumulative Percent
Truong Frequency Percent Valid Percent 28.6 26.2 28.6 26.2 24 22 28.6 54.8
26.2 26.2 81.0 22 Valid
16 19.0 19.0 100.0
THCS Kim Dong THCS Quang Trung THCS - THPT Phan Boi Chau THCS - THPT Phan Chu Trinh Total 84 100.0 100.0
2. Chuẩn mực xã hội đối với HVND
Descriptive Statistics
N Minimum Maximum Mean
Std. Deviation
525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 525 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 1.09 1.15 .39 .40 .53 .49 .70 1.03 .81 .87 .81 1.13 1.01 .98 .62 .83 .56 .83 .83 .892 .906 .656 .679 .797 .758 .817 .825 .822 .854 .844 .847 .831 .959 .621 .675 .629 .675 .675
525 C1.1 C1.2 C1.3 C1.4 C1.5 C1.6 C1.7 C1.8 C1.9 C1.10 C1.11 C1.12 C1.13 C1.14 C1.15 C1.16 C1.17 C1.18 C1.19 Valid N (listwise)
C2
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Valid A B C D E 40 211 108 166 0 7.5 40.2 20.6 31.7 0 7.6 47.8 68.4 100 100 7.5 40.2 20.6 31.7 0
Total 525 100.0 100.0
3. Tự đánh giá của học sinh theo tiêu chí 1 của chuẩn mực xã hội đối với
HVND
C6
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
b 383 79.8 79.8 79.8
C 25 5.2 85.1 5.3
Valid d 10 2.08 87.1 2.08
E 62 12.9 100.0 12.9
Total 480 100.0 100.0
4. Tự đánh giá của học sinh theo tiêu chí 2 của chuẩn mực xã hội đối với
HVND
C7
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
Co 76 15.8 78.4 78.4
Khong Valid 21 4.3 100.0 21.6
Total System
Missing Total 97 383 480 20.1 79.8 100.0 100.0
5. Tự đánh giá của học sinh theo tiêu chí 2 của DSM - 4
C7
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
Co 6.3 30 48.4 48.4
Valid Khong 6.6 32 100.0 51.6
Total 12.9 62
100.0 System 87.1 418
Missin g Total 480 100.0
6. Các mức độ biểu hiện của HVND
MUCDOBIEUHIEN
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
1.00 2 .4 2.6 2.6
Valid 2.00 74 15.4 97.4 100.0
Total System
Missing Total 76 404 480 15.8 84.2 100.0 100.0
7. Các yếu tố ảnh hưởng đến HVND
Descriptive Statistics
N Minimum Maximum Mean Std. Deviation
76 76 76 76 76 76 76 76 76 76 76 76 0 1 0 0 1 1 0 3 2 8 2 5 11 10 11 4 6 9 8 11 7 11 11 11 3.17 5.74 4.78 1.17 3.22 5.42 5.46 5.67 4.04 9.38 8.92 8.91 3.511 2.918 3.317 1.182 1.902 2.521 2.352 2.537 2.212 1.243 2.988 2.014
76 C30.1 C30.2 C30.3 C30.4 C30.5 C30.6 C30.7 C30.8 C30.9 C30.10 C30.11 C30.12 Valid N (listwise)
8. Mối tương quan giữa HVND với lòng tự trọng, sự cô đơn và trạng thái căng
thẳng
Correlations
NOIDOI TUTRONG CODON CANG THAN G
1 -.241* .340** .190 Pearson Correlation NOIDOI
Sig. (2-tailed) .036 .003 .101
76 76 76 76
-.241* 1 -.092* .052
TUTRONG
.036 76 480 .044 480 .252 480
.340** -.092* 1 .431**
CODON
.003 76 .044 480 480 .000 480
.190 .052 .431** 1 N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation CANGTHANG Sig. (2-tailed) .101 .252 .000
N 76 480 480 480
*. Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed). **. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).
PHỤ LỤC 3: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN
Ngày phỏng vấn:
Địa điểm phỏng vấn:
Họ tên người phỏng vấn:
Họ tên người được phỏng vấn:
Câu 1: Nói dối là gì?
Câu 2: Nói sai một sự việc có tính chất như thế nào thì được gọi là nói dối ?
Câu 3 : Theo em việc nói dối có phù hợp với chuẩn mực xã hội không ?
Câu 4: Em thường nói dối với ai là chủ yếu?
Câu 5: Em thường nói dối khi nào?
Câu 6: Tại sao em lại phải nói dối?
Câu 7 : Em có những suy nghĩ gì khi nói dối ?
Câu 8 : Khi nói dối em có những cảm xúc nào ?
Câu 9 : Em có thử từ bỏ nói dối khi nào chưa ?
Câu 10: Làm thế nào em nhận diện được một người đang nói dối?
MỘT SỐ KẾT QUẢ PHỎNG VẤN THU ĐƯỢC
Câu 1:
- N.D.T trường THCS Kim Đồng: “Em nghĩ nói dối là nói không đúng sự thật
nhưng cũng tùy. Nói chung đây là một khái niệm phức tạp”.
- N.V.C trường THCS-THPT Phan Chu Trinh: “Khái niệm này khó quá, em chưa
được học. Nhưng em nghĩ nói dối là nói sai sự thật một cách cố ý”
Câu 2:
- T.T.H.H trường THCS Quang Trung: “Em nghĩ rằng nói dối đối với một sự việc
không quan trọng và chỉ nói dối một số điều là nhỏ và có thể bỏ qua”.
- H.T.M.H: “Những sự thật nào có mức độ quan trọng và ảnh hưởng đến nhiều thứ
thì em không dám nói dối nhưng những sự thật nào mà khi mọi người biết vẫn có
thể xử lý được thì em có thể nói dối để giãm bớt căng thẳng lúc đó”
Câu 3:
- T.K.L, trường THCS Kim Đồng: “Em nghĩ nói dối là không phù hợp nhưng một
số trường hợp có thể bỏ qua được”.
- H.T.X, trường THCS Quang Trung: “Tùy theo nói dối vì vì mục đích gì. Nói dối
vì mục đích tốt thì phù hợp. Nói dối vì mục đích xấu thì không phù hợp”.
Câu 4:
- H.M.T trường THCS – THPT Phan Bội Châu: “Những chuyện về điểm số em có
thể nói dối được vì cha mẹ khó phát hiện”.
- H.M.H, học sinh trường THCS – THPT Phan Chu Trinh: “Em và mẹ hay gây nhau
về việc em hay đi chơi cùng bạn bè. Em buộc phải nói dối mẹ là đi học để không
khí thoải mái hơn”.
Câu 5:
- L.G.T, HS trường THCS Kim Đồng: “Trong khi trò chuyện hay xã giao với người
khác, đôi khi em cũng nói dối để được một điều gì đó cho mình”
Câu 6:
- L.M.H, HS trường THCS Quang Trung: “Thông qua nói dối, em dễ dàng xin được
một điều gì đó mà mình muốn từ việc trò chuyện với người khác, đặc biệt là cha
mẹ”.
- T.H.H, HS trường THCS Quang Trung: “Đôi khi em có nói dối để xin tiền mẹ
chơi game online”.
Câu 7:
- L.M.H, HS trường THCS Quang Trung, “Nói dối là điều cần thiết trong cuộc
sống”
- L.G.T, HS trường THCS Kim Đồng: “Em ít khi nghĩ đến hậu quả của việc nói
dối”
Câu 8:
- T.T.H.H trường THCS Quang Trung: “Những lần đầu tiên nói dối em thấy rất sợ,
giờ thì không còn nữa”
- H.T.X, trường THCS Quang Trung: “Em thấy lo lắng vì sợ phát hiện sự thật khi
nói dối nhưng khi nói dối không bị phát hiện em thấy rất nhẹ nhõm”
Câu 9:
- L.G.T, HS trường THCS Kim Đồng: “Đồi với em, từ bỏ nói dối thật khó khăn”
Câu 10:
- L.M.H trường THCS Quang Trung: “Em thường nhận diện được một bạn nói dối
bằng cách nhìn vào mặt bạn ấy. Bạn nào nói dối thì không dám nhìn thẳng vào em”

