
61
phân biệt đối xử, nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế. APEC là tập hợp có
thế lực lớn với nhiều thành viên có vai trò kinh tế, chính trị quan trọng như Mỹ,
Nga, Trung Quốc, Nhật Bản mà trong đó ta sẽ có vị trí thành viên bình đẳng, góp
phần xây dựng luật chơi chung của cả khu vực. Quan hệ với các thành viên
APEC có ý nghĩa quan trọng đối với ta cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Tham gia
APEC là tham gia cơ chế tiếp xúc, đối thoại thường xuyên, không chính thức, đặc
biệt ở Cấp cao sẽ mở ra nhiều cơ hội để ta có thể trao đổi và giải quyết các vấn đề
cùng quan tâm, thúc đẩy quan hệ song phương với các đối tác quan trọng của
Việt Nam.
Thứ hai, nắm bắt thông tin, cập nhật đầy đủ chiều hướng phát triển của thế
giới để định hướng và điều chỉnh chính sách trong nước. APEC là kho thông tin
và cũng là trung tâm trao đổi thông tin. Việc thu thập thông tin qua các hoạt động
của APEC cũng như việc thiết lập các mạng thông tin giữa các thành viên của
APEC có lợi cho ta trong quá trình phát triển kinh tế.
Thứ ba, tận dụng các chương trình hợp tác kinh tế kỹ thuật. Chương trình
này bao trùm nhiều lĩnh vực hợp tác với trên 200 dự án được triển khai mỗi năm,
tập trung vào một số vấn đề liên quan đến hợp tác, trao đổi kinh nghiệm về phát
triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, phát triển cơ
sở hạ tầng, tiếp nhận thông tin, phát triển thị trường... Những chương trình này đã
tạo điều kiện cho ta tham gia phát triển bồi dưỡng nguồn nhân lực và tiếp cận với
các công nghệ mới trong các lĩnh vực sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả cạnh
tranh của nền kinh tế.
Thứ tư, nâng cao khả năng quản lý, kinh doanh, mở rộng quan hệ thương
mại đầu tư và thâm nhập thị trường: các đối tác kinh tế của ta chủ yếu nằm trong
APEC và đây là thị trường lớn đầy tiềm năng chưa được khai thác. Tham gia
APEC, ta có cơ hội đối thoại chính sách với các nền kinh tế phát triển hơn, hoặc
phối hợp quan điểm với các thành viên trên các diễn đàn quốc tế nhằm giải toả
các rào cản thương mại, đấu tranh đòi đối xử công bằng trong thương mại quốc
tế.
Thứ năm, trao đổi kinh nghiệm, tạo thêm động lực thúc đẩy phát triển nội
lực của các doanh nghiệp và điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong nước, tăng tính cạnh
tranh trong khu vực. Thông qua hợp tác APEC, Việt Nam có cơ hội nâng cao
năng lực quản lý và sản xuất trong nước, đẩy mạnh công cuộc cải cách cơ chế

62
chính sách trong nước theo hướng minh bạch hơn, bình đẳng và thuận lợi hơn
cho các hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng khai thác được kinh nghiệm và các
nguồn lực quốc tế nhằm xây dựng các khuôn khổ pháp lý theo định hướng kinh tế
thị trường.
Thứ sáu, cơ chế hợp tác tự nguyện trong APEC là tiền đề tốt chuẩn bị cho
việc hội nhập sâu hơn và rộng hơn vào kinh tế khu vực và thê giới, là bước chuẩn
bị cho việc đàm phán gia nhập WTO. APEC đóng vai trò là diễn đàn đối thoại,
trao đổi, hợp tác, hỗ trợ trên cơ sở tự nguyện. Các cam kết không mang tính ràng
buộc, do đó không gây sức ép mà mang tính khuyến khích thúc đẩy. Các diễn đàn
trong APEC cũng là cơ hội để Việt Nam kêu gọi sự trợ giúp và linh hoạt trong
quá trình đàm phán gia nhập WTO. Tham gia vào hợp tác APEC cũng góp phần
đáng kể nâng cao năng lực của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong bối
cảnh Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế của mình trong khuôn khổ
ASEAN, WTO.
88. Những thách thức, khó khăn khi Việt Nam tham gia APEC?
Mặc dù có nhiều thuận lợi và cơ hội nhưng việc tham gia vào quá trình hợp
tác APEC cũng có nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có cả những thách thức
chủ quan và khách quan.
Thứ nhất, nhận thức về APEC trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của
cán bộ, giới doanh nghiệp, quần chúng nhân dân còn nhiều hạn chế. Vấn đề này
một phần do công tác, tuyên truyền, phổ biến về APEC mới chỉ được thực hiện ở
mức độ nhất định cả về nội dung và đối tượng. Mặt khác, một bộ phận lớn các
doanh nghiệp còn tỏ ra thờ ơ, chưa nhận thức được đầy đủ về vai trò và lợi ích
mà APEC mang lại cho chính bản thân họ.
Thứ hai, hệ thống pháp luật về thương mại còn nhiều bất cập, chưa phù
hợp với thông lệ quốc tế. Cho tới nay, hệ thống chính sách thương mại và các
chính sách vĩ mô có liên quan khác của ta vẫn còn nhiều bất cập và chưa đồng
bộ, chưa thực sự khuyến khích được việc mở rộng quan hệ buôn bán, đầu tư, hợp
tác kinh tế kỹ thuật của Việt Nam trong APEC. Nhiều biện pháp chính sách tạo
lợi thế cho kinh tế thương mại được các tổ chức quốc tế thừa nhận thì ta lại chưa
có (ví dụ như chế độ hạn ngạch thuế quan, biện pháp cân bằng thanh toán...)

63
Thứ ba, hạn chế về nguồn nhân lực. Hiện nay, chúng ta đang thiếu đội ngũ
cán bộ giỏi có chuyên môn và kinh nghiệm trong hợp tác kinh tế quốc tế. Trình
độ cán bộ tham gia trực tiếp vào công tác hội nhập cũng như thực hiện các cam
kết quốc tế nhìn chung còn khá thấp. Một trong những nguyên nhân là từ trước
tới nay chúng ta chưa có một chính sách qui hoạch đồng bộ và ưu tiên thích đáng.
Vấn đề thực thi chính sách còn nhiều bất cập cũng có một phần nguyên nhân ở sự
hạn chế về trình độ chuyên môn và năng lực thực thi pháp luật. Cụ thể hơn, sự
hiểu biết hạn chế về cơ chế thị trường và sự vận hành của nó, các học thuyết, các
qui định của thương mại quốc tế, các vấn đề nổi cộm trong thương mại quốc tế
đang gây cản trở cho việc tham gia một cách xây dựng và chủ động trong hợp tác
APEC.
Thứ tư, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhìn chung còn yếu kém,
mặt khác chúng ta chưa khai thác triệt để các cơ hội trong APEC để phục vụ cho
các doanh nghiệp. Những nỗ lực ban đầu là đáng kể nhưng chưa thể so sánh với
tiềm năng về cơ hội của quá trình hợp tác này.
Thứ năm, khó khăn mang tính khách quan trong hợp tác APEC là tính bị
động của các nền kinh tế nhỏ và đang phát triển. Những nền kinh tế này, chủ yếu
do hạn chế về tiềm lực kinh tế, có lợi ích hạn chế hơn và có xu hướng bị phụ
thuộc vào các nền kinh tế lớn hơn. Vấn đề chính ở đây là trong bối cảnh nền kinh
tế thế giới có nhiều biến động thì tiềm lực kinh tế thấp sẽ hạn chế rất nhiều cơ hội
và lợi ích của các nước đang phát triển như Việt Nam.
89. Để tận dụng được cơ hội và vượt qua những thách thức như đã nêu ở trên,
chủ trương, định hướng chung của Việt Nam trong thời gian tới đối với tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và đối với hợp tác APEC nói riêng
như thế nào?
Báo cáo chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 đã được thông qua
tại Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ Việt Nam sẽ “tiếp tục mở rộng các quan hệ
kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với các điều kiện của nước ta và bảo đảm
thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA,
APEC, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, tiến tới gia nhập WTO...”

64
Chủ trương này lại tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết 07/NQ/TW
ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vấn đề
“chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm
công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá... thực
hiện thắng lợi những nhiệm vụ đã nêu ra trong Chiến lược phát triển kinh tế xã
hội 2001-2010”.
Nghị quyết 07 đã đề ra một số quan điểm chỉ đạo và nhiệm vụ cụ thể có
liên quan trực tiếp đến hoạt động hợp tác APEC, đáng chú ý là công tác phổ biến,
tuyên truyền và phát triển nguồn nhân lực.
90. Hướng tham gia APEC của Việt Nam trong thời gian tới là gì?
Việt Nam tham gia APEC trong bối cảnh có nhiều bất lợi hơn so với nhiều
thành viên khác của APEC. Việt Nam là nước đang phát triển, có nền kinh tế
đang trong quá trình chuyển đổi và nhất là đang trong giai đoạn đàm phán gia
nhập WTO. Chính vì thế mà việc ta tham dự APEC có nhiều hạn chế, nhất là khả
năng phát triển những kết quả đạt được của APEC liên quan đến tự do hoá và
thuận lợi hoá thương mại. Do vậy, trong thời gian tới, việc tham gia APEC sẽ tập
trung vào việc:
- Xây dựng Kế hoạch Hành động Quốc gia (IAP): Việc xây dựng IAP không
chỉ để thực hiện cam kết với APEC mà còn là nhiệm vụ chính trị quan
trọng nhằm giới thiệu hệ thống chính sách pháp luật của Việt Nam với các
nước. Hiện nay, IAP được cập nhật lên internet, nhiệm vụ này càng trở lên
quan trọng hơn vì nó phục vụ trực tiếp cho các doanh nghiệp và các nhà
đầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu cơ hội kinh doanh ở Việt Nam.
- Tiếp thu kinh nghiệm của APEC để rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách
trong nước phù hợp với điều kiện của ta và các chuẩn mực quốc tế. Hiện
nay, APEC đã xây dựng nhiều bộ nguyên tắc và danh mục lựa chọn, tài
liệu tổng kết kinh nghiệm của các thành viên, cùng với nhiều tài liệu tham
khảo khác. Đây là nguồn tài liệu tham khảo tốt cho Việt Nam trong quá
trình sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật.
- Thông qua hợp tác APEC để thúc đẩy đào tạo phát triển nguồn nhân lực
theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 07 về hội nhập kinh tế quốc tế.

65
- Tiếp tục đẩy mạnh việc tham gia các hoạt động của APEC theo hướng có
chọn lọc.
- Tăng cường phổ biến thông tin và kết quả hợp tác APEC. Cần tập trung
cho các đối tượng hưởng lợi và có liên quan trực tiếp như các doanh
nghiệp, nhà đầu tư, các cơ quan quản lý trung ương và địa phương. Tuy
nhiên, cũng cần có sự chú trọng thích đáng tới các đối tượng xã hội khác
nhau nhằm nâng cao hiểu biết và sự ủng hộ đối với tiến trình hợp tác
APEC.
91. Năm 2006 Việt Nam sẽ phải đăng cai tổ chức những Hội nghị nào của
APEC?
Hội nghị Liên Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế lần thứ 10 đã chính thức
thông qua việc Việt Nam đăng cai các Hội nghị của APEC năm 2006. Là nước
chủ nhà của APEC, Việt Nam sẽ phải tổ chức Hội nghị các nhà Lãnh đạo Kinh
tế, Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế, một số Hội nghị Bộ trưởng
chuyên ngành như Hội nghị Bộ trưởng Thương mại, Hội nghị Bộ trưởng Tài
chính, Hội nghị Bộ trưởng các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hội nghị Bộ trưởng về
Cúm gia cầm, Hội nghị Bộ trưởng Du lịch, Hội nghị Bộ trưởng về Phụ nữ…, 04
Hội nghị các quan chức cao cấp (SOM), các Hội nghị Ủy ban, nhóm công tác và
các sự kiện bên lề khác như Hội chợ Đầu tư – Thương mại, Liên hoan thanh
niên… Tổng số các Hội nghị, hội thảo và các sự kiện có liên quan lên tới con số
hơn 100.
92. Năm 2006, Việt Nam sẽ đăng cai APEC. Xin cho biết APEC sẽ thúc đẩy các
họat động gì trong năm 2006 và vai trò của Việt Nam trong năm APEC
2006.
Năm 2006 là năm có nhiều ý nghĩa với APEC với việc một loạt các
chương trình hợp tác APEC được hoàn thành hoặc bắt đầu được triển khai. Cụ
thể APEC sẽ đánh giá việc thực hiện giảm 5% chi phí giao dịch trong 4 lĩnh vực
là thủ tục hải quan, tiêu chuẩn chất lượng, đi lại của doanh nhân và thương mại
điện tử vào năm 2006, trên cơ sở đó, APEC sẽ đưa ra các hoạt động để giảm tiếp
5% chi phí giao dịch cho tới năm 2010. Đồng thời năm 2006 cũng là năm APEC
phải triển khai Lộ trình Busan để thực hiện mục tiêu Bogor. Trong năm 2006,
mảng hợp tác về tự do hóa và thuận lợi hóa đầu tư cũng sẽ được đẩy mạnh lên
tầm cao mới để cân bằng với các hoạt động về thương mại. Ngoài ra, không thể

