
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN
HỌC SINH LỚP 12 HỆ THỐNG KIẾN
THỨC MÔN NGỮ VĂN ĐỂ ÔN THI
TỐT NGHIỆP

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ năm học 2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai trên phạm vi
toàn quốc chương trình và sách giáo khoa mới bậc Trung học phổ thông. Theo đó, Bộ
Giáo dục và Đào tạo cũng thông báo về khung cấu trúc đề thi và hình thức thi của các
môn trong các kì thi quốc gia.
So với chương trình và sách giáo khoa cũ, chương trình và sách giáo khoa Ngữ
văn 12 hiện hành có những thay đổi nhất định trong việc chọn lựa tác phẩm. Đó là đã
giảm tải một số tác phẩm văn học thuộc giai đoạn 1945 -1975 và mở rộng phần những
sáng tác văn học sau 1975. Chương trình không chỉ chọn lựa các sáng tác nghệ thuật
văn chương mà còn tăng cường phần nghị luận xã hội, nghị luận văn học và thêm một
số văn bản nhật dụng. Sự thay đổi trong chương trình Ngữ văn 12 đã đặt ra những yêu
cầu và thách thức mới đối với quá trình giảng dạy của giáo viên và quá trình học tập
của học sinh.
Từ năm 2008, khung cấu trúc và hình thức đề thi tốt nghiệp của môn Ngữ văn
12 cũng đã có những đổi mới, khác so với những năm học trước: Phần một (2 điểm)
bao gồm những kiến thức cơ bản về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn học Việt
Nam và tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài. Phần hai (3 điểm) là phần nghị luận xã
hội với hai dạng đề như: nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng
đời sống. Phần ba (5 điểm) là dạng đề nghị luận văn học, bao gồm những đoạn trích
những tác phẩm văn học và những văn bản nghị luận tiêu biểu trong chương trình Ngữ
văn lớp 12. Có thể nhận thấy, khung cấu trúc đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bao
quát toàn bộ những kiến thức cơ bản và trọng tâm trong chương trình Ngữ văn 12 với
một lượng kiến thức khá đồ sộ.
Từ những thay đổi nêu trên, trong mỗi kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông,
học sinh lớp 12 không còn thi bốn môn học như trước mà các em phải thi sáu môn học
do Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định. Có thể thấy được, ngoài khối lượng kiến thức của
môn Ngữ văn, học sinh lớp 12 còn phải ôn tập kiến thức của năm môn học khác nữa.
Vì thế , nếu giáo viên giảng dạy những môn thi này không có những biện pháp hướng
dẫn ôn tập thích hợp và hiệu quả ngay từ đầu năm học thì các em học sinh sẽ gặp rất
nhiều khó khăn trong việc hệ thống những kiến thức để ôn thi và cũng có thể từ đó,
điểm số của các môn thi sẽ không đạt được những kết quả như mong đợi.
Vì những lí do nêu trên, tôi mạnh dạn đề xuất sáng kiến kinh nghiệm với đề tài:
“Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 12 hệ thống kiến thức môn Ngữ văn để
ôn thi tốt nghiệp”
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
1.1. Vấn đề ôn tập và những công trình nghiên cứu
Ôn tập có tác dụng rất lớn trong việc hoàn thiện kiến thức cho học sinh. Ôn tập
là dịp để củng cố những kiến thức đã học, hệ thống hóa lại kiến thức, nâng cao nhận
thức nâng cao trình độ hiểu biết của học sinh. Kỹ năng ôn tập là một trong những kỹ
năng mang tính chất tích hợp đã được đề cập đến trong hầu hết các công trình nghiên
cứu về kỹ năng học tập. Các nhà nghiên cứu đã cho rằng việc ôn tập là một trong

những kỹ năng học tập cơ bản, nếu thiếu nó người học khó đạt tới thành công trong
học tập.
Khi nghiên cứu vấn đề này, trong tác phẩm “Những thủ thuật dạy học”,
J.Mekeachia [1] cho rằng, cần phải dạy cho học sinh chiến lược học tập, trong đó chiến
lược ôn tập được coi là chiến lược quan trọng, đảm bảo cho sự thành công trong học
tập của học sinh. Chiến lược ôn tập được thực hiện bằng các hình thức lặp đi lặp lại
nhiều lần, tóm tắt tài liệu, vẽ sơ đồ minh họa nội dung học tập... Theo Geoffrey Fetty
[2] trong cuốn “Dạy học ngày nay”, ông cho rằng một trong các PPDH tích cực là dạy
cho học sinh cách nhớ, qua đó rèn luyện cho HS kỹ năng ôn tập. Theo tác giả, giáo
viên nên sử dụng một số hình thức ôn tập như: tóm tắt bài học, đưa ra hệ thống câu hỏi
ôn tập, kiểm tra ôn tập, làm việc theo nhóm, chơi trò chơi…
Vẽ sơ đồ nhận thức là một trong những chiến lược học tập cần dạy cho học sinh
do Robert Fishes [3] đưa ra. Trong dự án Việt – Bỉ “Dạy trẻ học” đào tạo giáo viên sư
phạm cho bảy tỉnh miền núi, theo ông, vẽ sơ đồ nhận thức là một công cụ đắc lực trợ
giúp trí nhớ, hiểu biết và phát triển khái niệm…, bởi vì tất cả những gì cần phải nhớ chỉ
là những ý tưởng chốt, từ chốt hoặc hình ảnh chốt và dựng lại những gì cần nhớ từ
những cái chốt ấy. Vẽ sơ đồ nhận thức không chỉ là cho HS tiếp nhận thông tin mà còn
cần phải suy nghĩ về thông tin ấy, giải thích nó và kết nối nó với cách cấu tạo mới, tạo
nên hiểu biết về chúng. Qua đó mà hình thành kỹ năng ôn tập cho HS. Với quan niệm
như vậy tác giả đã chỉ ra mục tiêu của vẽ sơ đồ nhận thức, các dạng sơ đồ nhận thức có
thể dạy cho HS.
Việc tổ chức hướng dẫn học sinh ôn tập còn được nhiều tác giả trong nước đề cập
đến trong các công trình khác nhau. Khi nghiên cứu “Những giải pháp cơ bản bồi
dưỡng phương pháp tự học cho học viên đào tạo sĩ quan ở các trường Đại học quân
sự” tác giả Mai Văn Hóa [4] cho rằng, ôn tập có vai trò hết sức quan trọng đối với việc
củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đồng thời qua đó mà điều chỉnh,
sữa chữa những thiếu sót trong học tập cho người học. Với quan niệm bồi dưỡng kỹ
năng học tập cho sinh viên là một trong những biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn
Giáo học cho học sinh, sinh viên các trường sư phạm, tác giả Nguyễn Thị Tính [4] đã
đề cập đến hệ thống các kỹ năng học tập cần hình thành cho sinh viên, trong các kỹ
năng đó, tác giả cho rằng, kỹ năng ôn tập (kỹ năng mô hình hóa kiến thức) là một trong
những kỹ năng học tập quan trọng cần rèn luyện cho HS và đưa ra cơ sở khoa học, khái
niệm, biện pháp để rèn luyện kỹ năng đó cho sinh viên có hiệu quả. Hoàng Thị Lợi [5]
cho rằng: kỹ năng ôn tập là một trong những kỹ năng học tập quan trọng hàng đầu, bởi
vì kỹ năng này giúp cho HS khắc phục được những hạn chế như: vốn kiến thức, vốn
tiếng Việt, khả năng nhận thức, động cơ học tập…khi các em bước vào học ở trường.
Từ đó, tác giả Hoàng Thị Lợi đã đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng ôn tập cho
HS trường Phổ thông Dân tộc Nội trú như: kỹ năng trả lời câu hỏi, kỹ năng xây dựng
dàn ý tóm tắt bài học, kỹ năng xây dựng sơ đồ….
Bàn về vấn đề ôn tập, vấn đề này còn được đề cập đến trong các tài liệu lí luận
dạy học của các tác giả như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [6], Nguyễn Ngọc Bảo [7],
Nguyễn Văn Hộ, Hà Thị Đức [8]…Trong các tài liệu đó, các tác giả đã chỉ ra vai trò, ý
nghĩa của ôn tập, các loại hình ôn tập, yêu cầu để việc tổ chức ôn tập có hiệu quả.
1.2. Vấn đề ôn tập Ngữ văn 12

Hiện nay, trên thị trường sách tham khảo, liên quan đến vấn đề ôn tập Ngữ văn
cho học sinh 12 có rất nhiều đầu sách do nhiều tác giả biên soạn. Có thể điểm qua một
số tựa sách của một số tác giả tiêu biểu như: Bộ đề ôn luyện thi ngữ văn 12 do Lã Minh
Luận chủ biên [9], Trọng tâm kiến thức Ngữ văn 12 do Lê Huy Bắc chủ biên [10],
Hướng dẫn ôn tập thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn do Vũ Nho chủ
biên [11],… Đa phần trong các sách tham khảo này, các tác giả cũng đã tập trung hệ
thống lại những kiến thức cơ bản và trọng tâm theo mỗi đơn vị bài học hoặc theo cấu
trúc đề thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhưng nhìn một cách tổng quát, hệ thống kiến
thức của những tài liệu này đôi chỗ vẫn còn bề bộn, chưa đưa ra những biện pháp thiết
thực để giúp học sinh ôn tập một cách hiệu quả. Qua lượng kiến thức được trình bày
trong sách, học sinh dễ có tâm lí ngao ngán, bội thực vì không biết làm sao để tiêu hóa
tất cả những kiến thức đó.
Như vậy, vấn đề ôn tập và ôn tập Ngữ văn 12 đã được rất nhiều tác giả đề cập đến
với nhiều ý kiến, quan điểm, lập trường khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ
dừng lại ở mức đưa ra khái niệm, chỉ ra các loại ôn tập và một số yêu cầu cũng như
lượng kiến thức để ôn tập, còn cách thức, biện pháp cụ thể hướng dẫn học sinh lớp 12
hệ thống kiến thức môn ngữ văn để ôn thi tốt nghiệp một cách hiệu quả nhất vẫn còn là
một cánh cửa mở, chờ đợi những hướng đi mới có tính khả thi hơn.
Điểm qua lịch sử vấn đề chúng ta thấy rằng: Những công trình, những ý kiến đi
vào nghiên cứu, tìm hiểu về phương pháp dạy học ôn tập ngày càng nhiều nhưng việc
đưa những biện pháp thiết thực hướng dẫn học sinh biết tự hệ thống những kiến thức
Ngữ văn đã học để ôn thi tốt nghiệp một cách hiệu quả thì số lượng tác giả nghiên cứu
chưa nhiều. Tuy nhiên, những tài liệu mà chúng tôi vừa nêu trên là những kiến thức quí
báu để giáo viên dạy văn tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn nói
chung và vấn đề giúp học sinh ôn tập nói riêng. Đặc biệt đó là những tư liệu cần thiết
giúp chúng tôi tìm hiểu để làm cơ sở cho hướng nghiên cứu của đề tài “Một số biện
pháp hướng dẫn học sinh lớp 12 hệ thống kiến thức môn Ngữ văn để ôn thi tốt
nghiệp".
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1. Cung cấp cho học sinh về khung cấu trúc và đề thi tốt nghiệp môn Ngữ
văn của năm học trước.
Có thể thấy rằng, từ năm 2008, khung cấu trúc và hình thức đề thi môn Ngữ văn
trong mỗi năm học là không có nhiều thay đổi. Số lượng bài học, những yêu cầu về
lượng kiến thức cần ôn tập là tương đối ổn định. Điều này rất thuận lợi cho học sinh.
Vì ngay từ đầu năm học, các em có thể xác định được dạng đề cũng như lượng kiến
thức, những bài học trọng tâm cần phải ôn tập.
2.1.1. Khung cấu trúc đề thi tốt nghiệp năm 2011
I. Phần chung dành cho tất cả các thí sinh (5,0 điểm)
Câu I. (2,0 điểm): Tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn
học Việt Nam và tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài.
* Văn học Việt Nam

- Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỷ XX
- Tuyên ngôn Độc lập và tác giả Hồ Chí Minh
- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc – Phạm Văn Đồng
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Việt Bắc (trích) và tác giả Tố Hữu
- Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng – Xuân Quỳnh
- Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo
- Người lái đò Sông Đà (trích) – Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Vợ nhặt (trích) – Kim Lân
- Vợ chồng A Phủ (trích) – Tô Hoài
- Rừng xà nu (trích) – Nguyễn Trung Thành
- Những đứa con trong gia đình (trích) – Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa (trích) – Nguyễn Minh Châu
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ
* Văn học nước ngoài
- Thuốc – Lỗ Tấn
- Số phận con người (trích) – Sô-lô-khốp
- Ông già và biển cả (trích) – Hê-minh-uê.
Câu II. (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã
hội ngắn (khoảng 400 từ).
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý.
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
II. Phần riêng (5,0 điểm)
Vận dụng khả năng đọc – hiểu và kiến thức văn học để viết bài nghị luận văn
học. Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
- Tuyên ngôn Độc lập và tác giả Hồ Chí Minh
- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc – Phạm Văn Đồng
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Việt Bắc (trích) và tác giả Tố Hữu
- Đất nước (trích Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng – Xuân Quỳnh
- Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo
- Người lái đò Sông Đà (trích) – Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) – Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Vợ chồng A Phủ (trích) – Tô Hoài
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Rừng xà nu (trích) – Nguyễn Trung Thành
- Những đứa con trong gia đình (trích) – Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa (trích) – Nguyễn Minh Châu
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ.
Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm).
- Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh
- Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

