Km pkhí Oxygen
Mọi người đếu biết rằng lúc khởi thủy, không có oxygen trên trái đất. Khí quyển
chỉ gồm các hợp chất nitrogen, hơi nước và khí carbonic được phóng thích ra từ
các núi lửa, nhưng không có oxygen nguyên tố.
Cách đây hai tỉ năm, sngưng tụ hơi nước và sự hình thành đại dương đã cho
phép các vi sinh vật có thể tổng hợp diệp lục tố (rong, vi khuẩn), dùng khí carbonic
và thi ra khí oxygen.
Oxygen nhờ đó mà xuất hin từ từ trong khí quyn, lúc đầu chỉ có 0,2%. Sau đó
oxygen tạo thành tng ozon, slàm màn chắn bớt các tia tngoại (ultraviolet) tới
mặt đất. Nhờ đó mà có được sự sống tập thể trên mặt đất. Sự phát triển mnh mẽ
của thực vật tạo lớp khí quyển càng ngày càng có nhiu oxygen
Nhờ sự sản xuất oxygen mà trái đất ta đã qua một bước ngoặc mới trong lịch sử
của nó. Trong một tì năm, cây dưới nước tiếp tục thải ra khí oxygen, và dn dần
tụ lên bu khí quyển
Khám phá khí oxygen:
Nhà hóa học Thụy Đin Carl Wilhelm Scheele (1742-1786) nghiên cu các chất
khí vào những năm 1768-1770, đã quan sát mt chất k không mùi, khi đốt thì
cho ra ngọn lửa ng. Ông cho nó đặc đim là "không khí của lửa".
Tháng 4 năm 1774 Pierre Bayen
thí nghim khi đốt oxyd thủy
ngân (đá vôi thủy ngân, (chaux
mercurielle ou mercure précipité per se), sẽ tỏa ra một chất k và khối lượng bị
mất. Ông hứng khí đó và ghi nhận rằng nó hơi đặc hơn kng k. Bayen cho rằng
công bố quan sát này không ích li gì , ông mun thực hiện những thí nghim t
m hơn, cẩn thận hơn mà không xem xét cht k thoát ra đó. Có phải ông cho
rằng chất khí đó bình thường như mọi chất khác?
Ngày 1 tháng 8 1774, Joseph Priestley làm thí nghim y ht như Pierre Bayen tại
khà ông gần Calne, Anh quốc. Ông thu được cùng chất khí trên và đặt tên là khí để
đốt (air déphlogistiqué). Ông còn nhn thấy rằng chất khí này khi hít vô sẽ cảm
thấy khoẻ và cây cối có thể làm i sinh mt phần chất khí mà chuột và ngn lửa
thải ra. Từ các thí nghim trên, ông kết luận trên là không khí quanh ta gm hai
hợp cht, một chất làm hot động sự đốt và một cặn bã.
Nói về chất k này, ông viết: "cái làm cho tôi ngc nhiên nhất là đèn cầy cháy
bằng cht k này có độ sáng rất mãnh liệt..." Ông cũng diễn tả một cách t mỉ
các thí nghiệm ca ông và cho in ra các kết quả. Nhân dịp bữa ăn tối, khi Priestley
được mi qua Pháp tháng 10 năm 1774 thì Lavoisier mi biết được sự khám phá
ra chất khí đặc biệt mà ông gọi là "khí để hô hấp tốt hết sức" (air éminemment
respirable)
Lavoisier biết các công trình của Bayen nhưng cũng như Bayen, không để ý độ
quan trng ca chất khí này. Sự gặp gỡ với Priestleymột phát hiện mi đối vi
Lavoisier: ông bị thu hút bởi các "khí" mi này và quyết định nghiên cứuc
chất k và những hiện tượng ca sự đốt cháy. Bảy tháng sau, ông lập lại thí
nghim của các nhà hóa học trên và thy rằng "chất nhiên khí" đó là một nguyên
tmi, quan trọng hơn, là nguyên tố dùng để đốt. Ngoài ra ông thy ngay sự gia
tăng khối lượng của các kim loại khi bị nung khô (calcination).
m 1775, ông thực hiện t nghim đáng ghi nhớ trong 12 ngày và 12 đêm trên
oxyd thủy ngân đỏ. Khí tỏa ra được nghiên cứu có đặc tình quan trọng: làm hoạt
động sự cháy, giúp sự hô hấp động vật. Lavoisier kêu tên là "khí cho sự sống" (air