
195
Tạp chí Y Dược Huế - Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế - Số 5, tập 14/2024
HUE JOURNAL OF MEDICINE AND PHARMACY ISSN 3030-4318; eISSN: 3030-4326
Khảo sát đặc điểm lâm sàng và hình ảnh tổn thương phổi ở bệnh nhân
viêm khớp dạng thấp có bệnh phổi mô kẽ
Dương Minh Trí1, Hoàng Bùi Bảo1*, Trịnh Hoàng Kim Tú1
(1) Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bệnh phổi mô kẽ (BPMK) là biểu hiện thường gặp nhất trong các tổn thương phổi ở bệnh
nhân viêm khớp dạng thấp (VKDT). Tại Việt Nam, hiện nay việc điều trị bệnh VKDT vẫn đang là một thách thức
trong thực hành lâm sàng. Bên cạnh đó, việc phát hiện, điều trị và quản lý bệnh lý phổi mô kẽ ở bệnh nhân
VKDT vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà lâm sàng. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này. Phương
pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả tất cả các BN VKDT có bệnh phổi mô kẽ được chẩn đoán, điều trị và theo dõi
ở Khoa Nội Cơ Xương Khớp tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định trong khoảng thời gian từ 02/2023 đến 02/2024.
Chúng tôi thu nhận được 233 BN VKDT trong đó có 91 BN được chẩn đoán BPMK bằng CVLT ngực độ phân
giải cao theo tiêu chuẩn ATS/ERS/JRS/ALAT 2018. Kết quả: Nữ giới chiếm chủ yếu là 90,1%, tỉ lệ nam: nữ là
1:9. Tuổi trung bình của nhóm BN là 59,6 tuổi, nhóm BN trên 50 tuổi chiếm 85,8%. 1/3 BN có thời gian bệnh
VKDT từ 5 năm trở lên. Về đặc điểm lâm sàng hô hấp, chúng tôi nhận thấy đa phần BN có triệu chứng khó
thở chiếm tỉ lệ 68,1%. Hầu hềt BN khó thở mức độ nhẹ với thang điểm mMRC độ 1 chiếm 52,7%. Thang điểm
SDAI cho thấy đa phần BN có mức độ hoạt động mạnh. Trên hình ảnh CLVT ngực độ phân giải cao, hình ảnh
tổn thương nhu mô dạng viêm phổi mô kẽ thường gặp (UIP) chiếm tỉ lệ nhiều nhất là 70,4%, dạng viêm phổi
mô kẽ không điển hình chiếm 26,3%. Đa phần diện tích tổn thương nhu mô phổi chiếm 5% (tỉ lệ là 65,9%). Tổn
thương xơ phổi phát hiện hơn ½ số BN. Kết luận: Bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cần được tầm soát bệnh
phổi mô kẽ khi có các yếu tố: từ 50 tuổi trở lên, có các triệu chứng hô hấp như khó thở, ho khan. BPMK xuất
hiện ở các thời điểm của bệnh VKDT Đa phần BN bị tổn thương phổi dạng viêm phôi mô kẽ thường gặp trên
hình ảnh CLVT ngực độ phân giải cao và cần chú ý tình trạng xơ phổi kết hợp với BPMK.
Từ khoá: bệnh phổi mô kẽ, viêm khớp dạng thấp, CVLT độ phân giải cao, viêm phổi kẽ.
Survey of clinical characteristics and images of lung lesions in
rheumatoid arthritis patients with interstitial lung disease
Duong Minh Tri1, Hoang Bui Bao1*, Trinh Hoang Kim Tu1
(1) Hue University of Medicine and Pharmacy, Hue University
Abstract
Background: Interstitial lung disease (ILD) is the most common manifestation of lung lesions in patients with
rheumatoid arthritis (RA). In Vietnam, currently the treatment of RA is still a challenge in clinical practice. Besides,
the detection, treatment and management of interstitial lung disease in RA patients is still controversial among
clinicians. So we conducted this study. Methods: Prospective study describing all RA patients with interstitial
lung disease diagnosed, treated and monitored at the Department of Internal Medicine and Rheumatology
at Gia Dinh Hospital during the period from February 2023 to February 2024. We enrolled 233 patients with
rheumatoid arthritis, including 91 patients diagnosed with ILD by high-resolution chest CT according to ATS/ERS/
JRS/ALAT 2018 standards. Results: Females accounted for 90.1%, the male:female ratio was 1:9. The average age
of the patient group is 59.6 years old, the group of patients over 50 years old accounts 85.8%. 1/3 of patients have
rheumatoid arthritis for 5 years or more. Regarding clinical respiratory characteristics, we found that the majority
of patients had symptoms of difficulty breathing, accounting for 68.1%. Most patients have mild dyspnea with
mMRC score level 1, accounting for 52.7%. The SDAI scale shows that most patients have a high level of activity.
On high-resolution chest CT, images of parenchymal lesions in the form of common interstitial pneumonia (UIP)
account for the highest proportion of 70.4%, and atypical interstitial pneumonia accounts for 26.3%. Most of the
area of lung parenchymal damage accounts for 5% (ratio is 65.9%). Pulmonary fibrosis is detected in more than
half of patients. Conclusion: Patients with rheumatoid arthritis need to be screened for interstitial lung disease
when they have the following factors: being 50 years old or older, having respiratory symptoms such as difficulty
Tác giả liên hệ: Hoàng Bùi Bảo. Email: hbbao@huemed-univ.edu.vn
Ngày nhận bài: 23/5/2024; Ngày đồng ý đăng: 10/9/2024; Ngày xuất bản: 25/9/2024
DOI: 10.34071/jmp.2024.5.26