TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
153
KHẢO SÁT NHU CU NGƯỜI HỌC ĐỐI VỚI
CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TIẾNG ANH CHUYÊN
NGÀNH CHO SINH VIÊN NGÀNH ĐIỆN TỬ
TRƯỜNG CAO ĐNG CÔNG NGHIỆP HUẾ
EXPLORING THE LEARNING NEEDS OF ELECTRONICS STUDENTS
AT HUE INDUSTRIAL COLLEGE: TOWARDS A SUGGESTED
SYLLABUS
LƢU QUÝ KHƢƠNG
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
TRƢƠNG THỊ PHƢƠNG CHI
Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế
TÓM TT
Trong những năm gần đây, sự bùng nổ đầu của các công ty nước ngoài vào Việt
Nam ngày càng tạo nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên tốt nghiệp, đặc biệt là sinh viên
các ngành k thuật. thế, nhu cầu giao tiếp tiếng Anh tại nơi làm việc ng lên một
cách đáng kể. Một chương trình môn học tiếng Anh chuyên ngành phù hợp nhằm giúp
cho sinh viên giao tiếp hiệu quả phục vụ cho công việc tương lai của họ vấn đề cấp
bách mà mỗi giáo viên dạy tiếng Anh chuyên ngành đều quan tâm. Bài này khảo sát
nhu cầu học tiếng Anh của sinh viên ngành điện tử trường Cao Đẳng Công Nghiệp Huế
(CĐCNH). Trên sở đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị đối với chương trình môn
tiếng Anh cho sinh viên ngành điện tử dựa trên nhu cầu của người học.
ABSTRACT
In recent years, the boom of foreign investment in Vietnam has created more and more
opportunities for graduates, especially technical graduates, to work in foreign
companies. Therefore, the demand for English communication at work sites has been
increasing considerably. A well-designed ESP syllabus that helps students
communicate effectively in English in their future job is a matter of concern to every
ESP teacher. This article aims at exploring learning needs of the electronics students at
Hue College of Industry. From the findings, some suggestions for an ESP syllabus for
students of electronics at Hue Industrial College are provided.
1. Mở đầu
Giống nhƣ sinh viên của tất cả các ngành học khác Việt Nam hiện nay, sinh
viên kỹ thuật, ngoài kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, cũng cần đƣợc trang bị một
vốn kiến thức bản v ngoại ngữ chuyên ngành, đặc biệt tiếng Anh chuyên ngành.
Đây là hai nhân tố quan trọng để họ thích nghi, tồn tại đƣợc trong bối cảnh Việt Nam đã
gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) nhiều công ty nƣớc ngoài đã đầu
vào Việt Nam dẫn đến nhiều hội việc làm hơn cho sinh viên tốt nghiệp. Theo nhiều
chuyên gia kinh tế, một thách thức rất lớn đối với chúng ta ở buổi đầu hội nhập sâu vào
nền kinh tế thế giới yếu ngoại ngữ [2: 10]. Nhƣ vậy, công tác đào tạo ngoại ngữ
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
154
chất lƣợng, đặc biệt là tiếng Anh trong các trƣờng đại học, cao đẳng nơi sẽ cung cấp đội
ngũ cán bộ phục vụ sự nghiệp hội nhập quốc tế của đất nƣớc trở nên vô cùng cấp thiết.
Tuy nhiên, bất cứ chƣơng trình đào tạo nào muốn thành công cũng phải gắn với nhu cầu
ngƣời học. Tiếng Anh không phải một ngoại lệ. Bài y khảo sát nhu cầu của sinh
viên đối với việc học tiếng Anh chuyên ngành và bƣớc đầu đề xuất những khuyến nghị
về một chƣơng trình môn tiếng Anh phù hợp với sinh viên ngành điện tử trƣờng
CĐCNH góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của họ trên thị trƣờng lao động sau khi
ra trƣờng.
2. Mối quan hệ giữa chương trình môn học và nhu cầu người học
Chƣơng trình môn học (syllabus), theo Rirchards [4], Nunan [3], Harmer [1]
là sự miêu tả về toàn bộ nội dung sẽ đƣợc giảng dạy trong môn học đó. Đối với chƣơng
trình môn tiếng Anh thì phải bao gồm các thuật ngữ ngpháp, các cấu trúc ngôn ngữ,
các tình huống giao tiếp, chức năng ngôn ngữ, các chủ điểm, từ vựng, và những bài tập.
Chƣơng trình môn học phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của những học viên sẽ
học chƣơng trình này thể hiện qua các yếu tố nhƣ nghề nghiệp, trình độ ngƣời học, độ
tuổi ....Căn cứ vào nhu cầu ngƣời học, ngƣời biên soạn chƣơng trình thể hạn chế
hoặc gia tăng hàm lƣợng kiến thức hoặc việc rèn luyện kỹ năng trong chƣơng trình.
3. Nghiệm thể nghiên cứu
Để thu thập dữ liệu về nhu cầu ngƣời học đối với chƣơng trình tiếng Anh chuyên
ngành dành cho họ, chúng tôi đã sử dụng phiếu trƣng cầu ý kiến (questionnaires)
phỏng vấn trực tiếp đối với 89 nghiệm thể bao gồm 50 sinh viên ngành điện tử đang học
tại trƣờng CĐCNH, 30 cựu sinh viên điện tử của trƣờng hiện đang làm việc cho các
công ty điện tử nƣớc ngoài đóng tại Việt Nam, 04 giáo viên tiếng Anh đang dạy học
phần phần tiếng Anh đại cƣơng (general English) và 05 giảng viên dạy ngành điện tử tại
trƣờng.
4. Kết quả khảo sát về nhu cầu của sinh viên trường CĐCN Huế đối với chương
trình tiếng Anh chuyên ngành
4.1. Mục đích học tiếng Anh chuyên ngành
Ngày này, nhiều công ty nƣớc ngoài đang đầu tƣ tại Việt Nam nhƣ công ty điện
tử Samsung, Sony, Electronic... do vậy , đòi hỏi sinh viên điện tphải khả năng về
tiếng Anh chuyên ngành để họ có thể dễ dàng bắt tay vào công việc ngay khi ra trƣờng.
Chính do y, đến 76,6% sinh viên khi đƣợc hỏi về mục đích học tiếng Anh
chuyên ngành, họ đều có câu trả lời là để giao tiếp tại nơi làm việc. Ngoài ra còn những
lý do khác nhƣ đcông việc tốt (61,7%), để đọc tài liệu, sách hướng dẫn bằng tiếng
Anh (38,3%). Chỉ có 8 trong số 47 sinh viên chiếm tỷ lệ 17%, cho rằng họ học đthi
4,2% sinh viên chọn mục đích để hiểu bài của giáo viên trên lớp. (bảng 4.1)
Kết quả trên còn đƣợc khẳng định qua kết quả thu thập từ các cuộc phỏng vấn
với 04 giáo viên giảng dạy tiếng Anh đại cƣơng tại trƣờng CĐCNH. Họ cho rằng sinh
viên không chỉ học tiếng Anh để thi hết học phần hầu hết còn chú trọng đến c kỹ
năng giao tiếp để phục vụ cho công việc của họ sau này.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
155
Bảng 4.1: Mục đích học tiếng Anh chuyên ngành
Mục đích học tiếng Anh
Số lượng SV được hỏi (N=50)
(%)
Để giao tiếp tại nơi làm việc
Để có công việc tốt
Để đọc các tài liệu, ch hƣớng
dẫn bằng tiếng Anh.
Để đi phỏng vấn tìm việc làm
Để thi hết học phần
Để hiểu bài của giáo viên trên lớp
36
29
18
15
8
2
76,6
61,7
38,3
31,9
17
4,2
4.2. Lựa chọn các kỹ năng giao tiếp và khu vực kiến thức tiếng Anh
Đối với những câu hỏi về k năng giao tiếp khu vực kiến thức tiếng Anh cần
thiết cho nghề nghiệp tƣơng lai, phản hồi từ các nghiệm thsinh viên từ vựng kỹ
thuật (Rất quan trọng: 76%, quan trọng: 24%), knăng đọc hiểu (rất quan trọng: 64%,
quan trọng: 30%) i (rất quan trọng: 42%, quan trọng: 46%, không quan trọng:
12%). Ngữ pháp không đƣợc chọn nhiều, chỉ 13 trong số 50 sinh viên (26%) nghĩ rằng
nó rất quan trọng, và có đến 31% cho là không quan trọng. Một số ít đề cập đến kỹ năng
viết. Chỉ 20% trả lời k năng viết rất quan trọng, trong khi đó đến 68% sinh
viên cho là không quan trọng. Điều này có lẽ đúng, cũng theo kết quả điều tra từ các
cựu sinh viên đang làm việc tại các công ty điện tử, họ ít khi sử dụng k năng viết trong
công việc của mình.
Bảng 4.2: Lựa chọn các kỹ năng giao tiếp và khu vực kiến thức tiếng Anh
Kỹ năng và
khu vực kiến thức
Rất quan trọng
Quan trọng
Không
quan trọng
Từ vựng kỹ thuật
Đọc hiểu
Nói
Nghe
Ngữ pháp
Viết
38 sv (76%)
32 sv (64%)
21 sv (42%)
19 sv (38%)
16sv (32%)
6 sv (12%)
12 sv (24%)
15 sv (30%)
23 sv (46%)
21 sv (42%)
19 sv (38%)
10 sv (20%)
0 sv (0%)
3 sv (6%)
6 sv (12%)
10 sv (20%)
15 sv (30%)
34 sv (68%)
4.3. Những chủ đề chuyên môn được chọn cho chương trình tiếng Anh chuyên
ngành
Một yếu tố quan trọng trong chƣơng trình học giúp tạo động cho sinh viên
tham gia vào hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh trong lớp học là những chủ đề chuyên
môn đƣợc học bằng tiếng Anh. Chủ đề chuyên môn sinh viên điện tử trƣờng
CĐCNH mong muốn học trong chƣơng trình học tiếng Anh chuyên ngành đƣợc xác
định thông qua kết quả phân tích nhu cầu từ sinh viên cựu sinh viên điện tử thể hiện
ở Bảng 4.3 dƣới đây.
Mƣời hai chủ đề trong bảng 4.3 dƣới đây đƣợc 05 giáo viên dạy chuyên môn liệt
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
156
thông qua các cuộc phỏng vấn. Theo họ đây những chủ đề trọng tâm nên có trong
chƣơng trình hơn thế nữa, sinh viên cũng cần tham khảo nhiều tài liệu bằng tiếng
Anh liên quan đến những chủ đ này nhằm giúp họ hiểu sâu hơn và kiến thức rộng
hơn về chuyên môn của mình.
Nhìn chung, nhiều sinh viên tỏ ra quan tâm đến những chủ đề nhƣ đầu vào-ra kỹ
thuật số, kỹ thuật truyền hình, truyền nhận thiết bị nghe nhìn, hệ thống cảnh báo...
Họ cho rằng có nhiều tài liệu bằng tiếng Anh liên quan đến những chủ đề này. Phần lớn
cựu sinh viên tham gia khảo sát cũng chọn các chủ đề trên bởi theo họ, trong thực
tiễn công tác họ thƣờng phải tiếp xúc với mảng công việc này trong môi trƣờng tiếng
Anh. Ngoài ra, những chủ đề khác cũng đƣợc đề cập, tuy không nhiều, dụ nhƣ máy
hiện sóng hoặc an toàn lao động...
Bảng 4.3. Những chủ đề chuyên môn được chọn cho
chương trình tiếng Anh chuyên ngành
Chủ đề
%
Số cựu sinh viên
được hỏi (N=30)
%
Đầu vào-ra kỹ thuật số
Kỹ thuật truyền hình
Truyền và nhận thiết bị nghe nhìn
Hệ thống cảnh báo
Diode bán dẫn
Truyền dẫn
Khuyếch đại
Truyền thông dạng số tự
Thiết bị kiểm tra và đo lƣờng
Sóng và dạng sóng
Máy hiện sóng
An toàn lao động
76
66
62
52
44
44
38
30
20
14
10
8
12
9
17
20
11
13
8
7
8
5
3
1
40
30
56.7
66.7
36.7
43.3
26.7
23.3
26.7
16.7
10
3.3
4.4. Sinh viên lựa chọn các hoạt động trong lớp học
Cách thức tổ chức các hoạt động trong giờ học cũng một yếu tố rất quan
trọng. Giờ học sđạt hiệu quả cao, sinh viên sẽ tiếp thu bài tốt nếu áp dụng các hoạt
động đúng phƣơng pháp. Ngày nay, đƣờng hƣớng giao tiếp trong giảng dạy ngoại ng
với phƣơng châm lấy người học làm trung tâm chú trọng nhiều đến việc tổ chức c
hoạt động học trong lớp theo nhóm, cặp nhằm “phát huy tinh thần trách nhiệm, tính chủ
động, nâng cao động học tập sự hợp tác của ngưi học.” [5:232] Do đó, cũng
không phải điều ngạc nhiên khi phần lớn sinh viên tham gia khảo sát đã chọn hình
thức làm bài tập theo nhóm (60%), tiếp theo là làm bài tập theo cặp (14 trong số 50 sinh
viên). Một tỉ lệ nhỏ (10%) tỏ ra ƣa thích hình thức làm bài tập trong toàn lớp (lockstep).
Chỉ 1 sinh viên trong số 50 (2%) thích làm bài tập nhân (individual work). Kết quả
khảo sát đƣợc tóm tắt ở bảng 4.4 dƣới đây.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(27).2008
157
Bảng 4.4: Các dạng hoạt động trong lớp do sinh viên chọn
Hoạt động học
Số sinh viên được hỏi (N=50)
%
Làm bài tập theo nhóm
30
60
Làm bài tập theo cặp
14
28
Làm bài tập với cả lớp
5
10
Làm bài tập theo cá nhân
1
2
4.5. Hình thức kiểm tra
Kết quả học tập thƣờng đƣợc dùng làm sở để đánh giá mức độ tiếp thu kiến
thức của ngƣời học sau khi kết thúc một khóa học. Đồng thời, thông qua đó có thể phần
nào khẳng định mục tiêu của chƣơng trình học có phù hợp với trình độ của học viên hay
không. Tuy nhiên, kết quả học tập có phản ánh đúng năng lực của ngƣời học hay không
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trong đó hình thức kiểm tra đóng góp một phần
không nhỏ. Kết quả chọn lựa hình thức kiểm tra (bảng 4.5), cho thấy đa số sinh viên
thích hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan (64%), tiếp theo tự luận (26%). Chỉ
10% sinh viên chọn hình thức vấn đáp (5 trong số 50 sinh viên đƣợc hỏi). Nhƣ vậy,
hình thức trắc nghiệm khách quan cũng thể một ƣu tiên phải tính đến trong khi
thiết kế chƣơng trình học cho đối tƣợng này. Đề cập đến hình thức kiểm tra, 04 giáo
viên dạy tiếng Anh đại cƣơng tham gia phỏng vấn cũng trả lời họ thƣờng tiến hành
kiểm tra giữa k hoặc kết thúc học phần bằng trắc nghiệm khách quan và sinh viên cũng
tỏ ra hứng thú với hình thức kiểm tra này.
Bảng 4.5: Sự lựa chọn hình thức kiểm tra
Hình thức kiểm tra
Số sinh viên được hỏi (N= 50)
%
Kiểm tra trắc nghiệm
32
64
Kiểm tra tự luận
13
26
Kiểm tra vấn đáp
5
10
Các hình thức khác
0
0
5. Một số khuyến ngh trong việc biên soạn chương trình tiếng Anh chuyên ngành
cho sinh viên ngành điện tử trường CĐCNH
Trƣớc hết, khi xây dựng chƣơng trình tiếng Anh chuyên ngành theo nhu cầu của
ngƣời học, cụ thể là sinh viên ngành điện tử, bao gồm mục đích học, các kỹ năng và khu
vực kiến thức, chủ đề, hoạt động học, hình thức kiểm tra, đánh giá... cần đƣợc xem xét
kỹ trong từng giai đoạn thiết kế chƣơng trình. Kết quả từ vic phân ch nhu cầu sinh
viên điện tử đƣợc trình bày phần trên nên đƣợc dùng để xác định các thành tố nội
dung chính của chƣơng trình tiếng Anh chuyên ngành sắp giảng dạy nhƣ mục tiêu, kỹ
năng, phƣơng pháp, chủ đề, hình thức kiểm tra, đánh giá...
Tiếp đến, nhu cầu của ngƣời học, nhƣ đã đề cập trên đóng vai trò chủ đạo
trong quá trình biên soạn chƣơng trình cũng nhƣ giáo trình. Do đó, cần lựa chọn phƣơng
pháp để thu thập phân tích dữ liệu thích hợp. Thông tin thu thập không chỉ tập trung