ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
TRẦN THỊ PHƯƠNG ANH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN SINH KẾ NÔNG HỘ TẠI PHƯỜNG
TÚC DUYÊN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế và phát triển nông thôn
Khóa học : 2015 - 2019
THÁI NGUYÊN, 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
TRẦN THỊ PHƯƠNG ANH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN SINH KẾ NÔNG HỘ TẠI PHƯỜNG
TÚC DUYÊN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế và phát triển nông thôn
Khóa học : 2015 - 2019
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Trần Việt Dũng
THÁI NGUYÊN, 2019
i
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển
sinh kế nông hộ tại phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên” là công trình
nghiên cứu thực sự của cá nhân em. Đề tài hoàn toàn trung thực và chưa được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Đề tài được sử dụng những thông tin
từ nhiều nguồn khác nhau. Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc, các tài
liệu tham khảo đã được chỉ rõ đầy đủ mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện
đề tài này đã được cảm ơn.
Thái Nguyên, tháng 06, năm 2019
Sinh viên
Trần Thị Phương Anh
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện, mỗi sinh viên đang ngồi trên ghế
nhà trường ngoài những kiến thức lý thuyết đã được học thì thực hành thực tập
là khâu vô cùng quan trọng. Việc trang bị kiến thức thực tế cho sinh viên là rất
cần thiết, qua đó giúp sinh viên có điều kiện kiểm tra, kiểm nghiệm, áp dụng
những kiến thức đó một cách có khoa học, linh hoạt vào thực tế sản xuất, giúp
sinh viên có được thời gian nhất định để học hỏi, bổ sung hoàn chỉnh những kiến
thức đã tiếp thu ở trường, giúp củng cố lại kiến thức đã học, sau này có thể áp
dụng vào thực tiễn. Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành - lý luận gắn
với thực tiễn”, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển
nông thôn, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo Th.s Trần Việt Dũng, em
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển sinh kế nông hộ
tại phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên”.
Để hoàn thành đề tài này, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều
cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Đào Thị Việt Ngọc, người
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình đi thực tế.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Kinh tế & PTNT đã dạy
dỗ em trong những năm tháng học tập tại trường.
Em trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ UBND phường
Túc Duyên và các hộ điều tra trên địa bàn phường đã nhiệt tình giúp đỡ em
trong quá trình thu thập số liệu và kiểm nghiệm những kết quả nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ em trong
quá trình nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn
iii
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài .............................................................................. 2
1.2.1. Mục tiêu chung ................................................................................................... 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể.................................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................. 2
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học .................................................. 2
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ....................................................................................... 3
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................. Error! Bookmark not defined.
2.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan ............. Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Sinh kế, tiếp cận sinh kế và khung sinh kế ....... Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ. ............. Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Thu nhập ........................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2. Phân tích khung sinh kế ....................................................................................... 19
2.2. Cơ sở thực tiễn ..................................................... Error! Bookmark not defined.
2.3. Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của các hộ nông dân – Nguyên nhân của nó ................................................................................. 23
2.4. Định hướng, mục tiêu cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân ............................. 24
2.5. Các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân ................... 25
2.6. Quá trình phát triển và một số nghiên cứu về sinh kế ....... Error! Bookmark not defined.
2.6.1. Quá trình phát triển sinh kế hộ nông dân ở một số địa phương nước ta ... Error! Bookmark not defined.
2.6.2. Một số nghiên cứu về sinh kế ........................... Error! Bookmark not defined.
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......... 25
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 26
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 26
iv
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 26
3.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ..................................................................... 26
3.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................ 26
3.3. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 27
3.3.1. Thu thập thông tin số liệu thứ cấp .................................................................... 27
3.3.2. Thu thập thông tin số liệu sơ cấp ...................................................................... 27
3.3.3. Phương pháp quan sát trực tiếp ......................... Error! Bookmark not defined.
3.3.4. Phương pháp phân tích sử lý số liệu ................................................................. 29
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................................... 30
4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên ............................................................................................... 30
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................................. 30
4.1.2. Cơ sở hạ tầng .................................................................................................... 31
4.1.3. Các nguồn tài nguyên ....................................................................................... 32
4.1.4. Tình hình dân số, lao động ................................................................................ 35
4.1.5. Tình hình văn hóa – xã hội ............................................................................... 37
4.1.6. Tình hình kinh tế của phường ........................................................................... 37
4.1.7. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế của phường Túc Duyên - TP. Thái Nguyên ............................................................ 40
4.2. Các hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân tại phường Túc Duyên ................ 41
4.2.1. Thông tin về hộ và phân loại hộ điều tra .......................................................... 41
4.2.2. Diện tích đất nông nghiệp của các hộ điều tra .................................................. 43
4.2.3. Các hoạt động sinh kế và thu nhập về nông nghiệp ........................................ 44
4.2.4. Các hoạt động sinh kế và thu nhập về trồng trọt .............................................. 45
4.2.5: Các hoạt động sinh kế và thu nhập về chăn nuôi .............................................. 48
4.3. Các hoạt động sinh kế và thu nhập về phi nông nghiệp ...................................... 50
4.4. Giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư trong quá trình .......... 51
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 54
5.1. Kết luận ................................................................................................................ 54
5.2. Kiến nghị .............................................................................................................. 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 56
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đại tại phường Túc Duyên trong 3 năm 2016 - 2018 ............................................................................................. 34
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động của phường từ năm 2016 - 2018 ................. 36
Bảng 4.3: Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính
và độ tuổi của các hộ điều tra ..................................................................................... 41
Bảng số 4.4: Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính
và độ tuổi của các hộ điều tra ..................................................................................... 42
Bảng 4.5: Phân loại nghề nghiệp của các chủ hộ........................................................ 43
Bảng 4.6: Bình quân diện tích canh tác của các hộ điều tra ....................................... 43
Bảng 4.7: Cơ cấu thu nhập về nông nghiệp theo tổ và nhóm hộ ................................ 44
Bảng 4.8: Cơ cấu thu nhập từ trồng trọt theo tổ và theo hộ gia đình .......................... 45
Bảng 4.9: Cơ cấu thu nhập từ cây trồng rau màu theo tổ ........................................... 46
Bảng 4.10: Cơ cấu thu nhập từ cây trồng theo hộ ...................................................... 47
Bảng 4.11: Cơ cấu thu nhập về chăn nuôi phân theo tổ và nhóm hộ ......................... 48
Bảng 4.12: Cơ cấu thu nhập về các loại vật nuôi chính trong chăn nuôi theo tổ............... 48
Bảng 4.13: Cơ cấu thu nhập về các loại vật nuôi chính
trong chăn nuôi theo hộ............................................................................................... 49
Bảng 4.14: Cơ cấu thu nhập về phi nông nghiệp theo tổ và nhóm hộ ....................... 50
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ phân tích khung sinh kế bền vững........................................ 22
vii
DOANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐVT Đơn vị tính
BQ Bình quân
PTNT Phát triển nông thôn
TP Thành Phố
UBND Ủy ban nhân dân
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang từng bước hội nhập nền kinh tế thế giới, giành được nhiều
thành tựu trong tất cả các lĩnh vực đời sống văn hóa – kinh tế - xã hội. Chất
lượng cuộc sống mọi mặt của người dân nó chung và người nông dân nói riêng
không ngừng được cải thiện. Đặc biệt là vấn đề sinh kế bền vững và thu nhập
của người dân đang là mối quan tâm hàng đầu. Nó là điều kiện cần thiết cho quá
trình phát triển nâng cao đời sồng của con người nhưng vẫn đáp ứng được đòi
hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên.
Bên cạnh đó trong giai đoạn hiện nay khi điều kiện nguồn lực còn hạn chế,
nhà nước xóa bỏ cơ chế tổ chức bao cấp. Hoạt động sản xuất nông nghiệp ngày
càng đa dạng, phát triển theo hướng hàng hóa. Mà sự phát triển nhanh chóng,
vượt bậc trong nền kinh tế hàng hóa đã tạo nên sự phân hóa giàu nghèo ngày
càng sâu sắc trong xã hội, vấn đề sinh kế và thu nhập giữa các tầng lớp dân cư,
giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn ngày càng rõ rệt. Với hơn 70% dân
số ở khu vực thành thị là nguồn lao động dồi dào nhưng lại chưa được sử dụng
hợp lý. Trên thực tế cho thấy việc lựa chọn hoạt động sinh kế và việc tăng thu
nhập cho hộ gia đình phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên, xã hội,
yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng,… Tình trạng đất đai phục vụ cho sản
xuất, làm nhà ở cho người dân thì có hạn mà dân số thì ngày lại một tăng lên.
Cho nên việc lựa chọn hoạt động sinh kế và việc tăng thu nhập cho hộ gia đình
đã khó lại càng khó hơn.
Do đó việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm đa dạng hóa sinh kế
cho người dân là yêu cầu cấp thiết và cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp,
các ngành, các đoàn thể giúp ta thấy được cuộc sống người dân như thế nào, thu
nhập ra sao, đã hiệu quả và ổn định chưa.
2
Trong những năm gần đây hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân
phường Túc Duyên đã có những thay đổi lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của chính
hộ gia đình. Bên cạnh đó tại địa bàn phường đã có rất nhiều các hoạt động hỗ
trợ sinh kế đã và đang triển khai thực hiện tại đây và hiệu quả ra sao, cuộc sống
người dân thay đổi như thế nào, người dân đã được hưởng lợi những gì khi tham
gia vào công tác bảo tồn, tác động của các giải pháp sinh kế ra sao?... Đó là
những vấn đề mà chúng ta cần nghiên cứu để có những giải pháp mang tính bền
vững cho người dân nơi đây giúp cho việc quản lý sử dụng tài nguyên một cách
hợp lý và thông minh, giúp người dân có những định hướng đúng đắn trong sản
suất. Từ những yêu cầu trên, em đã chọn nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu thực
trạng và giải pháp phát triển sinh kế nông hộ tại phường Túc Duyên, thành
phố Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Đề tài tập chung tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích thực trạng các hoạt động
sinh kế và cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sinh kế của nông hộ tại phường Túc
Duyên , TP. Thái Nguyên. Trên cơ sở đó đề xuất được các giải pháp phát triển
sinh kế thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tăng thu nhập và ổn định cho nông hộ tại
phường Túc Duyên , TP. Thái Nguyên.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng sản xuất và thu nhập của nông hộ tại phường Túc
Duyên , TP. Thái Nguyên.
- Đề xuất ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những khó
khăn của nông hộ, nhằm giúp nông hộ nâng cao và ổn định nguồn thu nhập cho
nông hộ ở phường Túc Duyên , TP. Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp củng cố lý thuyết cho sinh viên
3
- Hệ thống hóa được những cơ sở lý luận liên quan đến khung sinh kế
bền vững.
- Có được cái nhìn tổng thể về thực trạng hoạt động sinh kế của người dân
phường Túc Duyên
- Giúp sinh viên được tiếp cận với thực tế nâng cao kiến thức, kĩ năng cho
bản thân phục vụ cho công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học vào quá trình nghiên cứu.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập xử lí thông tin của sinh viên trong
quá trình nghiên cứu.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Xác định các hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân, đóng góp về cơ
cấu thu nhập của các hoạt động sinh kế nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) và
sinh kế phi nông nghiệp từ đó có những giải pháp phù hợp cho từng hoạt động
sinh kế.
- Đề tài góp phần làm rõ hơn hiệu quả của các hoạt động sinh kế mang lại
cho người dân địa phương.
- Là căn cứ giúp cho các cấp chính quyền địa phương có những giải pháp
và định hướng cho việc lựa chọn nguồn sinh kế bền vững và tăng thu nhập ổn
định cho người dân trên địa bàn nghiên cứu.
4
Phần 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lí luận của đề tài
2.1.1. Sinh kế
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm
phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992) định
nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng
lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh
tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền
vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ
thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã
hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung
cấp cho thế hệ tương lai.
Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này phải hội tụ đủ những nguyên tắc sau:
Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng
dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng
thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động.
Theo DFID (1999), một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và
khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.
Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những
phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả
năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở
các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các thành tố của một sinh kế có mối quan hệ
nhân quả và chiến lược sinh kế của con người chịu sự tác động bởi các yếu tố bên
ngoài. Điều này được thể hiện trong khung phân tích sinh kế dưới đây (DIFID,...)
5
Những thay đổi trong thực trạng tài sản và chiến lược
Bối cảnh tổn thương
- Sốc và khủng
hoảng
- Những xu
Vốn con
hướng kinh tế, xã hội và môi trường
Kết quả sinh kế
Người
- Sự dao động theo
- Thu nhập tốt hơn
Vốn tự nhiên
Vốn xã hội
- Đời sống nâng cao
CHIẾN LƯỢC SINH KẾ
- Khả năng tổn thương giảm
Vốn tài chính
Vốn vật chất
- An ninh lương thực
Thể chế, chính sách
- Chính sách và pháp luật
- Các cấp chính quyền
- Dịch vụ Nhà nước, tư nhân
- Luật tục, tập quán
- Thể chế cộng đồng
Sơ đồ 2.1: Khung phân tích sinh kế
Nguồn: DFID (2003)
2.1.2 Nguồn vốn sinh kế
Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ
quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng.
Trong phạm vi đề tài này, các nguồn vốn về sinh kế gồm: Con người, tự nhiên,
vật chất, tài chính, xã hội, các thể chế chính sách mà xã hội quy định. Các nguồn
vốn đó được hiểu như sau:
6
Tiếp cận sinh kế thì cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người. Nói
chung, tài sản con người (vốn con người) thể hiện kỹ năng, sự hiểu biết, kiến
thức, khả năng của lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp cho con người có
khả năng theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh
kế của họ. Ở cấp độ hộ gia đình, tài sản con người bao gồm số lượng và chất
lượng của lao động. Số lượng và chất lượng của lao động biến động theo quy
mô hộ gia đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe, thể chất và tinh thần, năng lực lãnh
đạo, v.v.. Tài sản con người có thể được diễn giải bằng các chỉ báo về giáo dục,
kiến thức bản địa, số lượng lao động, kỹ năng của lao động, tuổi thọ, số trẻ em
suy dinh dưỡng, v.v.
Vốn tự nhiên ám chỉ các nguồn lực tự nhiên mà con người có thể sử dụng
cho cuộc sống. Vốn tự nhiên rất đa dạng, có thể hữu hình hay vô hình, hoặc dưới
dạng hàng hóa công như khí hậu, sinh quyển làm nền tảng cho sản xuất. Vốn tự
nhiên có thể được biểu thị bằng các chỉ báo khác nhau như diện tích đất nông
nghiệp, đất rừng sản xuất, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, độ phì nhiều
của đất đai, khả năng được tưới, khả năng tăng vụ, trữ lượng tài nguyên rừng,…
Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và các tài sản vật chất cần
thiết cho sinh kế. Cơ sở hạ tầng là hệ thống giao thông thuận tiện, nhà ở tốt và
được bảo đảm, điều kiện vệ sinh môi trường và cung cấp nước sạch tốt, sử dụng
năng lượng sạch và thuận tiện, dễ dàng tiếp cận thông tin truyền thông bằng các
phương tiện máy móc thiết bị. Ngoài ra hàng hóa vật chất cho sản xuất như công
cụ, thiết bị cũng là các chỉ báo quan trọng.
Vốn tài chính ám chỉ đến các nguồn lực tài chính mà hộ gia đình có thể
tiếp cận và sử dụng để đạt được mục đích sinh kế của họ. Hai nguồn vốn tài
chính chủ yếu của hộ gia đình là nguồn lực dự trữ và dòng tiền vốn lưu động.
Tiền gửi tiết kiệm, dự trữ tiền mặt, tài sản có tính thanh khoản cao như vàng bạc
đá quý, lương hưu, hay các khoản tiền hỗ trợ từ nhà nước, và tiền gửi của người
thân từ nơi khác là những chỉ báo phù hợp.
7
Vốn xã hội chính là các quan hệ hay sự kết nối giữa cá nhân hay hộ gia
đình và các tổ chức, các mạng lưới xã hội. Vốn xã hội có thể được chỉ thị bằng
các chỉ báo cụ thể như thành viên của các tổ chức, nhóm, mạng lưới, các đặc
quyền có được, vị trí xã hội, v.v.
Cách tiếp cận sinh kế ngày nay đã được áp dụng rộng rãi khi nghiên cứu
về đặc điểm kinh tế xã hội của hộ.
Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ. Nó phản ánh bức tranh
tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương
thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như nuôi trồng
thủy sản, lâm nghiệp…). Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như
những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi với điều kiền tự
nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo.
Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể hiện
qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp:
- Hoạt động nông nghiệp bao gồm: (1) Trồng trọt: Lúa, ngô, khoai, sắn,
lạc, cây ăn quả, chè, rau màu….(2) Chăn nuôi: Trâu, bò, lợn, gà, vịt… (3) Lâm
nghiệp: Rừng, trồng keo, mỡ….
- Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm: Dịch vụ,
buôn bán, làm thuê và ngành nghề khác.
Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự
quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của
các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội mà mỗi cá nhân và hộ gia đình
tự thiết lập trong cộng đồng.
Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sử
dụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng
như đạt được mục tiêu và ước vọng của họ. Những lựa chọn và quyết định của
người dân cụ thể như là: Quyết định đầu tư vào loại nguồn vốn hay tài sản sinh
kế; Quy mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi; Cách thức họ
8
quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế; Cách thức họ thu nhận và phát triển những
kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống; Họ đối phó như thế nào với rủi ro,
những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau; và họ sử dụng
thời gian, công sức lao động mà họ có như thế nào để làm được những điều trên,...
Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế đó là
những điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu dài,
bao gồm:
- Sự hưng thịnh hơn: Thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội việc làm tốt hơn;
kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung
lượng tiền của hộ gia đình thu được gia tăng.
- Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền,
người ta còn đánh giá đời sồng bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác.
Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố,
ví dụ như căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được
đảm bảo, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt, sự an toàn của
đời sống vật chất.
- Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải sống trong trạng
thái dể bị tổn thương. Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo
vệ gia đình khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của
mình. Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá cả thị trường, an toàn
sau các thảm họa, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia súc,...
- An ninh lương thực được củng cố: An ninh lương thực là một cốt lõi trong
sự tổn thương và đói nghèo. Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực
hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng cao và ổn
định thu hoạch mùa màng, đa dạng hóa các loại cây lương thực,...
- Sử dụng bền vững hơn cơ sở nguồn tài nguyên thiên nhiên: Sự bền vững
về môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ cho
các kết quả sinh kế khác. Sinh kế của con người phụ thuộc vào khối lượng và chất
9
lượng của những nguồn vốn mà họ có hoặc có thể tiếp cận.
2.1.3.1. Một số khái niệm về hộ
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về hộ gia đình. Hộ là một tổ chức
kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của
đất nước. Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều
nhà khoa học trên thế giới theo đó cũng có những khái niệm khác nhau.
Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông
nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu
sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn
hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Tại cuộc thảo luận Quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan năm
1980, các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên
quan đến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”.
Theo Raul Ituna, một nhà nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp
Lisbon, khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số
nươc Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc
có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn
chính bản thân của họ và cộng đồng”.
Theo Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng (2010): Hộ gia đình là
khái niệm chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm
nền tảng. Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính và địa
lý. Còn gia đình là một nhóm người, một cộng đồng người mà các thành viên
gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, vừa nhằm đáp
ứng những nhu cầu riêng tư của các cá nhân, vừa thoả mãn nhu cầu xã hội về tái
sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác lẫn tinh thần. Gia đình là một hệ thống
10
phức tạp các vị trí và vai trò xã hội mà các thành viên chiếm giữ và thực hiện, là
những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một
thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ
sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo
dục,... giữa các thành viên.
2.1.3.2. Hộ nông dân
Theo Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu
hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các
hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Theo Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “nông hộ là tế bào kinh tế xã hội,
là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.
Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông
nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức
lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn,
nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu
hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Theo Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011 cho
rằng: “hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường
xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch
vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật…) và thông
thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.
2.1.3.3. Kinh tế hộ nông dân
Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ
gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử
dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống
kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường
và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
11
Tác giả T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu Á thuộc
trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, cho rằng: “Ở các nước Châu Á hầu
hết người ta qua niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không
cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một
ngân quỹ”.
Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông
- lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động,
tiền vốn,... của gia đình mình là chính.
2.1.4. Thu nhập
2.1.4.1 Khái niệm về thu nhập
Thu nhập là khoản tiền thu từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản
xuất trong 1 thời kỳ nhất định.
Cơ cấu thu nhập bao gồm: Thu nhập từ kết quả lao động (tiền công, tiền
lương: bao gồm lương hưu, các khoản trợ cấp và bao gồm cả học bổng) và thu
nhập tài chính (lãi do gửi tiết kiệm, lãi do mua bán đầu tư chứng khoán, thu từ
các khoản cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác.
Thu nhập từ lao động là tổng các khoản thu mà người lao động nhận được
do đã bỏ ra sức lao động của họ trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh
của các đơn vị kinh tế.
Thu nhập từ lao động của người lao động bao gồm:
Tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính chất như
lương: gồm tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp thường xuyên mang tính
chất cố định và tiền thưởng trong lương; các khoản phụ cấp và thu nhập khác
của người lao động được tính vào chi phí sản xuất, vào giá thành của sản phẩm
như: phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, phụ cấp tiền điện thoại cố định,
phụ cấp xăng xe, tiền công tác phí, ăn giữa ca (trường hợp thuê dịch vụ ăn uống
bên ngoài không tính vào yếu tố này), trợ cấp thuê nhà,… và các khoản phụ cấp
thường xuyên khác cho người lao động, bao gồm các hình thức trả bằng tiền,
12
bằng hiện vật như: thực phẩm, đồ uống, nhiên liệu, quần áo (trừ quần áo bảo hộ
lao động).
Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh: Là
các khoản chi phí trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chi
phí sản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận của
chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của cấp trên,…).
2.1.4.2. Phân loại thu nhập
Phân loại theo hình thức thu nhập có:
- Thu nhập trực tiếp: Là thu nhập của lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm.
- Thu nhập gián tiếp từ phân phối lại : Là thu nhập của những lao động
làm công việc tiêu thụ sản phẩm như những người đi buôn, những người này
không trực tiếp tạo ra sản phẩm.
Phân loại theo mức thu nhập thì có:
- Thu nhập cao
- Thu nhập trung bình
- Thu nhập thấp
2.1.4.3. Tầm quan trọng của thu nhập
Trong thực tế cuộc sống thu nhập là một yếu tố rất quan trọng, nó biểu
hiện ở số tiền, hay các sản phẩm do quá trình lao động mà chúng ta tạo ra và nó
có giá trị cho cuộc sống. Để duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống, con người
cần phải có thu nhập và chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong đời sống
hàng ngày thu nhập quan trọng như thế nào. Với mỗi người, với các mức thu
nhập khác nhau thì có thể nói rằng chất lượng cuộc sống mà họ được hưởng
cũng khác nhau, với những mức thu nhập cao thì sẽ có được cuộc sống với chất
lượng của các dịch vụ và sự sinh hoạt hàng ngày tốt hơn chẳng hạn như: Bữa ăn
hàng ngày sẽ đủ chất dinh dưỡng hơn, các đồ dùng sinh hoạt cũng tốt hơn, con
cái được học tập trong những ngôi trường chất lượng tốt hơn, nói tóm lại sẽ có
được những thứ gần với sự mong muốn hơn, ngược lại những người có thu nhập
13
thấp, những người nghèo thậm chí là đói thì với thu nhập thấp đó họ có thể ăn
không đủ no, mặc không đủ ấm chứ nói gì đến việc sử dụng các dịch vụ mà cần
đến tiền mới có được.
Mặt khác, mức sống của người dân bắt nguồn từ thu nhập.Tăng thu nhập
là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải thiện và nâng cao mức sống, là cơ sở để
tăng tích lũy và tăng đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo. Tăng thu nhập cho
mỗi người dân đồng nghĩa với việc thu nhập bình quân đầu người mỗi khu vực
tăng lên và từ đó thu nhập bình quân quốc gia tăng lên, điều đó thể hiện sự tăng
trưởng của mỗi vùng, mỗi quốc gia.
14
2.1.3. Hộ và kinh tế hộ
2.1.3.1. Một số khái niệm về hộ
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về hộ gia đình. Hộ là một tổ chức
kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của
đất nước. Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều
nhà khoa học trên thế giới theo đó cũng có những khái niệm khác nhau.
Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông
nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu
sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn
hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Tại cuộc thảo luận Quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan năm
1980, các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên
quan đến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”.
Theo Raul Ituna, một nhà nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp
Lisbon, khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số
nươc Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc
có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn
chính bản thân của họ và cộng đồng”.
Theo Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng (2010): Hộ gia đình là
khái niệm chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm
nền tảng. Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính và địa
lý. Còn gia đình là một nhóm người, một cộng đồng người mà các thành viên
gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, vừa nhằm đáp
ứng những nhu cầu riêng tư của các cá nhân, vừa thoả mãn nhu cầu xã hội về tái
15
sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác lẫn tinh thần. Gia đình là một hệ thống
phức tạp các vị trí và vai trò xã hội mà các thành viên chiếm giữ và thực hiện, là
những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một
thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ
sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo
dục,... giữa các thành viên.
2.1.3.2. Hộ nông dân
Theo Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu
hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các
hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Theo Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “nông hộ là tế bào kinh tế xã hội,
là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.
Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông
nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức
lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn,
nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu
hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Theo Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011 cho
rằng: “hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường
xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch
vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật…) và thông
thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.
2.1.3.3. Kinh tế hộ nông dân
Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ
gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử
dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống
kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường
và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
16
Tác giả T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu Á thuộc
trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, cho rằng: “Ở các nước Châu Á hầu
hết người ta qua niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không
cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một
ngân quỹ”.
Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông
- lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động,
tiền vốn,... của gia đình mình là chính.
2.1.4. Thu nhập
2.1.4.1 Khái niệm về thu nhập
Thu nhập là khoản tiền thu từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản
xuất trong 1 thời kỳ nhất định.
Cơ cấu thu nhập bao gồm: Thu nhập từ kết quả lao động (tiền công, tiền
lương: bao gồm lương hưu, các khoản trợ cấp và bao gồm cả học bổng) và thu
nhập tài chính (lãi do gửi tiết kiệm, lãi do mua bán đầu tư chứng khoán, thu từ
các khoản cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác.
Thu nhập từ lao động là tổng các khoản thu mà người lao động nhận được
do đã bỏ ra sức lao động của họ trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh
của các đơn vị kinh tế.
Thu nhập từ lao động của người lao động bao gồm:
Tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính chất như
lương: gồm tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp thường xuyên mang tính
chất cố định và tiền thưởng trong lương; các khoản phụ cấp và thu nhập khác
của người lao động được tính vào chi phí sản xuất, vào giá thành của sản phẩm
như: phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, phụ cấp tiền điện thoại cố định,
phụ cấp xăng xe, tiền công tác phí, ăn giữa ca (trường hợp thuê dịch vụ ăn uống
bên ngoài không tính vào yếu tố này), trợ cấp thuê nhà,… và các khoản phụ cấp
thường xuyên khác cho người lao động, bao gồm các hình thức trả bằng tiền,
17
bằng hiện vật như: thực phẩm, đồ uống, nhiên liệu, quần áo (trừ quần áo bảo hộ
lao động).
Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh: Là
các khoản chi phí trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chi
phí sản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận của
chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của cấp trên,…).
2.1.4.2. Phân loại thu nhập
Phân loại theo hình thức thu nhập có:
- Thu nhập trực tiếp: Là thu nhập của lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm.
- Thu nhập gián tiếp từ phân phối lại : Là thu nhập của những lao động
làm công việc tiêu thụ sản phẩm như những người đi buôn, những người này
không trực tiếp tạo ra sản phẩm.
Phân loại theo mức thu nhập thì có:
- Thu nhập cao
- Thu nhập trung bình
- Thu nhập thấp
2.1.4.3. Tầm quan trọng của thu nhập
Trong thực tế cuộc sống thu nhập là một yếu tố rất quan trọng, nó biểu
hiện ở số tiền, hay các sản phẩm do quá trình lao động mà chúng ta tạo ra và nó
có giá trị cho cuộc sống. Để duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống, con người
cần phải có thu nhập và chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong đời sống
hàng ngày thu nhập quan trọng như thế nào. Với mỗi người, với các mức thu
nhập khác nhau thì có thể nói rằng chất lượng cuộc sống mà họ được hưởng
cũng khác nhau, với những mức thu nhập cao thì sẽ có được cuộc sống với chất
lượng của các dịch vụ và sự sinh hoạt hàng ngày tốt hơn chẳng hạn như: Bữa ăn
hàng ngày sẽ đủ chất dinh dưỡng hơn, các đồ dùng sinh hoạt cũng tốt hơn, con
cái được học tập trong những ngôi trường chất lượng tốt hơn, nói tóm lại sẽ có
được những thứ gần với sự mong muốn hơn, ngược lại những người có thu nhập
18
thấp, những người nghèo thậm chí là đói thì với thu nhập thấp đó họ có thể ăn
không đủ no, mặc không đủ ấm chứ nói gì đến việc sử dụng các dịch vụ mà cần
đến tiền mới có được.
Mặt khác, mức sống của người dân bắt nguồn từ thu nhập.Tăng thu nhập
là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải thiện và nâng cao mức sống, là cơ sở để
tăng tích lũy và tăng đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo. Tăng thu nhập cho
mỗi người dân đồng nghĩa với việc thu nhập bình quân đầu người mỗi khu vực
tăng lên và từ đó thu nhập bình quân quốc gia tăng lên, điều đó thể hiện sự tăng
trưởng của mỗi vùng, mỗi quốc gia.
19
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1.Tình hình phát triển sinh kế hộ nông dân ở các nước trên thế giới và
những bài học kinh nghiệm
Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng và phát triển sinh kế nông hộ của
các nước đã có nhiều kinh nghiệm để chúng ta học tập.
* Thái Lan: Là một nước trong khu vực Đông Nam Á của châu Á, chính
phủ Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa đất nước từ lạc hậu trở thành
nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Một số chính sách có liên quan đến việc
phát triển sinh kế vùng núi đã được ban hành (Từ 1950 đến năm 1980).
- Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Mạng lưới đường
bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập. Các vùng ở xa (Bắc, Đông
bắc, Nam…), đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng.
- Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản phẩm
như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi
phía Đông Bắc.
- Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa công nghiệp chế biến nông sản để
xuất khẩu như: Ngô, sắn,… sang các thị trường Châu Âu và Nhật Bản.
- Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế
nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước cũng thực hiện chính sách
trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân vay tiền với lãi suất thấp, ứng
trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với giá trị định trước,… cùng
với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng
sản xuất hàng hóa. Hàng năm có khoảng 95% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn
dầu cọ do nông dân sản xuất ra. Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số
vấn đề còn tồn tại: Đó là việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền
nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai. Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu
hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo
thời vụ ngày càng gia tăng.
20
* Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực
đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. Một trong những thành tựu của Trung Quốc
trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao. Nguyên nhân của thành tựu
đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu
tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng trước
hết là đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng ,vật nuôi, vào sản
xuất nhất là lúa, ngô, bông.
* Malaysia: Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp hiện
đại, sản xuất hàng hóa có giá trị cao. Vì thế chính sách nông nghiệp của Malaysia
tập trung chủ yếu vào khuyến nông và tín dụng. Bên cạnh đó chính phủ nước
này cũng chú trọng tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản. Nhờ đó một vài
năm gần đây kinh tế nông hộ của người dân nước này có thu nhập cao và ổn
định hơn.
2.2.2. Một số nghiên cứu về sinh kế
- Sinh kế của các hộ dân tái định cư ở vùng bán ngập huyện Thuận Châu,
tỉnh Sơn La
Đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng, sinh kế của các hộ dân tái định
cư vùng bán ngập của công trình thủy điện Sơn La. Trên cơ sở đánh giá phân
tích, đề xuất một số giải pháp tạo sinh kế nhằm ổn định sản xuất và đời sống của
các hộ dân di chuyển đến nơi ở mới.
- Nghiên cứu đặc điểm văn hóa kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế
của đồng bào dân tộc thiểu số tại Đakrong - Quảng Trị (Đại học Nông Lâm Huế)
Đề tài này nghiên cứu về kiến thức bản địa và mối liên hệ của nó với chiến
lược sinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đề tài cũng đưa ra những điểm
được và chưa được trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào các hoạt động sinh
kế, đề cập đến việc xây dựng một chiến lược sinh kế bền vững để người dân tự
xây dựng và phát triển chiến lược sinh kế cho bản thân và gia đình vừa đảm bảo
21
điều kiện sống hiện tại vừa bảo đảm cho sự phát triển vững chắc cho tương lai.
- Nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững tại xã Phong Mỹ, miền Trung
Việt Nam của trường Đại học Khoa học & đời sống Praha - Czech
Nghiên cứu này được thực hiện tại xã Phong Mỹ huyện Phong Điền, tỉnh
Thừa Thiên - Huế, đề tài này nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông
thôn, bảo tồn đa dạng sinh học. Đặc biệt đi sâu tìm hiểu phương thức sinh kế của
người dân, phân tích các nguồn vốn về con người và nguồn vốn tự nhiên, các khả
năng sử dụng nguồn đất sẵn có và nguồn tài nguyên khác: nước, rừng,… tác động
đến hoạt động sinh kế của người dân. Ngoài ra, đề tài cũng vẽ lên một bức tranh về
cuộc sống của người dân qua các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chi tiêu, tình hình
giáo dục - y tế, tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương.
- Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân miền núi thôn 1 - 5, Cẩm
Sơn, Anh Sơn, Nghệ An (Đại học Nông Lâm Huế)
Đề tài này phân tích các hoạt động sinh kế của người dân miền núi. Qua
đó xem xét và rút ra những phương thức, tập quán trong lao động sản xuất của
người dân nhằm tìm ra một số giải pháp khả thi cho chiến lược sinh kế bền vững
phù hợp với điều kiện của cư dân địa phương.
Nhận xét về các công trình nghiên cứu về sinh kế trên đây: Đây là những
công trình nghiên cứu mới tại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực, thay đổi
nhận thức của người dân trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình. Trên cơ sở
đó giúp người dân thay đổi được nhận thức, tư duy, phương thức, tập quán sản
xuất. Tất cả các nghiên cứu trên đây đều đi từ việc phân tích hiện trạng sinh kế
để từ đó đề xuất các can thiệp và giải pháp nhằm phát triển sinh kế bền vững,
cải thiện và nâng cao giá trị sản xuất tại địa phương, giúp người dân ổn định
cuộc sống.
2.3 Phân tích khung sinh kế
Khi tiếp cận sinh kế, chúng ta không chỉ miêu tả, phân tích các khía cạnh kinh
tế - xã hội, mà cần phải phân tích khung sinh kế. Khung sinh kế là một công cụ
được xây dựng nhằm phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của con
người và tác động qua lại giữa chúng.
22
Phân tích tài sản sinh kế hộ theo DFID bao gồm 5 nguồn lực chính: (1)
Nguồn lực tự nhiên; (2) Nguồn lực con người; (3) Nguồn lực xã hội; (4) Nguồn
lực tài chính; (5) Nguồn lực vật chất.
Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện
khả năng thay đổi trong tương lai. Chính vì thế khi xem xét nguồn lực, con người
không chỉ xem xét hiện trạng các nguồn lực sinh kế mà cần có sự xem xét khả
năng hay cơ hội thay đổi của nguồn lực đó như thế nào ở trong tương lai.
Hình 2.1: Sơ đồ phân tích khung sinh kế bền vững
- Nguồn lực con người: bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của
từng cá nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng
làm việc để họ đạt được những kết quả sinh kế.
- Nguồn lực xã hội: đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ xã hội, các tổ
chức xã hội và các nhòm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham
gia để từ đó được những cơ hội và lợi ích khác nhau.
- Nguồn lực tự nhiên: là các cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của một hộ hoặc
một ,cộng đồng) mà con người trông cậy vào, ví dụ như đất đai, mùa màng, vật
nuôi, rừng, nước).
23
- Nguồn lực tài chính: là nguồn lực tài chính mà con người có được như
nguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các
luồng thu nhập tiền mặt khác như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những
trợ cấp của nhà nước.
- Nguồn lực vật chất: bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và
tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế, như giao thông, hệ thống cấp nước và
năng lượng, nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ trong gia đình.
Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế, đó là
những điều mà con người muốm đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu
dài, bao gồm:
+ Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền,
người ta còn đánh giá đời sống bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất
khác. Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các
yếu tố, ví dụ như căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên trong
gia đình được bảo đảm, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt,
sự an toàn của đời sống vật chất.
+ Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải luôn sống trong
tình trạng dễ bị tổn thương. Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho
việc bảo vệ gia đình khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những
cơ hội của mình. Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá cả thị
trường, an toàn sau các thảm họa, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia súc.
2.4. Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của các hộ nông dân –
Nguyên nhân của nó
- Khả năng quản lý kinh tế của những hộ có thu nhập thấp vẫn còn hạn
chế. Nguồn thu nhập của nhóm hộ chỉ tập trung chủ yếu vào cây lúa và những
cây trồng có kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất và hiệu quả chưa cao. Ngành
chăn nuôi ở nhóm hộ này rất kém phát triển. Vật nuôi chủ yếu là gà, lợn được
chăn thả bán tự nhiên nên năng suất rất thấp và chủ yếu phục vụ nhu cầu của gia
24
đình, sản phẩm hàng hóa đầu tư rất ít. Chính trình độ quản lý kinh tế còn yếu
kém dẫn đến thu nhập của những hộ nghèo rất thấp.
- Khả năng tiếp cận thông tin thị trường của cộng đồng đặc biệt là nhóm
hộ nghèo còn rất hạn chế. Có thể do họ ở xa trung tâm, hạn chế về trình độ học
vấn...nên hầu hết các loại nông sản của cộng đồng bán ra thấp do bị tiểu thương
ép giá. Điều này kìm hãm sự phát triển chung của cộng đồng gây nên sự chênh
lệch về giàu nghèo trong xã hội.
- Năng suất cây trồng thấp. có nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất các
loại cây trồng còn thấp như: giống cũ, trình độ canh tác hạn chế, đất đai không
được đầu tư thâm canh, thời tiết thất thường,...
- Hoạt động chăn nuôi của các hộ dân chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ. Rủi ro
trong chăn nuôi còn lớn, hiệu quả thấp do thiếu kỹ thuật và do không biết tận dụng
những điều kiện sẵn có để phát triển các nguồn thức ăn, tận dụng không gian.
- Vấn đề về gia tăng dân số, nhu cầu về đất canh tác, khả năng tiếp cận
thông tin, chính sách, việc quản lý mua bán, tiêu thụ nông sản là nguyên nhân
thiếu việc làm cho người lao động.
- Trong lĩnh vực quản lý đất đai, cơ chế chính sách bồi thường giải phóng
mặt bằng thường xuyên có sự điều chỉnh ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền
vận động nhân dân trong giải phóng mặt bằng.
2.4. Định hướng, mục tiêu cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân
- Đưa cán bộ khuyến nông, khuyến lâm về phường hướng dẫn bà con nông
dân các kỹ thuật canh tác, các phương thức sản xuất sinh học, đảm bảo an toàn
cho đa dạng sinh học.
- Đưa các giống mới phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, đa dạng
giống cây trồng vật nuôi phù hợp với từng mùa vụ, khí hậu của địa phương.
- Đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật cho sự phát triển kinh tế của vùng.
- Thay đổi tập quán chăn nuôi theo hướng đa dạng hóa và đưa chăn nuôi
trở thành ngành sản xuất hàng hóa.
25
- Tập trung hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi nhằm phát triển ngành chăn
nuôi theo hướng phát triển đàn gia súc, gia cầm theo hướng tăng số lượng và
nâng cao chất lượng.
- Hướng dẫn sử dụng vốn vào sản xuất.
- Trồng các cây hàng hóa chu kỳ năn như: rau màu, lạc, đỗ,…
2.5. Các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân
* Sản xuất trồng trọt
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng có năng suất cao, kết hợp thâm canh tăng
năng suất để đáp ứng nhu cầu nội vùng.
- Nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ đất, đồng thời
chuyển giao cho họ những kỹ thuật cải tạo đất.
- Mở rộng phát triển cây chè theo tiêu chuẩn VietGap.
* Sản xuất chăn nuôi
- Cung cấp các giống con vật nuôi chất lượng. Xây dựng chuồng trại phù
hợp. Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại chăn nuôi.
* Sản xuất lâm nghiệp
- Thực hiện các chương trình trồng rừng theo hỗ trợ của nhà nước, có thể
hướng dẫn người dân trồng xen cây nông nghiệp phù hợp để đảm bảo nhu cầu
lương thực, lấy ngắn nuôi dài.
- Về lâu dài có thể phát triển mô hình nông - lâm kết hợp trên đất dốc.
- Nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong việc giúp người dân
nắm bắt thông tin về đầu ra, nhu cầu và giá cả thị trường.
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
26
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Là các hộ dân cùng với các hoạt động sinh kế và thu nhập của nông hộ
tại Phường Túc Duyên, tỉnh Thái Nguyên.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng sinh kế của các hộ dân, tìm
kiếm những tiềm năng làm cơ sở cho việc cải thiện sinh kế của hộ. Trên cơ sở
đó, đề tài đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế của các hộ dân
3.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
• Địa điểm nghiên cứu : Đề tài được thực hiện tại Phường Túc Duyên, tỉnh
Thái Nguyên
• Thời gian nghiên cứu : Từ 20/2/2019 đến 20/5/2019
Thu thập số liệu điều tra nông hộ được thực hiện từ tháng 2 năm 2019.
Thu thập các số liệu thứ cấp và phân tích số liệu được thực hiện từ ngày
20/2/2019 đến ngày 20/05/2019. ). Nghiên cứu chọn mẫu 80 hộ trong vùng tại 4
tổ : tổ 2, 8, 18 và 23 (mỗi tổ phỏng vấn 20 hộ)
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương có liên quan
đến sản xuất nông nghiệp.
+ Điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện kinh tế xã hội
+ Tình hình sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá và phân tích các hoạt động sinh kế, thu nhập của phường
+ Thông tin về các hộ điều tra tại thị tại Phường Túc Duyên, tỉnh Thái
Nguyên.
+ Diện tích đất canh tác,
+ Thu nhập về nông nghiệp và phi nông nghiệp của nông hộ.
+ Số hộ trồng và thu nhập về trồng trọt.
27
+ Số hộ nuôi và thu nhập về chăn nuôi.
- Phân tích những khó khăn , trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Thu thập số liệu
- . Thu thập thông tin số liệu thứ cấp
Đây là phương pháp được sử dụng để thu thập các thông tin số liệu đã có sẵn từ
tất cả các nguồn có thể tiếp cận được. Đó là các số liệu, tài liệu được thu thập từ
UBND Phường Túc Duyên, từ thư viện của Khoa Kinh tế & PTNT (Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên), từ các trang mạng khai thác trên Internet thông
qua công cụ tìm kiếm Google,… Phương pháp thu thập này là hỏi, tìm đọc và
sao chép, trích dẫn, lựa chọn trên cơ sở tôn trọng số liệu gốc. Đây là những
nguồn tài liệu có giá trị để xây dựng tổng quan, cũng như những thông tin cơ
bản liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất nông
nghiệp của địa phương.
- Thu thập thông tin số liệu sơ cấp
Thu thập thông tin sơ cấp là phương pháp thu thập thông tin, số liệu chưa
từng được công bố ở bất kì tài liệu nào, người thu thập có được thông qua tiếp
xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau như
: Tìm hiểu, quan sát thực tế, phỏng vấn. Sử dụng phương pháp phỏng vấn bán
cấu trúc thông qua bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước để phỏng vấn các hộ nông
dân trên địa bàn phường với những thông tin như: thông tin chung của chủ hộ,
tình hình sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề mang lại thu nhập, doanh
thu, các khoản chi phí và một số thông tin khác có liên quan.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi : Đây là phương pháp chủ yếu để thu thập
số liệu liên quan đến đề tài. Một bảng hỏi (xem phụ lục) được hình thành, gồm
nhiều bộ phận khác nhau, từ những thông tin cơ bản của chủ hộ, an ninh lương
thực, sinh kế và thu nhập nông hộ
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích và đánh giá các hoạt động sinh
kế, thu nhập và thời gian giành cho các hoạt động sinh kế (nông nghiệp và phi nông
28
nghiệp) của cộng đồng địa phương. Đây là cơ sở để có các tác động của can thiệp liên
quan nhằm cải thiện sinh kế của cộng đồng địa phương.
- Phương pháp quan sát trực tiếp : Để ghi nhận con số, sự kiện và những
hành vi của người dân và lý giải những kết quả đánh giá liên quan đến đề tài.
Phương pháp này được sử dụng để quan sát, ghi chép các hiện tượng, sự kiện
thực tế tại hiện trường, đồng thời để có thể giải thích một số vấn đề liên quan có
được khi sử dụng các phương pháp khác.
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu :
Qua tham khảo những thông tin từ cán bộ phường, cán bộ ở các tổ và người
dân, thấy rằng các hộ nông dân tại các tổ tại phường Túc Duyên tương đối đồng
nhất. Vì vậy việc lựa chọn các hộ điều tra tại các thôn được thực hiện một cách
ngẫu nhiên. Việc lựa chọn mẫu cho phỏng vấn hộ sẽ được bàn bạc cùng với các
tổ trưởng dựa trên danh sách hộ.
Với 4 tổ đã chọn có tổng số là 400 hộ và được phân loại kinh tế hộ thành
3 nhóm: hộ trung bình - khá, cận nghèo và hộ nghèo. Căn cứ vào 3 nhóm hộ
trên em lựa chọn 80 hộ để điều tra tương ứng với 80 phiếu điều tra.
Công thức:
n: kích cỡ mẫu
N: Tổng số hộ
e: (10%)
- Bộ câu hỏi phỏng vấn nông hộ được thiết kế trước, sau khi điều tra thử tại
thực địa đã được chỉnh sửa và bổ sung hoàn thiện. Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ
gia đình là các câu hỏi đóng, kết hợp với một số câu hỏi mở nhằm làm rõ thêm
29
hoặc chuyển tiếp chủ đề trong thu thập cơ sở dữ liệu sơ cấp. Bảng câu hỏi được
trình bày trong phụ lục.
3.3.3. Phương pháp phân tích sử lý số liệu
- Các thông tin số liệu thứ cấp được tổng hợp, phân tích và sử dụng theo
các phương pháp phân tích tài liệu thông dụng.
- Số liệu điều tra bảng hỏi được nhập vào máy tính trên Excel.
3.3.4. Phương pháp đối chiếu và so sánh
Phương pháp này xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu một cách khoa học, khách quan, phản ánh đúng những nội dung cần nghiên cứu phân tích và đánh giá tình hình thực tiễn. 3.3.5 Phương pháp thống kê mô tả Phương pháp này mô tả toàn bộ thực trạng về sinh kế trong bối cảnh Đa dạng sinh kế đối với đời sống của người dân trên địa bàn nghiên cứu, thông qua các số liệu đã thu thập được trong các hoạt động sinh kế của người dân trong bối cảnh biến động của từng hộ gia đình thông qua đánh giá, phân tích và đề ra các giải pháp phù hợp với địa phương, để nâng cao được hiệu quả của hoạt động sinh kế phát triển kinh tế hộ gia đình.
30
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại phường Túc Duyên,
thành phố Thái Nguyên
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Túc Duyên là phường nằm ở trung tâm thành phố Thái Nguyên, diện tích
tự nhiên là 290,28 ha. Địa giới hành chính tiếp giáp các đơn vị sau:
+ Phía đông và phía bắc tiếp giáp huyện Đồng Hỷ
+ Phía tây tiếp giáp phường Trương Vương và phường Phan Đình Phùng
+ Phía nam tiếp giáp giáp phường Gia Sàng và huyện Đồng Hỷ
4.1.1.2. Địa hình
Phường Túc Duyên có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc
phân bố khu dân cư và xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên so với địa hình chung
của thành phố Thái Nguyên địa hình dốc theo hướng từ bắc xuống nam nên đã
tạo ra một số khu vực thấp trũng, nhất là khu vực đất canh tác ở phía nam, nhưng
không có tác động nhiều đến khu dân cư và sản xuất.
4.1.1.3. Khí hậu
Mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm đặc trưng của miền bắc
nước ta. Được chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 10 và
mùa khô từ tháng 11 tưới tháng 4 năm sau
+ Nhiệt độ: Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tương
đối cao. Tháng nóng nhất trong năm là tháng 6 đến tháng 8 nhiệt độ trung bình
là 30-330C, thấp nhất là tháng 11 đến tháng 1 nhiệt độ trung bình là 160C.
31
+ Lượng mưa: Tương đối phong phú, lượng mưa trung bình hàng năm cao
với 2007mm, trong đó lượng mưa lớn nhất đạt 3000mm, lượng mưa thấp nhất
đạt 997mm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 tới tháng 10. Trong khi đó vào mùa 22
khô lượng mưa ít đã ảnh hưởng tới một số khu vực đất nông nghiệp cần tưới tiêu
trên địa bàn phường.
+ Nắng: Số giờ nắng trong năm dao động từ 1522 đến 1710 giờ, được
phân bố đồng đều trong các tháng trong năm.
+ Chế độ gió: Trên địa bàn phường có hai hướng gió chính là gió mùa
Đông Bắc và gió Đông Nam. Do nằm xa biển nên trên địa bàn phường ít chịu
ảnh hưởng của thiên tai như bão lũ lụt cũng là điều kiện thuận lợi đế ổn định
phát triển kinh tế xã hội.
4.1.1.4. Thủy văn
Nằm chung với hệ thống thủy văn của thành phố, nhưng con Sông Cầu ảnh
hưởng trực tiếp lên đời sống sản xuất của người dân bởi con sông này có vai trò
quan trọng trong việc điều tiết và cung cấp nước sản xuất cho hoạt động sản xuất
nông nghiệp của phường. Nhưng ảnh hưởng của hệ thống sông này tới ảnh
hưởng không nhỏ tới những diện tích đất ven sông trong mùa lũ, làm ngập lụt
gây thiệt hại về cây trồng cũng như làm thụt giảm hiệu quả sản xuất.
4.1.2. Cơ sở hạ tầng
- Hệ thống điện: Có hệ thống điện 3 pha chạy qua các tuyến chính của
phường, cũng cấp điện sang cho 100% các hộ dân trong địa bàn phường. Hệ
thống điện đến với người dân thông qua các trạm biến áp lớn, được đầu tư xây
dựng kiên cố, an toàn cho các hộ dân xung quanh.
Chính việc đảm bảo của hệ thống này, người dân tại địa phương có được
nhiều thuận lợi trong việc sản xuất cũng như bảo quản sản phẩm sau thu hoạch.
- Giao thông: Với vị trí là phường nằm gần trung tâm thành phố nên kết
cấu cơ sở hạ tầng luôn được quan tâm và củng cố. Đến nay phường đã có 100%
là đường đã qua quy hoạch bê tông hóa theo các đề án của thành phố đưa xuống
32
nhưng đến nay một số đoạn đường đã hỏng và chưa được phục hồi. Đoạn đường
gần UBND phường gồ ghề, ổ gà làm cho giao thông của người dân tại đây gặp
khó khăn và có phần gây bức xúc. Trên thực tế, đoạn đường này tuy đã được thi
công nhưng do chất lượng thi công không đạt hiệu quả tốt nên thời gian lưu
thông đoạn đường này không được lâu dài.
Bởi thế, cần nâng cao ý thức người dân trong việc xây dựng và bảo vệ các
hệ thống giao thông đã được thi công trong khu dân cư để tránh tình trạng làm
nhiều lần trên một đoạn đường.
- Giáo dục: Hiện nay trên địa bàn phường có 1 trường mầm non, 1 trường
tiểu học và 1 trường trung học để phục vụ nhu cầu nâng cao dân trí của thế hệ
sau. Các trường đã trang bị đầy đủ các cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình giảng
dạy, các thầy cô trong nhà trường cũng trang bị cho bản thân đầy đủ những kiến
thức chuyên môn, bằng cấp đại học trở lên để phấn đấu đạt danh hiệu trường đạt
chuẩn quốc gia, khẳng định chất lượng giảng dạy cũng như tạo lòng tin cho các
bậc phụ huynh.
- Y tế: Khi đời sống người dân được cải thiện thì các công tác chăm sóc
sức khỏe ngày càng được nâng cao. Phường đã làm tốt công tác khám chức bệnh,
chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Luôn chú trọng đến công tác tiêm
phòng dịch bệnh ở trẻ em, tiêm chủng các vắc xin sởi, viêm gan B,…cho cộng
đồng dân cư. Phường đã tiến hành kiểm tra 5 cơ sở hành nghề y dược tư nhân
trên địa bàn.
Mở một lớp tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho các công
nhân làm tại cơ sở sản xuất chế biến kinh doanh thực phẩm, tập huấn phòng
chống tai nạn thương tích.
4.1.3. Các nguồn tài nguyên
4.1.3.1. Tài nguyên đất
Với tổng diện tích đất tự nhiên năm 2018 là 290,28 ha, trong đó đất nông
nghiệp có 111,07 ha chiếm 38,26 % tổng diện tích tự nhiên, đất phi nông nghiệp
có 173,02 ha chiếm 59,60% tổng diện tích đất tự nhiên, đất chưa sử dụng có
33
6,19 ha chiếm 2,13% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất đai ở đây màu mỡ rất thuận
lợi cho việc canh tác đa dạng các loại cây trồng, vậy có thể nói yếu tố đất là yếu
tố rất quan trọng trong việc đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế của
địa phương.
Bảng số liệu cho thấy tổng diện tích bình quân diện tích từng loại đất qua
từng năm có sự biến động nhẹ. Trong đó:
+ Tổng diện tích đất nông nghiệp bình quân từ năm 2016 - 2018 năm giảm
0,77%, trong đó đất trồng cây hàng năm giảm 0,35%, đất trồng cây lâu năm giảm
5,42% và đất nuôi trồng thủy sản tăng 7,24%.
+ Tổng diện tích đất phi nông nghiệp bình quân từ năm 2016 - 2018 tăng
1,23% trong đó đất ở tăng 1,75%, đất chuyên dùng để phục vụ cho xã hội tăng
0,72%.
+ Đất chưa sử dụng giảm 15,13% là do chuyển sang sử dụng mục đích
khác. Diện tích đất chưa sử dụng được đưa vào sử dụng, một mặt là do nhu cầu
về nhà ở sinh hoạt của cộng đồng dân cư nơi đây được tăng lên do số khẩu và
số dân trên địa bàn phường tăng lên làm cho diện tích đất chưa sử dụng giảm
xuống, mặt khác là do người dân đã biết khai thác một cách hiệu quả nguồn đất
đai dư thừa vào trong đời sống và sản xuất, các khu trang trại được áp dụng từ
đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hiệu quả sản xuất trong tương lai.
34
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đại tại phường Túc Duyên trong 3 năm 2016 - 2018
Năm 2016
Năm 2017
Năm 2018
Tốc độ tăng trưởng (%)
Loại đất
Diện tích
Cơ cấu
Diện tích
Cơ cấu
Diện tích
Cơ cấu
17/16
18/17
BQ
(ha)
(%)
(ha)
(%)
(ha)
(%)
Tổng diện tích đất tự nhiên
290,28
100
290,28
100
290,28
100
100
100
100
1. Đất nông nghiệp
112,8
38,86
111,07
38,26
111,07
38,26
98,47
100
99,23
Đất trồng cây hàng năm
104,73
92,84
104,01
93,64
104,01
93,64
99,31
100
99,65
Đất trồng cây lâu năm
4,34
3,85
3,87
3,48
3,87
3,48
89,17
100
94,58
Đất nuôi trồng thủy sản
3,73
3,31
3,19
2,87
3,19
2,87
85,52
100
92,76
2. Đất phi nông nghiệp
168,83
58,16
171,28
59,01
173,02
59,60
101,45
101,02
101,23
Đất ở
82,11
48,63
83,93
49,00
85,01
49,13
102,22
101,29
101,75
Đất chuyên dùng
86,72
51,37
87,35
51,00
88,01
50,87
100,73
100,75
100,74
3. Đất chưa dùng
8,65
2,98
7,93
2,73
6,19
2,13
91,68
78,06
84,87
(Nguồn: UBND Phường Túc Duyên)
35
4.1.3.2. Tài nguyên nhân văn
Hiện nay trên địa bàn có 24 tổ dân phố với 3108 hộ dân và khoảng 11.715
nhân khẩu. Phường Túc Duyên có hoạt động kinh tế chủ yếu là hoạt động nông
nghiệp nên người dân ở đây có truyền thống cần cù sáng tạo, biết khắc phục các
tình trạng khó khăn, với kinh nghiệm sản xuất lâu năm nên họ có đầy đủ kỹ năng
để phát triển và phát huy nền sản xuất lâu đời này.
Là một trong những phường đông dân của thành phố Thái Nguyên, song
phân bố không đồng đều. Dân số tập trung đông chủ yếu ở khu vực phía Bắc,
khu vực đô thị hóa mạnh mẽ nhất. Bên cạnh đó dân số của phường có nhiều biến
động về mặt cơ học do thường xuyên có một lượng lớn lao động nhập cư từ các
nơi khác về.
Trong những năm qua công tác dân số kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn
phường được thực hiện khá tốt.
4.1.4. Tình hình dân số, lao động
Trong nền nông nghiệp truyền thống của phường, lao động là nguồn lực
quan trọng trong sản xuất cũng như phát triển kinh tế địa phương, vì vậy việc
điều tra và đánh giá lao động của phường là rất cần thiết khi đưa ra các giải pháp
phát triển kinh tế.
• Công tác giảm nghèo: Triển khai công tác rà soát hộ nghèo năm 2017,
hiện nay đang hoàn thiện các hồ sơ, theo báo cáo sơ bộ tỷ lệ hộ thoát nghèo
khoảng 40 hộ, 30 hộ cận nghèo chiếm khoảng 9%. Số liệu cụ thể có báo cáo
riêng sau khi đợt rà soát.
• Lao động và việc làm: Thông báo triển khai học nghề lao động nông thôn
năm 2017 theo đề án 1956 của chính phủ và thông báo tuyển chọn thực tập sinh
tại Nhật Bản tới các tổ. Thông báo tuyển lao động đi học và làm việc tại các công
ty theo công văn số 14 của trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh. Triển khai thông
báo của sở lao động thương binh và xã hội, trung tâm giới thiệu việc làm v.v…
Về tuyển lao động đi làm việc tại các công ty, doanh nghiệp trong nước, trong
tỉnh và xuất khẩu lao động tới các tổ.
36
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động của phường từ năm 2016 - 2018
Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 So sánh (%)
Chỉ tiêu Đơn vị Số lượng Số lượng Số lượng 17/16 18/17 BQ (người) (người) (người)
Tổng số nhân khẩu Người 11.047 11.306 11.715 102,34 103,62 102,98
Tổng số hộ Hộ 3.108 103,40 103,22 103,31 2.912 3.011
Tổng số lao động Lao động 8.312 103,91 103,82 103,86 7.705 8.006
BQ lao động/hộ Lao động/hộ 2,67 100,76 100,37 100,56 2,64 2,66
BQ nhân khẩu/hộ Nhân khẩu/hộ 3,77 98,68 100,53 99,60 3,8 3,75
(Nguồn: UBND Phường Túc Duyên năm 2019)
37
Qua bảng số liệu cho thấy tình hình dân số và lao động của phường Túc
Duyên như sau:
+ Số nhân khẩu tại phường Túc Duyên năm 2017 so với 2016 tăng 2,43%;
số hộ tăng 3,4%; số lao động tại phường Túc Duyên tăng lên 3,91%. Từ đó cho
thấy bình quân số lao động/hộ của năm 2017 so với năm 2016 tăng 0,76% và số
nhân khẩu/hộ giảm 1,32%.
+ Số nhân khẩu tại phường Túc Duyên năm 2018 so với 2017 tăng 3,62%;
số hộ tăng 3,22%; số lao động tại phường Túc Duyên tăng lên 3,82%. Từ đó cho
thấy bình quân số lao động/hộ của năm 2018 so với năm 2017 tăng 0,37% và số
nhân khẩu/hộ giảm 0,53%.
Như vậy, tình hình dân số của phường Túc Duyên từ năm 2016 - 2018 tăng
2,98%; số hộ tăng 3,31% và số lao động tăng 3,86%.
4.1.5. Tình hình văn hóa – xã hội
Cùng với phát triển kinh tế, công tác văn hoá xã hội cũng được quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo đạt nhiều kết quả. Các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao
ngày càng được đẩy mạnh, toàn phường đó thành lập được 10 câu lạc bộ về văn
hoá văn nghệ, thể dục thể thao theo Quyết định 100 của Thủ tướng chính phủ,
tổ chức thành công 2 kỳ đại hội thể dục thể thao.
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư đó
được phát triển rộng và có chiều sâu, hàng năm số hộ đạt gia đình văn hoá đều
chiếm trên 80%, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hoá chiếm 60%, đạt chỉ tiêu đề
ra. Với những thành tích đạt được năm 2018, phường Túc Duyên đó được UBND
tỉnh công nhận là đơn vị tiên tiến về thể dục thể thao.
4.1.6. Tình hình kinh tế của phường
Trong những năm gần đây nhờ có đường lối đổi mới, các chủ chương chính
sách của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, kinh tế của phường
đã có những bước chuyển biến tích cực với tốc độ tăng trưởng hàng năm khá
cao so với toàn thành phố. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau tăng so với năm
38
trước, các chỉ tiêu kế hoạch được giao hàng năm đều hoàn thành và hoàn thành
vượt mức. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình quân
đầu người tăng, tỷ lệ hộ giàu tăng, đồng thời giảm tỷ lệ nghèo theo tiêu chuẩn
mới của thành phố.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm qua phường Túc Duyên đã tạo được sự chuyển biến sâu
sắc. Với phương châm phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, Đảng
uỷ, chính quyền đó đề ra nhiều chương trình hành động, các kế hoạch, đề án,
phương án công tác gắn với các nhiệm vụ, giải pháp thiết thực phù hợp với tình
hình thực tiễn của địa phương từng bước lãnh đạo phát triển kinh tế chuyển dịch
theo hướng “Thương mại dịch vụ - Tiểu thủ công nghiệp – Nông nghiệp”. Trong
đó thương mại – dịch vụ đã và đang tạo được thế mạnh trong cơ cấu kinh tế,
phát huy được thế mạnh thích ứng với phát triển đô thị; ngành tiểu thủ công
nghiệp cũng được phát triển theo hướng đa dạng hoá, liên tục chuyển đổi theo
biến động của thị trường; ngành nông nghiệp tiếp tục giảm tỷ trọng trong cơ cấu
kinh tế, đặc biệt là ngành trồng trọt do diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm
cho việc phát triển cơ sở hạ tầng và khu dân cư. Đến hết năm 2017, tỷ trọng kinh
tế địa phương bao gồm: dịch vụ chiếm 22%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 23%,
nông nghiệp chiếm 30%, các ngành khác chiếm 25%.
* Khu vực kinh tế nông nghiệp
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp hàng năm bị thu hẹp do yêu cầu đô thị
hoá, thời tiết, dịch bệnh nhiều năm gần đây diễn biến phức tạp. Đứng trước tình
hình đó địa phương đó tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục mọi khó khăn
không để đất trống, không ngừng đẩy mạnh phát triển sản xuất, chuyển đổi mô
hình sản xuất, cơ cấu cây trồng bằng các loại giống ngắn ngày, có năng suất chất
lượng cao, kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá,
tranh thủ các nguồn hỗ trợ từ các mô hình, dự án áp dụng vào thực tế sản xuất
để đem lại hiệu quả cao.
39
Sản lượng lương thực năm đều đạt vượt mức kế hoạch. Giá trị sản phẩm
bình quân trên 1ha đất canh tác đạt trung bình 45 triệu đồng vượt mức chỉ tiêu
đề ra, trong đó có nhiều mô hình đạt cao như mô hình rau an toàn đạt giá trị từ
60-65 triệu đồng/ha, mô hình hóa chất lượng cao cho thu nhập hàng trăm triệu
đồng/ha.
Trong chăn nuôi, duy trì và phát triển đàn gia súc, gia cầm. Đầu năm 2016
tổng số đàn lợn đạt 2.500 con, gia cầm đạt 4.700 con, tổng đàn trâu bò có 113
con. Địa phương luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch
bệnh, 3 năm qua mặc dù tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm diễn biến
phức tạp song không có dịch bệnh xảy ra trên địa bàn
* Khu vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Khu vực kinh tế này tuy chưa giữ được thế chủ đạo trong cơ cấu kinh tế
nhưng vẫn đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế của địa
phương. Hiện nay có tổng số 32 hộ gia đình hoạt động trong lĩnh vực này với số
lượng lao động chỉ chiếm 3,1% tổng số lao động của phường. Tiểu thủ công
nghiệp phát triển với một số ngành nghề truyền thống theo mô hình kinh tế hộ,
cơ sở sản xuất, các nghề truyền thống như bán bánh, sản xuất mỳ, tương, đậu
phụ bên cạnh đó cũn cỏc ngành đồ gỗ, may mặc, gương kính, cơ khí... trong
những năm qua giá trị của khu vực này liên tục tăng trưởng. Giá trị sản lượng
tiểu thủ công nghiệp năm 2016 là 8,3 tỷ đồng đến năm 2018 là 17,9 tỷ đồng,
tăng gấp 2,16 lần. Với những định hướng và theo xu thế phát triển trong những
năm tới khu vực kinh tế này sẽ phát triển nhanh và có vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương.
* Khu dịch vụ - thương mại
Các hoạt động của ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn phường hiện
nay nhìn chung đang trong giai đoạn phát triển, với khoảng trên 300 hộ hoạt
động trong lĩnh vực này. Đây là khu vực kinh tế chiếm tỷ trọng hàng đầu trong
nền kinh tế của địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những doanh nghiệp, những
cơ sở kinh doanh thương mại lớn thì đa phần các hộ kinh doanh theo hình thức
40
hoạt động nhỏ lẻ, chưa tạo được quy mô và các khu vực tập chung, chủ yếu là
phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Hiện nay, cùng với
việc phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng trong những năm tới tiềm năng
phát triển của thương mại – dịch vụ là rất lớn. Để đáp ứng cho việc phát triển
theo hướng đô thị hoá thì việc khuyến khích phát triển đồng thời tạo ra những
động lực cho sự phát triển đó là rất cần thiết. Vì vậy, trong những năm tới cần
phải có những chiến lược phát triển ngành thương mại dịch vụ phù hợp, đa dạng
hóa loại hình hoạt động, nâng cao tỷ lệ lao động hoạt động trong lĩnh vực thương
mại dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu cho nhân dân trên địa bàn phường và đáp
ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
4.1.7. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển kinh
tế của phường Túc Duyên - TP. Thái Nguyên
* Thuận lợi:
- Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân phường Túc Duyên luôn
nhận được sự quan tâm và chỉ đạo của các cấp, các ngành, sự giúp đỡ của các
phòng ban chuyên môn. Nhân dân phường Túc Duyên luôn phát huy truyền
thống đoàn kết, cần cù, năng động trong sản xuất. Đời sống nhân dân từng bước
được cải thiện, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
- Lực lượng lao động dồi dào, người dân cần cù chịu khó. Có sông Cầu
chảy qua cung cấp nước tưới tiêu, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông
nghiệp.
- Vị trí địa lý của phường Túc Duyên là một lợi thế lớn, phướng Túc Duyên
nằm ngay trung tâm thành phố, gần chợ đầu mối của tỉnh Thái Nguyên thuận
tiện cho việc buôn bán và trao đổi hàng hóa. Giao thông thuận tiên lưu thông,
trao đổi hàng hóa với tất cả các phướng trong thành phố.
* Khó khăn:
- Quy trình sản xuất không tập trung, số lượng nhỏ.
- Lao động dồi dào nhưng trong đó một phần lớp trẻ đi ra làm ngoài, chưa
áp dụng được khoa học kỹ thuật nhiều trong sản xuất nên hiểu quả đạt chưa cao.
41
Qua đào tạo nhưng không chuyên sâu nên chất lượng lao động còn thấp.
- Thiếu vốn đầu tư sản xuất. Mặc dù nhiều hộ nghèo được hỗ trợ của nhà
nước về giống, phân bón nhưng chỉ là những hỗ trợ tạm thời, không mang tính
bền vững.
- Đất canh tác bị xói mòn, rửa trôi, bạc màu, chất đất ngày càng kém và
nghèo dinh dưỡng.
4.2. Các hoạt động sinh kế và thu nhập của người dân tại phường Túc Duyên
4.2.1. Thông tin về hộ và phân loại hộ điều tra
Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ gia
đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn vị
sản xuất và bảo đảm cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn
là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế. Nhưng trước xu thế quốc tế hóa
nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận rõ những khó khăn để
có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm tạo động lực mới, thật sự
mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển. Hộ gia đình được hiểu là tổ chức kinh tế, nó
mang tính
Thông qua quá trình chọn mẫu điều tra tại địa bàn nghiên cứu, chọn ra
được tổng số 80 hộ điều tra tại 04 Tổ gồm: Tổ 2; 8; 18 và 23 một số thông tin
cơ bản về các hộ và đặc biệt là chủ hộ điều tra này được trình bày ở các bảng
dưới đây.
Bảng 4.3: Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính
và độ tuổi của các hộ điều tra
Tổ Tuổi
2 8 18 23 Trung bình Số nhân khẩu (khẩu/hộ) 3,8 4,2 4,1 4,5 4,15 Số Lao động (người/hộ) 2,0 2,2 2,1 2,1 2,1 44,3 48,7 50,1 45,9 47,25
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)
42
Qua bảng số liệu 4.3 cho thấy trung bình số nhân khẩu, số lao động chính
và độ tuổi của các hộ điều tra là: số nhân khẩu của 4 tổ được điều tra có số nhân
khẩu trung bình là 4,15 nhân khẩu/hộ. Số lao động trung bình là 2,1 lao động/hộ
và tuổi trung bình của các hộ gia đình trên 4 nhóm được điều tra là 47,25 tuổi.
Bảng số 4.4: Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính
và độ tuổi của các hộ điều tra
Tuổi Phân loại kinh tế hộ
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)
Khá Trung bình Nghèo Trung bình Số nhân khẩu (khẩu/hộ) 4,3 4,5 4,7 4,5 Số lao động (người/hộ) 2,2 2,1 2,0 2,1 45,8 47,3 50,1 47,73
Qua bảng số liệu 4.4 cho thấy trung bình số nhân khẩu, số lao động chính
và độ tuổi của các hộ điều tra theo phân loại kinh tế hộ là:
+ Các hộ có kinh tế khá có số nhân khẩu là 4,3 nhân khẩu/hộ; số lao động
là 2,2 lao động/hộ và độ tuổi là 45,8 tuổi.
+ Các hộ có kinh tế trung bình có số nhân khẩu là 4,5 nhân khẩu/hộ; số
lao động là 2,1 người/hộ và độ tuổi là 47,3 tuổi.
+ Các hộ có kinh tế nghèo: số nhân khẩu là 4,7 nhân khẩu/hộ; số lao động
là 2,0 người/hộ; độ tuổi là 50,1 tuổi.
Như vậy, chúng ta có thể được tại bảng số liệu 4.3 và 4.4 cho thấy số nhân
khẩu trung bình tại các hộ điều tra là 4,5 nhân khẩu/hộ; số lao động trung bình
tại các hộ điều tra là 2,1 người/hộ và độ tuổi trung bình là 47,73 tuổi.
Tại các hộ gia đình có điều kiện kinh tế khá thì có số nhân khẩu thấp hơn
hộ gia đình có kinh tế trung bình và kinh tế nghèo; Số người lao động/ hộ tại các
hộ gia đình có kinh tế khá có người lao động cao hơn các hộ gia đình có kinh tế
trung bình và kinh tế nghèo; Độ tuổi của các hộ gia đình có kinh tế khá thấp hơn
so với các hộ gia đình có kinh tế trung bình và kinh tế nghèo.
43
Bảng 4.5: Phân loại nghề nghiệp của các chủ hộ
Hỗn hợp
Thuần nông
Tổng số
Phân loại kinh tế hộ Khá Trung bình Nghèo Trung bình
Số hộ 30 14 16 60
Tỷ lệ (%) 37,5 17,5 20 75
Số hộ 0 11 09 20
Tỷ lệ (%) 0 13,75 11,25 25
Số hộ 40 20 20 80
Tỷ lệ (%) 50 25 25 100
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)
Qua bảng trên ta thấy trong tổng số 80 hộ điều tra thì có 20 hộ thuần nông
chiếm tỷ lệ 25%; các hộ còn lại đều có nghề nghiệp là hỗn hợp chiếm đa phần
có tới 60 hộ chiếm 75% tổng số hộ điều tra. Như vậy hầu hết đa số người dân
tại phường Túc Duyên vào lúc vụ mùa thì làm nông còn lại thời gian dùng để
làm thuê, kinh doanh các ngành nghề khác để tăng thu nhập kinh tế hộ. Ngoài
ra, một số hộ chuyên sản xuất các loại rau bán quanh năm, vừa tham gia trồng
trọt và vừa buôn bán kinh doanh nên kinh tế ngày càng ổn định.
4.2.2. Diện tích đất nông nghiệp của các hộ điều tra
Đất đai là môi trường sống, là cơ sở tiến hành mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đối với con người, đất đai cũng có vị trí vô cùng quan trọng, con
người không thể tồn tại nếu không có đất đai, mọi hoạt động đi lại, sống và
làm việc đều gắn với đất đai.
Bảng 4.6: Bình quân diện tích canh tác của các hộ điều tra
(ĐVT: m²/hộ)
Phân loại kinh tế hộ Diện tích đất trồng lúa Diện tích đất trồng rau màu Diện tích đất trồng cây ăn quả
895,4 1.201,3 1.140,9 1.079,2 1.342 2.015 2.104 1.820,33 Khá Trung bình Nghèo Trung bình
357,4 219,5 200,9 259,27 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2019)
Qua bảng số liệu cho thấy diện tích canh tác của các hộ điều tra là:
44
+ Đối với các hộ gia đình có kinh tế khá có diện tích canh tác như sau: có
diện tích đất trồng lúa trung bình là 895,4 m²/hộ; diện tích đất trồng rau màu là
1.342 m²/hộ; diện tích đất trồng cây ăn quả là 357,4 m²/hộ
+ Đối với các hộ gia đình có kinh tế trung bình có diện tích canh tác như
sau: có diện tích đất trồng lúa trung bình là 1.201,3 m²/hộ; diện tích đất trồng
rau màu là 2.015 m²/hộ; diện tích đất trồng cây ăn quả là 219,5 m²/hộ.
+ Đối với các hộ gia đình có kinh tế nghèo có diện tích canh tác như sau:
có diện tích đất trồng lúa trung bình là 1.140,9 m²/hộ; diện tích đất trồng rau
màu là 2.104 m²/hộ; diện tích đất trồng cây ăn quả là 200,9m²/hộ
4.2.3. Các hoạt động sinh kế và thu nhập về nông nghiệp
Sinh kế là những hoạt động mà con người dựa vào đó để sinh nhai và tồn
tại. Vì vậy, các khoản thu nhập được xem như một chỉ tiêu quan trọng để đánh
giá sinh kế của cộng đồng nghiên cứu. Đối với bà con nông dân, sinh kế của
nông hộ bao gồm nông nghiệp và phi nông nghiệp. Hoạt động nông nghiệp gồm
trồng trọt, chăn nuôi.
Hoạt động phi nông nghiệp bao gồm buôn bán, thương mại, dịch vụ xay
sát, chế biến thực phẩm, chế biến đồ uống, tiền lương và phụ cấp, các khoản
biếu tặng,…
Nông nghiệp là một trong những ngành đóng vai trò quan trọng trong nền
kinh tế của mỗi địa phương, đặc biệt là đối với các vùng nông thôn. Bởi vì, ở
những vùng này người dân chủ yếu sống dựa vào nghề nông. Các thôn tiến hành
điều tra cũng mang đặc điểm trên.
Bảng 4.7: Cơ cấu thu nhập về nông nghiệp theo tổ và nhóm hộ
(ĐVT: %)
Hộ Khá Trung bình Nghèo Tổ
Tổ 2 Tổ 8 Tổ 18 86,3 65,3 78,9 89,7 73,2 81,5 93,1 80,6 89,2 Trung bình tổ 89,7 73,03 83,2
45
Tổ 23 Trung bình hộ 82,1 78,15 91,3 88,55 86,27 83,05 85,4 82,45
(Nguồn: số liệu điều tra, năm 2018)
Kết quả điều tra cho thấy: Nhìn chung, nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập
chính của bà con nông dân địa phương, chiếm từ 73,03% – 89,70%. Nếu phân
theo tổ thì tổ 08 có thu nhập về nông nghiệp thấp nhất (73,03% ) cao nhất là số
02 (89,70%). Nếu xét theo nhóm hộ thì nhóm hộ nghèo có thu nhập về nông
nghiệp cao nhất (88,55%), tiếp là hộ trung bình với thu nhập (82,45%), hộ khá
có thu nhập nông nghiệp thấp nhất chiếm (78,15%).
Như vậy có thể kết luận rằng các nhóm hộ có thu nhập từ nông nghiệp cao
thì chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, ngoài ra không tham gia buôn bán, kinh
doanh các mặt hàng nào khác. Mặc dù thuộc nhóm hộ nghèo nhưng vẫn không
có thu nhập từ nông nghiệp cao nhất của các hộ trong 4 tổ, nguyên nhân là do
họ thiếu đất để canh tác, tập quán canh tác lạc hậu, chưa thật sự chú trọng đầu
tư khoa học kĩ thuật vào trong quá trình sản xuất của mình nên vẫn còn thu nhập
thấp hơn nhóm hộ cận nghèo. Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp thì thu
nhập của người dân là từ trồng trọt và chăn nuôi là chính.
4.2.4. Các hoạt động sinh kế và thu nhập về trồng trọt
Bảng 4.8: Cơ cấu thu nhập từ trồng trọt theo tổ và theo hộ gia đình
(ĐVT: %)
Hộ
Khá Trung bình Nghèo Tổ Trung bình tổ
Tổ 2 45,8 51,2 47,2 48,07
Tổ 8 42,3 48,5 45,8 45,53
Tổ 18 40,1 49,2 47,4 45,57
Tổ 23 39,6 51,0 44,3 44,97
46,03 Trung bình hộ 41,95 46,17 49,97
(Nguồn: số liệu điều tra, năm 2019)
Đối với phường Túc Duyên là một trong những phường có truyền thống
46
trồng trọt nên cây lúa, nên rau mầu , trồng trọt trên địa bàn phường được coi
trọng, luôn là những ngành mũi nhọn của phường. Phường Túc Duyên được xem
là chợ đầu mối về sản phẩm từ nông nghiệp như: chè, rau, đậu tương, hoa, quả.....
chính vì yếu tố nằm ngay trên gần chợ đầu mối về lương thực thực phẩm và chất
đất tại phường phù hợp với trồng các loại cây hoa màu, lương thực; có con sông
Cầu chạy qua trên địa bàn phường rất thuận lợi cho việc tưới tiêu đồng ruộng....
Chính vì thế mà ngành trồng trọt trên địa bàn phường ngày càng phát triển là ngành
mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trong thu nhập của các hộ gia đình.
Qua bảng số liệu cho thu nhập từ trồng trọt theo tổ thì tổ số 2 có thu nhập
từ trồng trọt cao nhất với tỷ lệ 48,07%; tiếp theo là tổ số 18 với tỷ lệ là 45,57%;
sau đó là tổ 08 với tỷ lệ là 45,53% và thấp nhất là tổ 23 với tỷ lệ 44,97%.
Thu nhập từ trồng trọt theo tổ thì hộ gia đình thì hộ gia đình có thu nhập
cao từ trồng trọt là các hộ gia đình có kinh tế nghèo với 49,97%; tiếp theo là đến
các hộ gia đình có kinh tế trung bình với đạt tỷ lệ 46,17% và thấp nhất là các hộ
gia đìnnh có điều kiện kinh tế khá với tỷ lệ 41,95%.
Như vậy có thể thấy rằng những người dân thuộc nhóm hộ nghèo và trung
bình thu nhập chủ yếu từ trồng trọt là chính. Hộ càng nghèo thì thu nhập từ trồng
trọt càng cao do người nghèo cần có cái để ăn trước khi tính đến các hoạt động
khác và một phần do hoạt động trồng trọt chi phí đầu vào cũng thấp hơn so với
các hoạt động chăn nuôi vật nuôi và nuôi trồng thủy sản khác. Còn nhóm hộ khá
thì ngoài thu nhập từ trồng trọt ra họ còn có vốn cũng như kiến thức kinh nghiệm
để đầu tư vào các hoạt động chăn nuôi khác làm tăng thêm thu nhập cải thiện
cuộc sống cho các thành viên trong gia đình họ.
Bảng 4.9: Cơ cấu thu nhập từ cây trồng rau màu theo tổ
(ĐVT: %)
Tổ Cây lúa Rau Ngô Đậu tương
Tổ 2 35,22 43,76 27,95 19,83
47
47,65 Tổ 8 29,01 26,14 21,48
51,12 Tổ 18 33,12 30,04 24,05
49,06 Tổ 23 37,57 33,12 28,32
47,90 Trung bình 33,73 29,31 23,42
(Nguồn: số liệu điều tra, năm 2019)
Qua bảng số liệu về cơ cấu thu nhập từ cây trồng theo các tổ cho thấy:
+ Tại tổ số 02 có thu nhập từ cây rau cao (43,76%) hơn so với cây lúa
(35,22%); cây ngô (27,95%) và cây đậu tương với tỷ lệ thu nhập là 19,83%.
+ Tại tổ số 08 có thu nhập từ cây rau cao (47,65%) hơn so với cây lúa
(29,01%); cây ngô (27,95%) và cây đậu tương với tỷ lệ thu nhập là 21,48%.
+ Tại tổ số 18 có thu nhập từ cây rau cao (51,12%) hơn so với cây lúa
(33,12%); cây ngô (30,04%) và cây đậu tương với tỷ lệ thu nhập là 24,05%.
+ Tại tổ số 23 có thu nhập từ cây rau cao (49,06%) hơn so với cây lúa
(37,57%); cây ngô (33,12%) và cây đậu tương với tỷ lệ thu nhập là 28,32%.
Như vậy, cây trồng cho thu nhập cao nhất tại các tổ là cây rau với tỷ lệ thu
nhập là 47,90%; sau đó đến cây lúa với tỷ lệ trung bình là 33,73%; tiếp đến cây
ngô với tỷ lệ thu nhập trung bình là 29,31% và thấp nhất là cây đậu tương với tỷ
lệ thu nhập trung bình là 23,42%. Sỡ dĩ cây rau cho thu nhập cao hơn các loại
cây trồng khác vì cây rau là cây ngắn ngày cho nắng suất cao nên người dân dễ
thu lại nguồn vốn và mức đầu tư lại không cao.
Bảng 4.10: Cơ cấu thu nhập từ cây trồng theo hộ
(ĐVT: %)
Hộ Cây lúa Rau Ngô Đậu tương
Khá 32,90 8,0 0 39,02
Trung bình 38,14 13,81 3,43 45,36
Nghèo 40,02 14,54 5,47 53,81
Trung bình 37,02 12,12 2,97 46,06
48
(Nguồn: số liệu điều tra, năm 2019)
Theo số liệu tại bảng 4.10 cho thấy cơ cấu thu nhập từ cây trồng theo các
hộ thì tại thu nhập từ cây rau vẫn là cây cho nguồn thu nhập với tỷ lệ cao nhất là
46,06%; sau đó đến cây lúa là 37,02%; tiếp theo là cây ngôn với tỷ lệ 12,12%
và thấp nhất vẫn là cây đậu tương với tỷ lệ 2,97%
4.2.5: Các hoạt động sinh kế và thu nhập về chăn nuôi
Bảng 4.11: Cơ cấu thu nhập về chăn nuôi phân theo tổ và nhóm hộ
(ĐVT: %)
Hộ Khá Trung bình Nghèo Tổ
Tổ 2 Tổ 8 Tổ 18 Tổ 23 Trung bình hộ 29,12 28,54 31,07 30,32 29,76 31,33 32,01 33,18 34,41 32,73 35,16 40,02 44,32 42,81 40,58 Trung bình tổ 31,87 33,52 36,19 35,85 34,36
(Nguồn: số liệu điều tra, năm 2019)
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng có đóng góp quan trọng trong sinh kế
cộng động địa phương, đặc biệt đối với nhóm hộ khá giả. Các vật nuôi chính tại
địa bàn phường chủ yếu là trâu, bò, lợn, và gia cấm (gà, vịt) có ít hộ nuôi trồng
thủy sản. Số liệu điều tra cho thấy (bảng 4.11): Nếu tính tổ thì tổ số 02 có thu
nhập về chăn nuôi thấp nhất (31,87%) vì đây là tổ chủ yếu trồng trọt là chính,
sau đó là tổ 08 và tổ 23(là 33,52% và 35,85%). Tổ 18 có thu nhập về chăn nuôi
cao nhất là 36,19% do các tổ này có nhiều điều kiện về thức ăn để phát triển
chăn nuôi trâu, lợn và gia cầm. Nếu tính theo điều kiện kinh tế hộ, thì nhóm hộ
khá có thu nhập về chăn nuôi thấp nhất, chỉ đạt bình quân 29,76%, tiếp đến là
nhóm hộ trung bình (32,73%). Nhóm hộ kinh tế nghèo có thu nhập về chăn nuôi
cao nhất, đạt 40,58% . Có thể thấy các hộ có nguồn kinh tế khá là những hộ kinh
doanh nên ít chú trọng trong công tác chăn nuôi.
Bảng 4.12: Cơ cấu thu nhập về các loại vật nuôi chính trong chăn nuôi theo tổ
(ĐVT: %)
49
Tổ Tổ 2 Tổ 8 Tổ 18 Tổ 23 Trung bình hộ Trâu 72,3 69,3 80,7 76,5 74,7 Bò 65,6 50,2 60,2 69,5 61,3 Lợn 33,5 27,6 22,8 23,4 26,8 Vịt 15,0 17,5 16,8 19,3 14,6
Gà 6,7 5,7 5,4 8,9 6,6 (Nguồn: số liệu điều tra, năm 2019)
Bảng 4.13: Cơ cấu thu nhập về các loại vật nuôi chính
trong chăn nuôi theo hộ
(ĐVT: %)
Hộ Trâu Bò Lợn Gà Vịt
Khá 68,6 72,6 41,8 10,5 19,6
Trung bình 82,0 65,2 35,9 7,3 7,1
Nghèo 82,0 62,4 36,0 11,8 17,2
Trung bình hộ 77,4 66,7 37,9 6,5 14,6
(Nguồn: số liệu điều tra, năm 2018)
Nếu xét theo nhóm hộ kinh tế thì : Cơ cấu thu nhập của trâu đối với nhóm
hộ trung bình là cao nhất (82,0%) sau đó mới đến nhóm hộ nghèo (81,7%) nhóm
hộ khá có % thu nhập từ trâu là ít nhất (68,6%); Bình quân thu nhập từ bò cao
nhất thuộc về nhóm hộ khá (72,6%), sau đó mới đến nhóm hộ trung bình
(65,2%), và ít nhất là nhóm hộ nghèo (62,4%); Về cơ cấu thu nhập của lợn thì
nhóm hộ khá cao nhất (41,8 %), sau đó đến nhóm hộ nghèo 47 (36,0%), ít nhất
là nhóm trung bình (35,9%). Nhóm hộ nghèo lại có thu nhập bình quân từ gà
cao nhất (11,8%), đến nhóm hộ khá (10,5%), và ít nhất là nhóm hộ trung bình
(7,3%); Bình quân phần trăm thu nhập từ vịt của nhóm hộ khá là cao nhất
(19,6%), nhóm hộ nghèo là (7,2% ) và thấp nhất là nhóm hộ trung bình (7,1%).
Nếu xét theo tổ thì cơ cấu thu nhập của các vật nuôi như sau: Tổ có thu
nhập bình quân từ trâu cao nhất là tổ 18 (80,7%), thấp nhất là tổ 8 (69,3%). Tổ
có thu nhập bình quân từ bò cao nhất là tổ 23 (69,5%), thấp nhất là tổ 8 (50,2%).
50
Thu nhập bình quân từ lợn nhiều nhất là tổ 2 (33,5%), ít nhất là tổ 8 (22,8%). Tổ
23 là tổ có cơ cấu thu nhập từ gà nhiều nhất (8,9%), ít nhất là tổ 18 (5,4%). Bình
quân thu nhập từ vịt nhiều nhất là tổ 23 (19,3%) ít nhất là tổ 2 ( 15,0%).
4.3. Các hoạt động sinh kế và thu nhập về phi nông nghiệp
Ngoài thu nhập từ hoạt động trồng trọt và chăn nuôi mà người ta gọi đó là
thu nhập từ nông nghiệp thì ngoài ra các hộ nông dân còn có một nguồn thu
ngoài khác đó là các hoạt động bao gồm kinh doanh du lịch, buôn bán các mặt
hàng, hay lao động làm thuê, công chức nhà nước…Tất cả các hoạt động đó tạo
ra nguồn thu nhập cho hộ đều được xem là các khoản thu nhập từ phi nông
nghiệp. Trong địa bàn nghiên cứu thì hầu hết các hộ trong 4 tổ đều sản xuất trồng
trọt và chăn nuôi là chính tuy nhiên vẫn có số ít hộ có nguồn thu khác từ phi
nông nghiệp và được thể hiện cụ thể trong bảng dưới:
Bảng 4.14: Cơ cấu thu nhập về phi nông nghiệp theo tổ và nhóm hộ
(ĐVT: %)
Hộ Trung bình Khá Trung bình Nghèo Tổ tổ
Tổ 2 22,19 17,23 11,07 16,83
Tổ 8 31,04 22,06 14,91 22,67
Tổ 18 37,18 29,13 10,04 25,45
Tổ 23 29,05 26,75 17,27 24,36
Trung bình hộ 29,86 23,79 13,32 22,32
(Nguồn: số liệu điều tra, năm 2019)
Qua bảng số liệu cho thấy:
+ Đối với cơ cấu thu nhập về phi nông nghiệp theo tổ thì tổ 18 có thu nhập
về ngành nghề phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (25,45%); tiếp sau đó là tổ
23 có tỷ lệ thu nhập về các ngành phi nông nghiệp là 24,36%; sau đó là tổ 08
với tỷ lệ 22,67% và thấp nhất là tổ 02 với tỷ lệ thu nhập về các ngành phi nông
nghiệp là 16,83%.
51
+ Đối với cơ cấu thu nhập về phi nông nghiệp theo điều kiện kinh tế hộ gia
đình thì các hộ gia đình có kinh tế khá có thu nhập về ngành nghề phi nông
nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (29,86%); tiếp sau đó là các hộ gia đình có kinh tế
trung bình có tỷ lệ thu nhập về các ngành phi nông nghiệp là 23,79% và thấp
nhất là các hộ gia đình có kinh tế nghèo với tỷ lệ thu nhập về các ngành phi nông
nghiệp là 13,32%.
Điều tra sinh kế nông hộ trên địa bàn, đã ước tính được phần nào thu nhập
về nông nghiệp và phi nông nghiệp trong địa bàn phường , hoạt động nông
nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi và đã cho thấy sự không ngừng phát
triển trên cơ sở kết hợp đa dạng và chuyên môn hóa sản xuất theo yêu cầu của
thị trường. Nhiều hộ nông dân đã tiếp cận được với công nghệ sản xuất tiên tiến
và không ngừng vươn lên làm giàu. Trong trồng trọt đã tạo ra nhiều nông sản,
sản phẩm như lúa, ngô, đậu tương …Trong đó trồng trọt vẫn được đẩy mạnh và
phát triển không ngừng.
Tuy sinh kế hộ vẫn còn chậm, chưa khai thác hết tiềm năng lợi thế của
vùng. Phần lớn các hộ là hoạt động về nông nghiệp là chính, cơ cấu kinh tế đã
thoát khỏi một nền nông nghiệp độc canh hoặc đa canh manh mún. Nhưng năng
suất cây trồng, vật nuôi còn thấp, nhiều nông hộ bố trí cây trồng chưa phù hợp,
năng suất lao động thấp và nguồn lợi thu được chưa nhiều. Bởi vậy cần đẩy mạnh
phát triển hơn nữa về nông nghiệp cả trồng trọt lẫn chăn nuôi, bên cạnh đó là phi
nông nghiệp, các ngành ngoài nông nghiệp, luôn góp phần tạo điều kiện kinh tế lớn
hơn với các hộ nông dân trong phường, góp phần xóa đói giảm nghèo.
4.4. Giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư trong quá trình
Để ổn định và cải thiện đời sống cho người dân, tại phường Túc Duyên
cần có những giải pháp thiết thực để phát triển các nguồn lực, ổn định sinh kế
bền vững cho cộng đồng dân cư.
Thứ nhất, về nguồn lực con người. Cần phải nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực bằng các lớp tập huấn, phổ biến
52
cho người dân về áp dụng khoa học kỹ thuật và chăn nuôi, trồng trọt. Đặc biệt
là phát triển ngành nông nghiệp mũi nhọn, tạo ra những sản phẩm độc quyền
mang lại nguồn thu nhập ổn định.
Thứ hai, về nguồn vốn tài chính, cần đa dạng hóa các loại hình hỗ trợ tín
dụng cho người dân; mở rộng hoạt động tín dụng cho hộ dân nghèo, về số lượng
tiền vay, thủ tục và thời hạn vay, phải gắn chặt với các đoàn thể, chính quyền
địa phương và hệ thống khuyến nông, để đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn của người
dân; Hỗ trợ cho những hộ dân thiếu tư liệu, thiếu đất hoặc không có đất sản xuất
bằng vốn vay ưu đãi, cấp đất sản xuất phù hợp với địa bàn, ngành nghề và điều
kiện sản xuất cụ thể.
Thứ ba, về phát huy nguồn vốn xã hội, tăng cường mối liên kết giữa các
hộ, các cơ sở kinh doanh, sản xuất nông hộ trong toàn thành phố cũng như mối
liên kết giữa các phường trong thành phố, các huyện trong tỉnh. Bên cạnh đó,
cần khuyến khích các hình thức bảo hiểm trong nông nghiệp để người nông dân
yên tâm trong sản xuất, phát triển kế sinh nhai.
Thứ tư, đảm bảo nhóm sinh kế nông nghiệp, trong điều kiện diện tích đất
sản xuất nông nghiệp giảm mạnh, Thành phố Thái Nguyên cần quy hoạch sử
dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, nhất là đất canh tác. Cố gắng duy trì diện tích
đất trồng lúa, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực cả trước mắt và lâu dài
trong quy hoạch . Gắn chặt quy hoạch sản xuất nông nghiệp với quy hoạch phát
triển công nghiệp, dịch vụ, tạo điều kiện để người dân giải quyết được việc làm
tại chỗ.
Thứ năm, đảm bảo nhóm thương mại dịch vụ, hỗ trợ hình thức cho vay
vốn ban đầu, hỗ trợ phương tiện sinh kế ban đầu để tạo điều kiện cho họ làm
dịch vụ và buôn bán; Hình thành các khu giải trí có tính thương mại và dịch vụ,
liên kết đào tạo nghề.
53
54
PHẦN 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Qua thời gian tìm hiểu và thực hiện đề tài : “Thực trạng và giải pháp phát
triển sinh kế nông hộ trên địa bàn phường Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên” em rút ra một số kết luận sau:
Phường Túc Duyên là một phường cơ sở hạ tầng phát triển, nằm ngay trung
tâm thành phố thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán; nhưng bên cạnh đó, với
quỹ đất hạn hẹp nên phần nào gặp nhiều khó khăn cho các hoạt động sinh kế của
bà con nhân dân trên địa bàn phường
Hoạt động sinh kế của người dân nơi đây khá phong phú và đa dạng có đủ
các loại hình sản xuất từ nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) đến các hoạt động
tiểu thủ công nghiệp (phi nông). Còn các hoạt động phi nông nghiệp chủ yếu là
phát triển mang tính chất nhỏ, chưa có sự liên kết giữa người nông dân và người
buôn bán. Ngoài ra một phần được hưởng từ lương công nhân viên chức.
Trên cơ sở điều tra sinh kế nông hộ, đề tài đã đưa ra các giải pháp khắc
phục những khó khăn trong hoạt động sinh kế để nâng cao đời sống người dân,
nếu các giải pháp này được thực hiện tốt thì chúng ta tin rằng trong những năm
tới, các hoạt động sinh kế của người dân sẽ có nhiều biến chuyển tích cực, đem
lại hiệu quả lớn trong kinh tế - xã hội cho phường Túc Duyên nói riêng và các
địa phương khác nói chung.
5.2. Kiến nghị
* Đối với nhà nước
- Cần tổng kết kinh nghiệm phát triển sinh kế ở Việt Nam trong thời gian
qua và xây dựng một chương trình cụ thể về phát triển các hoạt động sinh kế cho
người dân nông thôn.
55
- Có chính sách và biện pháp hỗ trợ về tạo lập và tăng cường vốn, áp dụng
khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy sự liên kết giữa các hộ, hỗ trợ đào tạo
người lao động, tăng cường quy hoạch, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
* Đối với chính quyền địa phương
- Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông nhằm kịp thời
cung cấp thông tin cho bà con nông dân.
- Tăng cường chính sách tín dụng, liên kết chặt chẽ các ngân hàng tại địa
phương nhằm hỗ trợ về vốn cho người dân.
- Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ quản lý cho cán bộ địa phương,
chuyên môn kỹ thuật cho người lao động ở địa phương.
- Cấp huyện nên dành một phần kinh phí nhất định trong phí ngân sách cấp
hàng năm nhằm hỗ trợ cho hoạt động sản xuất tại địa phương.
- Lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, tạo bước đột phá trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi theo hướng bền vững, áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị
diện tích canh tác, nâng cao thu nhập của nhân dân, xây dựng nông thôn mới,
kiên cố hóa đường giao thông nông thôn.
*Đối với các hộ nông dân
Để phát triển sản xuât nâng cao thu nhập thì các hộ phải biết bố trí cây
trồng, vật nuôi hợp lý, đầu tư đúng hướng để đem lại hiệu quả cao nhất. Đối với
hộ nghèo cần tận dụng nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, nâng dần mức
thu nhập lên, cần học hỏi kinh nghiệm của các nhóm hộ khác để nâng cao trình
độ kĩ thuật, tay nghề trong sản xuất nông nghiệp cũng như sản xuất ngành nghề
phụ. Hướng tới việc xây dựng sinh kế mang tính bền vững, đào tạo, tập huấn
nâng cao những kỹ năng, phương thức trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nói
riêng và các hoạt động sinh kế hộ nói chung. Đồng thời tập trung nâng cao năng
lực cho tầng lớp thanh niên để thay đổi sinh kế trong thời gian gần. Cải thiện hệ
56
thống thông tin, nâng cao khả năng tiếp cận các thể chế chính sách cho người
dân đặc biệt là nhóm đối tượng hộ nghèo của phường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
1. Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội của phường Túc Duyên năm
2016, 2017, 2018.
57
2. Bộ kế hoạch và đầu tư, sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế và khung
phân tích, 2003.
3.Vũ trọng Bình, (2009), Kinh nghiệm quốc tế về sự tham gia của cộng đồng
trong xây dựng NTM.
4. Dự án giảm nghèo Việt Nam giai đoạn 2 (2009), Nghiên cứu sinh kế: Dự án
giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2
5. Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng, 2010 Giáo trình Xã hội học nông
thôn. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010.
6. Dương Văn Sơn, 2011. Bài giảng Giám sát đánh giá khuyến nông. Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
7. Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Frankellis (1993), Kinh tế hộ gia đình nông dân và phát triển nông nghiệp,
Nxb nông nghiệp, Tp Hồ Chí Minh
9. Nguyễn Mỹ Vân (2009), Bài giảng sinh kế bền vững, Đại học khoa học Huế.
10. Quyết định số 09/2011/QĐ – TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn
2011- 2015.
11. Tô Tiến Dũng (1999), Kinh tế hộ nông dân và vấn đề phát triển kinh tế trang
trại ở Việt Nam, Tài liệu hội thảo dự án HAU- JICA, Hà Nội.
12. Trần Đức Viên, Nguyễn Văn Vinh, Mai Văn Thành (2005), Phân cấp trong
quản lý tài nguyên rừng và sinh kế người dân, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
13. Uông Sĩ Hưng, “ Luận văn thạc sĩ” (2015).
II. Tài liệu internet
13. http://corenarm.org.vn/?pid=92&id=571
http://mysite.tuaf.edu.vn/huutho/baiviet/63/17
58
PHỤ LỤC
PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ
Về tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình
Họ và tên chủ hộ ……………………........... Tuổi ……… giới tính…….....
Dân tộc …………….… trình độ ……………. Nghề nghiệp …………………
Phân loại kinh tế hộ ……………………………………………………………
Địa chỉ:………………………………………………………...........................
1. Ông (bà) cho biết gia đình gồm bao nhiêu khẩu?............................................
Trong đó: Lao động chính là ………. người.
2. Nguồn thu nhập chính của hộ:
Nông nghiệp Phi nông nghiệp
3. Các nguồn thu nhập từ nông nghiệp: Trồng trọt Chăn nuôi Khác…... 4. Gia đình Ông (Bà) được xã đánh giá là hộ: Hộ Khá: Hộ cận nghèo: Hộ Nghèo
Diện tích (m2)
5. Ông/Bà cho biết các loại đất của gia đình hiện nay Loại đất STT 1 Đất trồng cây hàng năm 2 Đất trồng lúa 3 Đất trồng rau màu 4 Đất trồng cây ăn quả
Tổng diện tích
6. Ông (bà) cho biết Nhà nước có những chính sách gì hỗ trợ người dân phát
triển kinh tế hộ gia đình?.....................................................................................
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………….
59
7. Ông (bà) cho biết loại cây trồng nông nghiệp nào được sử dụng nhiều nhất ở
địa phương?
a. Lúa nước d. Cà chua
b. Ngô e. Đậu tương
c. Rau
f. Cây khác ……………………………..
8. Ông (bà) cho biết loại cây trồng ăn quả nào được sử dụng nhiều nhất ở địa
phương?
a. Vải b. Mít
c. Nhãn
d. Cây khác ……………………………..
9. Ông (bà) cho biết loại vật nuôi nào được nuôi nhiều nhất ở địa phương?
a. Trâu d. Gà, vịt
b. Bò e. Dê
c. Lợn f. Con khác ……………………………..
10. Ông (bà) cho biết sản phẩm trồng trọt sản xuất ra chủ yếu để ?
Sử dụng trong gia đình
Trao đổi trong địa phương
Bán ra ngoài chợ
Xuất khẩu
Ý kiến khác ………………………………………………..………
11. Ông (bà) cho biết sản phẩm ăn quả sản xuất ra chủ yếu để ?
Sử dụng trong gia đình
Trao đổi trong địa phương
Bán ra ngoài chợ
Xuất khẩu
Ý kiến khác ………………………………………………..………
60
12. Ông (bà) cho biết sản phẩm chăn nuôi sản xuất ra chủ yếu để ?
Sử dụng trong gia đình
Trao đổi trong địa phương
Bán ra ngoài chợ
Xuất khẩu
Ý kiến khác ………………………………………………..………
13. Ông (bà) có thể cho biết những khó khăn nhất trong phát triển kinh tế hộ của
địa phương là gì?
a. Đối với Trồng trọt:………………………………………………..
b. Đối với Cây ăn quả………………………………………………
c. Đối với Chăn nuôi:……………………………………………….
d. khác ………………………………………………………………
14. Ông (bà) có biết có quy trình sản xuất (chế biến ) sản phẩn nông lâm nghiệp
nào không?..............................................................................................
……………………………………………………………………………
15. Ông (bà) có nhu cầu đề nghị Nhà nước hỗ trợ phát triển kinh tế hộ trên lĩnh
vực nào?
a. Cho vay vốn lãi suất thấp c. Hỗ trợ kỹ thuật
b. Hỗ trợ giống cây, con d. Hỗ trợ phân bón
e. Lĩnh vực khác ………….....................................…………………..
………………………….………………………………………………………
…………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Cảm ơn ông bà đã dành thời gian trao đổi!
…………….., Ngày … tháng….. năm 2019
Chủ hộ Người điều tra
(ký,ghi rõ họ tên)
61