Bán chịu - con dao hai ỡi!
Trong kinh doanh luôn tồn tại nhu cầu về
vốn. Doanh nghiệp nào tìm được biện pháp
có thể giải quyết hữu hiệu vấn đề vốn sẽ có
thuận lợi lớn trong hoạt động kinh doanh của
mình và dễ dàng chiếm ưu thế trong cuộc
cạnh tranh với đối thủ. Sự đòi hỏi về vốn
ngày một tăng trong nền kinh tế thị trường
chính là “cha đẻ” của hình thức bán chịu,
một hoạt động được coi là “phao cứu sinh”
giúp các doanh nghiệp vượt qua những cơn
sóng gió tài chính.
Bán chịu là quan hệ tín dụng giữa các công ty
được biểu hiện dưới các hình thức mua hàng
hoá trước- thanh toán sau. Bán chịu xuất hiện
là do stách biệt giữa kinh doanh và tiêu
dùng, và đặc tính thời vụ trong sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm khiến các công ty phải mua
bán chịu hàng hoá.
Mua bán chịu được coi là hình thức tín dụng
vì nó chứa đựng đầy đủ nội dung cơ bản của
khái niệm tín dụng, cụ thể là:
- Người bán chuyển giao cho người mua
quyn được sử dụng vốn tạm thời trong một
thời hạn nhất định.
- Đến thời hạn đã được thoả thuận, người
mua hoàn lại vốn cộng cả phần lãi suất cho
người bán dưới hình thức tiền tệ.
Quan hệ mua bán chịu được xác lập chủ yếu
dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên dưới hình
thức chứng từ hạch toán bằng các khoản phải
thu, phải trả, hoặc hình thức thương phiếu.
Trong khi các khoản tiền phải trả, phải thu
chỉ có thể giải quyết tình trạng thiếu vốn tạm
thời cho doanh nghiệp mà không có tính lưu
thông, thì thương phiếu lại đáp ứng được cả
hai yêu cầu này khi có thể dùng để thế chấp
vay tiền ngân hàng. Môi trường kinh doanh
càng phát triển, áp lực cạnh tranh càng lớn thì
đòi hỏi về thương phiếu càng cao. Hay nói
cách khác, vi tốc độ tăng trưởng kinh tế
ngày càng một nâng cao, nhu cầu về vốn
ngày càng bức thiết, cũng như hạnh lang
pháp lý ngày càng được hoàn thiện, sự
mặt của hoạt động mua bán chịu là cần thiết
dù bên cạnh nó có nhiều phương tiện, kĩ thuật
thanh toán hiện đại khác. Vấn đề là sớm hay
muộn mà thôi.
Những lợi ích mà hoạt động mua bán chịu
đem lại chắc mọi người cũng đều nhìn thấy
rõ. Tuy nhiên, có l ít ai biết được đây cũng
chính là “con dao hai lưỡi” nếu doanh nghiệp
chỉ vì muốn thu hút khách hàng mà dễ dãi
chấp nhận để khách hàng mua chịu trong khi
chưa thực sự nghiên cứu k những thông tin
về hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Có thể lấy ví dụ trong lĩnh vực công nghệ
viễn thông. Vì quá tin tưởng vào lời nói ngon
ngọt của những nhà môi giới về viễn cảnh
sán lạn của các sản phẩm công nghệ cao, mà
lại rất mơ hồ về nhu cầu cụ thể của khách
hàng, nhiều công ty lớn đã đầu tư hàng tỷ
USD vào sản xuất sản phẩm công nghệ cao
rồi sau đó bán chịu cho khách hàng. Kết quả
là số nợ khó đòi của các công ty viễn thông
hiện nay, theo ước tính, chiếm phần lớn trong
tổng số tiền vay khoảng 2000 tỷ USD của các
tập đoàn lớn trên thế giới.
Theo số liệu thống kê mi đây của tờ
Newsweeks , hoạt động bán chịu đang làm
điêu đứng các hãng viễn thông lớn trên thế
giới và gánh nặng nợ khó đòi đang ngày một
chất cao thêm . Chỉ tính riêng năm 2003,
khoản tiền khách hàng mua chịu của các tập
đoàn viễn thông lớn đã lên tới 35 t USD.
Năm 2004, con số này tăng gấp đôi và năm
2005, mặc dù chưa có thống kê chính xác
nhưng nếu cứ theo đà này, có thể dễ dàng suy
đoán khoản tiền bán chịu sẽ tăng lên nhiều
lần. Làn sóng bán chịu đã làm giảm số lượng
các “đại gia” viễn thông trên thế giới khi
trong tổng số 37 công ty viễn thông hàng đầu
của Mỹ được thành lập từ năm 1996, số phá
sản hiện giờ đã lên tới con số 18. Trong số
này có các tập đoàn viễn thông lớn như
Worldcom, Adelphia,...
Tại sao các doanh nghiệp ngày nay biết bán
chịu là mạo hiểm khi chấp nhận những rủi ro
lớn và nguycó thể dẫn tới phá sản nhưng
họ vẫn làm? Theo kết quả của Viện nghiên
cứu Adam, Mỹ, do chi phí đầu vào cho các
sản phẩm, dịch vụ ngày càng tăng trong khi
ngân hàng không my mặn mà với việc cho
vay vốn, các công ty đã buộc phải tăng lượng
hàng hóa bán chịu cho khách hàng với hy
vọng làm tăng giá trị cổ phiếu. Do vậy,
không có gì là khó hiểu nếu số nợ khó đòi
tập đoàn Motorola năm 2000 chỉ chiếm 6,7%
tổng số nợ thì đến năm 2001 đã lên tới 57%,
ở IKEA tăng từ 2,6% lên 60%, General
Electric tăng từ 25,5% lên đến 80% và còn
rất nhiều hãng khác cũng lâm vào hoàn cảnh
tương tự.